1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về trọng tài thương mại ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

102 280 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn Qua quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế về trọng tài thương mại, luận văn góp phần làm rõ thêm, làm phong phú thêm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ MAI QUÝ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI

THƯƠNG MẠI VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC THI

CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ MAI QUÝ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI

THƯƠNG MẠI VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC THI

CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Ngọc Dũng

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn này chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

Tác giả luận văn

Trang 4

TTTM Trọng tài Thương mại TTTT Thỏa thuận trọng tài

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Giới thiệu khái quát đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn 4

4 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn 4

5 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu của luận văn 4

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn 5

7 Cơ cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

7

1.1 Khái niệm, bản chất, đặc điểm của trọng tài thương mại 7

1.1.1 Định nghĩa trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài thương mại 7

1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại 8

1.2 Ưu điểm của trọng tài thương mại 10

1.3 Hệ thống văn bản pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam 12

1.4 Sự hình thành, phát triển và nội dung của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam qua các thời kỳ 13

1.4.1 Giai đoạn sơ khai (trước năm 2003) 14

1.4.2 Giai đoạn kể từ khi ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại (2003) đến trước khi ban hành Luật Trọng tài Thương mại (2010) 16

1.4.3.Giai đoạn sau khi Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được ban hành đến nay 17

1.5 Pháp luật trọng tài thương mại trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 23 1.5.1 Pháp luật về trọng tài thương mại trên thế giới 23

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 29

Trang 6

2.1 Thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam 29

2.1.1.Các quy định về thẩm quyền của Trọng tài Thương mại 29

2.1.2.Quy định về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 31

2.1.3.Các quy định về thỏa thuận trọng tài 35

2.1.4 Các quy định về tổ chức và hoạt động của trọng tài vụ việc và của các trung tâm trọng tài 39

2.1.5 Các quy định về phán quyết của trọng tài thương mại 42

2.1.6.Các quy định về sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án và Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại 42

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam 46

2.2.1 Những thuận lợi trong thực tiễn thi hành pháp luật về trọng tài thương mại

ở Việt Nam 47 2.2.2 Những hạn chế trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật của Luật Trọng tài thương mại (2010) tại Việt Nam 51

2.2.3.Thực trạng tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài ở Việt Nam hiện nay 65

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 72

3.1.Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài tại Việt Nam 72

3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam 73

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn Trọng tài viên và điều kiện công nhận Trọng tài viên 73

3.2.2 Bổ sung quy định về nội dung thỏa thuận trọng tài trong Luật Trọng tài Thương mại (2010) 74

3.2.3 Bổ sung một số quy định liên quan đến tiến hành tố tụng trọng tài trong Luật Trọng tài Thương mại (2010) 74

3.2.4 Sửa đổi các quy định liên quan đến phán quyết trọng tài 74

Trang 7

3.2.5 Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về trọng tài thương mại 76

3.2.6 Sửa đổi, bổ sung một số điều quy định tại Nghị định số 63/2011/NĐ-CP 77

3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam 78

3.3.1 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về trọng tài thương mại 78

3.3.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ của Tòa án và cơ quan thi hành án đối với hoạt động trọng tài thương mại 81

3.3.3.Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Trọng tài Thương mại và năng lực của đội ngũ Trọng tài viên, đẩy mạnh đào tạo pháp luật trọng tài 83

3.3.4.Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp đối với hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 86

KẾT LUẬN 87

Trang 8

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta trong những năm cuối của thế kỷ

XX được diễn ra trong bối cảnh các quan hệ kinh tế phát triển nhanh chóng theo cả chiều rộng và chiều sâu Tranh chấp trong kinh tế nói chung và trong kinh doanh nói riêng với tính chất là hệ quả tất yếu của quá trình này cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại và gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô Có rất nhiều cách để giải quyết tranh chấp trong thương mại nhưng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp

Việc lựa chọn Tòa án hay Trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh tùy thuộc vào sự cân nhắc của các bên Trên thực tế, qua việc cân nhắc về lợi ích, các thương nhân thường muốn tìm đến Trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa họ trong hoạt động kinh doanh Tính ưu việt của Trọng tài so với Tòa án là: thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng; các bên tranh chấp có quyền lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc về vấn đề đang tranh chấp, để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, chính xác Nguyên tắc trọng tài là giải quyết tranh chấp không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ bí mật kinh doanh, giữ được uy tín của mình trên thương trường Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài có giá trị chung thẩm Đây là lí do khiến hiện nay càng có nhiều các tổ chức, cá nhân kinh doanh thương mại lựa chọn phương thức trọng tài khi có tranh chấp phát sinh

Theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam đã có những bước tiến trong việc xây dựng một khung pháp lý về hoạt động trọng tài phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, theo kịp các quốc gia phát triển về lĩnh vực này trên thế giới Có thể thấy đến nay, Việt Nam đã có một khung pháp lý về lĩnh vực trọng tài khá hoàn chỉnh Cụ thể là ngày 25/02/2003 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Năm 1995, Việt Nam cũng đã tham gia Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Sau một thời gian áp dụng, Pháp lệnh Trọng tài thương mại (2003) đã bộc

lộ những hạn chế và bất cập cho các doanh nghiệp khi sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Trước thực trạng đó, trên cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những điểm hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại (2003),

Trang 9

2 đồng thời vận dụng những bài học kinh nghiệm từ pháp luật trọng tài thương mại trên trường quốc tế, Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 đã được ban hành với 13 Chương, 82 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Đây là một bước tiến rõ rệt trong tiến trình hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về Trọng tài thương mại

Mặc dù phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu việt, nhưng do nhận thức và nhiều nguyên nhân, cho đến nay, trọng tài vẫn chưa trở thành phương thức giải quyết tranh chấp được áp dụng rộng rãi đối với các doanh nghiệp Luật Trọng tài Thương mại (2010) đã đi vào đời sống được hơn sáu năm, nhưng bên cạnh những thành công, ưu điểm đáng được ghi nhận, một số quy định của đạo luật này vẫn gây tranh luận trong giới khoa học pháp lý Vì vậy, việc tìm hiểu các quy định pháp luật trọng tài thương mại, việc xây dựng và thực trạng áp dụng pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam, những nguyên nhân khiến hoạt động trọng tài chưa thực sự hấp dẫn đối với các bên là vô cùng cần thiết để đưa ra giải pháp hoàn thiện là

vô cùng cần thiết

Trong bối cảnh như vậy, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Thực trạng pháp luật về

trọng tài thương mại và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học Lựa chọn đề tài

này, tôi mong muốn nghiên cứu, tìm ra những ưu điểm, những nhược điểm, bất cập, những điểm chưa phù hợp của pháp luật trọng tài thương mại hiện hành và thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật về trọng tài thương mại Trên cơ sở đó tôi sẽ đưa

ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trọng tài thương mại

và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về trọng tài thương mại vào thực tế nhằm nâng cao sức hấp dẫn của cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực trạng pháp luật về Trọng tài thương mại và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về Trọng tài thương mại ở Việt Nam là đề tài đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố những tác phẩm có giá trị: TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng

Hải đã công bố cuốn sách “Pháp luật Việt Nam về Trọng tài Thương mại”; Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã phát hành cuốn sách “Trọng tài và các phương

thức giải quyết tranh chấp lựa chọn”; Bộ Tư pháp cũng có đăng một số chuyên đề

“Pháp luật về Trọng tài Thương mại” trên tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2010;

TS Đỗ Văn Đại (Đại học Luật TP Hồ Chí Minh) đã công bố bài báo “Giải quyết

Trang 10

học với đề tài: “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với

các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay của nước ta” tại Học viện Khoa

học xã hội; năm 2015, Nguyễn Mạnh Linh đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ Luật học với đề

tài: “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - Thực tiễn hoạt động của các

Trung tâm Trọng tài Thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội” tại Trường Đại học

Luật Hà Nội; năm 2013, Nguyễn Thị Hiền đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ luật học với đề

tài “Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại” tại Trường

Đại học Luật Hà Nội Năm 2011, TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải đã cho phát

hành cuốn sách “Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại”, Nxb Chính trị Quốc

gia Các quy tắc về tố tụng trọng tài của ICC, UNCITRAL cũng được phổ biến ngày càng rộng rãi …Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác cũng liên quan ít nhiều đến đề tài mà tác giả luận văn đã lựa chọn Những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích và quý báu đối với tác giả luận văn trong

quá trình nghiên cứu đề tài: “Thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại và các

giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam”

Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật trọng tài thương mại và thực tiễn áp dụng pháp luật về trọng tài thương mại vẫn còn chưa được các học giả nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện Có thể thấy hầu hết các công trình nghiên cứu về trọng tài thương mại nói chung, trong đó, việc phân tích về các quy định về trọng tài là một trong những nội dung mà các công trình đề cập

Có một số bài báo đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Luật, như: Bài

“Về hình thức thỏa thuận trọng tài” của Trần Hoàng Hải, Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật, số 4/2011; Bài “Hoàn thiện Luật Trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu hội

nhập quốc tế hiện nay” của Th.S Nguyễn Thị Diễm Anh, Khoa Luật Trường Đại học

Công đoàn, Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị tháng 12/2014; Bài “Những điểm tương

đồng giữa pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam và các nước trên thế giới” của

TS Nguyễn Đình Thơ trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 9 (174)-2006… Tuy vậy, các bài báo này chỉ nghiên cứu về một vài khía cạnh liên quan đến pháp luật về trọng

Trang 11

4 tài thương mại Do đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả trong các công trình nghiên cứu của các học giả về vấn đề này, tác giả luận văn đã làm rõ hơn, phân tích một cách tổng quát những quy định pháp luật hiện hành về trọng tài thương mại, những thành tựu và vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật trọng tài tại Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả những vấn đề liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài thương mại Phạm vi nghiên cứu là nội dung các quy định pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam, chủ yếu là các quy định trong Luật Trọng tài Thương mại (2010)

4 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn

Để nghiên cứu đề tài đã chọn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin Đồng thời, tác giả luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, thích hợp, như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh; cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng ở Chương 1 để tìm hiểu chi tiết các vấn đề, từ đó rút ra kết luận khái quát về các vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng ở Chương 2 để nghiên cứu các vấn đề dưới góc độ hiện thực khách quan trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau

- Phương pháp so sánh được sử dụng ở các Chương 1, 2, 3 để đối chiếu pháp luật của Việt Nam và pháp luật quốc tế về từng vấn đề nghiên cứu để tìm ra những ưu điểm, thành công cần duy trì, phát triển và những hạn chế, bất cập cần khắc phục, loại trừ trong xây dựng và áp dụng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

5 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu của luận văn

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, phục vụ cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đề đạt được mục đích trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:

- Giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về trọng tài thương mại và pháp luật

về Trọng tài thương mại;

Trang 12

- Nghiên cứu làm rõ thực trạng hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại ở nước ta, tìm ra những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp của các Trung tâm này trong thời gian qua;

- Phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về Trọng tài thương mại làm cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này;

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Qua quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế về trọng tài thương mại, luận văn góp phần làm rõ thêm, làm phong phú thêm một số nội dung của pháp luật về trọng tài thương mại như sau:

- Tác giả luận văn đã trình bày một cách khoa học và có hệ thống những vấn đề

lý luận cơ bản về các quy định của pháp luật trọng tài hiện hành: khái niệm, bản chất, đặc điểm, hệ thống văn bản pháp luật về trọng tài, sự hình thành và phát triển của pháp luật về trọng tài, pháp luật trọng tài trên thế giới và bài học cho Việt Nam; các hình thức trọng tài, các quy định về thẩm quyền, nguyên tắc giải quyết tranh chấp, thỏa thuận trọng tài, quy định về phán quyết, cơ chế hỗ trợ của Tòa án, …

- Tác giả luận văn đã tham khảo pháp luật về hoạt động trọng tài và thông lệ quốc tế của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, trên cơ sở đó

để tìm hiểu, phân tích, đánh giá đúng đắn các ưu điểm, nhược điểm của pháp luật Việt Nam về trọng tài;

- Đồng thời, tác giả luận văn trình bày một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trọng tài của Việt Nam và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trọng tài ở nước ta, đối với cụ thể từng cơ quan có liên quan đến hoạt động này;

Trang 13

6

- Tác giả luận văn đã hệ thống hóa những quy định của pháp luật hiện hành về Trọng tài thương mại, đồng thời có sự so sánh với quy định của Luật Mẫu và pháp luật của một số nước trên thế giới để thấy được sự tương thích và sự khác biệt giữa pháp luật của Việt Nam và pháp luật quốc tế về trọng tài thương mại, nhận định những điểm còn hạn chế trong các quy định về trọng tài theo Luật Trọng tài Thương mại (2010)

Từ đó, tác giả luận văn đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện thêm các quy định về vấn đề này Ngoài ra, tác giả luận văn còn nhận xét về thực tiễn áp dụng quy định về trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay, những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại, qua đó tìm ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về trọng tài thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp lý về trọng tài thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam

Trang 14

7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm, bản chất, đặc điểm của trọng tài thương mại

1.1.1 Định nghĩa trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài thương mại

Trọng tài (Arbitration) và cụ thể hơn là trọng tài thương mại (Commercial Arbitration) là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, có thể được

sử dụng thay thế cho phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống bằng Tòa án Tranh chấp ở đây là các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài theo quy định tại Điều 2, Luật Trọng tài Thương mại (2010) Trong khoa học pháp lý, trọng tài được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau và do đó cũng có nhiều định nghĩa về trọng tài:

Theo HĐTT Mỹ (AAA): “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng

cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành”

Tại Việt Nam, theo quy định của khoản 1, Điều 2, Pháp lệnh Trọng tài Thương

mại năm 2003: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh

trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định” Còn theo quy định của khoản 1, Điều 3, Luật Trọng tài

Thương mại năm 2010, thì: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp

do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”

Theo cuốn Đại từ điển Kinh tế Thị trường, thì: “Trọng tài là một phương thức giải

quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp, là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba với tư cách công bằng, chính trực xét xử, phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên”

Còn theo định nghĩa của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ, thì “Trọng tài là phương thức giải

quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật giải quyết”

Có thể thấy, mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về trọng tài, song nhìn chung hiện nay, trọng tài thương mại được nhìn nhận dưới góc độ sau:

Trang 15

8 Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi nhà nước (phi chính phủ) do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp thương mại Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra

để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên

Phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Để đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết, các bên phải có thỏa thuận trọng tài Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá giống với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải Cả hai phương thức này đều có sự xuất hiện của người thứ ba Tuy nhiên, trong hình thức hòa giải, vai trò của người thứ ba chỉ mang tính hỗ trợ, giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau Còn trong phương thức trọng tài, sau khi xem xét sự việc, Trọng tài có thể đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên

Để có thể đưa tranh chấp ra giải quyết trước HĐTT, các bên cần phải có một thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài thể hiện ý chí của các bên rằng họ muốn tranh chấp được giải quyết theo phương thức trọng tài Thỏa thuận trọng tài thường là một điều khoản trong hợp đồng giao kết giữa các bên, hoặc cũng có thể là một văn bản độc lập Thỏa thuận trọng tài có thể có trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp

1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp kết hợp được nhiều ưu điểm của các phương thức giải quyết tranh chấp khác, thí dụ như: Đảm bảo sự tự do thỏa thuận

ý chí, giữ gìn bí mật kinh doanh và uy tín cho các bên, duy trì được quan hệ giữa các bên sau khi giải quyết tranh chấp như phương thức thương lượng, hòa giải; đảm bảo

sự chặt chẽ về thủ tục tố tụng và tính tài phán như hình thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án Qua việc phân tích những khái niệm trên, có thể thấy TTTM có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, trọng tài có tính phi nhà nước Trọng tài là một loại hình tổ chức phi

chính phủ (tổ chức xã hội-nghề nghiệp), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài Đây là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại và được pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam

Trang 16

9 quy định Trọng tài là cơ quan tài phán bởi lẽ tiến hành thủ tục trọng tài là hoạt động thường xuyên và chủ yếu của các Trung tâm Trọng tài Đó là các Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng với cơ cấu tổ chức rõ ràng, chặt chẽ Cũng như Tòa án, sau khi tiến hành giải quyết tranh chấp, HĐTT sẽ ban hành phán quyết trọng tài Phán quyết này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên và được đảm bảo cưỡng chế thi hành dưới sự hỗ trợ của Cơ quan Thi hành án (khi có yêu cầu)

Thứ hai, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu

tố thỏa thuận và tài phán Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể

có phán quyết trọng tài thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận Bởi vậy, về nguyên tắc, thẩm quyền của Trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật; các đương sự có thể lựa chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới

để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, một khi đã được thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất cưỡng chế và bắt buộc các bên phải thi hành

Thứ ba, đương sự được tự định đoạt Phương thức trọng tài bảo đảm quyền tự định

đoạt của các đương sự cao hơn so với phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án Biểu hiện cơ bản là các đương sự trong tố tụng trọng tài có quyền lựa chọn TTV, địa điểm giải quyết tranh chấp, quy tắc tố tụng, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp…

Thứ tư, phán quyết trọng tài là chung thẩm Phán quyết trọng tài có giá trị chung

thẩm và không thể kháng cáo, kháng nghị trước bất kỳ cơ quan, tổ chức nào (trừ trường hợp rất đặc biệt liên quan đến hủy phán quyết trọng tài) Đặc điểm này thể hiện cơ chế nhanh gọn trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại

Thứ năm, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có sự hỗ trợ của Tòa án Pháp

luật của các nước (trong đó có Việt Nam), đều quy định cơ chế hỗ trợ từ phía Tòa án đối với tổ chức và hoạt động của Trọng tài Thông qua trình tự công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài, Tòa án đảm bảo thực thi trên thực tế những quyết định của trọng tài, khi một hoặc các bên đương sự không tự nguyện thi hành Tại Việt Nam, phán quyết của Trọng tài Việt Nam đương nhiên có hiệu lực thi hành Ngoài ra, Tòa

án còn có thể hỗ trợ trọng tài ở các công việc khác, như: xác định giá trị pháp lý của TTTT; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của HĐTT; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, cấm hoặc buộc đương sự thực

Trang 17

10 hiện một số hành vi nhất định; xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài

1.2 Ưu điểm của trọng tài thương mại

Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM có một loạt các ưu điểm so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như sau:

Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Thương mại có

ưu điểm nổi bật so với việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo

và phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng Việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án phải theo trình tự từ xét xử từ sơ thẩm đến xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Còn cách thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo Xét xử tại Trọng tài chỉ có một cấp xét xử Khi tuyên phán quyết xong, HĐTT hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư, thương mại Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng những tranh chấp trong hoạt động đầu tư, kinh doanh sẽ được giải quyết nhanh gọn, ít tốn kém, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, khi họ quyết định đầu tư , kinh doanh tại Việt Nam

Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp không công khai Trọng

tài là một tiến trình GQTC có tính kín đáo, không công khai Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín, nếu các bên không thỏa thuận khác Tính không công khai thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại Điều đó có

ý nghĩa lớn trong thực tiễn cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc công chúng), điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình

Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục và sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia Các bên đương sự được tự do lựa chọn TTV Cách

Trang 18

11 thức lựa chọn Trọng tài và HĐTT phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình

tố tụng Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì HĐTT xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó Khi mang một vụ việc ra xét

xử ở Tòa án, có khả năng thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không có trình

độ chuyên môn cao trong nhiều lĩnh vực, như: Dầu khí, tài chính, xây dựng, đầu tư, bảo hiểm Trong khi đó, trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn TTV có trình độ chuyên môn phù hợp với đối tượng tranh chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong GQTC TTV - người chủ trì việc phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc GQTC thông qua đàm phán, Trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận Các bên có thể chọn một HĐTT dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về luật pháp thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ

Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng và linh hoạt cho các bên Khi vụ tranh chấp được giải quyết tại Tòa án, các bên hoàn

toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Tòa án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Còn khi vụ tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài, các bên được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm, phương thức giải quyết tranh chấp một cách tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời làm giảm chi phí thời gian, tiền bạc, công sức cho quá trình GQTC

Thứ năm, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài giúp tiết kiệm thời gian Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đòi hỏi các bên

không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết vụ tranh chấp theo nhiều cấp khác nhau, giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra hậu quả chậm chạp và tồn đọng Việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng khiến cho quá trình GQTC bị kéo dài Trong thực tế, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ví dụ như GQTC tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn Tòa án có

Trang 19

12 thể kéo dài hàng năm

Thứ sáu, trọng tài là một cơ chế GQTC duy trì được quan hệ đối tác Việc thắng,

thua trong tố tụng tại trọng tài vẫn có thể giữ được mối quan hệ lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác, bởi lẽ tố tụng trọng tài là tự nguyện, xét xử bằng Trọng tài sẽ làm giảm mức

độ xung đột căng thẳng của những bất đồng Đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai

Thứ bảy, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án Trong quá trình

GQTC, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại thì

có quyền làm đơn yêu cầu của Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy; kê biên tài sản tranh chấp, ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng Ngoài ra, việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm Trong khi đó, Tòa án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”

1.3 Hệ thống văn bản pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam

Cũng giống như các quan hệ xã hội khác, các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài được pháp luật quy định và điều chỉnh Bằng công cụ pháp luật, Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý để TTTM được hình thành và hoạt động trong thực tiễn Hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật quy định

về TTTM ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của hoạt động trọng tài Ngoài Luật TTTM (2010), các văn bản pháp luật khác cũng được quy định cụ thể để hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động trọng tài, thí dụ như Bộ luật TTDS (2015), BLDS (2015), Luật Thi hành án dân sự,…

Trang 20

13 Ngoài ra còn có Nghị định số 63/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 28/7/2011 hướng dẫn thi hành Luật TTTM, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTM về quản lý nhà nước về trọng tài, thủ tục đăng ký hoạt động, chấm dứt hoạt động, thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm Trọng tài, Chi nhánh Trung tâm Trọng tài Nghị quyết số 1/2014 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTTM được thông qua ngày 20/3/2014 và có hiệu lực ngày 1/7/2014 (“Nghị quyết 01/2014”)… Pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong quá trình giải quyết những tranh chấp thương mại bằng trọng tài Đó là những quan hệ phát sinh giữa các bên tranh chấp, những người

có quyền và nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp; quan hệ giữa Trung tâm trọng tài (bên giải quyết tranh chấp) với các bên tranh chấp; quan hệ trong việc hỗ trợ của cơ quan nhà nước đối với hoạt động của các Trung tâm Trọng tài Thương mại …

Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

- Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài;

- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài;

- Trình tự, thủ tục giải quyết những tranh chấp thương mại bằng trọng tài;

- Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại (sự hỗ trợ của Tòa án và Cơ quan Thi hành án)

Có thể nói, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật, Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho hoạt động trọng tài, đồng thời đảm bảo sự hỗ trợ thiết thực mang tính quyền lực nhà nước của cơ quan tư pháp nhằm củng cố, hoàn thiện cho tính hiệu quả của TTTM Từ đây, TTTM có điều kiện thuận lợi để trở thành một cơ quan tài phán

mà các thương nhân, doanh nghiệp, các nhà kinh doanh … luôn hướng tới

1.4 Sự hình thành, phát triển và nội dung của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam qua các thời kỳ

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Trọng tài thương mại, với tư cách là một cơ chế GQTC bên ngoài Toà án, đã và đang góp phần không nhỏ vào sự ổn định của hoạt động thương mại trên thế giới Ở nước ta, tiến trình hình thành và phát triển của

Trang 21

14 Trọng tài thương mại được thể hiện qua ba giai đoạn chủ yếu: Giai đoạn sơ khai (trước năm 2003); Giai đoạn chuyển tiếp (năm 2003 – 2010) và Giai đoạn hội nhập

(từ năm 2010 đến nay)

1.4.1 Giai đoạn sơ khai (trước năm 2003)

Phương thức tố tụng trọng tài đã hình thành và phát triển ở Việt Nam từ lâu, song chỉ trong thời gian gần đây, Trọng tài Thương mại theo đúng các chuẩn mực trên thế giới mới được công nhận rộng rãi và luật hóa

 Giai đoạn trước những năm 60 của thế kỷ XX: Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX ở nước ta đã có các Tòa án Thương mại và các quy tắc trọng tài trong Luật Tố tụng Dân sự Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, trọng tài chưa được biết đến và sử dụng một cách phổ biến

 Giai đoạn từ những năm 60 của thế kỷ XX đến trước khi ban hành Pháp lệnh TTTM (2003): Ở Việt Nam thời gian này tồn tại hai loại hình trọng tài, một là Trọng tài Kinh tế Nhà nước và hai là trọng tài phi nhà nước

- Trọng tài Kinh tế Nhà nước:

Trọng tài Kinh tế Nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước Mô hình này được xác lập bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960, trước khi được nâng cấp tại Pháp lệnh Trọng tài Kinh tế Nhà nước năm

1990 Theo đó, Trọng tài được tổ chức ở ba cấp, đó là: Trọng tài Kinh tế Nhà nước, Trọng tài Kinh tế Tỉnh và Trọng tài Kinh tế huyện Như vậy, thực chất, Trọng tài Kinh tế Nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng xét xử nhằm giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước, chưa thể hiện được vai trò trọng tài

Trong khi đó Toà án Nhân dân thời kỳ này không có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp kinh tế, mà chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự giữa các cá nhân với nhau, chủ yếu là các vấn đề hôn nhân và gia đình hoặc tranh chấp liên quan đến hàng hoá có mục đích để sử dụng cá nhân và tiêu dùng Mô hình Trọng tài Kinh tế tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống Tòa Kinh tế theo Luật Sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức Tòa án năm 1993 Bắt đầu từ thời điểm này, các Tòa Kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế

Trang 22

15

- Trọng tài Kinh tế phi nhà nước:

Đối với Trọng tài phi nhà nước, ở Việt Nam đã tồn tại hai mô hình khác nhau

Mô hình thứ nhất ra đời từ năm 1963 bằng Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập HĐTT Ngoại thương Tiếp sau đó, ngày 5/10/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 153/CP về việc thành lập HĐTT Thương mại Hàng hải Đến ngày 28/4/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 204/TTg về việc thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất HĐTT Ngoại thương và HĐTT Thương mại Hàng hải

Mô hình trọng tài thứ hai là các Trung tâm Trọng tài Kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ Có 5 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định gồm: 2 trung tâm tại Hà Nội, 1 trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh, 1 trung tâm tại thành phố Cần Thơ và 1 trung tâm tại tỉnh Bắc Giang Như vậy, tuy mang bản chất phi nhà nước, nhưng TTTM tại Việt Nam vẫn được hình thành chủ yếu từ định hướng của Nhà nước và chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật khác nhau Cụ thể, VIAC hoạt động theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ, có Điều lệ và Quy tắc tố tụng riêng, không có bất kỳ liên quan nào đến loại hình trọng tài theo Nghị định số 116/CP

Ngoài việc thành lập mới các Trung tâm Trọng tài như trên, năm 1995, Việt Nam còn gia nhập Công ước New York về việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài Với việc gia nhập Công ước, bất kỳ phán quyết trọng tài nào tại bất kỳ nước nào là thành viên Công ước mà có một bên của phán quyết ở Việt Nam hoặc tài sản ở Việt Nam, thì đều có thể được Nhà nước Việt Nam công nhận và bảo hộ thi hành Ngược lại, bất kỳ phán quyết nào của trọng tài Việt Nam cũng có thể được công nhận

và cho thi hành ở bất kỳ nước thành viên nào của Công ước Có thể nói, việc giải thể Trọng tài Kinh tế Nhà nước, thành lập các Trung tâm trọng tài thương mại độc lập năm

1993, 1994, và tham gia Công ước New York đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi Nhà nước trả TTTM về đúng bản chất và chức năng của nó, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài

Trang 23

16 Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đáng chú ý nêu trên, trong giai đoạn sơ khai này, ở Việt Nam vẫn không có một đạo luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế được ban hành Thêm vào đó, quyết định GQTC của Trọng tài không được bảo đảm thi hành Vì thế, mô hình TTTM chưa thực sự đạt được những thành tựu đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của TTTM hiện đại

1.4.2 Giai đoạn kể từ khi ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại (2003) đến trước khi ban hành Luật Trọng tài Thương mại (2010)

Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại thay cho hoạt động của các Trọng tài Kinh tế, ngày 25/02/2003, Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2003 Sự ra đời của Pháp lệnh là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật về TTTM của Việt Nam Đó là nền tảng pháp lý cho TTTM của Việt Nam tiếp cận, hoà nhập với trọng tài của các nước phát triển Về cơ bản, Pháp lệnh phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của trọng tài, như quy định về hiệu lực của TTTT, điều kiện trở thành TTV, quy định

về trọng tài vụ việc, xác định rõ những nguyên tắc quan trọng nhất của tố tụng trọng tài đó là nguyên tắc tôn trọng sự tự định đoạt và bình đẳng của các bên tranh chấp; mở rộng thẩm quyền chọn TTV, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà án bằng một loạt các quy định cụ thể, như: hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định TTV, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của HĐTT, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v…

Tuy nhiên, qua 6 năm áp dụng cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới như Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, sự xuất hiện của các đạo luật mới: Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005 v.v một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ bất cập và không còn phù hợp với tình hình mới Cụ thể là: Một số quy định về thẩm quyền trong giải quyết tranh chấp trong quá trình thực thi

đã phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến tranh cãi về phạm vi áp dụng của

Pháp lệnh; Bỏ sót một chế định rất cơ bản, đó là vấn đề thỏa thuận trọng tài “không

thực hiện được hoặc không thể thực hiện được”; Những khó khăn khi Pháp lệnh chỉ

Trang 24

17 giới hạn thẩm quyền của Tòa án nơi HĐTT thụ lý vụ tranh chấp mới có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quy định về huỷ quyết định trọng tài còn nhiều bất cập (cơ chế hủy quyết định trọng tài quá đơn giản và phạm vi còn quá rộng); quy định về địa điểm xét xử còn chưa hợp lý và chặt chẽ; Cách tính thời hiệu khởi kiện chưa được quy định rõ ràng khi theo quy định là 2 năm kể từ ngày xảy ra tranh chấp nhưng pháp luật có thiếu sót khi quy định trong một số trường hợp, ví dụ trong trường hợp phán quyết của HĐTT đã ra nhưng lại bị Tòa án tuyên hủy thì thời hiệu khởi kiện sẽ được tính từ thời điểm nào, thời gian giải quyết tranh chấp tại trọng tài có được trừ vào thời hiệu khởi kiện hay không vẫn chưa được quy định; Ngoài ra một số các quy định về trình tự thời gian của Pháp lệnh còn quá chung chung v.v Vì vậy, mặc dù đã có những quy định khá tiến bộ so với trước đây, Pháp lệnh TTTM (2003) vẫn chưa đủ khả năng tạo ra những cơ sở pháp lý thực hiện chủ trương của Nhà nước ta khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại và các tranh chấp khác

1.4.3 Giai đoạn sau khi Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 được ban hành đến nay

Trên cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những điểm hạn chế của Pháp lệnh TTTM (2003), ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

đã thông qua Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 gồm 13 chương, 82 điều Đạo luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011 và thay thế cho Pháp lệnh TTTM (2003) hết hiệu lực cùng ngày Luật TTTM (2010) đã thể hiện sự đột phá của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam, như: Đã khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của trọng tài đối với các tranh chấp thương mại; Giới hạn các tình huống làm thỏa thuận trọng tài vô hiệu đồng thời quy định hướng giải quyết khi TTTT không rõ ràng; Lần đầu tiên có điều khoản bảo vệ người tiêu dùng trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp; Cho phép TTV là người nước ngoài cũng như nội luật hoá các cam kết quốc tế của Việt Nam về dịch vụ trọng tài Ngoài ra, đạo luật này cũng xác định rõ mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong quá trình giải quyết tranh chấp, mở rộng thẩm quyền của HĐTT và tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng Từ đó, Luật TTTM (2010) bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản

Trang 25

18 pháp luật hiện hành, nâng cao tính khả thi trong thực tế và tiến đến gần hơn các tiêu chuẩn quốc tế Cụ thể, một số điểm mới cơ bản của Luật TTTM (2010) bao gồm:

1.4.3.1 Phạm vi thẩm quyền

Pháp lệnh TTTM (2003) quy định thẩm quyền trọng tài đối với các vụ việc phát sinh từ hoạt động thương mại theo phương pháp liệt kê nhóm vụ việc Do tính chất quá cụ thể như vậy nên trong quá trình thi hành Pháp lệnh nảy sinh vấn đề là những tranh chấp phát sinh từ hoạt động không được liệt kê trong Pháp lệnh thì không thể lựa chọn giải quyết bằng thủ tục trọng tài, mặc dù hoạt động đó vẫn có tính chất

thương mại Mặt khác, khái niệm “hoạt động thương mại” trong Pháp lệnh cũng chưa

hoàn toàn đồng nhất với quy định của Bộ luật TTDS và Luật Thương mại Không những thế, quy định của Pháp lệnh còn hạn chế việc áp dụng thủ tục trọng tài với những tranh chấp mà theo các luật chuyên ngành khác, như Luật Đầu tư, Bộ luật Hàng hải v.v có thể áp dụng thủ tục trọng tài

Khắc phục hạn chế này, Điều 2 của Luật TTTM (2010) quy định Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài

Luật TTTM (2010) mở rộng và bảo đảm cho Trọng tài có thẩm quyền giải quyết hầu hết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Thông qua việc để mở khả năng trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định, Luật cũng khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như BLDS, Bộ luật TTDS, Luật Thương mại, Luật Đầu tư và các đạo luật chuyên ngành khác

1.4.3.2 Chủ thể tranh chấp

Pháp lệnh TTTM quy định chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn trọng tài Thực tiễn áp dụng cho thấy, việc giới hạn phạm vi

chủ thể tranh chấp chỉ bao gồm “tổ chức kinh doanh” và “cá nhân kinh doanh” khiến

các bên tranh chấp và các Trung tâm Trọng tài gặp nhiều khó khăn, vướng mắc

Trang 26

19

Về thuật ngữ “cá nhân kinh doanh” Do Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh không giải thích thế nào là “cá nhân kinh doanh”, nên có nhiều cách

hiểu khác nhau về thuật ngữ này Có quan điểm cho rằng, bất kỳ một cá nhân nào bỏ

vốn ra để đầu tư, kinh doanh đều được gọi là “cá nhân kinh doanh”; nhưng quan điểm khác lại cho rằng để được gọi là “cá nhân kinh doanh” thì cá nhân đó phải có đăng ký kinh doanh Ngoài ra, thuật ngữ “tổ chức kinh doanh” đã bỏ sót nhiều đơn vị,

tổ chức tuy không có chức năng kinh doanh, nhưng là một bên của hoạt động thương mại, như các Ban quản lý dự án, cơ quan hành chính sự nghiệp tham gia đấu thầu hoặc giao kết các hợp đồng, kể cả các hợp đồng mua sắm công, trong đó sử dụng thủ tục trọng tài theo khuyến nghị của các nhà tài trợ, định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á v.v…

Những điểm bất cập trên đã khiến các Trung tâm trọng tài phải từ chối giải quyết

nhiều vụ tranh chấp do các bên tranh chấp không phải là “tổ chức kinh doanh” hoặc

“cá nhân kinh doanh” Rút kinh nghiệm từ thực tế này, Luật TTTM (2010) không có

giới hạn về phạm vi chủ thể tranh chấp Các tổ chức, cá nhân bất kỳ đều có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài Thương mại để giải quyết tranh chấp, miễn là lĩnh vực tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại

1.4.3.3 Thỏa thuận trọng tài

Luật TTTM (2010) đã khắc phục được sự không rõ ràng của Pháp lệnh TTTM (2003) về các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu Theo Điều 18 Luật TTTM :

(1) Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài; (2) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

(3) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự;

(4) Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định;

(5) Một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu;

(6) Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật

Trang 27

20 Đặc biệt Luật TTTM (2010) đã bỏ quy định cũ của Pháp lệnh TTTM về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên TCTT có thẩm quyền giải quyết Ngoài ra, để giải quyết vấn đề TTTT không rõ ràng, Luật TTTM (2010) cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại Trong trường hợp không thỏa thuận được thì nguyên đơn

có quyền được tự do lựa chọn TCTT mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quy định này góp phần ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp

1.4.3.4 Tranh chấp có một bên là người tiêu dùng

Theo Luật TTTM (2010), lần đầu tiên có quy định về tranh chấp liên quan đến một bên là người tiêu dùng Ở Điều 17, đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài, thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường, người tiêu dùng bị đặt ở một vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy, cần có quy định bảo vệ họ trong các tình huống cần thiết

1.4.3.5 Tiêu chuẩn của Trọng tài viên

Kế thừa Pháp lệnh TTTM (2003), Luật TTTM (2010) vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với TTV nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ TTV nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội Theo đó, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác

từ 5 năm trở lên có thể trở thành TTV Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn TTV phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật TTTM có quy định mở, đó là trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu trên, cũng có thể được chọn làm TTV

Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM (2010) không yêu cầu TTV phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có

Trang 28

21 thể được chọn làm TTV ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc TCTT tín nhiệm họ Quy định này là rất cần thiết khi đáp ứng được nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam đang đẩy mạnh tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

1.4.3.6 Trọng tài quy chế

So với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM (2010) bổ sung một số nội dung dưới đây: Luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài Quy chế để thay cho khái niệm

“Hội đồng trọng tài được thành lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh TTTM quy

định Theo đó, trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trung tâm Trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm Trọng tài

Luật TTTM (2010) cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với đặc thù của mỗi trung tâm để tăng tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp Chỉ khi các bên không có thỏa thuận hoặc quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài không có quy định khác, lúc đó Luật mới đưa ra quy định hướng dẫn

Cuối cùng, Luật TTTM (2010) còn cho phép TCTT nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

1.4.3.7 Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài

Luật TTTM (2010) đã nâng vị thế của trọng tài thương mại một cách đáng kể thông qua việc cho phép HĐTT được thu thập chứng cứ (Điều 47), triệu tập nhân chứng (Điều 48), áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 50) Điều này sẽ giúp cho tố tụng trọng tài được vận hành có hiệu quả hơn

1.4.3.8 Căn cứ hủy phán quyết trọng tài

Luật TTTM (2010) đã hạn chế nguy cơ phán quyết của trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định không phù hợp của Pháp lệnh TTTM, như quy định về quyền của

một bên được gửi đơn lên Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý

với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng

trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài

Về căn cứ hủy phán quyết trọng tài, Luật TTTM (2010) quy định các căn cứ rõ ràng, cụ thể, phù hợp với Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban

Trang 29

22 Thương mại Quốc tế Liên hợp quốc (Luật Mẫu UNCITRAL), xóa bỏ một số căn cứ

hủy phán quyết trọng tài không rõ ràng trong Pháp lệnh TTTM (2003) như “Bên yêu

cầu chứng minh được trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp có Trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ của Trọng tài viên”

Theo Điều 68, Luật TTTM (2010), các căn cứ hủy phán quyết trọng tài gồm:

(1) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

(2) Thành phần hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật Trọng tài Thương mại; (3) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

(4) Chứng cứ do các bên cung cấp mà hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

(5) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Một điểm khác biệt nữa so với Pháp lệnh TTTM là Luật TTTM (2010) đã phân chia nghĩa vụ chứng minh về căn cứ hủy thành 2 trường hợp Đối với các căn cứ hủy

số (1), (2), (3), (4) bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chứng minh Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo căn cứ số (5), Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài

1.4.3.9 Cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng

Một trong những quy định mới của Luật TTTM (2010) là đã tiếp thu một nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng là nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các nước phát triển, quy định tại Điều 13 Theo đó, một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật TTTM hoặc của TTTT mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định, thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án Quy định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố tụng trọng tài

1.4.3.10 Quan hệ giữa Tòa án với Trọng tài

Trang 30

23 Một trong những tâm điểm quan trọng nhất của Luật TTTM (2010) là giải quyết mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan

hệ pháp lý quan trọng này Cụ thể, Điều 7, Luật TTTM (2010) xác định rõ Tòa án nào

có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài Quy định này đã khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh TTTM Tính xác định và rõ ràng này của Luật TTTM (2010) sẽ tạo điều kiện để các toà án và HĐTT cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ thể Đó chính là điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả hơn

1.4.3.11 Thủ tục hủy phán quyết trọng tài

Về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, khác với Pháp lệnh TTTM, thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ có một cấp và có giá trị chung thẩm Việc Luật TTTM (2010) quy định một Hội đồng gồm ba thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và quyết định của Hội đồng là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay là phù hợp

Tóm lại, Luật Trọng tài Thương mại được ban hành năm 2010 đã kế thừa và phát huy Pháp lệnh TTTM (2003), với nhiều điểm mới quan trọng, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra khung pháp lý mới cho sự phát triển của hoạt động TTTM ở Việt Nam

1.5 Pháp luật trọng tài thương mại trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam

1.5.1 Pháp luật về trọng tài thương mại trên thế giới

Xét về mặt lịch sử, hòa giải và trọng tài là hai phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm hơn so với tố tụng tư pháp tại Tòa án Lịch sử hình thành và phát triển của các hình thức giải quyết tranh chấp này ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa Vì vậy, TTTM cũng có quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ ít hình thức đến nhiều hình thức, từ chưa chặt chẽ đến chặt chẽ hơn

Trọng tài ra đời cách đây mấy trăm năm nhưng mãi đến nửa sau thế kỉ thứ XX mới phát triển một cách mạnh mẽ Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Hình thái đầu tiên về trọng tài có thể bắt nguồn từ các quốc gia thành bang cổ Hy Lạp, cổ

La Mã và thời Xuân Thu Chiến Quốc cũng có ghi chép lại hình thức trọng tài này

Trang 31

24 Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp này Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình mà không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau, Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, không chỉ giải quyết các tranh chấp trong biên giới lãnh thổ mà còn ở những nước La

Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu Nhìn chung, chế độ trọng tài thời xưa chủ yếu dùng để GQTC giữa chủ nợ và khách nợ Đối với các nước có nền kinh tế hàng hải phát triển lâu đời như Vương quốc Anh cũng phải mất một khoảng thời gian dài mới đặt trọng tài vào đúng vị trí của nó Trong hệ thống pháp luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài (1697) Nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610) Tuy nhiên, các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước

từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài, nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Luật Trọng tài của nước Anh liên tiếp được sửa đổi, bổ sung theo hướng tự do hơn cho trọng tài hoạt động trong mối liên hệ với Tòa án

Còn ở Mỹ, Hiệp hội Trọng tài đã được thành lập với số lượng lớn và đông nhất trên thế giới Đặc biệt, trong Hiệp ước Jay (1794), Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở Trọng tài Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở Tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn

Châu Âu lục địa thì lại có những tổ chức trọng tài truyền thống như Tòa án Trọng tài Quốc tế của Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế (ICC), hoặc đặc thù như Viện Trọng tài bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế Stockhom (Thụy Điển) Ngoài ra, Châu Âu cũng đã và đang củng cố và thành lập mới nhiều TCTT quốc gia nhằm đáp ứng các đòi hỏi của nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu Bên cạnh sự phát triển của các TCTT quốc gia và ở các khu vực lớn, trong những năm gần đây, các tổ chức này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khu vực

Trang 32

25 Châu Á – Thái Bình Dương Trong hơn 30 năm trở lại đây, các quốc gia có nền kinh

tế thị trường năng động trong khu vực này đã tổ chức lại các Trung tâm trọng tài quốc gia hoặc thành lập các TCTT mới như: Hiệp hội Trọng tài Nhật Bản (Tokyo, Osaka, Koby…) Tại các nước xung quanh Việt Nam, các TCTT liên tiếp ra đời như: Trọng tài thuộc Phòng Thương mại Thái Lan (1990), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (1987), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (1991)

Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, nhất là việc tăng cường mậu dịch quốc tế, trọng tài đã trở thành một phương tiện được áp dụng rộng rãi trên trường quốc tế để giải quyết các tranh chấp, dẫn tới việc hình thành những TCTT quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế Cùng với đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều của hệ thống các văn bản pháp luật quốc

tế và ở mỗi quốc gia nhằm điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng thủ tục trọng tài Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức GQTC linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới

Ra đời sau pháp luật TTTM so với các quốc gia trên thế giới, pháp luật về TTTM của Việt Nam đã chủ động học hỏi và kế thừa pháp luật về trọng tài quốc tế

Cụ thể, ngay từ khi xây dựng Pháp lệnh TTTM (2003), một trong những quan điểm

đã được đề ra, đó là Pháp lệnh phải được xây dựng theo những nguyên tắc chung về trọng tài trên thế giới, có tính đến những đặc thù kinh tế - xã hội của Việt Nam Do

đó, Pháp lệnh TTTM (2003) vừa mang bản chất và những đặc trưng chung của trọng tài thương mại được ghi nhận trong Luật Mẫu UNCITRAL và Quy tắc tố tụng của Phòng Thương mại quốc tế (ICC), vừa thể hiện được những quy định có tính đặc thù.1

Có thể thấy hầu hết các nước trên thế giới, để điều chỉnh hoạt động của TTTM đều ban hành một đạo luật riêng Cụ thể, ở Trung Quốc có Luật Trọng tài năm 2003;

ở Malaysia có Luật Trọng tài năm 1952 (sửa đổi năm 1972 và năm 1980); ở Đức có

chí Dân chủ và Pháp luật số 9 (174), tr.27-33

Trang 33

26 Luật Trọng tài năm 1998; ở Tây Ban Nha có Luật Trọng tài năm 2003; ở Nga có Luật Trọng tài Thương mại Quốc tế năm 1993, ở Anh có Luật Trọng tài năm 1996…Các đạo luật này là cơ sở pháp lý làm nền tảng cho hoạt động trọng tài Còn tại Việt Nam, sau một thời gian xây dựng, củng cố pháp luật về trọng tài thương mại cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế nói chung và tình hình xã hội Việt Nam nói riêng, đến năm

2010, Luật TTTM đã được ban hành chính thức thay thế Pháp lệnh TTTM trước đó

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ Pháp lệnh TTTM (2003) cho đến Luật TTTM (2010), tinh thần và các quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam có nhiều nét tương đồng với

xu thế chung của các nước trên thế giới, pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam đã học hỏi được những nguyên tắc phù hợp, đổi mới khiến cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trở nên hấp dẫn hơn

Thứ nhất, giống như ở các nước khác, Trọng tài thương mại ở Việt Nam cũng là

một cơ quan tài phán tư, là cơ quan tài phán có quyền lực theo ủy quyền của các bên tranh chấp Sự ủy quyền này được thực hiện thông qua một công cụ gọi là “thỏa thuận trọng tài” Quyền lực của Trọng tài là “quyền lực hợp đồng” hay “quyền lực đại diện’, do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm Vì vậy, phán quyết của trọng tài không mang tính chất quyền lực nhà nước mà mang tính đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp

Thứ hai, pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam thừa nhận thẩm quyền rộng rãi

của Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh, đặc biệt là từ hoạt động thương mại Theo xu hướng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, thì Trọng tài được thành lập chủ yếu để GQTC thương mại phát sinh từ hoạt động thương mại

Điều 2 Luật Trọng tài của Trung Quốc thừa nhận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp

đồng và các tranh chấp liên quan tới chủ quyền sở hữu và các lợi ích phát sinh giữa các chủ thể dân sự có địa vị pháp lý ngang nhau, như giữa các công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác có thể được giải quyết bằng trong tài.” Còn theo Điều 1 Luật

Trọng tài của Thụy Điển: “Mọi tranh chấp liên quan đến một vụ việc dân sự cũng như

việc bồi thường thiệt hại do hành vi tội phạm có thể được các bên thỏa thuận giải quyết bởi một hoặc các trọng tài viên.” Như vậy, phạm vi giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài là rất rộng, bao gồm hầu như mọi tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể có

Trang 34

27 địa vị pháp lý ngang nhau Theo pháp luật Việt Nam, trước khi Pháp lệnh TTTM (2003) ra đời, theo Nghị định số 116/CP của Chính phủ, phạm vi các tranh chấp thương mại có thể giải quyết bằng trọng tài bị bó hẹp Tuy nhiên, để khắc phục nhược điểm trên, về sau Pháp lệnh TTTM (2003) đã đưa ra khái niệm “hoạt động thương mại” được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm hầu như toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của thương nhân từ sản xuất đến lưu thông, phân phối, cung cấp dịch vụ, từ sản xuất kinh doanh thông thường đến các hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù Cụm từ

“hoạt động thương mại” sau đó vẫn được giữ và được đưa vào Luật TTTM (2010)

Có thể nói cụm từ này có nội hàm tương tự như khái niệm “thương mại” trong Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài Với quy định này, thẩm quyền của trọng tài thương mại theo pháp luật trọng tài thương mại hiện hành của nước ta đã được mở rộng phù hợp với pháp luật của các nước trên thế giới

Thứ ba, pháp luật quy định cụ thể chặt chẽ về thỏa thuận trọng tài làm cơ sở cho

việc phân biệt thẩm quyền của Trọng tài và của Tòa án Vì TTTT có vị trí và vai trò

vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đối với việc áp dụng phương thức GQTC bằng trọng tài, nên pháp luật của các nước cũng như pháp luật quốc tế đều dành cho TTTT một sự quan tâm đặc biệt Điều này thể hiện ở chỗ trong các đạo luật về trọng tài thường có một chương riêng quy định về vấn đề này Luật TTTM (2010) cũng dành hẳn một chương để quy định một loạt các vấn đề liên quan đến TTTT

Thứ tư, pháp luật TTTM thừa nhận hai hình thức phổ biến của trọng tài là trọng

tài thường trực và trọng tài vụ việc Trong lịch sử phát triển của Trọng tài, thì hình thức trọng tài vụ việc ra đời trước hình thức trọng tài thường trực Tuy nhiên, sau khi trọng tài thường trực ra đời thì vai trò của trọng tài vụ việc không bị chấm dứt, mà vẫn được thừa nhận như một hình thức trọng tài không thể thiếu của các nhà kinh doanh Pháp luật của Việt Nam trước đây không quy định loại hình trọng tài vụ việc

mà chỉ quy định một loại hình trọng tài duy nhất là trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc chỉ được đề cập trong một số đạo luật (Luật Đầu tư Nước ngoài (1987) và các văn bản hướng dẫn) nhưng lại không được quy định cụ thể, nên không thể áp dụng trên thực tế Đến Pháp lệnh TTTM (2003), pháp luật đã chính thức thừa nhận và tạo

cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của trọng tài vụ việc ở Việt Nam, cho

Trang 35

28 phép trọng tài vụ việc giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh, bao gồm tranh chấp quốc tế và trong nước

Thứ năm, quy định về sự hỗ trợ, giám sát của Tòa án đối với Trọng tài trong quá

trình giải quyết vụ việc Do bản chất phi chính phủ của mình, nên Trọng tài không thể

có quyền lực nhà nước để thực hiện một số công việc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp; vì vậy, Trọng tài cần có sự giúp đỡ của các cơ quan nhà nước, nhất

là của Tòa án Trước đây, Nghị định số 116/CP đã được xây dựng trên một quan điểm hoàn toàn xa lạ với thông lệ quốc tế Theo đó, Trọng tài Kinh tế là một thiết chế tài phán phi chính phủ, do đó, nó phải được thiết kế sao cho có thể tồn tại và hoạt động một cách độc lập với Tòa án Hậu quả là giữa Trọng tài và Tòa án ở nước ta trong thời gian đó không tồn tại bất cứ một mối quan hệ pháp lý nào Sau đó, Pháp lệnh TTTM (2003) đã tạo ra bước đột phá mới cho quy định về mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài để nó trở nên phù hợp với thông lệ quốc tế và pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới Các hình thức hỗ trợ và giám sát của Tòa án đối với Trọng tài có thể kể đến là: Tòa án có quyền xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài; Tòa án giúp các bên trong việc lựa chọn TTV trong những tình huống cần thiết; Tòa án ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trọng tài; Tòa án có quyền xem xét và hủy quyết định trọng tài khi có yêu cầu

Thứ sáu, trọng tài hoạt động theo nguyên tắc: phán quyết của Trọng tài mang

tính chung thẩm Đây là một ưu thế từ bản chất của Trọng tài, giúp cho các nhà kinh doanh không bị kéo vào vòng kiện tụng phức tạp, tốn kém tiền bạc và thời gian như ở Tòa án Trước đây, do nhận thức không đúng, nên pháp luật của Việt Nam (Nghị định

số 116/CP) đã quy định: trong trường hợp bên thua kiện không tự nguyện thi hành quyết định trọng tài, thì bên thắng kiện không có biện pháp nào để bảo vệ lợi ích của mình, ngoài quyền được khởi kiện vụ án lại từ đầu tại Tòa án theo thủ tục tư pháp (Điều 31) Cho đến khi Pháp lệnh TTTM (2003) ra đời, giá trị hiệu lực của phán quyết trọng tài đã được Nhà nước công nhận và đảm bảo thi hành, đưa Trọng tài Việt Nam trở lại đúng bản chất của Trọng tài mà thông lệ chung trên thế giới đã thừa nhận.2

2

Nguyễn Đình Thơ, tlđd chú thích 1, tr.32

Trang 36

29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam

2.1.1 Các quy định về thẩm quyền của Trọng tài Thương mại

Không phải mọi tranh chấp phát sinh trong xã hội đều có thể được giải quyết bằng Trọng tài Thương mại Điều 2, LTTTM (2010) quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài như sau:

1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại

3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài

Đối với tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, Pháp lệnh TTTM (2003) từng quy định cụ thể các loại “hoạt động thương mại” theo hình thức liệt kê Ngược lại, Luật TTTM (2010) không hề có quy định nào giải thích khái niệm

“hoạt động thương mại” Vì vậy, khi vận dụng Luật, ta phải căn cứ vào quy định pháp luật có quan hệ gần nhất là Luật Thương mại năm 2005 Khoản 1, Điều 3 của Luật

này quy định “hoạt động thương mại gồm các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao

gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Như vậy, có thể thấy phạm vi của hoạt động

thương mại rất rộng Bên cạnh những hoạt động đã được liệt kê cụ thể trong Luật thì

bất kỳ hoạt động nào khác chỉ cần thỏa mãn điều kiện nhằm “mục đích sinh lợi” cũng

được coi là hoạt động thương mại và tranh chấp phát sinh từ các hoạt động này có thể được Trọng tài giải quyết Ví dụ về một số hoạt động thương mại cụ thể như phân phối; đại diện; đại lý thương mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn;

kỹ thuật; li xăng; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ Một số quan hệ không nhằm mục đích sinh lợi và do đó không thuộc thẩm quyền của trọng tài như giao dịch tặng cho, mượn tài sản, thừa kế, hôn nhân gia đình Những quan hệ này khi xảy ra tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; do vậy, các bên

Trang 37

30

dù muốn cũng không có quyền yêu cầu Trọng tài Thương mại giải quyết

Đối với tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại Đây là trường hợp đặc biệt mà Trọng tài có thẩm quyền ngay cả khi tranh chấp không phát sinh từ một hoạt động thương mại, với điều kiện là một trong

các bên “có hoạt động thương mại” Tuy nhiên, Luật TTTM (2010) không giải thích

rõ khái niệm “bên có hoạt động thương mại” là thế nào và liệu bên đó phải thực hiện

hoạt động thương mại một cách thường xuyên hay chỉ cần thực hiện hoạt động thương mại trong giao dịch xảy ra tranh chấp Về vấn đề này, Luật Thương mại (2005) quy định hai nhóm đối tượng có thể được coi là có hoạt động thương mại, gồm (1) thương nhân và (2) tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại tuy không được định nghĩa cụ thể, nhưng có thể hiểu là gồm tổ chức, cá nhân không phải thương nhân nhưng vẫn tham gia hoạt động thương mại, ví dụ như những cá nhân hoạt động thương mại độc lập, không phải đăng ký kinh doanh (buôn bán rong, buôn bán vặt, dịch vụ đánh giày, bán

vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh, v.v ) hoặc có những tổ chức đặc biệt được lập ra để quản lý hoạt động đầu tư cho doanh nghiệp như các Ban quản lý dự án

Đối với tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài, đây là trường hợp dự liệu trước của Luật Nếu một tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại, cũng không có bên nào có hoạt động thương mại, nhưng pháp luật chuyên ngành thấy rằng tranh chấp đó phù hợp với phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, thì tranh chấp này vẫn có thể được giải quyết bằng trọng tài

Một điểm đặc biệt nữa là thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn theo lãnh thổ Do đó, vấn đề thẩm quyền theo lãnh thổ không được đặt ra Các bên có thể lựa chọn bất kỳ tổ chức hoặc HĐTT nào mình thấy phù hợp, dù là của Việt Nam hay nước ngoài, dù nằm ở tỉnh của bên nguyên đơn hay bên bị đơn hoặc bất kỳ tỉnh nào khác để giải quyết tranh chấp cho mình Địa điểm diễn ra tố tụng trọng tài cũng hoàn toàn do các bên lựa chọn và có thể ở bất kỳ đâu, trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam

Trang 38

31 Trong khi đó, Tòa án chỉ được xử lý các vụ việc trong thẩm quyền lãnh thổ của mình

và mọi thủ tục phải diễn ra tại Trụ sở của Tòa, nơi thụ lý vụ án Các bên tranh chấp có thể được lựa chọn Tòa án, nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định Như vậy, về mặt lãnh thổ thì cơ chế GQTC bằng Trọng tài linh động và có ưu thế hơn cơ chế GQTC bằng Tòa án

2.1.2 Quy định về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Theo Luật TTTM (2010) việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải tuân theo các nguyên tắc sau:

Một là, TTV phải tôn trọng thỏa thuận của các bên, nếu thỏa thuận đó không vi

phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội

Có thể nói thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết và bắt buộc trong GQTC bằng trọng tài thương mại Nó thể hiện ý chí của các bên cùng đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết theo quy tắc của một TCTT nhất định Đây là cơ sở cho các bên tiến hành giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực không chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của các bên mà còn là căn cứ pháp lý để dựa vào đó, bên

bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ trọng tài

Đối với việc GQTC bằng thủ tục tư pháp tại Tòa án, khi có tranh chấp phát sinh, bên có quyền lợi hợp pháp bị vi phạm có quyền đệ đơn yêu cầu Tòa án giải quyết mà không cần có sự thỏa thuận trước Vì TTTT có vị trí, vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với việc áp dụng phương thức giải quyết bằng trọng tài, nên pháp luật

về trọng tài của Việt Nam đã có quy định khá cụ thể Luật TTTM (2010) đã kế thừa Pháp lệnh TTTM (2003) và quy định chặt chẽ hơn điều kiện thỏa thuận của các bên

tranh chấp là tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc sau khi xảy ra

tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài của các bên tranh chấp không vi phạm điều cấm của pháp luật Thực tiễn cho thấy đã có nhiều TTTT bị

tuyên bố vô hiệu vì không đảm bảo nguyên tắc này Từ đó có thể thấy nguyên tắc này

có ưu thế nổi bật của phương thức GQTC bằng trọng tài so với Tòa án Pháp luật của các nước và pháp luật quốc tế cũng dành cho TTTT một sự quan tâm riêng Điều này được thể hiện ở chỗ trong các đạo luật thường có một chương riêng hoặc một điều riêng quy định về vấn đề này; cụ thể:

Trang 39

32 Luật Trọng tài của Hoa Kỳ (có hiệu lực năm 1955, sửa đổi bổ sung năm 1956)

quy định tại Điều 1: “Một thỏa thuận bằng văn bản đưa ra trọng tài để giải quyết bất

kỳ tranh cãi hoặc một điều khoản trong một hợp đồng bằng văn bản nhằm đưa ra trọng tài giải quyết tranh chấp phát sinh sau đó giữa các bên sẽ có hiệu lực, có thể được thi hành và không hủy bỏ bất kỳ hợp đồng nào…” Điều 6, Quy tắc của ICC ghi

nhận quyền tự quyết của các bên tham gia “Khi các bên thỏa thuận đưa tranh chấp ra

trọng tài giải quyết theo Quy tắc này thì tố tụng trọng tài được bắt đầu có hiệu lực từ ngày mà các bên đưa tranh chấp ra và giải quyết theo quy tắc này” Ngoài ra, Luật

Trọng tài của Đức (1998), Luật Trọng tài của Thái Lan (1987), Luật Trọng tài của Liên Bang Nga năm 1993, Luật Trọng tài của Canada năm 1986 cũng quy định về vấn

đề này

Như vậy, theo quy định pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam, thỏa thuận trọng tài là tiền đề, đặt dấu mốc khởi đầu cho quá trình tố tụng trọng tài Một tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh muốn được giải quyết bằng trọng tài thì điều kiện tiên quyết là trước hoặc sau khi tranh chấp xảy

ra, giữa các bên phải tồn tại một TTTT được xác lập dưới dạng văn bản và được xác lập dựa trên cơ sở tự nguyện, theo ý chí của các bên đương sự, không nằm trong các loại TTTT vô hiệu được quy định tại Điều 18, Luật TTTM (2010) Trong trường hợp giữa các bên không tồn tại TTTT hoặc TTTT bị vô hiệu, mà Trọng tài đã ra phán quyết, thì phán quyết của trọng tài sẽ bị Tòa án tuyên hủy theo Điểm a, Khoản 2, Điều

68, Luật TTTM (2010)

Hai là, TTV phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật

Trọng tài viên - với tư cách là người thứ ba được các bên tranh chấp tin tưởng trao quyền giải quyết tranh chấp - cần nhận thức đúng vai trò, nghĩa vụ của mình để đưa ra phán quyết khách quan, vô tư nhất, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích tối đa cho các bên đương sự Tính độc lập và vô tư của TTV được thể hiện ở chỗ: trong quá trình GQTC, TTV tự mình quyết định dựa vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ việc, không phụ thuộc vào người khác Một TTV sẽ khó giải quyết tranh chấp một cách độc lập, nếu người này có quan hệ trực tiếp hoặc có những lợi ích nhất định liên quan đến một bên trong vụ kiện

Trang 40

33 Nguyên tắc trên xuất phát từ nhu cầu khách quan của việc giải quyết vụ tranh chấp theo mong muốn của các bên Nội dung của nguyên tắc được thể hiện rõ trong quá trình tố tụng trọng tài: không được có sự can thiệp của bất kỳ ai đối với TTV Các Trọng tài viên phải là những người đạt tiêu chuẩn nhất định, như: có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học, đã qua thực tế công tác hay những người có trình độ chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn Họ thực sự là những người

có hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật, từ đó nhìn nhận, đánh giá những tình tiết của vụ tranh chấp khách quan và công tâm Để đảm bảo yếu tố vô tư, khách quan, Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp hoặc các bên có quyền yêu cầu thay

đổi Trọng tài viên, nếu nhận thấy “Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người

đại diện của một bên” hay “Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp”

theo Khoản 1, Điều 42, Luật TTTM (2010) Trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp, các TTV phải tuyệt đối tuân thủ quy định của pháp luật Những đánh giá, nhận định, kết luận của TTV được đưa ra không bị chi phối bởi bất kì yếu tố nào, song cần phải dựa trên các căn cứ pháp luât

Luật Mẫu UNCITRAL ghi nhận cơ sở từ chối giải quyết tranh chấp thể hiện tính độc lập và vô tư của Trọng tài viên, là yếu tố quan trọng của quá trình GQTC, Điều 12 Luật

mẫu UNCITRAL quy định: “Trọng tài viên có thể bị khước từ chỉ khi có hoàn cảnh đem

lại sự nghi ngờ chính đáng liên quan đến tính khách quan và độc lập của trọng tài viên này hoặc khi anh ta không có đủ phẩm chất như các bên đã lựa chọn”

Ba là, các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ HĐTT có trách

nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Việc quy định các bên tranh chấp bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng TTTM là sự thể hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận trong các Công ước quốc tế nói chung cũng như trong các văn bản pháp luật nói riêng Nguyên tắc các bên tranh chấp bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ đã được đề cập một cách rõ ràng trong cả Công ước New York và Luật Mẫu UNCITRAL và được pháp luật trọng tài một số nước trên thế giới

công nhận Điều 18 của Luật Mẫu quy định “Các bên phải được đối xử một cách công

bằng và mỗi bên phải được trao đầy đủ cơ hội để trình bày về vụ việc của mình” Theo

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w