1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Áp dụng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

96 209 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều bài báo, cũng như công trình nghiên cứu về vấn đề nay nhưng chủ yếu đề cập đến việc thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung, hoặc đề cập đến từng vấn đề về cạnh tranh, độc q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ KIỀU ANH

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ KIỀU ANH

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.01.07

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Ngọc Cường

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Anh

Trang 4

Nguyễn Thị Kiều Anh

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

WTO World Trade Organization, Tổ chức Thương mại Quốc tế TPP Trans-Pacific Partnership Agreement, Hiệp định đối tác

xuyên Thái bình dương VMS-MobiFone Vietnam Mobile Telecom Services Company, Công ty

Thông tin Di động Việt Nam

Bộ Thông tin và truyền thông Bộ TT&TT

Cục quản lý cạnh tranh Cục QLCT

Cạnh tranh không lành mạnh CTKLM

3G Third-generation technology, Công nghệ truyền thông thế

hệ thứ ba 4G Fourth-generation, Công nghệ truyền thông không dây

thứ tư Doanh nghiệp SMP Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Doanh nghiệp Non-SMP Doanh nghiệp không thống lĩnh thị trường

VNPT Vietnam Posts and Telecommunications Group, Tập

đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT-Vinaphone Tổng công ty dịch vụ viễn thông

Gtel Mobie Công ty cổ phần Viễn Thông Di Động Toàn Cầu

SPT Công ty cổ phần bưu chính viễn thông Sài Gòn

CCVN Công ty cổ phần truyền thông quốc tế INCOM

GDS Công ty cổ phần dịch vụ số liệu toàn cầu

Trang 6

Thanh niên Net Công ty cổ phần dịch vụ viễn thông Thanh niên Net INCOM Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư viễn thông tin học

Minh Tu Công ty trách nhiệm hữu hạn viễn thông Minh Tú

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 2

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 3

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn 4

7 Cơ cấu luận văn 4

Chương 1.TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 5

1.1 Tổng quan về cạnh tranh không lành mạnh 5

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh 5

1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh 9

1.1.3 Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh 11

1.2 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh 23

1.3 Một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật vể cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông 25

1.4 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam 28

Chương 2.TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM 33

2.1 Thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông 33

2.1.1 Đánh giá thị trường viễn thông 33

2.1.2 Tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam 37

2.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật chuyên ngành viễn thông về cạnh tranh không lành mạnh 43

Trang 8

2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực

viễn thông 46

2.3.1 Bù chéo gây cạnh tranh không lành mạnh 46

2.3.2 Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực giá cước 50

2.3.3 Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực khuyến mại 55

2.3.4 Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo 62

2.4 Đánh giá 67

Chương 3.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẤY VÀ BẢO VỆ CẠNH TRANH LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM 73

3.1 Kiến nghị nhằm quản lý về quảng cáo trong lĩnh vực viễn thông 73

3.2 Kiến nghị nhằm quản lý về khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông 74

3.2.1 Đề xuất quản lý khách hàng thường xuyên trong khuyến mại viễn thông 74

3.2.2 Phân biệt giữa khuyến mại viễn thông với tài trợ, các hoạt động từ thiện tránh hành vi bù chéo trong doanh nghiệp viễn thông 75

3.3 Kiến nghị nhằm quản lý về giá cước trong lĩnh vực viễn thông 77

3.3.1 Quản lý giá cước đối với doanh nghiệp viễn thông không thuộc nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường nhưng chiếm trên 15% thị phần 77

3.3.2 Đăng ký giá cước 79

3.3.3 Đối với chương trình khuyến mại kết hợp nhiều hình thức khuyến mại nhằm lách luật giảm giá cước 79

3.3.4 Tăng các hạn mức xử phạt giá cước tại Nghị định 174/2013/NĐ-CP 80

3.2 Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam 80

KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, trong 10 năm trở lại đây ngành Viễn thông đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam Theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay, Việt Nam là một trong những thị trường viễn thông có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới Các dịch vụ viễn thông không chỉ được phổ cập rộng rãi tới khắp mọi miền đất nước, mà còn thực sự tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển hơn Tuy nhiên, cũng như hầu hết các doanh nghiệp khác ở nước ta, mức độ sẵn sàng tham gia cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của các doanh nghiệp viễn thông còn thấp

Hiện nay, ngoài 2 doanh nghiệp viễn thông lớn trên thị trường là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel) còn nhiều nhà khai thác viễn thông khác như: Gtel, Vishipel Telecom, Hanoi Telecom , đã tạo môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, khốc liệt Chính sách tự do hóa thị trường dịch vụ viễn thông đang đặt ra cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông Việt Nam những thách thức to lớn - đó là cạnh tranh để tồn tại và phát triển Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của viễn thông và tin học cho phép các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới vào khai thác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Điều đó làm cho yếu tố cạnh tranh trên thị trường dịch vụ viễn thông càng thêm sôi động Vấn đề cạnh tranh cần được các doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông coi trọng và hiểu rõ trong chiến lược phát triển của mình

Tuy nhiên, cũng như hầu hết các thị trường khác, do tính khốc liệt trong cạnh tranh nhằm đảm bảo thị phần, doanh thu, thị trường viễn thông xuất hiện những hành vi cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) ngày càng nhiều Những hành vi CTKLM giữa các doanh nghiệp đã xâm hại quyền tự do kinh doanh, gây hậu quả xấu cho môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp khác và cho cả người tiêu dùng

Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển nhanh, mạnh mẽ của lĩnh vực viễn thông, các quy định pháp lý của Nhà nước trở lên lạc hậu, mâu thuẫn và chồng chéo với nhau, chưa bao quát được hết các vấn đề pháp sinh Điều này gây khó khăn cho cơ quan quản lý phát huy hết vai trò của mình trong việc chống lại các

Trang 10

hành vi CTKLM Do vậy, pháp luật cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật viễn thông nói chung cần phải liên tục điều chỉnh, cập nhật cho phù hợp, hạn chế sự chồng chéo, mâu thuẫn với nhau, theo kịp với tiến trình pháp triển, đảm bảo được

sự bình đẳng trong kinh doanh, sự cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền trong lĩnh vực viễn thông

Chính vì vậy, đề tài "Áp dụng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong

lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu và làm luận văn tốt

nghiệp bậc học thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cạnh tranh trong lĩnh vực Viễn thông đang là vấn đề nóng bỏng và được dư

luận quan tâm Đã có nhiều bài báo, cũng như công trình nghiên cứu về vấn đề nay nhưng chủ yếu đề cập đến việc thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung, hoặc đề cập đến từng vấn đề về cạnh tranh, độc quyền trong kinh doanh dịch vụ viễn thông, nhiều bài viết về một số hiện tượng, hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông nhưng chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về nội dung cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp Viễn thông thể hiện tại pháp luật cạnh tranh không lành mạnh lĩnh vực Viễn thông

Cho đến nay, đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu "Áp dụng pháp luật về

cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam” Để hoàn thành

đề tài này, tôi đã sưu tầm, tìm hiểu nhiều sách, báo, các bài viết trên mạng Internet, các báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh, Cục Viễn thông

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích các quy định của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh và việc cơ quan Nhà nước áp dụng các quy định

đó trong lĩnh vực cung cấp thông tin dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam (không phân tích việc áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ viễn thông) Đề tài tập trung phân tích hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực giá, khuyến

mại, khoảng cáo, và hành vi bù chéo trong kinh doanh

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận nền tảng của thực tiễn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử Mọi vấn đề nghiên cứu luôn phải xem xét trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng, luôn đặt trong quan hệ tổng thể tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác Các hiện tượng luôn được xem xét trong cả quá trình từ sự hình thành đến sự phát triển qua các giai đoạn khác nhau

Trang 11

 Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu rõ hơn những quy định của

pháp luật CTKLM trong lĩnh vực viễn thông so với nhu cầu thực tế

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là phân tích các quy định pháp luật hiện tại và dự báo xu hướng vận động của các quy định pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực viễn thông Từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm xử lý hành vi CTKLM, thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam Việc phân tích, dự báo xu hướng vận động các quy định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông và các đề xuất kiến nghị phải đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan và toàn diện và phù hợp với các quy định của pháp luật

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Với mục đích trên, luận văn thực hiện một

số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến cạnh tranh, CTKLM để làm

cơ sở nghiên cứu các phần tiếp theo của luận văn Để thực hiện được nhiệm vụ này, luận văn đã xây dựng các khái niệm khoa học về cạnh tranh không lành mạnh, đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Qua đó phân tích những đặc điểm và tìm ra mối liên hệ giữa chúng

- Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam, pháp luật viễn thông quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Với nhiệm vụ này, luận văn phân tích thị trường viễn thông, các quy định của Luật cạnh tranh, Luật Viễn thông 2009 và các văn bản hướng dẫn để phân tích và đánh giá những ví dụ cụ thể trong thực tiễn, trên cơ sở

đó tìm ra những điểm bất cập và hạn chế của cơ quan chuyên ngành

- Trên cơ sở phân tích, so sánh, đánh giá đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông để phần nào đó giúp ích cho việc hoàn thiện hơn pháp luật về cạnh tranh lành mạnh nói

Trang 12

chung và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông nói riêng

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống những vấn đề lý luận

và thực tiễn về căn cứ xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học

Luận văn đánh giá những bất cập, khó khăn của cơ quan quản lý chuyên ngành khi áp dụng pháp luật cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật viễn thông vào việc xử lý vi phạm

Luận văn cũng đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật viễn thông điều chỉnh về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và giải pháp thúc đẩy hoạt động cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp viễn thông Những đề xuất và giải pháp được nêu ra được đặt trong giải pháp tổng thể pháp luật trong lĩnh vực viễn thông, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về cạnh

tranh không lành mạnh

Chương 2: Tổng quan thị trường viễn thông và áp dụng pháp luật về

cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành

mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.1 Tổng quan về cạnh tranh không lành mạnh

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh

Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái kinh tế xã hội Đã có thời kỳ, thị trường, cạnh tranh và lợi nhuận được coi như là mặt trái gắn liền với chủ nghĩa tư bản và bị gạt ra khỏi công cuộc xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung Kết quả của thời kỳ này là kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu Sau khi thị trường mở cửa, bước vào nền kinh tế chuyển đổi, nền kinh tế Việt Nam thay đổi đáng kể, ghi nhận ở bước chuyển mình mới về kinh tế, văn hóa, đời sống, xã hội Việt Nam thực sự thực thi những nguyên lý của cơ chế thị trường chưa từng được biết đến trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một động lực mới của

sự phát triển là cạnh tranh Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội mà trước đây người ta chỉ tìm thấy trong sách vở, như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh Chính vì vậy, cạnh tranh được coi như là một động lực quan trọng cần thiết của sự phát triển

Qua hơn 20 năm phát triển nền kinh tế thị trường, đến nay đã có 15.563.636 doanh nghiệp được thành lập, kinh doanh các ngành nghề đa dạng, trong các lĩnh vực khác nhau Vì vậy, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại lại vô cùng quyết liệt, nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, tranh giành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Áp lực về cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi giải pháp để nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp, đưa ra thị trường sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý Tuy nhiên, cũng vì vậy mà các doanh nghiệp sử dụng những hành vi trái ngược với đạo đức kinh doanh, gây ảnh hưởng quyền tự do kinh doanh trên thị trường

Thuật ngữ cạnh tranh lành mạnh (CTLM) và cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) là một trong những thuật ngữ được sử dụng để biểu thị tính cạnh tranh trên thị trường ở khía cạnh đạo đức trong kinh doanh của chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường Do ra đời từ bản tính hám lợi và ganh đua của con người trong kinh doanh, cạnh tranh luôn có tính hai mặt Nếu cạnh tranh lành mạnh là biểu

Trang 14

hiện của mặt tích cực của cạnh tranh trong kinh doanh, thì cạnh tranh không lành mạnh là biểu hiện mặt tiêu cực, mặt trái của cạnh tranh Trong khoa học pháp lý, người ta chưa có được bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Xuất phát từ mặt tích cực của cạnh tranh, các nhà khoa học cũng

đã có sự thống nhất khi đưa ra những đặc trưng của cạnh tranh lành mạnh như sau:

– Cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của doanh nghiệp;

– Có mục đích thu hút khách hàng;

– Không trái pháp luật và tập quán kinh doanh lành mạnh

Do vậy, cạnh tranh lành mạnh đem lại cho người tiêu dùng chất lượng sản phẩm ngày càng cao, sự đa dạng sản phẩm theo nhu cầu, giá cả hợp lý; đem lại cho đời sống kinh tế -xã hội những thành tựu phát triển của khoa học kỹ thuật, sự hợp lý trong việc sử dụng các nguồn lực kinh tế như: vốn, lao động, nguyên liệu Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh sẽ là trọng tài công bằng để lựa chọn những nhà kinh doanh có đủ năng lực, đủ bản lĩnh để tồn tại và kinh doanh hiệu quả

Xuất phát từ góc độ tích cực cạnh tranh đem lại các lợi ích cho xã hội, cho người tiêu dùng, cho doanh nghiệp Song, ở chừng mực nào đó, khi nhu cầu lợi nhuận thúc giục và cám dỗ con người đến với những thủ đoạn thái quá trong cạnh tranh, thì các hành vi cạnh tranh ấy trở thành nên tiêu cực, mù quáng, là nỗi ám ảnh

và có thể gây ra nhiều hậu quả bất lợi cho sự phát triển, xâm hại lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng Những vụ việc thực tế, cạnh tranh không lành mạnh đều thể hiện bản chất chung theo đó doanh nghiệp toan tính đạt được thành công trên thị trường không dựa trên nỗ lực của bản thân cải thiện chất lượng, giá cả của sản phẩm, mà bằng cách chiếm đoạt những ưu thế của sản phẩm người khác hoặc tác động sai trái lên khách hàng

Có thể nói hành vi CTKLM là những hành vi cụ thể, đơn phương, vì mục đích cạnh tranh của chủ thể kinh doanh luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không phải là bất hợp pháp) mà mục tiêu của nó là gây cho một hay các đối thủ cạnh tranh sự bất lợi hay thiệt hại trong hoạt động kinh doanh

Ngày nay, khi đời sống nhân dân phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng cao thì mức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng lớn Trên thị trường, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra càng nhiều với mức độ, tính chất, hình thức ngày càng đa dạng và tinh vi Do vậy, một mặt, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm tạo

ra môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp; Mặt khác, còn cần ngăn chặn việc các doanh nghiệp tạo lợi thế cho mình một cách không chính đáng trước

Trang 15

các đối thủ bằng bất kỳ thủ đoạn nào Để đảm bảo những lợi ích tích cực, hoạt động cạnh tranh cần được duy trì trong khuôn khổ lành mạnh và tuân theo những nguyên tắc nhất định

Định nghĩa CTKLM được thừa nhận rỗng rãi nhất hiện nay quy định tại Điều

10 Bis : “bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực tiễn, không

trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”

Theo định nghĩa này, có thể thấy tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính

lành mạnh hoặc không lành mạnh của hành vi cạnh tranh là: “các thông lệ trung

mỗi quốc gia có thể có những khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của quốc gia đó Trong mỗi ngành sản xuất, mỗi loại hình kinh doanh, mỗi thị trường sản phẩm, mỗi giai đoạn phát triển, cũng có thể có những thông lệ khác nhau có thẻ được coi là trung thực, thiện chí Thực tiễn lập pháp ở nhiều quốc gia đặt ra nguyên tắc đánh giá tính lành mạnh hoặc không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, tại Bỉ và Luxembourg là “thông lệ thương mại trung thực”, tại Tây Ba Nha và Thụy Sỹ là “nguyên tác ngay tình”, tại Italia là “tính chuyên nghiệp đúng đắn”, tại Đức, huy lạp và Ba Lan là “ đạo đức kinh doanh” Còn tại Hoa Kỳ được xác định từ nguồn án lệ là “nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc

“- Mọi hành vi nhằm gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào, với cơ

sở, hàng hos hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh

- Những nguyên tắc sai trái trong công việc kinh doanh nhằm mất uy tín của

cơ sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh thương mại của đối thủ cạnh tranh

1 Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Công An Nhân Dân, 2014, tr.288

Trang 16

- Những chỉ dẫn hoặc tuyên bố sử dụng trong quá trình kinh doanh nhằm lựa

dối công chúng về bản chất, quy trình sản xuất, đặc điểm, sự phù hợp về mục đích hoặc số lượng của hàng hóa”

Lý giải về điều này, Phó Giáo sư Nguyễn Như Phát cho rằng: “sức sáng tạo

bất tận của các nhà kinh doanh đã làm cho phạm vi của hành vi không lành mạnh luôn thay đổi bằng sự xuất hiện của những thủ đoạn bất chính mới” Do đó, pháp

luật với tính ổn định tương đối sẽ mau trở thành lỗi thời trước thực tế sinh động của thị trường

Tại Khoản 4 Điều 3, Luật cạnh tranh 2004, định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh như sau:

“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”

Đĩnh nghĩa về CTKLM theo pháp luật Việt Nam cũng được xác định trên nguyên tắc: “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh”, quy định này tương

tự với định nghĩa của Điều 10 Bis Công ước Paris Cùng với nguyên tắc định tính

về CTKLM Luật cạnh tranh cũng đưa ra danh sách các hành vi CTKLM bị cấm tại Điều 39, LCT 2004 bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh;

ép buộc trong kinh doanh của doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính

Điểm đặc biệt, đáng được ghi nhận tại Khoản 10 Điều 39 Luật cạnh tranh

2004quy định: “Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí các

định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định” Xuất phát từ sự vận

động không ngừng nghỉ của xã hội, sự biến đổi của cung – cầu thị trường, pháp luật cạnh tranh không lành mạnh khó thể bao quát, đánh giá đầy đủ các hành vi thị trường Do vậy, bên cạnh những hành vi CTKLM đã được định danh, nhà làm luật không loại trừ khả năng thực tiễn thương mại xuất hiện các hành vi CTKLM mới, đòi hỏi pháp luật phải có biện pháp ngăn chặn, xử lý phù hợp Bên cạnh đó, Luật cạnh tranh Việt Nam chỉ ghi nhận các dạng hành vi mới này tại văn bản pháp luật

do Chính phủ ban hành, trước khi tiến hành xử lý Nếu so với pháp luật các nước trên thế giới, cho phép áp dụng các nguyên tắc, tập quán và án lệ, để kết luận ngay

Trang 17

hành vi có phải là CTKLM hay không thì ở Việt Nam tập quán và án lệ không được

áp dụng Quy định này phần nào khiến việc áp dụng thực thi pháp luật về CTKLM tại Việt Nam thêm phần khó khăn Lý do chính dẫn đến tập quán và án lệ không được coi là cơ sở xác định hành vi cạnh tranh là:

 Thứ nhất, nền kinh tế thị trường Việt Nam mới hình thành, quan hệ kinh doanh tồn tại chưa đủ thời gian đẻ trở thành tập quán, được chấp nhận rộng rãi Tầng lớp thương nhân chưa đủ đông, mạnh để có thể đặt ra những tiêu chuẩn chung, những quy tắc đạo đức cho một ngành kinh doanh

 Thứ hai, pháp luật Việt Nam không thừa nhận án lệ Các cơ quan tài phán do chỉ được áp dụng các quy định mang tính nguyên tắc như quy định về chuẩn mực đạo đức kinh doanh, căn cứ quy định hành vi CTKLM tại các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành, nên đã phần nào hạn chế vai trò và tính chủ động khi giả quyết các vụ việc Bên cạnh đó, do những hạn chế về hiểu biết thực tế nên cơ quan công quyền cũng không thể thay cho thương nhân đặt ra các quy tắc đạo đức trong một ngành kinh doanh cụ thể

1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh

Tính không lành mạnh của các hành vi cạnh tranh lệ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường và luôn được điều chỉnh bằng phương thức của luật tư Tức

là, người bị ảnh hưởng, bị thiệt hại hay có nguy cơ bị thiệt hại mà từ họ không quyết định nhờ đế sự can thiệp của pháp luật thì pháp luật và Tòa án chưa thể vào cuộc Theo quy định Luật canh tranh Việt Nam, cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm pháp lý sau đây:

Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các

chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận

Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường Khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên, liên tục xảy ra trong mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh Do vậy, pháp luật cạnh tranh có thể áp dụng với cả hành vi của nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức, hiệp hội và các cá nhân hành nghề tự do (bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư )

Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có tính đối lập, đi

ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, có thể hiểu là những

Trang 18

vi Một hành vi cạnh tranh không lành mạnh luôn gắn với lỗi cố ý của bên vi phạm, mặc dù biết hoặc buộc phải biết đến các thông lệ, chuẩn mực đạt ra đối với hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn cố tình vi phạm

Các hành vi CTKLM diễn ra với nhiều ngành, lĩnh lực khác nhau của nền kinh tế, với nhiều hình thức biểu hiện ngày càng đa dạng, tinh vi, gây khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế Do đó việc xác định một hành vi là không lành mạnh tương đối phức tạp và cần phải dựa trên hai căn cứ chính Một là, căn cứ vào tập quán kinh doanh thông thường, tập quán này đã được thừa nhận rộng rãi trong đời sống thị trường Hai là, căn cứ vào luật định là những tiêu chuẩn đã được pháp luật quy định cụ thể, khi hành vi cạnh tranh đi trái với quy định của pháp luật sẽ bị coi là không lành manh

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường của Việt Nam mới hình thành, các thông lệ, tập quán thương mại tại Việt Nam chưa đủ thời gian để tạo thành các chuẩn mực đạo đức kinh doanh được các tổ chức, cá nhân thừa nhận rộng rãi và tự nguyện thực hiện như những quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc Vì vậy, để đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh thường dựa trên một số nguyên tắc được khẳng định trong pháp luật và thực tiễn áp dụng trong giao dịch dân sự, thương mại được quy định tại văn bản luật khác như Bộ luật Dân sự 2014, Luật doanh nghiệp 2014 Có thể kể các nguyên tắc đó như: trung thực, thiện chí, tự nguyện, hợp tác, cẩn trọng, mẫn cán

Thứ ba, hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn

chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho đối tượng khác

Đối tượng chịu thiệt hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cũng là đối tượng bảo vệ của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh đó là hai nhóm cơ bản:

1 Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Công An Nhân Dân, 2014, tr.290

Trang 19

Bên cạnh đó, Luật cạnh tranh Việt Nam có đưa thêm một đối tượng bị câm hại là Nhà nước Tuy nhiên, có thể thấy, nhóm đối thượng này không mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định về cạnh tranh không lành mạnh của nhiều quốc gia

1.1.3 Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Theo quy định tại Điều 39 Luât cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm những hành vi sau:

1.1.3.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hành vi cạnh tranh không lành mạnh đầu tiên được quy định tại Điều 39 LCT 2004 Đây là hành vi cạnh tranh cơ bản tạo nền tảng ra đời cho pháp luật về cạnh tranh và đã trải qua nhiều phát triển thay đổi với nhiều học thuyết pháp lý khác nhau Đồng thời phản ánh mối quan hệ bổ sung giữa pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là những chỉ dẫn thương mại liên quan đến đặc tính để nhận biết hàng hóa dịch vụ Những đặc tính nhận biết này là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm gắn với hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động của doanh nghiệp nhất định, được hình thành và trải qua thời gian dài doanh nghiệp sử dụng, đầu tư, quảng bá lâu dài trên thị trường và trở nên quen thuộc với khách hàng, trở thành những yếu tố để khách hàng nhận biết về một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hay

về nhà cung cấp, dịch vụ đó Các dấu hiệu này có thể là tên gọi, hình ảnh, hiện tượng, thiết kế gắn với hàng hoá, dịch vụ và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Luật cạnh tranh 2004 và Luật sở hữu trí tuệ 2005 đều chưa làm rõ được khái niệm cơ bản về chỉ dẫn thương mại mà chỉ liệt kê các đối tượng được coi là chỉ dẫn thương mại Theo Điều 40 Luật cạnh tranh 2004, chỉ dẫn thương mại có thể bao

gồm: “Tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ

dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ” và tại Khoản 2 Điều

130 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông

tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương

Trang 20

Vi phạm về cạnh tranh không lành mạnh đối với chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hành vi sử dụng những dấu hiệu, đặc điểm tương tự với chỉ dẫn thương mại được doanh nghiệp khác đã sử dụng hợp pháp Việc doanh nghiệp vi phạm sử dụng chỉ dẫn thương mại đã được doanh nghiệp khác sử dụng hợp pháp không thể được coi

là chỉ dẫn thương mại của doanh nghiệp vi phạm Điều 40 Luật cạnh tranh 2004

cấm hai dạng hành vi là: “sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn” và “kinh doanh hàng

hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn” Và chủ thể thực hiện hai dạng hành

vi này là chủ thể sản xuất, cung ứng dịch vụ và chủ thể phân phối, lưu thông hàng hóa dịch vụ Hai chủ thể kinh doanh đã cố tình sử dụng các chỉ dẫn gây nhầm lẫn để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh không lành mạnh Việc sử dụng những chỉ dẫn gây nhầm lẫn không chỉ xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng mà còn có thể xâm phạm đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh

Cần lưu ý rằng, những chỉ dẫn thương mại mà có thể vị xâm hại hay tạo sự nhầm lẫn phải là những chỉ dẫn hợp pháp, nghĩa là đã được đăng ký và bảo hộ Việc đưa thông báo dối trá về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, nhái lại nhãn hiệu, kiểu dáng của những hàng hóa chưa đăng ký bảo hộ là không trái pháp luật Do đó, pháp luật chỉ cấm những hành vi có chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn khi nguồn gốc sản phẩm chính hiệu là có thật, đã đăng ký bảo hộ và hành vi đó phải nhằm mục đích cạnh tranh

1.1.3.2 Xâm phạm bí mật kinh doanh

Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều có những thông tin, bí mật kinh doanh cần được lưu giữ, bảo mật như danh sách khách hàng, bảng giá sản phẩm, quy trình sản xuất Tại Khoản 10 Điều 3 Luật cạnh tranh

2004, định nghĩa bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện:

“a) Không phải là hiểu biết thông thường;

Trang 21

là một trong những công cụ, phương tiên nhằm bảo vệ lợi ích và bảo đảm thành công của doanh nghiệp Chính vì vậy, đây cũng là đối tượng mà các đối thủ cạnh tranh luôn tò mò và muốn chiếm đoạt Được coi là tài sản trí tuệ, bí mật kinh doanh cần phải được pháp luật bảo vệ Bí mật kinh doanh được bảo hộ bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về cạnh tranh

Luật cạnh tranh 2004 và Luật sở hữu trí tuệ 2005 gần như đồng nhất trong việc định dạng các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, cụ thể tại Điều 41 Luật cạnh tranh 2004 quy định các hành vi doanh nghiệp bị cấm như sau:

“1 Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

2 Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;

3 Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

4 Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.”

Vì giá trị khai thác bí mật kinh doanh là vô cùng lớn, ảnh hưởng đến sự pháp triển, suy thịnh của doanh nghiệp, nên áp dụng quy định chống xâm phạm bí mật kinh doanh theo pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh cần kết hợp với cơ chế bồi thường thiệt hại Do tính chất phức tạp trong việc áp dụng quy định này, hiện

Trang 22

nay chưa có vụ việc xâm phạm bí mật kinh doanh nào được ghi nhận và xử lý theo pháp luật cạnh tranh cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ

1.1.3.3 Ép buộc trong kinh doanh

Trong nội hàm của tự do kinh doanh, mọi khách hàng đều được tự do trong việc hình thành và tuyên bố ý chí (chào hàng và chấp nhận mua hàng) Doanh nghiệp bị coi là có xử sự không lành mạnh khi họ dồn khách hàng vào tình thế bắt buộc phải mua hoặc không được phép mua hàng hóa mà không có cách lựa chọn nào khác Hiện nay diễn ra khá phổ biến và được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Dưới đây là ví dụ tiêu biểu:

Năm 2006, Cục quản lý cạnh tranh ghi nhận một trường hợp ép buộc trong kinh doanh đối với doanh nghiệp viễn thông Theo thông tin, doanh nghiệp viễn thông này đã ra công văn yêu cầu tất cả các nhân viên của mình đang sử dụng các dịch vụ viễn thông của đơn vị khác phải chuyển sang sử dụng dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp này và đây là cơ sở xem xét, đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng trong công tác cán bộ Nếu không sử dụng dịch vụ viễn thông đó thì nhân viên đó bị đánh giá là thiếu tinh thần trách nhiệm

Ở vụ việc này, hành vi ép buộc được thực hiện thông qua mệnh lệnh hành chính từ người sử dụng lao động Người lao động hoàn toàn có quyền tự do trong việc lựa chọn dịch vụ viễn thông tốt, phù hợp với nhu cầu của bản thân họ Việc ép buộc sử dụng dịch vụ, ép buộc họ không được giao dịch hoặc ngừng giao dịch đối thủ cạnh tranh đã đi ra ngoài phạm vi quan hệ lao động và cấu thành một hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị pháp luật nghiêm cấm Tuy nhiên, hành vi này đã chấm dứt sau một thời gian ngắn, chưa gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và cơ quan cạnh tranh đã không tiến hành điều tra, xử lý vi phạm

Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh nghiêm cấm hành vi ép buộc trong kinh doanh cụ thể tại Điều 42 Luật cạnh tranh 2004 như sau:

“Cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó”

Theo như quy định của Điều này, pháp luật cấm những hành vi “đe dọa hoặc cưỡng ép” đối với khách hàng hay đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác Hành

vi đe dọa có thể thực hiện bằng lời nói hoặc hành động Bằng việc làm đó khiến cho người bị đe dọa ý thức được hậu quả thiệt hại có thể xảy ra mà buộc phải theo ý muốn của người đe dọa nhằm tránh thiệt hại Cưỡng ép cũng được coi là hành vi

Trang 23

dành giật khách hàng bất chính Cưỡng ép được hiểu là các biện pháp tạo áp lực, khiến cho đối tượng bị hạn chế tự do ý chí và phải hành động theo mong muốn của bên thực hiện hành vi Các áp lực này có thể xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế, mệnh lệnh hành chính hay quan hệ xã hội Hành vi này bị coi là hành vi cạnh tranh không

lành mạnh nếu việc gây áp lực này không hợp lý, không phù hợp với “chuẩn mực

thông thường về đạo đức kinh doanh” nhằm lôi kéo khách hàng của doanh nghiệp

khác một cách bất hợp pháp

Tuy nhiên quy định trên còn khá chung chung, mà thực tế thì hành vi ép buộc trong kinh doanh được thực hiện dưới hình thức vô cùng tinh vi mà pháp luật chưa thể quy định được rõ ràng các hành vi cưỡng ép, đe dọa cũng như chưa bao quát hết các trường hợp xảy ra trong thực tiễn

1.1.3.4 Gièm pha trong kinh doanh

Trong cuộc sống hàng ngày và quan hệ giữa con người với nhau cũng như với xã hội nói chung, việc đưa tin thất thiệt hoặc nói xấu người khác là điều không thể tránh khỏi Vấn đề này thuộc về đạo đức, lối sống và thuộc về pháp luật mỗi quốc gia Để chống lại cách xử sự này, pháp luật Dân sự mỗi quốc gia đều có những quy định nhằm bảo vệ nhân phẩm, danh dự và uy tín của con người, tổ chức, pháp nhân, thể nhân (bao gồm cả các thương gia) Bộ luật Dân sự 2014, Luật thương mại

2005 và Luật cạnh tranh 2004 có các quy định riêng cụ thể dành cho các thương nhân với tư cách là các đối thủ cạnh tranh của nhau trên thương trường

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sử dụng các thủ thuật dưới hình thức tinh vi và không lành mạnh để gièm pha hoặc bôi nhọ đối thủ cạnh tranh để làm tổn hại đến lợi ích (vật chất và phi vật chất) nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình Mọi hành

vi dù là trực tiếp hay gián tiếp gây ảnh hưởng đến uy tín đưa ra thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác được coi là hành vi gièm pha doanh nghiệp khác Đối tượng cụ thể mà đối thủ cạnh tranh hướng đến như: chất lượng sản phẩm, cách thức bán hàng, tiềm lực kinh tế-tài chính, lực lượng lao động hoặc ban lãnh đạo doanh nghiệp

Để bảo đảm cho các hoạt động cạnh tranh diễn ra một cách trung thực, chân chính theo nguyên tắc hiệu quả pháp luật cạnh tranh không lành mạnh nghiêm cấm hành động gièm pha của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh cụ thể tại Điều 43

Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác

bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh

Trang 24

Có thể thấy, hành vi gièm pha doanh nghiệp được quy định trong Luật cạnh tranh 2004 là khá rõ ràng nhưng trên thực tế để hiểu được như thế nào là “gièm pha” thì rất khó và cũng không dễ dàng phát hiện nguồn gốc các tin tức thất thiệt trên thị trường Ví dụ, trường hợp doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thông tin tiêu cực, tuy nhiên thông tin đó là có thật về đối thủ cạnh tranh để hạ uy tín (do đã

có quyết định xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Vậy trường hợp này pháp luật điều chỉnh như thế nào?

1.1.3.5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

Tại Điều 44 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gây rối

hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó”

Theo Luật, các hành vi dù trực tiếp hay gián tiếp làm cản trở hay gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là hành vi gây rối loạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cũng như các loại hành vi không lành mạnh khác, chỉ khi hoạt động gây cản trở, gián đoạn hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp thực hiện, bất luận là trực tiếp hay gián tiếp, nhằm vào đối thủ cạnh tranh của mình mới được coi là biểu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong hoạt động kinh doanh, cách thức kinh doanh của doanh nghiệp này đều được coi là hành

vi cạnh tranh của doanh nghiệp đó Như vậy, mọi hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp dù hoàn toàn hợp pháp hoặc chính đáng đều có khả năng cản trở, ảnh hưởng

Trang 25

xấu lên hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh Do đó, để đánh giá hành vi

“làm cản trở hay gián đoạn” chúng ta lại phải xem xét đến tiêu chí về tính “trung thực”, “thiện chí”, cùng các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh Vì vậy, điều khoản này có thể được coi như một điều khoản bổ sung, thay thế trong những trường hợp không thể áp dụng một quy định cụ thể khác của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh để giải quyết vụ việc Để áp dụng điều khoản này, vụ việc cần đáp ứng những điều kiện sau:

 Giữa hai bên tồn tại quan hệ cạnh tranh;

 Hành vi cạnh tranh thể hiện sự không trung thực, không thiện chí, đi ngược lại thông lệ, chuẩn mực về đạo đức kinh doanh;

 Hành vi vi phạm không bị điều chỉnh bởi một quy định khác của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh cũng như các văn bản pháp luật khác (đặc biệt lưu ý khi hành vi gây rối, cản trở có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính hay hình sự)

1.1.3.6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 quy định: “Quảng cáo là việc sử

dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ

có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”

Xuất phát từ lợi ích, quảng cáo là hành vi không thể thiếu của mọi doanh nghiệp khi tham gia vào cạnh tranh Cách tốt nhất để hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình sớm được người tiêu dùng biết đến, là sử dụng quảng cáo Doanh nghiệp có quyền quảng cáo để giới thiệu, khuếch trương về hàng hóa, dịch vụ của mình Với bản chất là quá trình thông tin có ý nghĩa lớn trong định hướng hành vi mua sắm và sử dụng dịch vụ của khách hàng, quảng cáo là phương pháp quan trọng giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình, cạnh tranh giành thị phần trên thị trường3

Xuất phát từ mục đích đảm bảo hiệu quả tối đa mục tiêu đề ra, người quảng cáo luôn có xu hướng đề cao bản thân và hạ thấp đối thủ, trong khi sự so sánh làm cho người tiếp nhận quảng cáo dễ tin hơn những tuyên bố thông thường Do vậy quảng cáo luôn có nguy cơ chệch hướng trở thành cạnh tranh không lành mạnh Những hành vi quảng cáo không trung thực như: so sánh hàng hóa dịch vụ của mình

1 Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Công An Nhân Dân, 2014, tr.295

Trang 26

với hàng hóa dịch vụ doanh nghiệp khác để khẳng định ưu thế, quảng cáo với nội dung giống hệt hoặc tương tự quảng cáo của người khác trên cơ sở lạm dụng uy tín của sản phẩm khác cùng loại, sử dụng những sản phẩm quảng cáo hoặc những thông tin có thể gây nhầm lẫn, lừa dối cho khách hàng để lôi kéo khách hàng đều là những hành vi CTKLM và bị pháp luật CTKLM nghiêm cấm Cụ thể tại Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây:

“1 So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;

2 Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;

3 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây:

a) Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công;

b) Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;

c) Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác

4 Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm”

Theo quy định pháp luật cạnh tranh, doanh nghiệp bị cấm thực hiện ba dạng hành vi quảng cáo: quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước và quảng cáo gây nhầm lẫn Đây là ba dạng hành vi có bản chất cạnh tranh không lành mạnh khác nhau, mặc dù cùng thể hiện qua một hoạt động thị trường là quảng cáo Quảng cáo so sánh được hiểu là quảng cáo, trong đó, có nội dung so sánh giữa hàng hóa, dịch vụ, khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp với đối tượng cùng loại của một hay một số doanh nghiệp khác Nội dung quảng cáo này thường là so sánh trực tiếp về giá, đặc điểm hàng hóa (tính năng, công dụng, chất lượng) Do vậy, loại hình quảng cáo này thường nhằm mục đích hạ thấp hình ảnh của doanh nghiệp cùng loại để nêu cao hình ảnh của doanh nghiệp mình, ảnh hưởng đến nhận thức người tiêu dùng Quảng cáo bắt chước là quảng cáo được thực hiện với nội dung, cách thức giống hệt hoặc tương tự quảng cáo của người khác Việc quảng cáo này là việc sao chép nội dung, cách thức sản phẩm quảng cáo của một doanh nghiệp có sản phẩm cùng loại làm cách thức quảng cáo sản phẩm của doanh nghiệp mình Do vậy, tính chất không lành mạnh của quảng cáo bắt chước được thể hiện chủ yếu ở việc lợi dụng thành

Trang 27

quả đầu tư, lợi thế, hình ảnh cạnh tranh của người khác Hậu quả của hành vi CTKLM là việc khách hàng bị nhầm lẫn sản phẩm, người xem có thể ngộ nhận hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc một chủ sản xuất hoặc khách hàng cho rằng giữa hai nhà sản xuất có mối liên quan, liên hệ trong kinh doanh như cùng thuộc một tập đoàn hay đối tác kinh doanh Quảng cáo gây nhầm lẫn có thể hiều là quảng cáo đưa ra nội dung thông tin sai lệch so với thực tế hoặc những nội dung không đầy đủ, không rõ ràng hoặc bỏ sót để lừa dối hoặc tạo sự hiểu lầm cho người tiêu dùng Nếu đối tượng tác động của hành vi quảng cáo so sánh và quảng cáo bắt chước là đối thủ cạnh tranh, thì đối tượng tác động của hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn là người tiêu dùng Người tiêu dùng vì đọc những thông tin thiếu chính xác, sai lệch hoặc bỏ sót mà có cách nhìn sai lệch, ảnh hưởng đến quyết định và có thể gây thiệt hại không lường trước

Như vậy, để đảm bảo môi trường cạnh tranh, lành mạnh, bất kể hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước hay quảng cáo gây nhầm lẫn đều bị pháp luật cạnh tranh không lành mạnh nghiêm cấm Những hành vi quảng cáo này không những ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức tiêu dùng của khách hàng, mà gây tác động xấu đến hình ảnh doanh nghiệp, đe dọa sự tự do cạnh tranh và quyền bình đẳng kinh doanh giữa các doanh nghiệp

1.1.3.7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Trên thị trường kinh doanh thương mại hiện nay, khuyến mại là biện pháp cạnh tranh quen thuộc nhằm thu hút khách hàng Theo Khoản 1 Điều 180 Luật

thương mại 2005 quy định: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của

thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” Lợi ích mà khách hàng có thể nhận

được từ đợt khuyến mại có thể là quà tặng, hàng mẫu dùng thử, giảm giá, bốc thăm trúng thưởng Như vậy, xét về khía cạnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì rõ ràng họ được hưởng lợi đáng kể từ khuyến mại mà thương nhân bỏ ra một phần lợi

nhuận chuyển thành giá trị khuyến mại Với các hoạt động khuyến mại như giảm

giá, tặng quà , thương nhân có thể thu hút số lượng lớn khách hàng trong thời gian ngắn mua sản phẩm của mình, nhờ đó mà doanh thu bán hàng tăng cao và có thể bù lại chi phí thực hiện khuyến mại Như vậy, các chương trình khuyến mại của doanh nghiệp đã giúp cho thị trường trở nên sôi động hơn, nhu cầu của người tiêu dùng tăng cao, tăng sức mua Từ đó, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, đem lại lợi

Trang 28

Theo Điều 46 Luật cạnh tranh 2004 quy định các hình thức khuyến mại nhằm CTKLM, bao gồm:

“1 Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng;

2 Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng;

3 Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;

4 Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình;

5 Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm”

Trên thực thế hiện nay, người tiêu dùng rất thích và ưa chuộng việc mua hàng có khuyến mại Vì vậy, doanh nghiệp đã lợi dụng điều này và đánh vào tâm lý tham lam, hám lợi mà tung ra các hoạt động khuyến mại dưới hình thức vô cùng phong phú và đa dạng để cạnh tranh với các doanh nghiệp đối thủ Về phía người tiêu dùng, khi thấy được khuyến mại là họ mặc nhiên mua hàng hóa, sử dụng dịch

vụ mà không quan tâm đến chất lượng, hãng sản phẩm quen dùng hay quyền lợi của mình Đồng nghĩa với việc đó, các doanh nghiệp  đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp thực hiện hình thức khuyến mại bị sụt giảm doanh thu do một số hành

vi khuyến mại không lành mạnh Do vậy, pháp luật đã quy định 4 hành vi khuyến mại bị cấm để bảo vệ người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp vừa và nhỏ, và cũng giảm thiểu được tác hại của việc khuyến mại Tuy nhiên, trong mỗi lĩnh vực thì ngành luật có quy định cụ thể hành vi khuyến mại bị cấm Vì vậy, tại Khoản 5 Điều

46 Luật cạnh tranh 2004 có quy định: “Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp

Trang 29

luật có quy định cấm” để khằng định các hành vi khuyến mại bị cấm khác được quy

định trong Luật khác vẫn bị xử phạt

1.1.3.8 Phân biệt đối xử của hiệp hội

Phân biệt đối xử của hiệp hội được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị pháp luật nghiêm cấm Đây là quy định tương đối đặc biêt, vì nó không điều chỉnh hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp mà hướng đến chủ thể khác là các hiệp hội ngành nghề Hiệp hội ngành nghề bao gồm hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp, gọi chung là hiệp hội, được thành lập trên cơ sở sự tự nguyện của các doanh nghiệp thành viên có chung lợi ích, là nơi cung cấp các thông tin đã được

xử lý về các lĩnh vực trên thị trường trong và quốc tế Hiệp hội vừa là diễn đàn thể hiện lợi ích chung của các thành viên, là nơi học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp và cũng vừa là tổ chức điều phối hoạt động của các thành viên và đồng thời là cầu nối giữa các doanh nghiệp với Chính phủ Với vai trò này, doanh nghiệp có thể tạo nên tình trạng CTKLM giữa các doanh nghiệp thông qua các hành

vi như từ chối các doanh nghiệp gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Theo Điều 47 Luật Cạnh tranh 2004 quy định cấm hiệp hội ngành nghề thực hiện các hành vi sau đây:

“1 Từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh;

2 Hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan tới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên”

Như vậy, hai hành vi bị pháp luật nghiêm cấm phản ánh sự phân biệt đối xử tại những giai đoạn khác nhau trong quan hệ giữa doanh nghiệp và hiệp hội là:

- Thứ nhất, phân biệt đối xử khi gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội

- Thứ hai, phân biệt đối xử trong quá trình tham gia hiệp hội

Là một tổ chức có uy tín trên thị trường hàng hóa, nên việc hiệp hội từ chối việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín, sức cạnh tranh của một doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh Bên cạnh đó, với vai trò là trung tâm điều phối hoạt động của các thành viên, thì việc phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến mục đích và mục tiêu phát triển kinh doanh đó Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hiệp hội đối với doanh nghiệp kinh doanh cùng loại bị pháp luật nghiêm cấm

1.1.3.9 Bán hàng đa cấp bất chính

Trang 30

Bán hàng đa cấp là một trong những phương thức tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp với sự tham gia của nhiều người, với cách thức tổ chức mạng lưới các nhà phân phối nhiều cấp, nhánh Theo đó, người tham gia sẽ được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hóa của mình và của người khác trong mạng lưới do mình tổ chức ra và doanh nghiệp bán hàng đa cấp khác

Theo Khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Bán hàng đa cấp là

phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

2 Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp thiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia

3 Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấm chấp nhận”

Bản thân bán hàng đa cấp là phương thức bán hàng thể hiện sự sáng tạo trong nghệ thuật kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp lợi dụng phương thức bán hàng đa cấp để kinh doanh bán hàng đa cấp bất chính Các dấu hiệu nhận diện bán hàng đa cấp bất chính là:

- Hàng hóa, dịch vụ kinh doanh không có giá trị thực sự hoặc giá trị thấp hơn nhiều so với giá bán Doanh nghiệp chỉ tiêu thụ sản phẩm trong mạng lưới, không thể tìm kiếm khách hàng hoặc cạnh tranh bình thường trên thị trường

- Doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính thường yêu cầu, ép buộc người tham gia mua, trữ một số lượng lớn mà không quan tâm đến việc học có sử dụng hoặc bán lại được hay không

- Doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính thường tập trung đào tạo, hướng dẫn người tham gia những kỹ năng lôi kéo, dụ dỗ người khác gia nhập mạng lưới, thay vì các kỹ năng bán hàng

- Doanh nghiệp trả thưởng hoặc cung cấp các lợi ích kinh tế cho người tham gia căn cứ trên kết quả tuyển dụng thành viên mới, thay vì kết quả kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Trang 31

Với bản chất gian trá, lừa dối, bán hàng đa cấp bất chính là hành vi CTKLM,

bị pháp luật nghiêm cấm Tại Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 quy định cấm hành vi

này như sau: “Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất

chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:

1 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

2 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;

3 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

4 Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia”

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động bán hàng đa cấp không bị cấm mà chỉ thuộc diện bị kiểm soát nhằm chống hiện tượng bán hàng đa cấp bất chính, nhằm giữ môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh, và bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, những năm gần đây, những hành vi này diễn ra phổ biến với hình thức đa dạng và tinh vi nhằm che dấu bản chất bất chính, nhằm CTKLM Bán hàng

đa cấp diễn ra phổ biến trong lĩnh vực mỹ phẩm, hàng tiêu dùng và đều có những dấu hiệu hành vi CTKLM Hằng năm, Cục Quản lý cạnh tranh đã xử lý trên chục vụ việc với hành vi bán hàng đa cấp bất chính gây CTKLM với số tiều thu về ngân sách là rất lớn Tuy nhiên so với doanh thu và lợi nhuận thu được từ hoạt động này thì số tiền nộp phạt lại quá nhỏ Vì vậy, các doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt và vẫn tiễn tục vi phạm

1.2 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh

Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh được quy định cụ thể trong Luật cạnh tranh 2004, các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 120/2005/ND-CP ngày

30 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Nghị định 71/2014/ND-CP ngày 21 tháng 7 năm 2014 sửa đổi nghị định 120/2005/ND-CP quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm

2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh và các văn bản pháp luật khác Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh quy định chi tiết

Trang 32

về những hành vi cạnh tranh không lành mạnh phát sinh trong hoạt động kinh doanh, và cũng quy định cụ thể về thẩm quyền của cơ quan quản lý trong việc xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự thủ tục và các biện pháp chế tài xử phạt

Tại Khoản 2 Điều 49 Luật cạnh tranh 2004 và Khoản 1 Điều 40 Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2014 sửa đổi nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh

có quy định về thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh thuộc thẩm quyền xử phạt của cơ quan quản lý cạnh tranh và thủ trưởng

cơ quan quản lý cạnh tranh trực tiếp ra quyết định Tùy từng mức độ thiệt hại và tính chất hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra, cơ quan quản lý cạnh tranh áp dụng các hình thức xử phạt là: phạt cảnh cáo; phạt tiền; tịch thu tang vật; phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh; buộc cải chính công khai

“ Điều 40 Thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh

1 Đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh và hành

vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền:

đ) Buộc cải chính công khai”

Về trình tự thủ tục xử lý hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh được quy định cụ thể tại Chương V Luật cạnh tranh 2004 và các quy định tại Chương III của Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh

Về chế tài xử phạt đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng được quy định cụ thể rõ ràng đối với từng hành vi vi phạm Từ Điều 28 đến Điều 36 Nghị

Trang 33

định 71/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2014 sửa đổi nghị định

120/2005/NĐ-CP quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh quy định mức xử phạt tiền đối với từng hành vi vi phạm và biện pháp khác phục hậu quả

Có thể thấy pháp luật cạnh tranh không lành mạnh được xây dựng khá hoàn thiện cả về nội dung những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thẩm quyển xử lý, trình tự thủ tục và các hình thức chế tài xử phạt Những quy định này tạo hành lang pháp lý giúp cơ quan quản lý cạnh tranh xác định rõ thẩm quyền, phân định rõ hành

vi vi phạm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh để sớm xử phạt các doanh nghiệp

có thẩm quyền

Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm các biệt hóa quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể Áp dụng pháp luật được xem là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước Áp dụng pháp luật có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, cụ

thể:

- Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành Mỗi cơ quan nhà nước trong phạm vi thẩm quyền của mình được phép tiến hành một số những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định

- Nếu bản thân pháp luật là sự thể hiện ý chí nhà nước, thì áp dụng pháp luật là sự tiếp tục thể hiện ý chí nhà nước trong quá trình điều chỉnh pháp luật Do vậy, việc áp dụng pháp luật không những phải phù hợp với pháp luật thực định mà

Trang 34

- Áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan Do vậy việc áp dụng pháp luật được tiến hành theo ý chí nhà nước hay ý chí của chủ thể bi áp dụng thì: Quyết định, văn bản áp dụng pháp luật cũng chỉ do các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật ban hành

Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo hình thức và thủ tục

chặt chẽ do pháp luật quy định Do tính chất quan trọng và phức tạp của áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rất nghiêm trọng nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật

Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh có tính cá biệt, cụ thể đối

với quan hệ xã hội xác định Có thể hiểu rằng, quy tắc xử sự có tính chất chung trong quy phạm pháp luật tông qua hoạt động áp dụng páp luật dẽ được cá biệt hóa một cách chính xác thành mẹnh lệnh cụ thể cho mỗi trường hợp cụ thể đối với những chủ thể cụ thể

Thứ tƣ, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo (sự sáng tạo

trong phạm vi quy định của pháp luật) Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng

tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọm quy phạm, ra quyết định, van bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một các sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết vụ việc Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức và có tay nghề cao

Như vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc các tổ chức xã hội khi nhà nước ủy quyển, nhằm cá biệt hóa những quy định pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể

Trang 35

Hình thức thể hiện chủ yếu của áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc có các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể cụ thể hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật

Áp dụng pháp luật là một quá trình phức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, để có thể áp dụng một cách chính xác và đạt hiệu quả cao cần tiến hành theo những bước:

- Phân tích, đánh giá đúng chính xác các tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của sự việc thực tế đã xảy ra

- Lựa chọn quy định pháp luật phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng

- Ban hành văn bản áp dụng pháp luật

- Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng đã hoàn thành

Trong lĩnh vực viễn thông, cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật là Cục quản lý cạnh tranh và cơ quan chuyên ngành, trực tiếp quản lý Vai trò và thẩm quyền của Cục quản lý cạnh tranh được quy định cụ thể tại Chương IV Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn, cụ thể tại Khoản 1 Điều 42 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh quy định về thẩm quyền của cơ quan quản

lý cạnh tranh và Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh:

“Đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh và hành

vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác quy định tại Mục 5 Chương II của Nghị định này, cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền sau đây:

Cơ quan chuyên ngành sẽ có thẩm quyền quản lý và ban hành văn bản áp dụng pháp luật theo pháp luật chuyên ngành Cụ thể đối với hành vi cạnh tranh

Trang 36

không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông, cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền

xử lý là Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động viễn thông, cụ thể là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc Bộ TT&TT Cụ thể tại Điểm đ Khoản 2 Điều 9 Luật Viễn thông 2009 quy định:

“2 Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về viễn thông, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“đ Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động viễn thông”

Luật Viễn thông 2009 quy định cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông – Cục Viễn thông là cơ quan thuộc Bộ Thông tin và truyền thông có tránh nhiệm giúp Bộ xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông Cụ

thể, tại Điều 10 Luật Viễn thông 2009 quy định như sau:

“Cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông là cơ quan thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về viễn thông theo sự phân công, phân cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Căn cứ vào Luật viễn thông 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Cục viễn thông sẽ trực tiếp quản lý, giải quyết và ban hành văn bản xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định cụ thể trong Luật viễn thông 2009 và các văn bản hướng dẫn Luật

Như vậy, Cục quản lý cạnh tranh và Cục Viễn thông là hai cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành các văn bản áp dụng pháp luật đối với các doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông

1.4 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

Theo báo cáo thường niên của Cục Quản lý cạnh tranh, thì những năm gần đây số lượng vụ việc cạnh tranh không lành mạnh đã giảm dần, các loại hành vi cạnh tranh được điều tra và xử lý không còn đa dạng như trước mà chỉ bao gồm quảng cáo đưa ra thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng và bán hàng

đa cấp bất chính Trong đó, hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối cho khách hàng hoặc gây nhầm lẫn chiếm đa số Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, xử lý các doanh nghiệp, thì số lượng công việc liên quan đến công tác quản lý hoạt động bán

Trang 37

hàng đa cấp rất lớn Cụ thể, năm 2016, Cục đã tiếp nhận 18 hồ sơ đề nghị tham vấn hoặc phản ánh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh Và trong quá trình điều tra các doanh nghiệp bán hàng đa cấp, Cục đã phát hiện và xử lý 15 trường hợp doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện hành vi “Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” vi phạm Khoản 3 Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 với tổng số tiền phạt 1 tỷ 524 triệu đồng, 05 hành vi bán hàng đa cấp bất chính vi phạm Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 với tổng số tiền 590 triệu đồng

Gây rối hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp

Bảng: Thống kê hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý (1)

Mặc dù, Cục QLCT đã tiếp nhận và giải quyết khối lượng lớn đơn thư khiếu nại, tố cáo với nhiều ngành hàng hóa dịch vụ khác nhau, nhưng đa số các vụ việc không được điều tra, xử lý vì nhiều nguyên nhân khác nhau Những nguyên nhân chính có thể kể đến như: không thuộc chức năng, thẩm quyền của Cục QLCT; bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ theo yêu cầu; các bên đã chủ động thỏa thuận và không tiếp tục cung cấp thông tin, t4ài liệu

(1) Báo cáo thường niên của Cục Quản lý cạnh tranh, Nxb Cục Quản lý cạnh tranh, 2016, tr 30

Trang 38

Bảng: Số cuộc gọi khiếu nại theo các ngành hàng hóa qua tổng đài 18006838 của

Theo số liệu của Cục Quản lý cạnh tranh (Cục QLCT), Bộ Công thương công bố, số lượng cuộc gọi khiếu nại xảy ra ở hầu hết các ngành dịch vụ như: Bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, du lịch, vận tải; giải trí, giáo dục; hàng tiêu dùng; y tế, chăm sóc sức khỏe Trong đó 3 nhóm ngành hàng thường xuyên nằm trong nhóm

bị khiếu nại, phản ánh nhiều nhất là: Nhóm điện thoại, viễn thông; Nhóm hàng hóa tiêu dùng, nhóm điện tử gia dụng Nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thường ngày đứng đầu danh sách về số lượng các cuộc gọi khiếu nại, phản ánh tới Cục Quản lý cạnh tranh trong năm 2016 (237 trường hợp, chiếm khoảng 19.86%) Đứng thứ hai

là nhóm điện thoại, viễn thông (166 trường hợp, chiếm 13,91%) và đứng thứ ba nhóm đồ điện tử gia dụng (136 trường hợp, chiếm 11.4%)

(1) (1) Báo cáo thường niên của Cục Quản lý cạnh tranh, Nxb Cục Quản lý cạnh tranh, 2016, tr 32

Trang 39

Mặc dù vẫn thuộc top đầu các lĩnh vực có số lượng cuộc gọi khiếu nại nhiều nhất, nhưng theo thông tin từ Cục quản lý cạnh tranh thì tỷ lệ cuộc gọi khiếu nại của nhóm điện thoại, viễn thông đã giảm đáng kể so với con số cách đây hai năm Năm

2014, nhóm điện thoại viễn thông đứng đầu các lĩnh vực bị khiếu nại nhiều nhất, với hơn 50% số cuộc gọi về tổng đài 1800 6838 là khiếu nại nhóm hàng này Theo Cục Quản lý cạnh tranh thì hầu hết các cuộc gọi khiếu nại về việc tính phí các dịch

vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động của các nhà mạng Và thực tế cho thấy 6 năm trở lại đây, Cục quản lý cạnh tranh chưa phải xử lý doanh nghiệp viễn thông nào có hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trang 40

TỔNG KẾT CHƯƠNG

Lý luận pháp luật cạnh tranh không lành mạnh và áp dụng pháp luật là vấn

đề quan trọng, là kiến thức nền tảng để tiếp tục cho những vấn đề nghiên cứu cho hai chương tiếp theo Tại chương này, tác giả đã nghiên cứu và tổng hợp một cách khái quát về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh, những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật theo quy định của pháp luật hiện hành Đối với vấn đề cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông, tác giả đã làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, các loại hành vi được coi là cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông theo pháp luật hiện hành Về pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, tác giả đã chỉ rõ, pháp luật cạnh tranh không lành mạnh không lành mạnh chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên nghành viễn thông Cụ thể là Luật cạnh tranh 2004, các văn bản hướng dẫn thi hành và Luật viễn thông 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành Từ những văn bản này, đã nêu cụ thể thẩm quyền giải quyết, trình tự thủ tục và các biện pháp chế tài xử phạt đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh Vấn đề chính luận văn hướng tới là việc áp dụng pháp luật

về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam, thì tại chương này, tác giả đã nêu ra những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, qua đó bạn đọc có thể hiểu rõ hơn việc khái niệm áp dụng pháp luật, đặc điểm, hình thức và quá trình áp dụng pháp luật từ phía cơ quan quản lý Cụ thể, trong lĩnh vực viễn thông, hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp sẽ bị sự quản lý, kiểm soát và xử phạt của hai cơ quan là Cục quản lý cạnh tranh và Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) Tại chương, tác giả cũng xây dựng bảng biểu chi tiết về mức độ cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam từ năm

2009 đến năm 2016 trên các ngành hàng hóa, dịch vụ nói chung và ngành viễn thông nói chung của Cục quản lý cạnh tranh

Ngày đăng: 24/11/2018, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Cục quản lý cạnh tranh (2016), “Báo cáo thường niên năm 2016”, Cục quản lý cạnh tranh; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo thường niên năm 2016”
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2016
22. Lê Đăng Khoa (2011), Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại ở Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Khoa
Năm: 2011
23. Trịnh Thị Liên Hương (2010), Pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam
Tác giả: Trịnh Thị Liên Hương
Năm: 2010
24. Trung tâm thông tin khoa học – Viện nghiên cứu lập pháp (2011) “Quảng cáo-thực trạng và giải pháp”, Thông tin chuyên đề, Viện nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quảng cáo-thực trạng và giải pháp”
25. Trường Đại học luật Hà Nội, ( 2015), Giáo trình Luật Thương mại, Tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
27. Vũ Thị Cẩm Tú (2010), Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại theo quy định luật cạnh tranh năm 2004, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật, Hà Nội;Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại theo quy định luật cạnh tranh năm 2004
Tác giả: Vũ Thị Cẩm Tú
Năm: 2010
11. Nghị định số 109/1997/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 1997 của Chính phủ quy định về bưu chính và viễn thông Khác
12. Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông Khác
14. Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin và tấn số vô tuyến điện Khác
15. Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh Khác
16. Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
17. Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 07 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
18. Nghị định số 37/2006 ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại Khác
19. Thông tư số18/2012/TT-BTTT ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Bộ Thông tin và truyền thông quy định doanh mục doanh nghiệp viễn thông, nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh đối với các dịch vụ viễn thông quan trọng Khác
26. Trường Đại học luật Hà Nội, (2014), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w