Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo pháp luật Việt Nam được áp dụng đối với các chủ thể đầu tư tr
Trang 2TRẦN THU GIANG
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả Luận văn
Trần Thu Giang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn 3
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứucủa Luận văn 4
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện Luận văn 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 5
7 Bố cục của Luận văn 5
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 6
1.1.1 Khái niệm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo .6 1.1.2 Đặc điểm của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 7
1.1.3 Vai trò của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đối với quản lý nền kinh tế và quản lý nền giáo dục, đào tạo .12
1.2 Khái quát pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 14
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 16
1.2.3 Sự hình thành và phát triển các quy định pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam 17
Chương 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO .22
Trang 52.1 Quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 22 2.2 Quy định cụ thể về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 29
2.2.1 Điều kiện về chủ thể đề nghị thành lập các cơ sở giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục, dịch vụ tư vấn du học .29 2.2.2 Điều kiện thành lập các cơ sở giáo dục; tổ chức kiểm định chất lượng
2.3.2.1 Quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, cho phép thành lập các
cơ sở giáo dục, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục 48 2.3.2.2 Quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ cho phép các cơ sở giáo dục, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục hoạt động; đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; chứng nhận kinh doanh dịch vụ tư vấn du học 53
2.3.3 Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo .59
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO .68 3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 68
Trang 63.1.1 Hoàn thiện pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, yêu cầu đổi mới về điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định tại Luật Đầu tư năm
2014 và bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật .68 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo bảo đảm xác định rõ tính chất đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 69 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm cải cách thủ tục hành chính 69
3.2 Một số kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo .70
3.2.1 Cần thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 70 3.2.2 Xác định rõ khái niệm "đầu tư kinh doanh" và tính chất "đầu tư kinh doanh" trong các ngành, nghề đầu tư tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo 71 3.2.3 Rà soát, sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính thống nhất, khả thi, minh bạch của một số quy định pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 74
3.3 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện đầu
tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 75
3.3.1 Hoàn thiện và tăng cường hơn nữa cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 76 3.3.2 Xây dựng cơ chế giám sát và kênh tiếp nhận thông tin phản ánh về việc thực thi pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 77 3.3.3 Tăng cường tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 79
KẾT LUẬN 81
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự do của con người Giá trị
to lớn của quyền tự do kinh doanh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế, tức là khả năng mà cá nhân hay pháp nhân có thể xử sự như: tự do đầu tư tiền vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các quan hệ kinh tế, tự do cạnh tranh, tự do định đoạt trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt
Tuy nhiên, để hiện thực các quyền này thì đòi hỏi Nhà nước phải ghi nhận và bảo đảm quyền bằng pháp luật Theo đó, từ yêu cầu quản lý xã hội, vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bằng pháp luật, Nhà nước có thể xác định giới hạn phạm vi “quyền tự do kinh doanh” thông qua việc quy định các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực đặc thù, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tất cả quốc gia, bởi “sản phẩm” của hoạt động giáo dục, đào tạo chính là đạo đức, năng lực, trình độ của con người và cũng chính là thước đo phản ánh “bản sắc, năng lực, trình độ” của một quốc gia Do đó, đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo luôn được xác định là hoạt động đầu tư kinh doanh có điều kiện
Tại Việt Nam, phát triển giáo dục luôn được xác định là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đầu tư cho giáo dục luôn được Nhà nước ưu tiên Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đổi mới và phát triển giáo dục là vấn đề cấp bách Nhà nước kêu gọi và huy động mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển giáo dục Theo
1
Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do k inh doanh trong pháp luật k inh tế hiện hành ở Việt
Nam, NXB Ch ính trị Quốc gia, Hà Nộ i, tr 19-20
Trang 8đó, Nhà nước đã thiết lập một cơ chế pháp lý làm cơ sở để các nhà đầu tư thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, đặc biệt là các hoạt động đầu tư kinh doanh có điều kiện; đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước quản lý, kiểm soát các hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực có ý nghĩa vô cùng quan trọng, có tính nhạy cảm và tác động
xã hội lớn này
Mặc dù, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục được xác định là hoạt động đầu
tư đặc thù thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện nhưng phải đến khi khái niệm
"đầu tư kinh doanh" và "các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện" xuất hiện trong Luật Đầu tư năm 2014 thì một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo mới được "gọi tên" Thực hiện quy định của Luật Đầu tư năm 2014, các quy định pháp luật về điều kiện đầu
tư trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo được tổng hợp, hệ thống và căn chỉnh lại trong hệ thống các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh nói chung Việc sắp xếp và căn chỉnh lại hệ thống pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói riêng có tác động thúc đẩy đầu tư kinh doanh phát triển, thúc đẩy nền giáo dục phát triển Tuy nhiên, qua
đó cũng cho thấy những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật trong lĩnh vực này như sự không tương thích giữa các văn bản trong việc quy định
về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; những hạn chế trong các quy định về chủ thể thực hiện đầu tư, về hồ sơ, thủ tục, về việc kiểm soát các yếu
tố bảo đảm điều kiện hoạt động
Với vai trò rất lớn của các quy định pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đối với sự phát triển của nền kinh tế và
nền giáo dục, việc nghiên cứu, đánh giá nhằm hoàn thiện "Pháp luật về điều
kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam" là
thực sự cần thiết và ý nghĩa
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về pháp luật điều kiện
Trang 9kinh doanh như: Luận văn thạc sĩ "Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La" của Nguyễn Trọng Hạnh năm 2016; Luận văn thạc sĩ "Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam" của Vũ Thị Hiền năm 2014; Luận văn thạc sĩ "Pháp luật và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam - Thực trạng và hướng hoàn thiện" của Nguyễn Huyền Trang năm 2014.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như: "Thực thi quy định về ngành nghề cấm kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư năm 2014" của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung trên tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội số 01/2016; "Pháp luật về công
cụ hỗ trợ bảo vệ an ninh, trật tự - từ góc độ kiểm soát ngành nghề kinh doanh
có điều kiện" của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung trên tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội số 08/2016; "Pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện" của Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến, Thạc sĩ Trần Thị Bảo Ánh trên tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội số 04/2012
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu các quy định chung của pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, hoặc có nghiên cứu về một ngành, nghề cụ thể nhưng không phải lĩnh vực giáo dục, đào tạo Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo pháp luật Việt Nam được áp dụng đối với các chủ thể đầu tư trong nước và ngoài nước, với nhiều hình thức đầu tư khác nhau như thành lập cơ sở giáo dục, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, kinh doanh d ịch
vụ tư vấn du học, thành lập phân hiệu của các cơ sở giáo dục, liên kết đào tạo với nước ngoài Trong phạm vi của Luận văn, tác giả chủ yếu tập trung phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về điều kiện đầu tư kinh
Trang 10doanh áp dụng đối với các nhà đầu tư trong nước trong việc đề nghị thành lập, cho phép thành lập, cho phép hoạt động của các cơ sở giáo dục (bao gồm cả đăng ký hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp); thành lập, cho phép thành lập, cho phép hoạt động của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp luật điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; dựa trên cơ
sở lý luận đó để đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và đưa ra được những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam
Để thực hiện được mục đích nêu trên, các nhiệm vụ mà Luận văn phải giải quyết là:
- Nêu và phân tích cơ sở lý luận về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Trong đó, cần làm rõ khái niệm, đặc điểm của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và vai trò của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đối với quản lý nền kinh tế
và quản lý nền giáo dục, đào tạo
- Nêu và phân tích cơ sở lý luận về pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Trong đó, cần làm rõ khái niệm, nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; sự hình thành và phát triển các quy định pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành để thấy rõ các
ưu, nhược điểm còn tồn tại trong hệ thống pháp luật điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng như quá trình thi hành các quy định pháp luật này
- Xây dựng định hướng và các giải pháp, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện
Trang 11các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam
5 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện Luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật đầu tư kinh doanh nói riêng Đối với từng nội dung cụ thể, Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Là công trình nghiên cứu về pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Luận văn có một số đóng góp khoa học mới sau:
- Phân tích những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo;
- Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong thời gian tới
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu với 3 chương như sau:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
- Chương 2 Pháp luật hiện hành về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
- Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO
VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO 1.1 Một số vấn đề lý luận về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
1.1.1 Khái niệm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Hiện nay, khái niệm “điều kiện đầu tư kinh doanh” có nhiều cách hiểu khác nhau Dưới góc độ ngôn ngữ, điều kiện đầu tư kinh doanh có thể được hiểu là những yếu tố tác động đến đến hoạt động đầu tư kinh doanh hay còn
hiểu là những yêu cầu, đòi hỏi mà chủ thể kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh nhất định như sản xuất,
Theo ý kiến của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa thì “Điều kiện kinh doanh là
mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thể hóa bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể” 4 Trong đó, việc chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật được biểu hiện thông qua hành vi chấp nhận hoặc từ chối cấp giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện, chứng chỉ hành nghề hoặc thông qua hành vi kiểm tra, giám sát của cơ quan hành chính về việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh của các chủ thể
Vũ Thị Hiền (2014), Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học Luật Hà Nộ i, Hà Nội, tr 5.
4
Phạ m Duy Nghĩa (2006), Giáo trình Luật kinh tế, (1), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nộ i, tr 23-24
Trang 13Theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì:
"Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác" Luật Đầu tư năm 2014 không giải thích “điều kiện đầu tư
kinh doanh” mà chỉ giải thích khái niệm “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
một số điều của Luật Đầu tư quy định: "Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều
kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư"
Từ những quan điểm khoa học và theo quy định của pháp luật nêu trên,
có thể hiểu "điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là
những yêu cầu, đòi hỏi do Nhà nước quy định mà chủ thể đầu tư kinh doanh phải đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi này khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và được thể hiện dưới những hình thức nhất định"
1.1.2 Đặc điểm của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo có những đặc điểm chung của điều kiện đầu tư kinh doanh và những đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
5
Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư nă m 2014
Trang 14Thứ nhất, về chủ thể có thẩm quyền và hình thức quy định điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là yêu cầu, đòi hỏi được Nhà nước đặt ra và quy đ ịnh trong văn bản quy phạm pháp luật Đây là điểm chung, giống như bất kỳ điều kiện đầu tư kinh doanh trong các lĩnh vực khác Việc đặt ra các điều kiện đầu tư kinh doanh là một trong các biện pháp quản lý của nhà nước, có tác động đến quyền tự nhiên vốn có của mỗi cá nhân theo hướng “hạn chế quyền” Theo đó, các hạn chế này phải được pháp luật quy định, là những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải được quy định tại Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Quốc hội sửa đổi, bổ sung Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo thủ tục rút gọn trên cơ sở đề nghị của Chính phủ Như vậy, Quốc hội là chủ thể duy nhất được đặt ra các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Đồng thời, pháp luật cũng quy định bên cạnh điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định Tức là, chủ thể có thẩm quyền quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh chỉ bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ Các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác (như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng các
bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp ) không có hiệu lực thi hành Như vậy, không phải chủ thể nào có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có thẩm quyền đặt ra ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề này Có thể thấy, tùy thuộc vào thời điểm, yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế - xã hội thì Nhà nước đặt
Trang 15ra các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, điều kiện đầu tư kinh doanh khác nhau và cho phép chủ thể nhất định có thẩm quyền quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh Nếu như trước đây, theo Luật Doanh nghiệp năm
2005, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, điều kiện kinh doanh được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì hiện nay, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải được quy định trong luật và điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định Thực tế thời gian thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho thấy, có rất nhiều điều kiện kinh doanh được quy định tại văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp Tình trạng này dẫn đến việc tràn lan giấy phép con, gây khó khăn cho cá nhân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường, thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh Chính vì vậy, triển khai Luật Đầu tư năm 2014, tất cả các điều kiện đầu tư kinh doanh đang được quy định tại các văn bản không phải luật, pháp lệnh, nghị định phải được rà soát để đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định theo đúng thẩm quyền
Theo đó, các điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật, mà cụ thể là các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo phải "có tên" trong Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư và các điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề này phải được quy định trong các luật, pháp lệnh hoặc nghị định
Thứ hai, về phạm vi áp dụng điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo chỉ áp dụng đối với một số ngành, nghề nhất định
Điều kiện đầu tư kinh doanh luôn gắn với ngành, nghề đầu tư kinh doanh Tuy nhiên, không phải ngành, nghề đầu tư kinh doanh nào cũng phải đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh mà chỉ những ngành, nghề cần phải quản
Trang 16lý để bảo đảm các vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng vậy, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo chỉ áp dụng đối với một số ngành, nghề nhất định Theo Luật Đầu tư năm
2014 (được sửa đổi, bổ sung năm 2016) thì các ngành, nghề đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo phải đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh bao gồm: Hoạt động giáo dục nghề nghiệp; kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non; hoạt động của cơ sở giáo dục phổ thông; hoạt động của cơ sở giáo dục đại học; hoạt động của cơ
sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, phân hiệu cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài; hoạt động của cơ sở giáo dục thường xuyên; hoạt động của trường chuyên biệt; hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài; kiểm định chất lượng giáo dục và kinh doanh dịch vụ tư vấn du học Theo đó, có những hoạt động trước đây được xác định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng hiện nay không thuộc Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như dịch
vụ tổ chức dạy thêm, học thêm; hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên
Thứ ba, về hình thức của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Điều kiện đầu tư kinh doanh nói chung được áp dụng theo các hình thức như giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, văn bản xác nhận, các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật; các điều kiện mà các chủ thể đầu tư kinh doanh phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản Mỗi hình thức này có giá trị pháp lý khác nhau, được áp dụng theo từng trường hợp cụ thể
Trang 17Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, các điều kiện đầu tư kinh doanh được thể hiện dưới hình thức quyết định thành lập, cho phép thành lập; quyết định cho phép hoạt động; giấy chứng nhận đăng ký hoạt động; giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ
Thứ tư, về thời gian các chủ thể đầu tư kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Chủ thể đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh Chủ thể đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo được quyền kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo kể từ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà Nhà nước đặt ra Việc đáp ứng các điều kiện này sẽ được các cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát bằng cơ chế hậu kiểm Nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện hoạt động thì các chủ thể sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, có như vậy mới bảo đảm mục tiêu quản lý của nhà nước khi lựa chọn biện pháp điều kiện đầu
tư kinh doanh để điều tiết nền kinh tế và quản lý xã hội, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực có thể gây ra từ hoạt động kinh doanh các ngành, nghề, đặc biệt trong lĩnh vực quan trọng hàng đầu như giáo dục, đào tạo
Thứ năm, về mục đích của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Bản thân điều kiện đầu tư kinh doanh đã là những giới hạn quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh và là cơ sở để quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh Theo đó, điều kiện đầu tư kinh doanh trong một lĩnh vực cụ thể
sẽ giới hạn quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh và là cơ sở quản
lý hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực đó
Quyền tự do kinh doanh vốn gắn với quyền con người Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tổ chức, cá nhân có thể bị Nhà nước hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là những giới
Trang 18hạn quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh và là cơ sở để quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng như định hướng sự phát triển của nền giáo dục, đào tạo theo quan điểm, chủ trương, chính sách của mỗi quốc gia
1.1.3 Vai trò của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đối với quản lý nền kinh tế và quản lý nền giáo dục, đào tạo
Một trong những chức năng căn bản của Nhà nước là quản lý xã hội, với nhiệm vụ thiết lập các biện pháp, công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát triển kinh tế theo các mục tiêu, mục đích phù hợp với quan điểm, mong muốn của giai cấp cầm quyền và của nhân dân Trong đó, có những biện pháp điều chỉnh theo hướng can thiệp có tính chất hạn chế quyền của các chủ thể nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý, các quy tắc ứng xử phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội và hài hòa với lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Việc đặt ra điều kiện đầu tư kinh doanh là một trong các biện pháp đó Thực
tế cho thấy rằng, các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh có vai trò rất lớn đối với Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế, điều tiết thị trường, định hướng sự phát triển kinh tế - xã hội đối với từng ngành, nghề cụ thể Điều kiện đầu tư kinh doanh cũng có vai trò lớn trong việc hạn chế tối đa nguy cơ ảnh hưởng xấu, tiêu cực tới lợi ích chung của xã hội, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh Các quy đ ịnh về điều kiện đầu tư kinh doanh thiết lập một khuôn khổ pháp lý minh bạch, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhận biết được quyền lợi của mình, hiện thực hóa được quyền tự do kinh doanh của mình phù hợp với quy định của pháp luật
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội, muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người cả về thể chất và tinh thân, nhất là về học vấn, nhận thức về thế giới xung quanh để họ có thể góp phần xây dựng và cải tạo xã hội Bác Hồ đã từng nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" bởi không có tri thức, hiểu biết về xã hội, tự nhiên và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực trước những thế lực và sức
Trang 19mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình Chính vì vậy, giáo dục, đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần nâng cao dân trí của mỗi quốc gia, dân tộc; góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia từ những con người được trang bị đầy đủ kiến thức kinh tế, xã hội, bản lĩnh chính trị; cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh
tế Giáo dục, đào tạo là lĩnh vực đặc thù, là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục, đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu
để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại
của toàn dân Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Trong nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cạnh tranh kinh tế quốc tế ngày càng trở nên gay gắt và khốc liệt, nước giàu ngày càng giàu hơn vì có ưu thế cạnh tranh trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; công nghệ thông tin và truyền thông được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là trong giáo dục; nhu cầu học tập và đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực của người dân ngày càng cao
Trước tình hình đó, việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế,
thiết Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của Ngành Giáo dục và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta còn hạn chế Vì vậy, việc huy động nguồn lực của các chủ thể trong xã hội (xã hội hóa) để đầu tư và phát triển nền giáo dục của đất nước là một yêu cầu khách quan Trong đó, mục tiêu lợi nhuận không
6
Trần Duy tổng hợp (2015), " Va i trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển", Trang thông tin điện tử
http://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/ 4/artilceID/15531/language/vi-VN/ Default aspx, ngày truy cập 30/11/2015
7
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Báo cáo quốc gia giáo dục cho mọi người 2015 của Việt Nam, Hà Nội, tr 9
Trang 20phải là vấn đề hàng đầu mà quốc gia nào trên thế giới cũng hướng đến khi xây dựng thể chế cho các hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo vì "sản phẩm" đầu ra của giáo dục, đào tạo chính là tạo nên những thế
hệ con người có đạo đức tốt, năng lực sáng tạo, thể chất khỏe mạnh đáp ứng với yêu cầu của thời đại mới, của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, việc tham gia đầu tư của các chủ thể trong xã hội vào lĩnh vực này luôn đặt dưới
sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, với các điều kiện đầu tư kinh doanh cụ thể đối với từng ngành, nghề nhất định Theo đó, về phương diện quản lý nhà nước, bên cạnh chính sách ưu đãi của Nhà nước để thu hút các nguồn lực đầu
tư cho giáo dục, khi đặt ra các điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Nhà nước có thể điều tiết, quản lý việc đầu tư các nguồn lực kinh tế vào giáo dục, đào tạo Đồng thời, thông qua quy định về điều kiện đầu
tư kinh doanh, Nhà nước sẽ "sàng lọc" được các chủ thể đáp ứng được đầy đủ các điều kiện đầu tư để cho phép đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo bảo đảm chất lượng giáo dục theo mong muốn của Nhà nước, của nhân dân, của xã hội
Đối với xã hội, thông qua các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh,
xã hội có thể thể giám sát được việc đáp ứng các điều kiện kinh doanh của các chủ thể thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; lựa chọn những cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu, mong muốn đào tạo của mình để tham gia Đồng thời, thông qua các quy định về điều kiện đầu
tư kinh doanh sẽ ngăn ngừa, loại bỏ được chủ thể kinh doanh không đủ điều kiện, từ đó sẽ hạn chế được những ảnh hưởng xấu tới chất lượng giáo dục, đào tạo
1.2 Khái quát pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
1.2.1 Khái niệm pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Trang 21Pháp luật là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý xã hội Trong thế giới hiện đại, việc sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc tối cao trong quản lý của bất kỳ Nhà nước nào Mọi sự điều hành của Nhà nước đều phải được thể chế thành pháp luật
Pháp luật về kinh doanh chứa đựng hai vấn đề cơ bản là pháp luật về hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và pháp luật về quản lý của
tư kinh doanh là một bộ phận quan trọng của pháp luật về kinh doanh nói chung
Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là một bộ phận của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh Pháp luật
về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là mối quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý kinh tế - xã hội trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là các quy đ ịnh pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý kinh tế - xã hội,
do đó các quan hệ này không mang tính chất hành chính đơn thuần, nên dù do nhà nước đặt ra, chịu sự chi phối bởi yếu tố quyền lực công, quan hệ này vẫn mang yếu tố tài sản, trách nhiệm vật chất và bị chi phối bởi các quy luật kinh
8
Vũ Thị Hiền (2014), Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học Luật Hà Nộ i, Hà Nội, tr 15
9
Vũ Thị Hiền (2014), Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học Luật Hà Nộ i , Hà Nội, tr 15
Trang 22Phương pháp điều chỉnh pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là phương pháp mệnh lệnh hành chính, hướng dẫn
mà không dùng phương pháp thỏa thuận bình đẳng Các điều kiện đầu tư kinh doanh là các yêu cầu, đòi hỏi có tính chất bắt buộc đối với tất cả các chủ thể khi đầu tư kinh doanh vào các ngành, nghề có điều kiện Các chủ thể đầu tư kinh doanh không có quyền lựa chọn, thỏa thuận thực hiện hay không thực hiện, tuân thủ hay không tuân thủ các quy định về điều kiện đó Tính mệnh lệnh của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh còn thể hiện ở cơ chế kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các chủ thể kinh doanh trong các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong suốt quá trình hoạt động của các chủ thể này Trường hợp phát hiện các chủ thể này không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định thì các chủ thể sẽ bị xử phạt, buộc đáp ứng đầy đủ các điều kiện hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, mặc dù phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp mệnh lệnh nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện, cơ quan nhà nước còn có trách nhiệm hướng dẫn các chủ thể đầu tư kinh doanh đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định Các cơ quan nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh của các chủ thể mà chỉ thẩm định, thẩm tra, xác nhận bảo đảm đầy đủ các điều kiện đầu tư kinh doanh
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là một bộ phận của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh, do đó phải điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt động của các chủ thể kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Nội dung pháp luật bao giờ cũng chịu sự tác động, chi phối bởi nhiều yếu tố như tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tình hình và xu thế phát triển của thế
Trang 23giới Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực quan trọng, đặc thù; đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư đặc thù thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
Do đó, trong các thời điểm khác khau, giai đoạn khác nhau, pháp luật nói chung và pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo sẽ có những thay đổi, chuyển biến cho phù hợp
Cũng như các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh nói chung, nội dung của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Quy định về các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo;
- Quy định cụ thể các điều kiện trong các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, về cách thức đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh, thời điểm phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo;
- Quy định về quản lý nhà nước đối với điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Cụ thể là, quy định về cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, cho phép thành lập, cho phép hoạt động, chứng nhận đăng ký hoạt động, chứng nhận kinh doanh dịch vụ đối với các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; trình tự, thủ tục, hồ sơ đối với các trường hợp cần có "xác nhận" của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thẩm quyền xem xét, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
1.2.3 Sự hình thành và phát triển các quy định pháp luật về điều kiện đầu
tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam
Khái niệm "điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo" chưa được quy định ở bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào cho đến khi Luật Đầu tư năm 2014 quy định Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện, trong đó có đưa ra các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo Có thể thấy, trước Luật Đầu tư năm
Trang 242014, người ta chỉ nhắc đến nội dung đầu tư cho giáo dục mà không đề cập đến nội dung "kinh doanh" Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu về các quy định có tính chất điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các chủ thể trong hoạt động giáo dục, đào tạo thì các quy định pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tại Việt Nam được hình thành gắn liền với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước ta
Có thể nói, sự phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội có ý nghĩa chi phối đến sự phát triển của nền giáo dục, đào tạo của mỗi quốc gia, quyết định đến các chính sách và sự tham gia đầu tư của Nhà nước cho giáo dục, đào tạo và ngược lại sự phát triển giáo dục, đào tạo
có đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội Chẳng hạn, ở các nước như Nhật Bản, Philipin, Hàn Quốc, Inđônêxia thì giáo dục tư thục là đại trà, hạn chế công lập nhằm mục tiêu thỏa mãn phần lớn nhu cầu học tập của công chúng Nhật Bản đã thành công trong việc vận động toàn xã hội đầu tư cho giáo dục, xây dựng một nền giáo dục rộng lớn và đa dạng trên cơ sở phát triển
công lập và giáo dục tư thục song song phát triển Sự khác biệt cơ bản giữa trường công và trường tư thể hiện ở chỗ, hệ thống trường tư được phát triển nhằm tăng khả năng lựa chọn cho người học và tăng cường tính đổi mới thích
Nổi bật trong mô hình giáo dục này là nền giáo dục của Hoa Kỳ Theo đó, giáo dục phổ thông ở Hoa Kỳ do mỗi bang chịu trách nhiệm hoàn toàn và về cơ bản là do Nhà nước độc quyền, miễn phí; chỉ có 10% số trường phổ thông các cấp là trường tư Trong khi đó, đối với giáo dục đại học và sau đại học thì mỗi bang và các vùng phụ thuộc có trách nhiệm phát triển hệ thống giáo dục đại học của địa phương mình Ở Hoa Kỳ không
có trường do trung ương (Liên bang) quản lý Trên thực tế, mỗi bang thường
có ít nhất một trường đại học công lập, còn khoảng 60% các trường đại học ở
Trang 25Hoa Kỳ là trường tư12 Trong khi đó, đối với các nước Mỹ La tinh thì giáo dục công lập là rộng lớn (chủ yếu) và giáo dục tư thục là ngoại vi (hỗ trợ) chỉ thực
Ở Việt Nam, trong thời kỳ thực hiện cơ chế bao cấp, Nhà nước đã bao cấp giáo dục, không cho phép tư nhân được tham gia vào hoạt động giáo dục Mặc dù, Nhà nước ưu tiên kinh phí cho đầu tư giáo dục nhưng do nguồn lực
có hạn nên cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của Ngành Giáo dục còn hạn
đầu sự nghiệp đổi mới trên tất cả các mặt, trong đó xã hội hóa giáo dục là một trong những nội dung đổi mới theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Tại Việt Nam, xã hội hóa giáo dục được hiểu là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả
Chủ trương xã hội hóa giáo dục được Đảng đề cập trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
" ; hiện đại hóa một bước nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà nước và quản lý giáo dục; đa dạng hóa loại hình đào tạo và loại hình trường lớp; từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục (dạy nghề), phát triển loại hình vừa học vừa làm " Trong Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, xã hội hóa được sử dụng với nghĩa như sau: "Các
vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội"
Cao Thu Hằng (2016), Chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 40
15
Lê Quốc Hùng (2004), Xã hội hóa giáo dục Nhìn từ góc độ pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 17
Trang 26Thể chế hóa chủ trương của Đảng, các cơ quan nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong đó có nội dung về điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của các cơ sở giáo dục như Quyết định số 1245/QĐ ngày 11 tháng 9 năm 1990 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế nhóm trẻ gia đình, lớp mẫu giáo gia đình, nhóm trẻ và trường mẫu giáo dân lập, Quyết định số 1447/GD-ĐT ngày 02 tháng 6 năm 1994 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế trường lớp mầm non tư thục, Quyết định số 1931/QĐ ngày 20 tháng 8 năm 1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế trường phổ thông dân lập, Quyết định số 1932/QĐ ngày 20 tháng 8 năm 1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế trường phổ thông bán công, Quyết định số 240/TTg ngày 24 tháng 5 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành quy chế Đại học tư thục Tuy nhiên, phải đến khi Quốc hội ban hành Luật Giáo dục năm 1998 thì các quy định về điều kiện đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo mới được quy định một cách hệ thống (từ văn bản luật, văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ) để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 nhằm "phát
triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác"
và "khuyến khích các nguồn đầu tư khác" cho giáo dục
Kế thừa các quy định của Luật Giáo dục năm 1998, với định hướng phát triển kinh tế thị trường, Luật Giáo dục năm 2005 tiếp tục khẳng định
chính sách "khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục" Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Giáo dục năm 2009 đã có một bước tiến lớn trong việc thể chế hóa chính sách xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam nhằm huy động nguồn lực của xã
hội để đầu tư cho giáo dục và khẳng định "Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là
hoạt động đầu tư đặc thù thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi
đầu tư" Theo đó, trong thời gian hơn 10 năm, từ năm 1998 đến 2009, chỉ
Trang 27riêng việc thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đối với giáo dục đại học, Quốc hội đã ban hành 11 luật, 02 nghị quyết; Chính phủ ban hành 30 nghị định, 03 nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ ban hành 41 quyết định, 06 chỉ thị; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành 32 thông tư, thông
Hiện nay, pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo được quy định tại Luật Giáo dục năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật Giáo dục đại học năm 2012, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 Trong đó, các điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định tập trung, cụ thể tại Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, Nghị định số 143/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp
Tóm lại, nghiên cứu những vấn đề lý luận về điều kiện đầu tư kinh
doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo có ý nghĩa quan trọng; nhằm xác định đúng bản chất, nội dung, vai trò của điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là một biện pháp quản lý của Nhà nước và được Nhà nước thể chế hóa bằng pháp luật Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là cơ chế để bảo đảm quản lý, phát triển giáo dục, đào tạo; bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong xã hội; bảo đảm xây dựng một xã hội học tập và quyền được học tập suốt đời của người dân
16
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2010), Báo cáo k ết quả giám sát số 329/BC-UBTVQH12 ngày 26/5/2010
"việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học" của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 (5 -6/2010), Hà Nội, tr 3
Trang 28Chương 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO 2.1 Quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Để bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, Luật Đầu tư năm 2014 quy định Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Đây là một điểm mới của pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh Nếu như trước đây, pháp luật chỉ quy định Danh mục các ngành, nghề cấm kinh doanh còn các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định rải rác tại các văn bản chuyên ngành dẫn đến khó khăn cho việc quản lý thống nhất, dẫn đến sự tùy tiện trong việc đặt
ra các điều kiện đầu tư kinh doanh, sự nhũng nhiễu của cán bộ, công chức, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh, thì việc Luật Đầu tư năm 2014 quy định Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm thống nhất các ngành, nghề Nhà nước cần thiết phải quản lý thông qua việc đặt ra các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, tránh việc tùy tiện đặt ra các điều kiện đầu tư kinh doanh ảnh hưởng đến quyền gia nhập thị trường, đầu tư kinh doanh của người dân, minh bạch hóa
sự quản lý của Nhà nước Theo đó, trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Luật Đầu
tư năm 2014 quy định có 13 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện bao
gồm: (i) Hoạt động của cơ sở giáo dục đại học; (ii) Hoạt động của cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, phân hiệu cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài; (iii) Hoạt động của cơ sở giáo dục thường xuyên; (iv) Hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên; (v) Hoạt động của cơ sở giáo dục phổ thông; (vi) Hoạt động giáo dục trung cấp chuyên nghiệp; (vii) Hoạt động của các trường chuyên biệt; (viii) Hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non; (ix) Hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài; (x) Dịch vụ tổ chức dạy thêm học thêm;
Trang 29(xi) Hoạt động dạy nghề; (xii) Hoạt động liên kết đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng với cơ sở dạy nghề của nước ngoài, cơ sở dạy nghề có vốn đầu
tư nước ngoài; (xiii) Kinh doanh dịch vụ kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo nghề với cơ sở dạy nghề nước ngoài và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thi hành, Chính phủ nhận thấy Phụ lục
4 Luật Đầu tư năm 2014 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần phải được rà soát, điều chỉnh theo hướng bãi bỏ một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh không cần thiết phải có điều kiện kinh doanh; sửa đổi tên gọi, hợp nhất một số ngành, nghề và bổ sung một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm quyền
tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp trong những ngành, nghề mà luật không cấm theo đúng tinh thần của Hiến pháp, đồng thời phù hợp với quá trình chủ động hội nhập quốc tế hiện nay Theo đó, lĩnh vực giáo dục, đào tạo
là một trong các lĩnh vực có sự thay đổi về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật
Đầu tư (Luật số 03/2016/QH14) quy định lĩnh vực giáo dục, đào tạo gồm 11
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như sau: (i) Hoạt động giáo dục nghề nghiệp; (ii) Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; (iii) Hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non; (iv) Hoạt động của cơ sở giáo dục phổ thông; (v) Hoạt động của cơ sở giáo dục đại học; (vi) Hoạt động của cơ sở giáo dục
có vốn đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, phân hiệu cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài; (vii) Hoạt động của
cơ sở giáo dục thường xuyên; (viii) Hoạt động của trường chuyên biệt; (ix) Hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài; (x) Kiểm định chất lượng giáo dục; (xi) Kinh doanh dịch vụ tư vấn du học
Như vậy, đối chiếu giữa Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo Luật số 03/2016/QH14 sửa
Trang 30đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện của Luật Đầu tư với Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo Luật Đầu tư năm 2014 (trước
khi được sửa đổi) thấy rằng, có 07 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều
kiện được giữ nguyên (gồm hoạt động của cơ sở giáo dục đại học; hoạt động của cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, phân hiệu cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài; hoạt động của cơ sở giáo dục thường xuyên; hoạt động của cơ sở giáo dục phổ thông; hoạt động của trường chuyên biệt; hoạt động của cơ sở giáo dục
mầm non; hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài); 02 ngành, nghề được
đổi tên (Gồm hoạt động dạy nghề, kinh doanh dịch vụ kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo nghề với cơ sở dạy nghề nước ngoài và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Các ngành, nghề này được đổi tên tương ứng thành hoạt động giáo dục nghề nghiệp, kiểm định chất
lượng giáo dục nghề nghiệp); 02 ngành, nghề được hợp nhất với ngành nghề
khác (Gồm hoạt động liên kết đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng với
cơ sở dạy nghề của nước ngoài, cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài; hoạt động giáo dục trung cấp chuyên nghiệp Các ngành, nghề này hợp nhất với hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài, hoạt động giáo dục nghề
nghiệp); 02 ngành, nghề bị bãi bỏ (gồm hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên, dịch vụ tổ chức dạy thêm học thêm); 02
ngành, nghề được bổ sung (gồm kiểm định chất lượng giáo dục và kinh doanh dịch vụ tư vấn du học)
Việc rà soát, sửa đổi các ngành, nghề đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cụ thể là thống nhất với quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 Như theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 thì cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên doanh
Trang 31giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài) là một loại hình tổ chức của cơ sở giáo dục nghề nghiệp và phải tuân thủ các điều kiện đầu tư kinh doanh trong Luật Giáo dục nghề nghiệp Do đó, việc hợp nhất hoạt động liên kết đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng với cơ sở dạy nghề của nước ngoài, cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài vào hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài là phù hợp Hay, đối với ngành, nghề kinh doanh dịch vụ kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo nghề với cơ sở dạy nghề nước ngoài và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì việc sửa tên chủ yếu để bảo đảm phù hợp với quy định tại Chương VI về Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm
2014
Việc sửa đổi này cũng dựa trên đánh giá sự cần thiết phải quản lý các ngành, nghề bằng các điều kiện đầu tư kinh doanh hay không cũng như bản chất có phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh hay không Chẳng hạn, dịch vụ
tổ chức dạy thêm học thêm đã được đưa ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Dạy thêm, học thêm là vấn đề gây bức xúc trong nhân dân nhiều năm qua vì tính tràn lan, không đúng mục tiêu giáo dục, có nguồn gốc xuất phát từ thực trạng chương trình giáo dục nặng nề và chế độ đánh giá, thi cử, bằng cấp, chế độ đãi ngộ đối với nhà giáo, gây áp lực cho giáo viên, phụ huynh, học sinh Bản thân học thêm không phải là ngành, nghề kinh doanh mà là nhu cầu học từ phía học sinh Theo ý kiến của Bộ trưởng Bộ
thân", Nhà nước không khuyến khích hoạt động này và cũng không coi đây là một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Để quản lý hoạt động này, giải pháp xử lý gốc vấn đề phải là điều chỉnh chương trình giáo dục cho phù hợp, nâng cao trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương, các cơ sở giáo dục, nhận thức của giáo viên, phụ huynh trong vấn đề dạy thêm, học thêm
17
Thu Thủy (2016), "Dạy thê m không được coi là ngành nghề kinh doanh có điều kiện "; Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, tại địa chỉ: http://vov.vn/xa-hoi/giao-duc/day-them-khong-duoc-coi-la-nganh-nghe-kinh- doanh-co-dieu-kien-571522.vov, ngày truy cập 22/ 11/ 2016
Trang 32Đối với hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên, pháp luật hiện hành (Thông tư liên tịch số 123/2015/TTLT-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 11 năm 2015 của Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tổ chức, hoạt động của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và Anh ninh; liên kết giáo dục quốc phòng và an ninh của các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học) không quy định điều kiện hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên mà chỉ quy định điều kiện thành lập của Trung tâm này Việc thành lập Trung tâm này thực chất chỉ là việc thành lập một đơn vị sự nghiệp thuộc các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học, có chức năng giáo dục quốc phòng và an ninh, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo quy định của pháp luật Hoạt động của Trung tâm không phải
là hoạt động đầu tư kinh doanh Ngay cả việc liên kết giáo dục quốc phòng và
an ninh cũng chỉ nhằm "huy động năng lực của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh để tổ chức giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên;
hỗ trợ các trường không đủ điều kiện tổ chức thực hiện chương trình giáo dục
Luật số 03/2016/QH14 bổ sung 02 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đó là kiểm định chất lượng giáo dục
và kinh doanh dịch vụ tư vấn du học
Về ngành, nghề "kinh doanh dịch vụ tư vấn du học", có ý kiến cho rằng hoạt động tư vấn chỉ là hoạt động cung cấp chuyên môn về một lĩnh vực còn việc sử dụng kết quả tư vấn là do người được tư vấn lựa chọn nên không cần
Tuy nhiên, rõ ràng để thực hiện hoạt động tư vấn thì người tư vấn phải đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng phát triển hệ thống giáo
18
Điều 4 Thông tư liên t ịch số 123/2015/TTLT-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH
19
Ủy ban Kinh tế (Quốc hội khóa XIV) (2016), Báo cáo số 181/BC-UBKT14 ngày 08/11/2016 thẩm tra dự
án Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục 4 Luật Đầu tư về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ,
Hà Nội, tr 5
Trang 33dục mở như hiện nay, để phục vụ nhu cầu du học của học sinh, sinh viên và người dân nói chung, tư vấn du học là một ngành, nghề kinh doanh tất yếu và phát triển Do đó, để nâng cao chất lượng của dịch vụ tư vấn thì việc quy định các điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề này là cần thiết
Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác (Điều 17 Luật Giáo dục năm 2005) Theo quy định của Luật Giáo dục năm 2005 thì kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục, tổ chức giáo dục của nhà trường và cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chương trình giáo dục, kiểm định cơ sở giáo dục là căn cứ để công nhận hoặc không công nhận cơ sở giáo dục, chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng; có tác động đến dư luận xã hội, ảnh hưởng đến vị thế, uy tín hoạt động của nhà trường, cơ sở giáo dục Để thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, tổ chức kiểm định phải có năng lực thực hiện kiểm định Do đó, việc bổ sung ngành, nghề kinh doanh này vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là phù hợp Việc Luật Đầu tư năm 2014 ban đầu không quy định đây là một ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là một “thiếu sót” vì thực chất hoạt động này
đã được pháp luật quy định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục tại Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Giáo dục, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011, Thông tư số 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục
Ngoài các ngành, nghề có sự thay đổi nêu trên, các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo chủ yếu liên quan
Trang 34đến điều kiện hoạt động của các cơ sở giáo dục Đây là các ngành, nghề vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lớn đến sự phát triển và hoàn thiện hệ thống giáo dục Cùng với chương trình giáo dục, đào tạo khoa học, phù hợp, giáo dục, đào tạo chỉ thực sự phát triển nếu như các cơ sở giáo dục ngay từ đầu được xây dựng, đầu tư đáp ứng được đầy đủ các điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật Xã hội hóa giáo dục để thu hút nguồn lực của xã hội để đầu tư cho giáo dục, phát triển hệ thống cơ sở giáo dục để đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, xây dựng một xã hội học tập là cần thiết, song điều đó không
có nghĩa là chúng ta chấp nhận cho đầu tư kinh doanh, xây dựng, mở các cơ
sở giáo dục một cách tràn lan, không bảo đảm điều kiện giáo dục Đây là vấn
đề của cả xã hội, liên quan đến sự phát triển của dân tộc, đất nước Do đó, việc xác định các hoạt động của các cơ sở giáo dục thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là cần thiết để quản lý hoạt động giáo dục, đào tạo
Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành là một bước tiến lớn trong tư duy quản lý kinh tế, thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm của Nhà nước, từ việc
"chọn-cho" (Nhà nước quy định những ngành, nghề mà người dân được phép kinh doanh) sang hình thức "chọn-bỏ" (Nhà nước quy định những ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện) Theo đó, ngoài các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; đầu tư, kinh doanh có điều kiện được quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 thì không một cơ quan nhà nước nào được đặt ra thêm các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Trường hợp cần sửa đổi, bổ sung ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì Chính phủ sẽ rà soát và trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Danh mục cho phù hợp Theo đó, về nguyên tắc, Luật Đầu tư năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung năm 2016) phải thống nhất với các luật chuyên ngành trong việc quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Điều này cũng phù hợp với quy định của Hiến pháp về việc hạn chế quyền con người, quyền công dân đó là
"Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
Trang 35luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của công cộng" Tuy nhiên, thực tế,
có những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không được quy định
tại Luật Lý do là theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì chỉ "Bộ,
cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh" (Khoản 5 Điều 7) Theo đó, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện có
thể được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tức là có thể được quy định tại những văn bản dưới luật Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cũng vậy, có những ngành, nghề đầu tư kinh doanh từ đầu không được xác định là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện tại Luật, như dịch vụ tư vấn du học trước đây được xác định là hoạt động kinh
Như vậy, xét về tính thống nhất của pháp luật, thì hiện nay các luật điều chỉnh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo (như Luật Giáo dục) và Luật Đầu tư chưa có sự thống nhất trong việc quy định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
2.2 Quy định cụ thể về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
2.2.1 Điều kiện về chủ thể đề nghị thành lập các cơ sở giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục, dịch vụ tư vấn du học
Giáo dục được xác định là một trong các ngành thuộc hệ thống ngành kinh tế Việt Nam Trước khi có chủ trương xã hội hóa giáo dục, nền giáo dục
ở nước ta do Nhà nước độc quyền cung cấp, bảo đảm dịch vụ Hiện nay, với định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội học tập, bảo đảm quyền được học tập của người dân, Nhà nước khuyến khích, thu hút các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong xã hội đầu tư cho giáo dục Theo đó, nếu như trước đây, việc thành lập các cơ sở
20
Quyết định số 05/2012/QĐ-TTg ngày 15 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập
Trang 36giáo dục hoàn toàn do các cơ quan nhà nước thực hiện, kiểm định chất lượng giáo dục do các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện thì hiện nay chủ thể được quyền đề nghị thành lập các cơ sở giáo dục, thành lập các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục còn bao gồm cả các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước
Pháp luật hiện hành không có quy định riêng về điều kiện chủ thể, nói cách khác là không quy định chủ thể nào được đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Tuy nhiên, thông qua các quy định về điều kiện đầu tư trong ngành, nghề thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo thấy rằng có những ngành, nghề chỉ do Nhà nước đầu tư, có những ngành, nghề pháp luật quy định các tổ chức, cá nhân có thể thực hiện đầu tư nếu đáp ứng các điều kiện Cụ thể như, trong trường hợp đầu tư thành lập trường mẫu giáo, trường mầm non, nhà trẻ, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trung tâm ngoại ngữ, tin học, trường trung học phổ thông chuyên, trung tâm hỗ trợ và phát triển giáo dục hòa nhập, trường trung cấp sư phạm, trường cao đẳng sư phạm, trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, kiểm định chất lượng giáo dục, kinh doanh dịch vụ tư vấn du học, kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp thì cả Nhà nước và tổ chức, cá nhân đều được tham gia thành lập cơ sở giáo dục, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, thực hiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học Đối với việc thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập, hoạt động của cơ sở giáo dục khác thực hiện Chương trình giáo dục tiểu học thì Nhà nước không thực hiện đầu tư mà quy định cho phép các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện đầu tư Đối với việc thành lập các cơ sở giáo dục thường xuyên (bao gồm trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng), trường chuyên biệt (bao gồm trường, lớp năng khiếu thể dục thể thao, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú), việc thành lập hoàn toàn do Nhà nước thực hiện mà không quy định cho phép các tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư
Trang 37Việc cho phép hay không cho phép các tổ chức, cá nhân tham gia đầu
tư vào các ngành, nghề thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng của các ngành, nghề đó đối với xã hội Ở nước ta, giáo dục
cũng chỉ đang được từng bước thực hiện để huy động sự tham gia của người dân đầu tư cho giáo dục, đáp ứng phát triển nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo Điều này xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước bảo đảm cơ hội học tập tối thiểu cho tất cả người dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, địa vị trong xã hội Mặc khác, giáo dục là một nhu cầu thiết yếu của người dân, do đó, thực hiện chức năng phục vụ thì Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm Mục đích cơ bản của Nhà nước khi đầu tư cho giáo dục, đào tạo là bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện chức năng phục vụ mà không phải là để kinh doanh
Theo quy định tại Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 thì các khái niệm "đầu
tư kinh doanh, nhà đầu tư, tổ chức kinh tế" được giải thích như sau:
5 Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực
hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư;
13 Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư
kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;
21
Có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ công, tuy nhiên nhìn chung đều thống nhất cơ bản rằng: "Dịch
vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hoặc ủy nhiệm và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận"
Trang 3814 Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài,
tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu
tư kinh doanh tại Việt Nam;
15 Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ
chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông;
16 Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo
quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh;
17 Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế
có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông
So sánh với quy định của Luật Đầu tư năm 2005 thấy rằng, Luật Đầu tư
năm 2005 quy định: "Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản
hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan"22 Định nghĩa này cũng tương tự như định nghĩa tại Luật Đầu tư năm
2014 là mô tả hoạt động đầu tư thông qua hành vi "bỏ vốn" Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2005 không gắn việc đầu tư với việc thực hiện các hoạt động kinh doanh mà là để tiến hành các hoạt động đầu tư Khác với Luật Đầu tư năm
2005, Luật Đầu tư năm 2014 không đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp mà tại định nghĩa đầu tư kinh doanh đã liệt kê cụ thể các hình thức đầu tư kinh doanh Như vậy, theo Luật Đầu tư năm 2014 thì việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư chính là sự cụ thể hóa của hoạt động kinh doanh
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì "Kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
22
Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư nă m 2005
Trang 39đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (Khoản 16 Điều 4) Từ điển Luật học giải
thích kinh doanh là "các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch
vụ do các chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập, thường xuyên trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận"23
Về bản chất, đã kinh doanh thì phải hướng tới mục tiêu lợi nhuận, có lãi Tuy nhiên, hiện nay không phải chủ thể đầu tư kinh doanh nào, doanh nghiệp nào cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận Chẳng hạn, Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu quy định về loại hình doanh nghiệp xã hội, trong đó mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; đồng thời phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường
Có thể thấy, định nghĩa "đầu tư kinh doanh" của Luật Đầu tư năm 2014 chưa giải thích được nội hàm của khái niệm "kinh doanh" Đối chiếu với các quy định chủ thể thực hiện đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo thấy rằng một số chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư như cơ quan nhà nước (Bộ, Ủy ban nhân dân, Sở), tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cộng đồng dân cư không phải là "nhà đầu tư" theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014
Theo Luật Đầu tư năm 2014 thì tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu
tư kinh doanh Như đã trình bày ở trên, giáo dục là một dịch vụ công, Nhà nước có trách nhiệm cung cấp và bảo đảm Việc các cơ quan nhà nước (Bộ,
Ủy ban nhân dân, Sở) đề nghị thành lập các cơ sở giáo dục là việc thực hiện chức năng phục vụ của Nhà nước Nhà nước đầu tư cho giáo dục tức là Nhà nước đang sử dụng ngân sách nhà nước (với các nguồn thu mà chủ yếu là từ
23
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, NXB Bách Khoa, Hà Nội,
tr 450
Trang 40thuế, lệ phí do nhân dân đóng góp) để phục vụ nhân dân Do đó, các cơ quan này không thể gọi là "nhà đầu tư" với ý nghĩa là một tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 Hơn nữa, với chính sách thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, từng bước phổ cập giáo dục trung học, bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí hay với những đối tượng học tập đặc thù ở trường chuyên biệt thì yếu tố kinh doanh khi Nhà nước thành lập các trường này là không có Vì vậy, việc Luật Đầu tư xác định một số hoạt động giáo dục hoàn toàn do Nhà nước thực hiện là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như hoạt động của cơ sở giáo dục thường xuyên, hoạt động của trường chuyên biệt, đồng thời trong các ngành, nghề chưa xác định rõ cơ sở giáo dục do chủ thể nào thành lập thuộc trường hợp đầu tư kinh doanh là chưa phù hợp
Đối với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đây là các tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc
thành lập không phải để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh Do đó, không thể xác định đây là các tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư năm
2014
Luật Giáo dục quy định "đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động
đầu tư đặc thù thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện " Như vậy, hoạt động đầu
tư trong lĩnh vực giáo dục do bất kỳ chủ thể nào thực hiện (Nhà nước hay tổ chức, cá nhân) với mục đích kinh doanh hay không kinh doanh đều phải đáp ứng các điều kiện Luật Đầu tư chỉ quy định về ngành, nghề đầu tư kinh
24
Khoản 1 Điều 2 Nghị đ ịnh số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 nă m 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội