1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CHƯƠNG-I.TTHC

7 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 18,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhận định: Sai - Giải thích: Cá nhân, cơ quan, tổ chức còn có thể khiến nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi ch

Trang 1

CHƯƠNG I - KHÁI QUÁT VỀ LUẬT TỐ

TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

II – NHẬN ĐINH:

1 Khi phát sinh tranh chấp hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có thể khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Cá nhân, cơ quan, tổ chức còn có thể khiến nại đề nghị cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi cho rằng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp hành chính, việc khởi kiện vụ

án hành chính ra Tòa án không phải là con đường duy nhất để bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011).

2 Quan hệ giữa người khởi kiện với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Đối tượng điều chỉnh của Luật TTHC là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp hành chính bao gồm: mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hành

Trang 2

chính với nhau; mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người tham gia tiến hành tố tụng hành chính; mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng hành chính với nhau Trong khi đó, người tham gia tố tụng hành chính bao gồm đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự…(Điều 53 Luật TTHC) Vì vậy, quan hệ giữa người

khởi kiện với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự

thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật TTHC (Điều 2 Luật TTHC).

3 Quyền tài sản và quyền nhân thân không thể là đối tượng tranh chấp trong

vụ án hành chính

- Nhận định: Đúng

- Giải thích:

Đối tượng tranh chấp trực tiếp trong vụ án hành chính là tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc

cạnh tranh và danh sách cử tri (Điều 30 Luật TTHC) Do đó, quyền tài

sản và quyền nhân thân không thể là đối tượng tranh chấp trong vụ án hành chính

4 Nếu người khởi kiện đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, nội dung này luôn phải được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Người khởi kiện có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và danh sách cử tri gây ra Trong trường hợp này, khi giải quyết yêu cầu bồi

Trang 3

thường thiệt hại cho người khởi kiện thì ngoài thủ tục tố tụng dân sự còn phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thương

của Nhà nước để giải quyết (Khoản 1 Điều 7 Luật TTHC).

5 Khi khởi kiện vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và Toà án có trách nhiệm phải giải quyết

- Nhận định: sai

- Giải thích:

Người khởi kiện có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và danh sách cử tri gây ra Tuy nhiên, nếu người khởi kiện không chứng minh được thiệt hại xảy ra thì Tòa án không có trách nhiệm phải giải

quyết (Khoản 1 Điều 7 Luật TTHC).

6 Người khởi kiện hoàn toàn có quyền tự định đoạt về yêu cầu khởi kiện trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hành chính

- Nhận định: Đúng

- Giải thích:

Theo quy định tại Điều 8 Luật TTHC, người khởi kiện có quyền thay

đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

7 Đối thoại là một thủ tục Tòa án bắt buộc phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Trang 4

Đối thoại là để các bên đương sự hiểu rõ hơn về nội dung tranh chấp, về quan điểm, lý lẽ của các bên và nếu họ tự nhận ra sai lầm, thiếu sót và rút đơn kiện hoặc tự động khắc phục, sửa chữa thì hiệu quả hơn là cần một phán quyết và bị cưỡng chế thực hiện Đối thoại trong tố tụng hành chính

có ý nghĩa giúp giải quyết tranh chấp hành chính đơn giản, hiệu quả và đảm bảo sự bình đẳng, dân chủ giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản

lý Do đó, đối thoại không phải là một thủ tục Tòa án bắt buộc phải tiến

hành giải quyết vụ án hành chính (Điều 20 Luật TTHC).

8 Hội thẩm nhân dân tham gia trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Mục đích tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân là để đại diện cho các tầng lớp nhân dân tham gia vào quá trình xét xử của Tòa án, góp phần bảo đảm việc xét xử khách quan, vô tư, đúng pháp luật Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia giải quyết vụ án hành chính trong giai đoạn sơ thẩm, không tham gia xét xử theo thủ tục rút gọn vì Hội thẩm nhân dân thường

là những người không có trình độ chuyên môn cao, phần lớn là do có uy tín, được nhân dân tín nhiệm bầu ra trong các tầng lớp nhân dân để tham

gia xét xử (Khoản 1 Điều 12 Luật TTHC).

9 Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ độc lập khi xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa sơ thẩm

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Trang 5

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không chỉ độc lập khi xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa sơ thẩm mà còn độc lập khi nghiên cứu hồ sơ

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nhằm bảo đảm tính

khách quan trong xét xử (Điều 13 Luật TTHC).

10 Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều là thành viên Hội đồng xét xử nên phải thống nhất quan điểm với nhau trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Khi giải quyết vụ án hành chính, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải độc lập với nhau khi nghiên cứu hồ sơ, độc lập khi xét hỏi, chất vấn; độc lập trong nghị án, quyết định nhằm đảm bảo tính khách quan trong xét xử

(Điều 13 Luật TTHC).

11 Quyền tranh tụng của đương sự chỉ được bảo đảm tại các phiên tòa xét xử

vụ án hành chính

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Quyền tranh tụng của đương sự không chỉ được bảo đảm tại các phiên tòa xét xử mà được đảm bảo trong suốt quá trình giải quyết vụ án hành chính như việc thu nhập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ, trình bày, đối đáp, phát

biểu… (Điều 18 Luật TTHC) Việc bảo đảm quyền tranh tụng của

đương sự nhằm hướng tới tính khách quan, dân chủ và chính xác trong xét xử vụ án hành chính

Trang 6

12 Tất cả bản án, quyết định của Tòa án đều có thể trải qua hai cấp xét xử.

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Trong trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với việc khiếu kiện danh sách cử tri thì không trải qua hai cấp xét xử Bản án, quyết định đình chỉ giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri có hiệu lực thi hành ngay Đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền

kháng nghị (Khoản 1 Điều 11, Khoản 1 Điều 202 Luật TTHC).

13 Khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có

vi phạm pháp luật thì phải được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Đối với bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm

hoặc tái thẩm (Khoản 2 Điều 11 Luật TTHC).

14 Giám đốc thẩm, tái thẩm là một cấp xét xử đặc biệt

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử đặc biệt mà chỉ là một thủ tục đặc biệt Hiện nay, chỉ có hai cấp xét xử là sở thẩm và phúc

thẩm (Khoản 1 Điều 11 Luật TTHC).

15 Trong trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành

Trang 7

vi dân sự mà không có người khởi kiện, Viện kiểm sát có trách nhiệm khởi

tố vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Viện kiểm sát không có trách nhiệm khởi tố vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực

hành vi dân sự (Điều 42,43,44 Luật TTHC) Quyền, lợi ích hợp pháp

của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi sẽ được bảo vệ

thông qua người đại diện theo pháp luật (Khoản 4 Điều 54 Luật TTHC).

16 Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật sau khi Tòa án đã thụ lý

vụ án

- Nhận định: Sai

- Giải thích:

Viện kiểm sát nhân dân tham gia kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Tòa án từ giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc giải quyết vụ án và thi hành án Việc kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhằm bảo đảm tính khách quan, chính xác trong xét xử, nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến

hành tố tụng (Điều 107 Hiến pháp 2013, Điều 2 Luật Tổ chức VKSND

2013, Điều 25 Luật TTHC).

Ngày đăng: 13/03/2019, 20:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w