1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)

73 254 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 561,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)

Trang 2

MÃ SỐ: 8340201

PHAN THU HIỀN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH THỌ

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, bài viết, thông tin đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo Danh mục Tài liệu tham khảo của Luận văn Các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, trung thực và được phép công bố.

Tác giả luận văn

Phan Thu Hiền

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, người đã tận tình chỉ bảo, định hướng, hướng dẫn tôi trong thời gian qua, nhờ vậy tôi mới có thể hoàn thành bài luận văn này.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô Trường Đại học Ngoại thương đã truyền đạt những kiến thức vô cùng bổ ích trong suốt hai năm học cao học tại trường để tôi hoàn thành bài luận văn của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện cho tôi học và hoàn thành chương trình cao học

Phan Thu Hiền

Trang 5

1.2.4 Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ13

1.2.5 Mức độ rủi ro của dự án đầu tư 13

1.2.6 Khả năng tài chính của doanh nghiệp 14

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT

ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU

Ở VIỆT NAM 15

2.1 Tổng quan về các công ty niêm yết trong ngành Cao su niêm yết ở Việt

2.1.1 Đặc điểm của ngành Cao su 15

2.1.2 Khái quát về các công ty niêm yết trong ngành Cao su ở Việt Nam

2.2.2 Thực trạng hiệu quả của các dự án 23

2.3 Đánh giá thực trạng về quyết định đầu tư và thực trạng đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam 24

2.4 Nghiên cứu các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam 27

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.4.2 Kết quả nghiên cứu 33

2.5 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty

2.5.1 Ảnh hưởng của Chính sách Quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước 40 2.5.2 Ảnh hưởng của Chi phí tài chính 41

2.5.3 Ảnh hưởng của Mức độ rủi ro của dự án đầu tư 44

2.5.4 Ảnh hưởng của khả năng tài chính của doanh nghiệp 47

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU Ở VIỆT NAM 50

Trang 6

3.2 Một số giải pháp giúp tăng hiệu quả đầu tư của các công ty 55

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

CHƯƠNG I LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP 10

1.1 Tổng quan về việc đầu tư của các doanh nghiệp 10 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp 12

1.2.1 Chính sách Quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước 12

1.2.2 Thị trường và sự cạnh tranh 13

1.2.3 Chi phí tài chính 13

1.2.4 Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ 14

1.2.5 Mức độ rủi ro của dự án đầu tư 14

1.2.6 Khả năng tài chính của doanh nghiệp 15

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU

Ở VIỆT NAM 16

2.1 Tổng quan về các công ty niêm yết trong ngành Cao su niêm yết ở Việt

2.1.1 Đặc điểm của ngành Cao su 16

2.1.2 Khái quát về các công ty niêm yết trong ngành Cao su ở Việt Nam

2.2.2 Thực trạng hiệu quả của các dự án 39

2.3 Đánh giá thực trạng về quyết định đầu tư và thực trạng đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam 40 2.4 Nghiên cứu các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam 43

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 43

2.4.1.1 Chọn mẫu nghiên cứu và thu thập số liệu 43

2.4.1.2 Mô hình nghiên cứu 43

2.4.1.3 Phương pháp nghiên cứu 49

Trang 7

2.4.2.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến độc lập 50

2.4.2.3 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 51

2.4.2.4 Kết quả hồi quy 52

2.5 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty

2.5.1 Ảnh hưởng của Chính sách Quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

56

2.5.2 Ảnh hưởng của Chi phí tài chính 57

2.5.3 Ảnh hưởng của Mức độ rủi ro của dự án đầu tư 60

2.5.4 Ảnh hưởng của khả năng tài chính của doanh nghiệp 62

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU Ở VIỆT NAM

63

3.1 Triển vọng phát triển, thuận lợi và thách thức đối với các công ty niêm

3.2 Một số giải pháp giúp tăng hiệu quả đầu tư của các công ty 68

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

Bảng 2.1 Các công ty niêm yết trong ngành Cao su ở Việt Nam 1834

Bảng 2.2 Doanh thu của các công ty niêm yết trong ngành cao su giai đoạn

2006-2017 2036

Bảng 2.3: Mức đầu tư của VRG 2238

Bảng 2.4: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư ROIC của các công ty 2339

Bảng 2.5: Thống kê mô tả các biến sử dụng trong mô hình 3347

Bảng 2.6: Hệ số tương quan giữa các biến độc lập với nhau 3448

Bảng 2.7 Kiểm định tự tương quan 3549

Bảng 2.8 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 3549

Bảng 2.9 Mô hình hồi quy3751

Bảng 2.10 Chi phí tài chính của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam qua các năm 2013-2017 4155

Bảng 2.11 Các chỉ số tài chính của 3 doanh nghiệp cao su vốn hóa lớn nhất trên thị trường năm 2013-2017 4760

Trang 9

BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành

BRR Công ty Cổ phần Cao su Bà Rịa

CDR Công ty Cổ phần Xây dựng Cao Su Đồng Nai

HRC Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình

HRG Công ty Cổ phần Cao su Hà Nội

INV Sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư

IRC Công ty TNHH MTV Cao su Công nghiệp

MH3 Công ty Cổ phần Khu Công nghiệp Cao su Bình LongNPV Giá trị hiện tại thuần

PHR Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa

RBC Công ty Cổ phần Công nghiệp và Xuất nhập khẩu Cao suRCD Công ty Cổ phần Xây dựng - Địa ốc Cao su

REVG Tăng trưởng doanh thu

RISK Rủi ro kinh doanh

RTB Công ty Cổ phần Cao su Tân Biên

SIZE Quy mô của công ty

SRC Công ty Cổ phần Cao su Sao vàng

SXKD Sản xuất kinh doanh

TANGB Tỷ lệ tài sản cố định

TDTA Đòn bẩy tài chính

Trang 10

Tobin q Tổng giá trị thị trường của công ty

TRC Công ty Cổ phần Cao su Tây Ninh

TTCKVN Thị trường Chứng khoán Việt Nam

VHG Công ty Cổ phần Đầu tư Cao su Quảng Nam

VRG Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Cao

su Việt Nam

Trang 11

BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành

BRR Công ty Cổ phần Cao su Bà Rịa

CDR Công ty Cổ phần Xây dựng Cao Su Đồng Nai

HRC Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình

HRG Công ty Cổ phần Cao su Hà Nội

INV Sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư

IRC Công ty TNHH MTV Cao su Công nghiệp

MH3 Công ty Cổ phần Khu Công nghiệp Cao su Bình LongNPV Giá trị hiện tại thuần

PHR Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa

RBC Công ty Cổ phần Công nghiệp và Xuất nhập khẩu Cao suRCD Công ty Cổ phần Xây dựng - Địa ốc Cao su

REVG Tăng trưởng doanh thu

RISK Rủi ro kinh doanh

RTB Công ty Cổ phần Cao su Tân Biên

SIZE Quy mô của công ty

SRC Công ty Cổ phần Cao su Sao vàng

SXKD Sản xuất kinh doanh

TANGB Tỷ lệ tài sản cố định

TDTA Đòn bẩy tài chính

Trang 12

Tobin q Tổng giá trị thị trường của công ty

TRC Công ty Cổ phần Cao su Tây Ninh

TTCKVN Thị trường Chứng khoán Việt Nam

VHG Công ty Cổ phần Đầu tư Cao su Quảng Nam

VRG Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Cao

su Việt Nam

Trang 13

công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam”, tác giả đã tiến hành phân tích

các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong công ty ảnh hưởng đến quyết định đầu tư giai đoạn 2015 - 2017 Tác giả đã sử dụng phương pháp định tính để phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài công ty đến quyết định đầu tư; đồng thời xây dựng các giả thuyết và mô hình hồi quy để phân tích định lượng sự ảnh hưởng của các yếu tố bên trong công ty

Biến nghiên cứu được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước về quyết định đầu tư, trong đó có mô hình q của Tobin và các nghiên cứu của Erickson & Whited (2000), Gomes (2001), Saquido (2003), Ninh LK và cộng sự (2007), Carpenter và Guariglia (2008), Bokpin và Onumah (2009), Li và cộng sự (2010), Ruiz - Porras và Lopez - Mateo (2011) và Nair (2011) Biến phụ thuộc là biến đại diện cho sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư của công ty và biến độc lập là các yếu tố có tác động đến quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Các biến độc lập được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: Dòng tiền (Cash Flow), đòn bầy tài chính (TDTA), tăng trưởng doanh thu (REVG), Tobin q, quy mô (SIZE), tỷ lệ tải sản cố định (TANGB), rủi ro kinh doanh (RISK) và hai biến vĩ mô là GDP và lạm phát (INF)

Mô hình hồi quy đã chứng minh được quyết định đầu tư bị ảnh hưởng tích cực bởi các biến như dòng tiền, tăng trưởng doanh thu, đòn bẩy, tỷ lệ tài sản cố định, GDP Bên cạnh đó, cũng có những yếu tố có tác động tiêu cực đến đầu tư như quy mô công ty, Tobin q và rủi ro kinh doanh Trên cơ sở phân tích các yếu tố bên trong công ty ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, luận văn đã đề xuất các giải pháp đối với các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả đầu tư

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, cây cao su đang trở thành một cây trồng thế mạnh

và thu hút được nhiều người trồng bởi giá trị kinh tế to lớn Nông dân ở các tỉnh trồng nhiều cao su như Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Quảng Trị, Đăk Lăk,… cũng giàu lên nhờ cây cao su Năm 2017, ngành cao su Việt Nam với 3 nhóm sản phẩm chính gồm: nguyên liệu cao su thiên nhiên, sản phẩm cao su và gỗ cao su, toàn ngành đã đóng góp khoảng 4.5 tỷ USD vào giá trị xuất khẩu của cả nước, đạt khoảng 2.5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh cao su thiên nhiên hiện vẫn tồn tại nghịch lý là xuất khẩu nhiều với giá trị thấp, nhưng lại nhập khẩu để chế biến sâu

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017) cho thấy, hàng năm Việt Nam sản xuất ra cả triệu tấn mủ cao su nhưng lượng hàng dùng chế biến sản phẩm cao su công nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 20% tổng sản lượng Trong đó, ngành công nghiệp chế biến cao su phổ biến chỉ tập trung ở một số lĩnh vực như chế biến thành săm lốp, linh kiện kỹ thuật, găng tay, sợi thun

Hiện tại, các doanh nghiệp trong nước chưa sản xuất được loại cao su tổng hợp nào, mà toàn bộ phải nhập khẩu Còn đối với sản phẩm cao su kỹ thuật cao, đòi hỏi đầu tư công nghệ hiện đại nên ít doanh nghiệp đủ tiềm lực để sản xuất Ngoài việc ngành công nghiệp chế biến cao su Việt Nam tăng trưởng chậm, điều đáng lo ngại hơn là phần lớn chỉ số tăng trưởng lại rơi vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có quy mô lớn

Điều này cho thấy việc thu hút doanh nghiệp đầu tư mới, đầu tư mở rộng SXKD sản phẩm cao su công nghiệp chuyên sâu còn hạn chế, các doanh nghiệp chế biến cao su Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa mạnh dạn đầu tư vốn phát triển doanh nghiệp Quy mô vốn thấp sẽ hạn chế việc đổi mới công nghệ, tận dụng cơ hội kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh

tế thế giới Nhằm tìm ra những giải pháp khả thi, hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vốn để mở rộng quy mô, phát triển SXKD, tăng lợi nhuận, góp phần khai thác tiềm năng, phát triển của ngành cần phải nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam Xuất phát từ những yêu cầu trên nên việc nghiên cứu: “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU Ở VIỆT NAM” là rất thực tế nhằm trước hết là giúp các doanh nghiệp phát triển SXKD và sau đó là hướng đến mục tiêu thu hút vốn đầu tư ngày càng nhanh hơn và nhiều hơn vào ngành cao su ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Với lĩnh vực tài chính doanh nghiệp các nhân tố tác động đến quyết định đầu

tư của doanh nghiệp thường được chú ý và quan tâm sâu sắc Do đó đây là chủ đề

đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra phân tích:

Trang 15

Modigliani và Miller (1958) đã kết luận rằng quyết định tài trợ và quyết định đầu tư thực của công ty được thực hiện độc lập với nhau Hơn nữa, lý thuyết này nói rằng đầu tư của một công ty chỉ nên dựa trên những yếu tố sẽ làm tăng khả năng sinh lời, dòng tiền hay giá trị của một công ty và không có mối quan hệ nào giữa thị trường tài chính và quyết định đầu tư thực của công ty Tuy nhiên, nhận định này sẽ chỉ có giá trị nếu các giả định về thị trường hoàn hảo là cơ sở để cho nhận định này được đáp ứng Lý thuyết về tài chính công ty đã cho thấy sự không hoàn hảo của thị trường như hệ thống tài chính kém phát triển có thể hạn chế khả năng để tài trợ cho các khoản đầu tư và do đó cũng sẽ ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của công

ty Lý thuyết chỉ ra rằng sự phát triển của thị trường tài chính và các công cụ tài chính sẽ làm giảm chi phí giao dịch và chi phí thông tin và từ đó làm ảnh hưởng đến lãi suất tiết kiệm và tác động đến quyết định đầu tư của công ty, vấn đề này được nghiên cứu mở rộng với mô hình tân cổ điển (neoclassical model) của đầu tư với các tác giả đại diện như Jorgenson ( 1963), Hall và Jorgenson ( 1967)

Theo lý thuyết Tohin Jame (1969) và sau đó được mở rộng thành một mô hình được đề xuất bởi Hayashi (1982), nhu cầu đầu tư có thể dự đoán bằng tỷ lệ của giá trị thị trường của vốn cổ phần của một công ty với chi phí thay thế (replacement

cost) với giả định thị trường là hoàn hảo (không có bất cân xứng thông tin, không có

chi phí giao dịch, không có rủi ro và không có thuế) và giá trị thị trường cùng có thể

giải thích cơ hội đầu tư trong tương lai của công ty Tuy nhiên, Akerlof (1970) đã chỉ ra rằng lập luận này chỉ có thể đúng trong một thế giới của thị trường vốn hoàn hảo Nó không thể giải thích quyết định đầu tư ở cấp vi mô nếu có thông tin bất đối xứng trên thị trường Cụ thể, thị trường không hoàn hảo tồn tại trong nước đang phát triển, các doanh nghiệp thì có nhiều hơn những thông tin về lợi nhuận và rủi ro của dự án đầu tư so với các nhà tài trợ/ cho vay Bên cạnh đó, lý thuyết tài chính doanh nghiệp cũng cho thấy rằng sự không hoàn hảo của thị trường có thể làm hạn chế khả năng tài trợ đầu tư của các công ty và do đó ảnh hưởng đến quyết định đầu

tư của họ Hơn nữa MM còn chỉ ra thị trường đã thất bại như thế nào khi người mua

ít thông tin hơn người bán đã dẫn đến một lựa chọn sai lầm, một rủi ro đạo đức hoặc

cả hai và ngoài ra còn có những hệ quả khác của thông tin bất đối xứng Nếu có lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức thì xác suất vỡ nợ do đầu tư sẽ tăng lên

Ngoài ra, Fazzari và các đồng sự (1988) đã nghiên cứu ảnh hưởng của khó khăn tài chính vào sự nhạy cảm của đầu tư đến dòng tiền Sau khi kiểm soát cơ hội đầu tư với biến Tobin q, họ sử dụng tỷ lệ chia cổ tức đề phân biệt các công ty đang đối mặt với khó khăn tài chính với những công ty còn lại Họ nhận thấy rằng dòng tiền có thể ảnh hưởng đến đầu tư vì sự không hoàn hảo của thị trường vốn, thông tin bất đối xứng và các vấn đề về lựa chọn sai lầm (lemon problem) Ngoài ra, hiệu quả đầu tư vào dòng tiền được coi là một vấn đề chính sách của việc giảm phúc lợi, sự thất bại của thị trường vốn hoặc sử dụng vốn không hiệu quả, tương tự như những vấn đề đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đó Hơn nữa, họ cũng quan sát thấy rằng nguồn vốn nội bộ thì rẻ hơn so với tài chính được tài trợ từ bên ngoài Kết

Trang 16

luận này cũng phù hợp với nghiên cứu của Myers và Majluf (1984) nhưng Kaplan

và Zingales (1997) lại không đồng thuận, họ điều tra ra rằng thói quen sử dụng sự nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền giống như một hạn chế trong việc quản lý tài chính Sau đó họ cho rằng quyết định đầu tư của công ty có bị tác động bởi những khó khăn tài chính của công ty nhưng lại nhạy cảm hơn với những dòng tiền đang sẵn có Nghiên cứu gần đây của Cleary và cộng sự (2007) có ghi nhận rằng chi phí đầu tư thể hiện một hình chữ U trong mối liên hệ với sự sẵn có của nguồn vốn nội

bộ Trong bài nghiên cứu của Rajakumar (2005) với bối cảnh các công ty Ấn Độ, tác giả đã kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa tài trợ doanh nghiệp và hành vi đầu tư cho giai đoạn 1988-1989 Để thấy được mức ý nghĩa của việc tài trợ với hành vi đầu tư, các công ty được tách biệt theo chế độ tài chính của họ như căn cứ theo vốn chủ sở hữu và nợ vay Tác giả nhận thấy ở mức độ tổng thể thì những công

ty có vay nợ nhiều thì đầu tư nhiều hơn và họ cũng nhận thấy là vay nợ thì tốt hơn

so với vốn cổ phần

Carpenter và Guariglia (2008) cũng phân tích các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư với những phát hiện đem lại nhiều hỗ trợ cho các nghiên cứu sau Cụ thể là họ đã ước tính đầu tư bằng phép hồi quy phân biệt khả năng thích ứng của công ty khi phải đối mặt với các hạn chế tài chính cho các doanh nghiệp của Anh trong giai đoạn 1983-2000 Họ quan sát thấy rằng dòng tiền không thể giải thích tính chất nhạy cảm của các quyết định đầu tư cho các công ty lớn, tuy nhiên sức mạnh giải thích của nó vẫn là như nhau cho các công ty nhỏ Điều này cho rằng mức ý nghĩa của biến dòng tiền trong phương trình đầu tư có thể là do bất đối xứng thông tin trên thị trường vốn

Ngoài ra, Gomes (2001) cho thấy sự hiện diện hay vắng mặt của những rào cản tài chính là không đủ để các tác động của dòng tiền là có ý nghĩa và cũng không cần thiết phải đo lường cho những ảnh hưởng đó của dòng tiền Kết quả này đã ủng

hộ mạnh mẽ cho những tranh cãi về sự nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền có thể là

do có sai sót tồn tại khi đo lường q Những nghiên cứu thực nghiệm gây tranh cãi có liên quan đến những gì có thể xảy ra mối quan hệ giữa cơ hội đầu tư, dòng tiền và quyết định đầu tư của công ty Tuy nhiên, trong nghiên cứu này sẽ không giải quyết những tranh luận này vì nó sẽ được giới hạn ở những kết luận đầu tiên trong nghiên

Trang 17

cứu của Fazzari và các đồng sự (1988) Việc công nhận một mối quan hệ như vậy sẽ loại bỏ lý thuyết tân cổ điển và có thể không nhưng lại gợi ý đến sự tồn tại của một thị trường vốn không hoàn hảo (Saquido, 2003).

Thêm vào đó, có rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm theo sau đó như Hall

và các cộng sự (1998) sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp VAR để ước tính các yếu tố quyết định đến việc đầu tư của các công ty thuộc ngành khoa học của Mỹ, Pháp và Nhật Bản trong giai đoạn 1979-1989 Họ phát hiện ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư, lợi nhuận, doanh số bán hàng và dòng tiền và mặt khác cũng tồn tại những khác biệt giữa các quốc gia Hubbard (1998) đã phân tích các yếu tố khác nhau (ví dụ đầu tư hàng tồn kho, nghiên cứu và phát triển - R&D, lao động, sự thành lập và tồn tại của doanh nghiệp, giá cả và quản lý rủi ro của công ty) là những yếu tố quyết định đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định đầu tư thông qua việc sử dụng dữ liệu các công ty của Mỹ Kết quả là Hubbard đã ủng hộ mạnh mẽ rằng có tồn tại một mối quan hệ có ý nghĩa giữa đầu tư và những thay đổi trong giá trị tài sản của công ty

Ngoài ra còn có thêm hai chi phí phát sinh là chi phí đại diện và chi phí giao dịch có thể giải thích sự biến động của đầu tư Thứ nhất, thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976) có thể trả lời cho các vấn đề là tại sao một công

ty đang đối mặt với chi phí lãi suất cao nhưng lại không cố gắng đó có được tiền từ các nguồn khác (ví dụ như vay nợ hoặc phát hành cổ phần thông qua thị trường chứng khoán), vấn đề là chi phí đại diện sẽ phát sinh khi có sự xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý, các chủ nợ và các cổ đông vì theo đuổi những mục tiêu khác nhau Thứ hai, chi phí của một giao dịch từ việc phát hành nợ hay vốn cổ phần sẽ có thể làm tăng chi phí tài chính bên ngoài Điều này cho thấy rằng nợ là kênh tài trợ bên ngoài duy nhất sẵn có cho các công ty Việc tài trợ bằng nợ vay thì cho phép các chủ nợ được hưởng các khoản thanh toán lãi suất và gốc tại ngày đáo hạn Nếu công

ty không thể thanh toán theo lịch trình đã định thì các tài sản có khả năng thanh toán của công ty phải được bán để trả nợ Điều này phụ thuộc vào khả năng của công ty

và mức độ có thể thu hồi lại tài sản của mình Thường thì những tài sản khó thu hồi lại nằm trong một dự án được đánh giá cao, do đó khá là khó khăn để thu hồi vốn từ việc thanh lý những tài sản này Trong trường hợp này thì để bảo vệ lợi ích của chủ

nợ, họ sẽ đưa ra những hạn chế với bên vay như áp dụng mức lãi suất cao hơn, hạ thấp hạn mức cấp tín dụng hay quy mô vay nợ cho khoản vay này,

Denizer và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng quản lý rủi ro và xử lý thông tin của các ngân hàng có thể là đặc biệt quan trọng trong việc giảm biến động đầu tư Acemoglu và Zilibotti (1997) ghi nhận vai trò của việc đa dạng hóa để giảm thiểu rủi ro khi phải kết nối với sự phát triển thị trường của tài chính đầy biến động Tác giả kết luận rằng với sự phát triển của thị trường tài chính sẽ giúp cho việc tạo ra của cải, có thể đa dạng hóa để giảm rủi ro, tăng đầu tư và biến động giảm Aghion

và cộng sự (2000) đã nhận định rằng biến động rất có thể xảy ra trong nền kinh tế

mở với mức độ phát triển trung bình của thị trường tài chính

Trang 18

Ngoài ra còn có một vài các yếu tố vi mô khác như đầu tư quá khứ, quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, dòng tiền và cơ hội phát triển là những biến có sẵn cho các công ty và tất cả đều có ý nghĩa trong việc dự báo cho quyết định đầu tư (Bokpin và Onumah, 2009) Còn nghiên cứu của Ruiz - Porras và Lopez - Mateo (2011) thì ghi nhận rằng những tác động của quy mô doanh nghiệp, dòng tiền và cơ hội đầu tư chủ yếu là có ý nghĩa dương (đồng biến) đến quyết định đầu tư Tuy nhiên, theo Saquido (2003) thì kết luận rằng tính thanh khoản và quy mô doanh nghiệp lại không có liên quan đáng kể đến đầu tư nhưng vẫn còn tồn tại một mối quan hệ có ý nghĩa giữa đầu tư, tăng trưởng doanh thu và vốn cố định Aviazian và các đồng sự (2005) đã cho thấy mối liên hệ giữa đòn bẩy và đầu tư là nghịch biến và hiệu ứng này mạnh hơn đáng kể với những công ty có cơ hội tăng trưởng thấp hơn so với những công ty có cơ hội tăng trưởng cao Tuy nhiên, những phát hiện của Li và các đồng sự (2010) đã kết hợp một cách có ý nghĩa mối quan hệ giữa vốn vay và quyết định đầu tư của công ty bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến trên dữ liệu gồm 60 công ty niêm yết bất động sản Trung Quốc từ năm 2006-2008.

Ở tầm vĩ mô, rất nhiều các nghiên cứu đã tập trung vào điều tra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế vĩ mô và các quyết định đầu tư của công ty chú yếu là do hội nhập tài chính toàn cầu Nucci và Pozzolo (2001) đã tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa tỷ giá hối đoái và đầu tư cho các công ty sản xuất của Ý Ferris và Makhija (1988) đã kiểm tra sự tác động của lạm phát lên vốn đầu tư cho các công ty

Mỹ và thấy rằng với các quy định khác nhau về thuế của Mỹ thì ảnh hưởng của lạm phát lên vốn đầu tư trong giai đoạn 1962-1981 đã khác nhau tùy thuộc vào sự phản ứng và hoàn cảnh của công ty Adelegan và Ariyo (2008) đã nghiên cứu tác động của thị trường vốn không hoàn hảo lên hành vi đầu tư của công ty thông qua việc sử dụng dữ liệu bảng với các công ty sản xuất tại Nigeria từ năm 1984-2000 và thấy rằng các yếu tố tài chính có mức ảnh hưởng có ý nghĩa đến hành vi đầu tư của công ty

Tại Việt Nam chủ đề quyết định đầu tư của doanh nghiệp vẫn còn khá hạn chế Chủ yếu các tác giả đánh giá tác động của các yếu tố tài chính doanh nghiệp như nghiên cứu của Phạm Lê Thông, Lê Khương Ninh, Lê Tấn Nghiêm, Phan Anh Tú

và Huỳnh Việt Khải (2008) nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Kiên Giang để đưa ra giải pháp khuyến khích đầu tư của các DN Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp (DN) phụ thuộc vào vốn tự có, tăng trưởng của doanh thu trong quá khứ, quy mô của DN, khả năng mở rộng mặt bằng

Trang 19

Nghiên cứu của Lê Bảo Lâm, Lê Văn Hưởng (2013) với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư để khuyến nghị, đề xuất các chính sách khuyến khích, thúc đẩy đầu tư phát triển trong khu vực doanh nghiệp Kết quả cho thấy 07 yếu tố có ý nghĩa và tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp gồm: (1) Tổng lao động, (2) Tổng tài sản, (3) Tổng doanh thu, (4) Lợi nhuận trước thuế, (5) ROA, (6) Vốn chủ sở hữu, và (7) Loại hình doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa đối với quyết định đầu tư cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao

su ở Việt Nam để có giải pháp thúc đẩy đầu tư phát triển doanh nghiệp

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu đặt ra của nghiên cứu thì nhiệm

vụ đặt ra:

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

+ Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu

tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

+ Tìm ra giải pháp thúc đẩy đầu tư phát triển của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện từ năm 2006-2017

+ Không gian nghiên cứu: các công ty trong ngành cao su được niêm yết trên sàn chứng khoán TP.Hồ Chí Minh và sàn chứng khoán Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 20

Trong nghiên cứu này, hai phương pháp nghiên cứu được thực hiện là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

- Phương pháp nghiên cứu định tính dùng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích những số liệu về hoạt động đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam những năm qua

- Phương pháp định lượng: sử dụng phương pháp hồi quy OLS dựa trên số liệu của các doanh nghiệp được tác giả thu thập thông qua các báo cáo tài chính và lựa chọn các biến có liên quan đến đề tài được xây dựng qua mô hình hồi quy đa biến thể hiện các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam Số liệu thu thập được xử lý thông qua phần mềm Stata

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo thì kết cấu đề tài gồm 03 chương: Chương 1: Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp

Chương 2 : Thực trạng các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư của các của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

CHƯƠNG I LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT

ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về việc đầu tư của các doanh nghiệp

- Sachs - Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư như: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế" Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình XDCB, máy móc thiết bị hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản

- Theo Nguyễn Thu Thủy, (2013), đầu tư là việc bỏ vốn hoặc chỉ dùng vốn cùng các nguồn lực khác ở hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai

Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản

Trang 21

vật chất (nhà máy, đường xá …) tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật …) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất trong nền sản xuất xã hội.

- Trong lý thuyết kinh tế hay kinh tế học vĩ mô, đầu tư là số tiền mua một đơn

vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử dụng cho sản xuất trong tương lai (chẳng hạn: vốn) Ví dụ như xây dựng đường sắt hay nhà máy Đầu

tư trong vốn con người bao gồm chi phí học bổ sung hoặc đào tạo trong công việc Đầu tư hàng tồn kho là sự tích tụ của các kho hàng hóa; nó có thể là tích cực hay tiêu cực, và nó có thể có dụng ý hoặc không có dụng ý

- Trong tài chính, đầu tư là việc mua một tài sản hay mục với hy vọng rằng nó

sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn Nó thường không bao gồm tiền gửi tại ngân hàng hay tổ chức tương tự Thuật ngữ đầu tư thường được sử dụng khi đề cập đến một triển vọng dài hạn

- Theo GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong, hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các

cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư

Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó

Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh

tế xã hội

Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:

- Trước hết phải có vốn Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công

Trang 22

nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.

- Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án

- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp

Quyết định đầu tư dài hạn của DN là quyết định có tính chất chiến lược có ảnh hưởng đến sự thành bại trong kinh doanh của DN trên thương trường Do đó trong nghiên này tác giả tập trung phân tích các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong dài hạn

1.2.1 Chính sách Quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của DN trong các thành phần kinh tế Được thể hiện thông qua các hiến pháp, chính sách kinh tế, trong các luật lệ và biện pháp kinh tế nhằm tạo hành lang, môi trường kinh tế lành mạnh, định hướng cho DN phát triển

+ Trên cơ sở phát luật về kinh tế và các chính sách kinh tế, nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất - kinh doanh và hướng các hoạt động của doanh nghiệp phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ

Trang 23

+ Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong định hướng đầu tư phát triển kinh doanh, với các đòn bẩy kinh tế Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh vào các ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho đất nước.

Trong mỗi thời kỳ, nhà nước sẽ định hướng, khuyến khích doanh nghiệp đầu

tư kinh doanh vào một số ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho kinh tế đất nước, kèm theo đó sẽ là những ưu đãi dành cho doanh nghiệp Do vậy, để đi đến quyết định đầu tư, trước hết các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, xem xét đến chính sách kinh tế của Nhà nước như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách thuê đất vv và nên xem xét đầu tư vào những ngành nghề phù hợp với chính sách kinh tế của nhà nước để hưởng những ưu đãi đặc biệt đó

1.2.2 Thị trường và sự cạnh tranh

+ Trong nền kinh tế hàng hoá, thị trường tiêu thụ sản phẩm là một căn cứ hết sức quan trọng đề doanh nghiệp quyết định đầu tư Bởi vì trong nền kinh tế thị trường DN sản xuất một loại sản phẩm nào đó phải phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng, nên phải xem xét mức cầu của thị trường đồng thời khi đầu tư phải chú ý khai thác lợi thế riêng của DN mới đứng vững được trong cạnh tranh

Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải đầu tư đề sản xuất ra những sản phẩm mà người tiêu dùng cần, tức là để xem xét vấn đề đầu tư, doanh nghiệp cần căn cứ vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường hiện tại và tương lai

Việc nghiên cứu và phân tích thị trường nhằm xác định mức cầu về sản phẩm, phục vụ cho quyết định đầu tư đòi hỏi phải được xem xét hết sức khoa học và bằng

sự nhạy cảm trong kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp

+ Tuy nhiên, khi xem xét thị trường thì không thề bỏ qua yếu tố cạnh tranh.Yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp trong đầu tư phải căn cứ vào tình hình hiện tại của doanh nghiệp, khả năng về các đối thủ cạnh tranh, của những sản phẩm thay thế cho các sản phẩm của doanh nghiệp Từ đó, dự đoán tình hình trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư phù hợp và tạo được lợi thế riêng cho doanh nghiệp trên thị trường

Trang 24

đến yếu tố lãi suất trong quyết định đầu tư, Vì đây là yếu tố ảnh hưởng tới chi phí đầu tư của doanh nghiệp.

+ Bên cạnh yếu tố lãi vay, thuế cũng là yếu tố tác động quan trọng Thuế là công cụ của Nhà nước đề điều tiết và định hướng cho doanh nghiệp đầu tư kinh doanh Đối với doanh nghiệp, Thuế trong kinh doanh cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận và lợi nhuận ròng của doanh nghiệp

Doanh nghiệp phải tính toán kỹ về các khoản lãi vay, các khoản thuế phải trả

và cân đối với mức lợi nhuận có thể đạt được do dự án đầu tư phải trả và cân đối với mức lợi nhuận có thể đạt được do dự án đầu tư mang lại Yếu tố này sẽ góp phần kích thích hay hạn chế quyết định đầu tư của doanh nghiệp

1.2.4 Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ

Nó có thề là cơ hội hoặc cũng có thể là nguy cơ đe doạ đối với sự đầu tư của mỗi doanh nghiệp Tính toán được mức độ phát triển của khoa học công nghệ giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư vào loại máy móc thiết bị nào nhầm nâng cao năng suất lao động, tránh sự lạc hậu về kỹ thuật trong tương lai, hạn chế tình trạng sản phẩm đưa ra không phù họp với nhu cầu của thị trường dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh

Yếu tố này sẽ ảnh hưởng tới việc lựa chọn các trang thiết bị, phương pháp khấu hao tài sản cố định, chất lượng và giá thành của sản phẩm Việc lựa chọn sai lầm trong dự báo tiến bộ của khoa học và công nghệ có thể ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án đầu tư

Sự tiến bộ của khoa học công nghệ cũng đòi hỏi DN dám chấp nhận những mạo hiểm trong đầu tư để phát triền sản phẩm mới Đầu tư dài hạn phải đón đầu sự tiến bộ khoa học công nghệ, ngược lại nếu DN không kịp thời tiếp cận với công nghệ tiên tiến sẽ dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ và dẫn đến phá sản

1.2.5 Mức độ rủi ro của dự án đầu tư

Trong nền kinh tế thị trường, mỗi quyết định đầu tư đều có thể gắn với những rủi ro nhất định do sự biến động của thị trường trong tương lai Vì vậy, nếu đầu tư

Trang 25

có khả năng đảm bảo vững chắc sẽ kích thích nhà đầu tư tham gia còn một quyết định đầu tư đặt trong tương lai không chắc chắn sẽ làm cho các nhà đầu tư lo ngại, thiếu tin tưởng vào sự phát triển của doanh nghiệp và từ đó sẽ hạn chế khả năng đầu tư.

1.2.6 Khả năng tài chính của doanh nghiệp

Khả năng tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp xác định độ lớn của dự án đầu tư Để đi đến Quyết định đầu tư phải được xem xét trong giới hạn về khả năng tài chính của doanh nghiệp (gồm nguồn tự có và nguồn có thể huy động thêm) và dự báo nhu cầu đầu tư trong tương lai Doanh nghiệp không thể quyết định thực hiện các dự án đầu tư vượt quá khả năng tài chính của mình Đây là yếu tố nội tại chi phối đến việc quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp cần phải tính đến mức độ rủi ro do các yếu tố khách quan của nền kinh tế thị trường đem lại như lạm phát, khủng hoảng

Trên đây là các yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định đến kế hoạch đầu tư của DN Hay nói khác đi, trong việc đầu tư của DN có một loạt các lực tác động khác nhau mà DN phải tính đến trước khi đi đến quyết định đầu tư

Trang 26

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRONG NGÀNH CAO SU

Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam hiện đang quản lý 45,83% tổng diện tích, chiếm 70% sản lượng và 90% công suất hệ thống các nhà máy sơ chế toàn ngành Phần lớn diện tích cao su được trồng theo hình thức đại điền

Các đơn vị Quân đội và doanh nghiệp địa phương hiện đang nắm giữ 13,56% diện tích toàn ngành

Khối tư nhân và nông hộ hiện nay chiếm 40,29% toàn ngành Phần lớn diện tích này là cao su tiểu điền từ vài hecta đến vài chục hecta

Đặc điểm cơ cấu vùng

Việt Nam có điều kiện thiên nhiên thuận lợi về khí hậu, đất đai, phù hợp cho phát triển ngành cao su tự nhiên và từ lâu trong nước đã hình thành các vùng trồng cao su tập trung quy mô lớn như Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên Hải Nam Trung Bộ…

- Đông Nam Bộ: chiếm 45% diện tích

- Tây Nguyên: chiếm 30% diện tích

- Bắc Trung Bộ: chiếm 11% diện tích

- Tây Bắc: chiếm khoản 6% diện tích

- Duyên Hải Nam Trung Bộ: chiếm 8% diện tích

Ngoài diện tích gieo trồng trong nước, thì trong những năm qua nhiều doanh nghiệp trong ngành cao su Việt Nam cũng đã phát triển các rừng cao su tự nhiên trên đất các quốc gia láng giềng như Lào, Campuchia và tổng diện tích gieo trồng tại hai nước này bằng khoảng hơn 10% diện tích tại Việt Nam

Đặc điểm về sản lượng và xuất nhập khẩu

Tổng sản lượng cao su khai thác trong nước được sử dụng cho các nhu cầu tiêu thụ chính như sau:

- Phần lớn nhằm mục đích xuất khẩu

Trang 27

- Phần nhỏ còn lại được cung cấp cho các nhu cầu tiêu thụ trong nước.

Giai đoạn 2008 – 2012: sản lượng khai thác tăng từ 711 nghìn tấn năm 2009 lên 915 nghìn tấn năm 2013, đến năm 2017, sản lượng khai thác cao su là 1.300 nghìn tấn

Giai đoạn 2009 – 2012: giá trị nhập khẩu cao su tăng từ 409,5 triệu USD năm

2009 lên mức 673,5 triệu USD năm 2013, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 18,2%/năm Đến năm 2017, khối lượng nhập khẩu cao su trong lên đến 559 ngàn tấn, trị giá 1,09 tỷ USD Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong năm 2017

là Hàn Quốc, Nhật Bản, Campuchia và Thái Lan chiếm 54,5% thị phần

Trong khi đó sản lượng xuất khẩu tăng từ 731 nghìn tấn năm 2009 lên 1.075 nghìn tấn năm 2013 Đến năm 2017 ngành cao su Việt Nam đã đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước trên 2 tỷ USD, đạt 1,3 triệu tấn

Hiện nay, cao su Việt Nam xuất khẩu tới 28 quốc gia trên thế giới, trong đó xuất sang các nước EU chiếm 7,4% và các nước Đông Nam Á chiếm 6,7% Trung Quốc thị trường chủ lực chiếm 65% tỷ trọng đạt 896,2 nghìn tấn 1,4 tỷ USD, tăng 20,71% về lượng và 45,61% về kim ngạch so với 2016 Giá xuất bình quân tăng 20,62%, đạt 1612,80 USD/tấn Tiếp theo là thị trường Malaysia, Ấn Độ đạt 77,7 và 43,3 nghìn tấn, nhưng so với năm 2016 tốc độ xuất sang hai thị trường này đều giảm, tương ứng 23,22% và 36,16%

Tuy nhiên một thực tế, sản lượng xuất khẩu còn cao hơn cả sản lượng sản xuất cao su trong nước, ghi nhận khoảng 10% - 12% tổng sản lượng cao su khai thác trong nước là được tiêu thụ trong nước, như vậy để bù đắp cho sản lượng xuất khẩu thì một phần sản lượng cao su nhập khẩu sẽ được tái xuất sau khi đã trải qua công đoạn chế biến ban đầu Đây là thực tế không bất ngờ khi nhiều doanh nghiệp trong nước đã phát triển các rừng cao su ở Campuchia, Lào, Myanmar…

2.1.2 Khái quát về các công ty niêm yết trong ngành Cao su ở Việt Nam

Năm 2013, trên thị trường chứng khoán có 5 công ty niêm yết trong ngành Cao su với tổng mức vốn hóa đến ngày 31/12/2013 là 6.679 tỷ đồng Từ năm 2015

- 2017, thị trường chứng khoán có 20 công ty niêm yết trong ngành Cao su với tổng mức vốn hóa đến ngày 31/12/2017 là 16.207,32 tỷ đồng

Trang 28

Bảng 2.1 Các công ty niêm yết trong ngành Cao su ở Việt Nam

CK

(nghìn đồng)

Thị giá vốn (tỷ đồng)

Số CP đang lưu hành (triệu CP)

PHR CTCP Cao su Phước Hòa 47,20 3.634,09 78,49 11,12 4.164

RBC CTCP Công nghiệp và Xuất

Trang 29

TNC CTCP Cao su Thống Nhất 13,00 250,25 19,25 9,35 1.390

TRC CTCP Cao su Tây Ninh 28,70 838,80 29,13 5,90 4.883

VHG CTCP Đầu tư Cao su Quảng

Nguồn Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Quan sát các cổ phiếu niêm yết chúng tôi thấy có một số đặc điểm sau:

PHR là công ty lớn nhất trong ngành xét về vốn hóa Tiếp theo là DRC và DPR đứng ở vị trí thứ 2 và 3 CDR và IRC có quy mô khá nhỏ so với các công ty trong ngành Các cổ phiếu cao su đa phần có mức định giá thấp so với thị trường chung Mức định giá của các công ty niêm có sự chênh lệch khá lớn với RCD có PE

ở mức 1,02, cao nhất là HRC với giá trị PE ở mức 87,16

Trang 31

Bảng 2.2 Doanh thu của các công ty niêm yết trong ngành cao su giai đoạn 2006-2017

Trang 32

VHG 16,079 1,164,490 659,671 394,873 186,591 168,287 247,754 301,552 189,039 287,377 700,480 410,219

VRG 31,251 6,587 8,482 6,918 6,142 68,757 72,301 99,403

Nguồn Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 34

2.2 Thực trạng về việc đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

2.2.1 Khái quát về đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su

ở Việt Nam

Quỹ đất là yếu tố tiên quyết để có thể đầu tư trồng cao su Tại Việt Nam, diện tích trồng đã tăng lên nhanh chóng trong giai đoạn 2005-2017 với gần 800 ngàn ha được trồng mới, chiếm 50% diện tích trồng cao su của cả nước So với quy hoạch phát triển cao su của Chính phủ, diện tích trồng cao su hiện đã vượt quy hoạch đề

ra Có thể thấy, ngành cao su Việt Nam đã trải qua giai đoạn mở rộng về diện tích, quỹ đất để phát triển đã tới hạn Do đó, cơ hội cho các nhà đầu tư trồng cao su nhìn chung là không còn nhiều Các cơ hội tiềm năng mở ra nhiều hơn trong ngành cao

su chế biến khi nhu cầu tiêu thụ nội địa đang tăng nhanh qua các năm Đây là một lĩnh vực hấp dẫn khi mà mức tiêu thụ nội địa chỉ mới chiếm khoảng 17% sản lượng Trong thời gian qua, lĩnh vực này đã thu hút được nhiều dự án chế biến để tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào trong nước Một hình thức khác có thể đầu tư vào các công ty trồng cao su là đầu tư gián tiếp vào các công ty niêm yết Trên thị trường chứng khoán hiện có 20 công ty cao su đang niêm yết trong đó VRG là cổ đông lớn nhất và nắm tỷ lệ chi phối ở hầu hết các Công ty lớn trong ngành

Bảng 2.3: Mức đầu tư của VRG

HRC CTCP Cao su Hòa Bình VRG 55%

DPR CTCP Cao su Đồng Phú VRG 57%

PHR CTCP Cao su Phước Hòa VRG 69%

TNC CTCP Cao su Thống Nhất VRG 51%

TRC CTCP Cao su Tây Ninh VRG 62%

Nguồn Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

2.2.2 Thực trạng hiệu quả của các dự án

Bảng 2.4: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư ROIC của các công ty

Trang 35

Nguồn Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Theo bảng 2.47 cho thấy trong giai đoạn 2014 - 2017 lợi nhuận đầu tư tương đối tốt ở đa số các công ty, tỷ trọng lớn trong lợi nhuận của các đơn vị này đến từ khai thác gỗ chứ không phải từ mủ Bên cạnh đó, một số nhóm ngành đầu tư khác cũng mang lại doanh thu khá khả quan

Riêng 2 công ty làm ăn thua lỗ nhất trong ngành là VHG và VRG Năm 2017, VHG xuất hiện khoản chi phí tài chính đột biến lên tới 842 tỷ đồng, chủ yếu do lỗ thanh lý các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn Trong tháng 12/2017, VHG đã ra nghị quyết thoái vốn khỏi CTCP Phát triển Bất động sản Tây Hồ Tây, đây là khoản đầu

tư có giá trị ghi sổ lên tới 729 tỷ đồng Sau đấy, VHG liên tục thực hiện đầu tư, thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp với giá trị khá lớn và đa phần đều thua lỗ nặng nề Trong giai đoạn đầu năm 2017, VHG đã liên tiếp báo lỗ do thanh lý các khoản đầu

tư vào CTCP Thủy sản Viễn Đông, CTCP Cao su miền Nam… Cuối tháng 12/2017, VHG đã tham gia góp vốn hơn 100 tỷ đồng vào CTCP sản xuất ứng dụng công nghệ cao Thái Sơn Tuy nhiên, thông tin về những doanh nghiệp trên khá mù mờ Còn VRG đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp vượt vốn điều lệ gần 2.600 tỉ đồng Đầu tư ngoài ngành của VRG chủ yếu là thủy điện, ximăng, thép, chứng khoán nhưng hầu hết đều thua lỗ Như vậy, nguyên nhân xuất phát từ việc vung vãi tiền đầu tư vào nhiều công ty ngoài ngành nghề kinh doanh chính nhưng thua lỗ, không được chia cổ tức hoặc nguy cơ mất vốn hoàn toàn Bên cạnh đó là công ty mẹ, công

ty con cùng sai phạm điển hình là đầu tư sang Campuchia nhưng chưa được Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài Ngoài ra còn đốt tiền vào công ty "sân sau" và gây ra những hậu quả nặng nề

Trang 36

2.3 Đánh giá thực trạng về quyết định đầu tư và thực trạng đầu tư của các công ty niêm yết trong ngành cao su ở Việt Nam

Tính từ năm 2007 đến nay, có 9 công ty thực hiện đầu tư 9 dự án tại 6 tỉnh, với quy mô theo dự án được duyệt là 63.500 ha với tổng mức đầu tư 11.600 tỷ đồng, trong đó vốn Tập đoàn 7.300 tỷ đồng vốn vay và vốn của người dân góp quyền sử dụng đất 4.300 tỷ đồng Tổng diện tích cao su của các công ty đầu tư thêm tính đến cuối năm 2017 là 28.622 ha bằng 45% diện tích theo dự án; tổng vốn đã đầu tư ở khu vực là 4.285 tỷ đồng, bằng 37% tổng mức đầu tư dự án trong đó Vốn chủ sở hữu là 3.800 tỷ đồng, vốn vay 458 tỷ đồng và vốn ngân sách cấp cho xây dựng hạ tầng 29 tỷ đồng

Đến cuối năm 2017, các công ty đang quản lý quỹ đất tổng cộng 32.816 ha, quỹ đất để thực hiện dự án chủ yếu đất góp của người dân, diện tích 27.704 ha chiếm 85% tổng diện tích, còn lại 5.112 ha địa phương cho thuê để trồng cao su Với đất thuê các công ty quản lý theo mô hình chung, riêng đất do người dân góp, hình thức tổ chức sản xuất là công ty chịu toàn bộ vốn đầu tư, thu tuyển người lao động có góp đất thành công nhân công ty và quản lý theo hình thức đại điển Người góp đất ngoài nhận lương theo công việc, được phân chia 10% giá trị sản phẩm trên diện tích đất góp khi có sản phẩm Mối quan hệ giữa các công ty với người dân được xác lập thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh, đến nay công ty đã thực hiện

ký hợp đồng với người dân được 6.271 ha cho 4.860 hộ, bình quân 1,04 ha/hộ; chưa

ký hợp đồng với người dân 21.433 ha của 20.708 hộ, bình quân 1,04 ha/hộ

Diện tích trồng mới tập trung vào giai đoạn 2009-2015, từ năm 2013 khi những dự báo về thị trường không thuận lợi trong những năm tới bắt đầu rõ nét, các công ty đã giảm dần diện tích trồng mới và đã chấm dứt việc mở rộng diện tích từ năm 2015, chỉ tập trung trồng lại, trồng dặm những vườn cây bị ảnh hưởng rét từ năm 2011 và năm 2016 chỉ trồng vét trên những diện tích mà người dân đã góp đất diện tích 255 ha, từ năm 2017 chỉ chăm sóc các vườn cây đã trồng, xây dựng nhà máy chế biến để chế biển sản phẩm khai thác với tổng vốn còn phải đầu tư khoảng 3.670 tỷ đồng Như vậy tổng vốn đầu tư hoàn chỉnh cho khu vực là 7.995 tỷ đồng, bằng 51% so với dự kiến ban đầu Bắt đầu tư năm 2016 một số diện tích vườn cây

sẽ đưa vào khai thác và tăng nhanh trong những năm tiếp theo: năm 2017: 300ha; 2018: 7.000 ha; 2019: 12.700 ha; năm 2020: 17.000 ha và sản lượng cao su cũng tăng dần, đạt mức khoảng 15.00 tấn vào năm 2020

Việc đầu tư vào diện tích trồng cây cao su cũng mang lại nhiều thành quả Mặc dù vườn cây cao su chưa khai thác những những khoản thu nhập từ tiền lương chăm sóc vườn cây cao su cũng đã đem lại mức thu nhập ổn định, cao hơn mức lương tối thiểu cho người lao động Qua đời sống của người nông dân ở các địa phương phát triển trồng cây cao su, có thể nhận định rằng cây cao su ở khu vực đã đem đến sự tác động tích cực và sâu rộng đến thu nhập, đời sống, ý thức của nfười dân ở khu vực và góp phần thay đổi diện mạo nông thôn vùng núi Trong những năm tới, dù giá mủ thấp khi vườn cây đưa vào khai thác, có sản phẩm, có doanh thu thì thu nhập của người lao động sẽ cao hơn thời gian qua vì ngoài khoản tiền lương được trả khi thu hoạch mủ luôn cao hơn tiền lương chăm sóc cao su, người dân còn được chia 10% sản phẩm, chương trình này sẽ tiếp tục đóng góp tích cực hơn cho

Ngày đăng: 09/10/2018, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w