Những vấn đề chung về phát triển chương trình nhà trường Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Chí: “Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển chương trình nhà trường môn tiếng việt lớp 3 cho học sinh
1.1.1 Những vấn đề chung về phát triển chương trình nhà trường
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Chí: “Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập … nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra.”
Tuy được phát biểu, diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng chúng ta
có thể hiểu chương trình giáo dục chính là chương trình học tập trong đó nộidung là các môn học với các mạch kiến thức, kĩ năng được thực hiện theo mộttrình tự trong thời gian quy định nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Các hoạtđộng giáo dục và cách thức tổ chức được chương trình giáo dục quy định mộtcách phù hợp
b Chương trình nhà trường
Trang 2Theo quan điểm của tác giả Ronald C Doll (1996): “Chương trình học của nhà trường là nội dung giáo dục và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển các kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường” [28].Ta thấy rằng sự
tổ chức của nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì sự tổ chức đúnghướng của nhà trường là yếu tố mấu chốt phát huy chương trình giáo dục tốt
Từ quan điểm này chúng ta có thể hiểu chương trình nhà trường là chươngtrình giáo dục quốc gia mà ở đó những nội dung thể hiện ở các tài liệu của họcsinh, những phương pháp, kế hoạch thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đào tạocủa chương trình quốc gia quy định đã được cụ thể hóa dựa vào điều kiện củatừng địa phương, điều kiện nhà trường và đặc biệt phải dựa vào chương trìnhgiáo dục quốc gia để điều chỉnh và xây dựng một cách chủ động và linh hoạt cáckế hoạch giáo dục
1.1.1.1 Phát triển chương trình nhà trường và vấn đề phát triển chương
trình nhà trường ở Việt Nam
a Phát triển chương trình nhà trường
“ Phát triển” là một phạm trù rộng và khó có thể đưa ra được định nghĩa cụthể Chính vì vậy, tùy theo mỗi quan điểm mà các tác giả đưa ra những quanđiểm khác nhau:
Theo các tác giả Marsh, Day, Hannay, & McCutcheon thuật ngữ phát triển
chương trình nhà trường “gợi lên hành động ở cấp địa phương, nó hàm chứa sự tham gia, cơ sở kiểm soát, và nhiều thuộc tính khác được tổ chức để được làm gần gũi với công chúng [25– tr.47]’
Trang 3Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ rõ
“Phát triển chương trình nhà trường” là một quá trình trong đó một số hay toàn
thể các thành viên trong trường lập kế hoạch, thực thi hoặc đánh giá một hay nhiều khía cạnh trong chương trình mà nhà trường đang sử dụng Đó có thể là sựđiều chỉnh chương trình hiện có, chấp nhận không thay đổi, hoặc sáng tạo một chương trình mới Phát triển chương trình nhà trường là một nỗ lực tập thể trong khuôn khổ một chương trình khung được thừa nhận mà không bị cản trở bởi bất
kì nỗ lực cá nhân của các GV hay nhà quản lí khác Phát triển chương trình giáo dục phổ thông là các hoạt động thường xuyên, bao gồm các khâu đánh giá, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chương trình trong quá trình thực hiện [12]
Như vậy, ”Phát triển chương trình” là cả một quá trình xây dựng kế hoạch
mà các yếu tố thời gian, không gian, vật chất, thiết bị và con người cần phải phốihợp theo một trật tự nhất định Quá trình này cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục làm cho chương trình hiện hành ngày càng hoàn thiện hơn; là sự nghiên cứu thiết kế và quản lí các mối quan hệ của các yếu tố cấu thành chương trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra Hay chúng ta cũng có thể hiểu ”phát triển chương trình nhà trường” chính là quá trình cụ thể hóa chương trình giáo dục quốc gia phù hợp với thực tiễn điều kiện địa phương, đặc trưng nhà trường ởmức cao nhất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của người học, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường đã đề ra
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các nước trên thế giới như: Anh, Mĩ,Australia, New Zealand, … và những năm 2000 ở các nước Nhật Bản, TrungQuốc,… Bộ giáo dục đã ban hành chướng trình quốc gia, mọt số tài liệu cho họcsinh phục vụ cho việc phát triển chương trình nhà trường
Trang 4Khác với chương trình giáo dục quốc gia, chương trình nhà trường có sựthay đổi liên tục theo từng năm nhằm điều chỉnh phù hợp với điều kiện của nhàtrường và địa phương Và việc phát triển chương trình nhà trường phụ thuộc vàođội ngũ giáo viên và người quản lí nhà trường Các sản phẩm của việc điềuchỉnh chương trình giáo dục nhà trường phải dựa vào chương trình giáo dục quốcgia và chỉ được phép lưu hành nội bộ.
b Vấn đề phát triển chương trình nhà trường ở Việt Nam
Ngoài một số trường tư thục có bổ sung và nâng cao thêm chương trìnhnhư Đoàn Thị Điểm thì ở nền giáo dục Việt Nam chương trình nhà trường vàphát triển chương trình nhà trường dường như chưa được thực hiện, mà chỉ sửdụng chung chương trình giáo dục quốc gia và một bộ SGK
Mục đích của phát triển chương trình nhà trường được chỉ rõ:
Khắc phục những hạn chế của chương trình, SGK hiện nay Thực hiện tăng cường vai trò nhà trường,các cơ chế phù hợp.Nhanh chóng, kịp thời bồi dưỡng năng lực nghiên cứu giáo dục, phát triển giáo dục cho giáo viên.
Bên cạnh đó các hoạt động phát triển chương trình nhà trường được chỉđạo bao gồm việc rà soát lại nội dung chương trình, SGK để thực hiện loại bỏnhững thông tin lạc hậu từ đó kịp thời bổ sung những thông tin mới Chỉnh sửa,điều chỉnh các nội dung kiến thức tránh trùng lặp gây sự nhàm chán Xây dựngcác chủ đề, nội dung phù hợp với điều kiện nhà trường và địa phương Tuynhiên, các nội dung được xây dựng phải phù hợp, liên quan đến các vấn đề củađịa phương, đất nước
c Vấn đề phát triển chương trình nhà trường ở môn Tiếng Việt
Để thực hiện vấn đề phát triển chương trình nhà trường, Bộ GD&ĐT đã yêucầu rà soát toàn bộ nội dung các môn học trong SGK hiện hành nhằm đưa ra sự
Trang 5điều chỉnh phù hợp, tránh sự trùng lặp về nội dung giữa các môn học, hay sự trùng lặp giữa các hoạt động giáo dục; đồng thời cập nhật, bổ sung những thông tin mới phù hợp thay cho nhwunxg nội dung, thông tin cũ đã lạc hậu.
Đối với những nội dung, bài tập, câu hỏi trong SGK vượt quá mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành sẽ không dạy; tuyệt đối không dạy những nội dung ngoài SGK
Đối với môn Tiếng Việt nói riêng, các nội dung có trong các chủ điểm trùng nhau đang được sắp xếp rời rạc sẽ được lồng ghép hoặc loại bỏ tránh sự dàn trải không tập trung và gây nhàm chán cho người học
1.1.2 Định hướng dạy học Phát triển năng lực học sinh và nhiệm vụ phát triển chương trình nhà trường
1.1.2.1 Định hướng dạy học phát triển năng lực học sinh
Theo quan điểm của Québec:
“Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.” [16, tr 4]
Còn theo Đỗ Hương Trà: “ Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng nói tiếng anh,…thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ [24].
Năng lực chỉ tồn tại và xuất hiện trong hoạt động nên vừa là mục tiêu vừalà kết quả của hoạt động Năng lực của một cá nhân sẽ được đánh giá thông quaphương thức hoạt động và kết quả hoạt động đó nhận được khi thực hiện giảiquyết một vấn đề
Năng lực được phân làm 2 loại năng lực:
Trang 6“Năng lực chung: Là năng lực cơ bản, thiết yếu để sinh viên có thể sống
và làm việc bình thường trong xã hội như: Khả năng hành động độc lập thành công; khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức; khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất
Năng lực chuyên biệt: Là năng lực được hình thành và phát triển do một lĩnh vực, môn học cụ thể nào đó.” [16, tr 5]
Môn Ngữ văn nói chung và môn tiếng Việt nói riêng có nhiều ưu thế trongviệc góp phần vào hình thành và phát triển năng lực toàn diện học sinh Trong đónhóm năng lực chung bao gồm:
Năng lực tự chủ và tự học
Năng lực giao tiếp và hợp tác
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Không chỉ góp phần vào phát triển những năng lực trên, môn Tiếng Việtcòn góp phân hình thành và phát triển một số năng lực khác như: năng lực tìmkiếm thông tin; năng lực tính toán và năng lực tự học
Môn Tiếng Việt còn có những năng lực chuyên biệt:
Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Năng lực này được thể hiện trong các hoạt động tiếp nhận văn bản và tạolập văn bản Không chỉ vậy nó còn được thể hiện thông qua các hoạt dộng ứngdụng trong thực tiễn
Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Trong môn Tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ cólợi thế rất lớn để phát triển Thông qua các văn bản, học được rèn luyện về khảnăng phân tích, đánh giá cái đẹp; khả năng tái hiện và tạo lập cái đẹp; lựa chọnlối sống có tính nhân ái, nhân văn Thông qua việc tiếp nhận giá trị thẩm mĩ củacon người, thiên nhiên, sự việc, những ngôn từ nghệ thuật mà học sinh có thểcảm thụ được cả những bi, hài, chân, thiện trong cuộc sống
Trang 7Từ những đặc tính trên, ta thấy rằng dạy học theo hướng phát triển nănglực có những ưu điểm nhất định giúp học sinh được phát triển toàn diện:
- Tạo điều kiện cho học sinh được bộc lộ khả năng
- Phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh từ quá trình giải quyếtcác vấn đề
- Luôn xác định được mục tiêu cần đạt
1.1.2.2 Định hướng nhiệm vụ phát triển chương trình nhà trường môn Tiếng Việt lớp 3
Khi thực hiện phát triển chương trình nhà trường, chúng tôi thực hiện đồng thời giữa việc bám sát nội dung, chương trình giáo dục SGK và thực hiện phát triện năng lực theo định hướng phát triển: lấy học sinh làm trung tâm, vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng môn Tiếng Việt vào giao tiếp thực tiễn Hay nói cách khác đó là chú trọng vào kết quả đầu ra của dạy học Tiếng Việt trong nhà trường
1.1.3 Nội dung chương trình lớp 3 hiện hành
Môn Tiếng Việt lớp 3 hiện nay đưa ra các mục tiêu hình thành và phát triển về 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết Nhằm giúp cho HS giao tiếp và học tập thuận lợi Môn học cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, về nền khoa học phát triển, về những nền văn hóa trong và ngoài nước
Thông qua môn học các em sẽ được bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ, ham thích và mong muốn giữ gìn sự trong sáng vốn Tiếng Việt Việc làm này cũng góp phần to lớn vào quá trình hình thành nhân cách của các em
Không chỉ vậy, môn Tiếng Việt cũng góp phần vào việc phát triển các năng lực tư duy cho các em
Trang 8Từ những mục tiêu đã đặt ra, nội dung chương trình lớp 3 môn Tiếng Việt được xây dựng theo các chủ điểm Mỗi chủ điểm được học trong 2 tuần, mỗi chủđiểm tương ứng với một đơn vị học Với 15 đơn vị học được chia thành hai học
kỳ Học kỳ I: 8 tuần ( tương ứng với 8 chủ điểm); học kỳ II: 7 tuần (tương ứng với 7 chủ điểm) Tuy nhiên ở hoc kỳ II, chủ điểm “Ngôi nhà chung” được học trong 3 tuần đó là tuần 30, 31, 32
a) Nội dung trong phân môn Tập đọc
Phân môn tập tập đọc mang nhiệm vụ rèn luyện cho HS kỹ năng đọc, nghe,nói Đồng thời, thông qua các câu hỏi, các bài tập sẽ giúp cho HS được lĩnh hộiđược những kiến thức, được mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên xã hội, conngười, vốn từ ngữ sử dụng phong phú, đặc biết là cách diễn đạt ngắn gọn, xúctích khi thực hiện các yêu cầu của bài
Nội dung của phân môn Tập đọc với nhiều loại hình văn bản khác nhau,phản ánh nhiều nội dung khác nhau: gia đình, xã hội, nhà trường,… Các kỹnăng đọc, nghe, nói được kết hợp xuyên xuất trong quá trình đọc và tìm hiểu cácloại hình văn bản trên Ngoài những kiến thức đó các em còn được rèn luyện vềmặt nhân cách
Thời lượng được phân bổ hợp lí Các bài tập đọc không quá dài, chính vìvậy việc rèn luyện các kĩ năng được rèn luyện đồng đều Khi đó các em thấyđược khả năng đọc, nghe, nói của mình tốt nên cảm thấy yêu thích hơn lòng hamthích đọc sách, cũng từ đó được bồi dưỡng về mặt trí tuệ của chính các em
b) Phân môn Kể chuyện
Ở lớp 3 phân môn Kể chuyện được mở rộng hơn về các chủ đề, ngoài chủđề về gia đình, nhà trường, thầy trò, làng xóm thì lớp 3 còn mở rộng têm chủ đềvề các tấm gương anh hùng trong lịch sử, các tấm gương về học tập, nghiên cứukhoa học,… Những đề tài không chỉ giúp các em được mở rộng vốn hiểu biết mà
Trang 9vốn từ ngữ của các em cũng được bổ sung Những câu chuyện này được xâydựng dựa trên chính những bài tập đọc mà các em vừa học
Những yêu cầu đặt ra của phân môn này giúp các em biết cách sắp xếp cácbức tranh đã bị đảo lộn theo đúng thứ tự và kể đúng thứ tự câu chuyện, nội dungcâu chuyện phù hợp với tranh Đồng thời các em còn biết cách sử dụng ngôn ngữcủa mình để diễn đtạ, kể lại câu chuyện
Những câu chuyện ý nghĩa giúp giáo dục các em về mặt nhân cách, bồidưỡng tâm hồn của các em
c) Phân môn Chính tả
Những bài viết chính tả được lựa chọn ch HS viết thường có nhiều các từngữ dễ lẫn, khó viết nhằm rèn luyện giúp HS nắm vững hơn về các quy tắc dấuthanh, âm, vần, nắm vững quy tắc ghi am chữ quốc ngữ tránh nhầm lẫn, ảnhhưởng của từ ngữ địa phương
Các tiết chính tả còn được bổ sung, khắc lại kiến thức ở phần cuối bài Từcác tiết chính tả các em rèn luyện cho mình tính cẩn thận, sự kiên trì và thói quengiữ gìn sạch sẽ Cách trình bày bài rèn cho HS có óc thảm mỹ và tinh thần tráchnhiệm với nhiệm vụ của mình
d) Phân môn Luyện từ và câu
Các chủ điểm được học trong chương trình lớp 3 cung cấp cho HS mộtlượng tư ngữ khá phong phú ( khoảng 400 đến 450 từ) giúp HS có thể diễn đạtcác vấn đề một cách phong phú hơn, dưới nhiều góc độ hơn Điều này giúp các
em cảm thấy hứng thú trong việc tìm tòi kiến thức và học tập, tự tin khi diễn đạtmột vấn đề
Từ những từ ngữ mới được cung cấp thì khả năng đặt câu khi giao tiếp củacác em được phát triển, được các em sử dụng phù hợp với từng mục đích mà các
em đặt ra
e) Phân môn Tập làm văn
Ở lớp 3 phân môn nà chú trọng vào việc giúp cho HS có khả năng tự phục
vụ bản thân thông qua cách viết các tơ đơn in sẵn, viết thư, cách phát biểu trong
Trang 10các cuộc họp, cách giới thiệu trường lớp, bản thân,… Thông qua những câuchuyện, những đoạn văn miêu tả đơn giản các em được rèn luyện kỹ năng viết,diễn đạt, kỹ năng quan sát sự vật, sự việc xung quanh Trong những câuvăn,đoạn văn của các em cũng là cơ hội để các em thể hiện được tư duy sáng tạo.
1.1.4 Dạy học tích hợp và nhiệm vụ phát triển chương trình nhà trường môn Tiếng Việt lớp 3
1.1.4.1 Dạy học tích hợp
Có nhiều quan điểm khác nhau về dạy học tích hợp:
Theo từ điển Tiếng Anh – Anh, thì “Integration có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận
có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau.” [26]
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [17]
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [7]
Từ các quan niệm trên ta có thể hiểu dạy học tích hợp là quá trình tiếnhành liên kết các đối tượng tri thức; kiến thức; kĩ năng có liên quan giúp chongười học có thể chiếm lĩnh tri thức; kĩ năng một cách hiệu quả Việc xây dựngcho một tiết dạy học tích hợp kích thích GV tư duy và không ngừng trau dồi kiếnthức ở nhiều các lĩnh vực khác nhau nhằm bồi dưỡng để có được vốn kiến thứcsâu rộng Và trong các tiết học thì HS cũng đòi hỏi phải năng động, tư duy nhiềuhơn trong việc tìm kiếm tri thức từ đó loại bỏ sự nhàm chán, rời rạc vốn hiện hữu
Trang 11giúp các em hứng thú, dễ hiểu hơn Đặc biệt là khả năng vận dụng kiến thực tiễn
có chuyển biến rõ ràng
1.1 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển chương trình nhà trường môn
Mỗi chủ điểm trong SGK được triển khai trong 2 tuần, mỗi tuần có 3 vănbản đọc Thông qua các văn bản này có thể tích hợp hiêu quả các kĩ năng nghe,nói, đọc, viết từ các ngữ liệu về từ, cách dùng từ, câu và cách viết câu, cách viếtcác văn bản theo từng thể loại
1.2.2 Đặc điểm học Tiếng Việt của sinh lớp 3 trong việc phát triển chương trình nhà trường
Ở lứa tuổi tiểu học các cơ quan cảm giác của học sinh tiểu học chưa phát triển hoàn thiện Đặc biệt ở các lớp đầu tiểu học, tri giác của các em còn mang tính đại thể, còn ít đi vào chi tiết Tri giác còn mang tính xúc cảm nên tri giác các
em gắn liền với các hoạt động trực quan, sự chú ý có chủ định còn yếu chưa có khả năng kiểm soát nên dễ bị hấp dẫn bởi các yếu tố có màu sắc rực rỡ Khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp còn mang tính sơ đẳng Trí nhớ trực quan chiếm
ưu thế Tuy nhiên, so với lứa tuổi mầm non thì khả năng tưởng tượng đã phát triển hơn, ngôn ngữ nói thành thạo, đồng thời chịu sự chi phối của xúc cảm nên