Vì vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm xã hội là một vấn đề cấp bách và cơ bản không những của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, mà còn cả những người lao động với
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Style Definition: muc3: Font: Italic
Style Definition: muc2: Font color: Auto,
Condensed by 0.8 pt
Style Definition: muc1: Font: 14 pt, Font
color: Auto, Dutch (Netherlands), Do not check spelling or grammar, Indent: First line: 1.27 cm
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập,
nghiêm túc của bản thân tôi Luận văn này chưa từng được công bố trên bất kể
phương tiện truyền thông nào
Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý
khách quan, trung thực Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo một số tài
liệu đã được liệt kê ở phần sau
Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá
trình nghiên cứu thực tiễn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi
trong toàn khóa học, cung cấp những kiến thức cần thiết, cơ sở lý luận khoa
học để tôi có thể hoàn thành bài luận văn này
Thứ hai, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thị Kim Anh
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình viết và hoàn thành luận văn này, từ
xây dựng đề cương đến hoàn thiện bài luận văn
Thứ ba, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế
chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
đình, bạn bè, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá
trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, tháng năm 20172018
Tác giả luận văn
Nguyễn Sỹ Hoài
Formatted: Vietnamese (Vietnam)
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 43
5 Kết cấu của Luận văn 63
CHƯƠNG 1 75
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 75
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý thu bhxh 75
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH………9
1.2.1 Khái niệm……… … 9
1.2.2 Một số vấn đề lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội ………….21
1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội 7039
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số địa phương trong nước ……… ……18
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý thu BHXH cho tỉnh Phú Thọ 7440 CHƯƠNG 2 7743
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7743
2.1 Qui trình nghiên cứu 7743
2.2 Cách tiếp cận và lựa chọn địa điểm nghiên cứu 7844
2.2.1 Cách tiếp cận 7844
2.2.2 Lựa chọn điểm nghiên cứu 7844
2.3 Phương pháp thu thập thông tin 7844
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 7844
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 7945
2.4 Phương pháp phâm tích số liệu……….……….46
2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả……… 46
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Indent: Left: 0 cm Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted
Formatted
Formatted: Font color: Black, Vietnamese (Vietnam) Formatted: Font color: Black Formatted: Font color: Black, Vietnamese (Vietnam) Formatted: muc1, Tab stops: Not at 15.48 cm Formatted Formatted: Font color: Black, Vietnamese
(Vietnam)
Formatted: Space Before: 0 pt Formatted: Font color: Black Formatted: Font color: Black, Vietnamese
(Vietnam)
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed
Formatted: Vietnamese (Vietnam) Field Code Changed
Formatted: Vietnamese (Vietnam)
Trang 62.4.2 Phương pháp kiểm định thông kế ……… 46
2.4.3 Phương pháp phân tích định lượng………46
CHƯƠNG 3 8147
THỰC TRANG QUẢN LÝ THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2014-2016 8147
3.1 Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kt-xh và cơ quan bhxh tỉnh Phú Thọ 8147
3.1.1 Điều kiện tư nhiên tự nhiên và KT-XH của Phú Thọ 8147
3.1.2 Cơ quan BHXH tỉnh Phú Thọ 8349
3.2 Khái quát tình hình thu bhxhbb trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 8854
3.2.1 Khối Hành chính nhà nước (HCNN) 8955
3.2.2 Khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 8955
3.2.3 Khối DN ngoài quốc doanh 9056
3.2.4 Khối Hợp tác xã 9157
3.2.5 Khối hộ kinh doanh cá thể 9258
3.3 Phân tích quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 9359
3.3.1 Quy trình quản lý thu, nộp bảo hiểm xã hội 9359
3.3.2 Quản lý đối tượng tham gia BHXH 9864
3.3.3 Phương thức và mức đóng bảo hiểm xã hội 10369
3.3.4 Quản lý công tác thu BHXH 10470
3.3.5 Quản lý tài liệu 10874
3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu bhxh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 10975
3.4.1 Kết quả nghiên cứu từ kiểm tra và Khảo sát Doanh nhiệp 10975
3.4.2 Phân tích mức dộ tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thu BHXH của Phú Thọ 11682
3.5 Đánh giá công tác quản lý thu bhxh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2014-2016 12893
Trang 73.5.1 Những mặt tích cực ……… ………… 72
3.5.2 Những mặt còn hạn chế 13194
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 13296
CHƯƠNG 4 13598
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 13598
4.1 Mục tiêu và phương hướng quản lý thu bảo hiểm xã hội 13598
4.1.1 Mục tiêu phấn đấu thu bảo hiểm xã hội 13598
4.1.2 Phương hướng phát triển hoạt động Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 13699
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thu bhxh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 137100
4.2.1 Nhóm các giải pháp tổ chức thu bảo hiểm xã hội 137100
4.2.2 Nhóm các giải pháp cho cơ quan BHXH 142105
KẾT LUẬN 150113
LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý thu bhxh 5
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH 6
1.2.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 6
1.2.2 Một số vấn đề lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội 18
1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội 35
Formatted: Font: 14 pt, Not Italic, Font color:
Auto, Do not check spelling or grammar
Formatted: Heading 2, Tab stops: Not at
15.48 cm
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Auto, Do
not check spelling or grammar
Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt,
Bold
Trang 81.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước 35
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý thu BHXH cho tỉnh Phú Thọ 38
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Qui trình nghiên cứu 40
2.2 Cách tiếp cận và lựa chịn địa điểm nghiên cứu 41
2.2.1 Cách tiếp cận 41
2.2.2 Lựa chọn điểm nghiên cứu 41
2.3 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 41
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 42
2.4 Phương pháp phân tích số liệu 43
2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 43
2.4.2 Phương pháp kiểm định thống kê 43
2.4.3 Phương pháp phân tích định lượng 43
CHƯƠNG 3 THỰC TRANG QUẢN LÝ THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2014-2016 44
3.1 Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kt-xh và cơ quan bhxh tỉnh Phú Thọ 44
3.1.1 Điều kiện tư nhiên tự nhiên và KT-XH của Phú Thọ 44
3.1.2 Cơ quan BHXH tỉnh Phú Thọ 46
3.2 Khái quát tình hình thu bhxhbb trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 51
3.2.1 Khối Hành chính nhà nước (HCNN) 52
3.2.2 Khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 52
3.2.3 Khối DN ngoài quốc doanh 53
3.2.4 Khối Hợp tác xã 54
3.2.5 Khối hộ kinh doanh cá thể 55
3.3 Phân tích quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 56
3.3.1 Quy trình quản lý thu, nộp bảo hiểm xã hội 56
Trang 93.3.2 Quản lý đối tượng tham gia BHXH 61
3.3.3 Phương thức và mức đóng bảo hiểm xã hội 66
3.3.4 Quản lý công tác thu BHXH 67
3.3.5 Quản lý tài liệu 71
3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu bhxh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 72
3.4.1 Kết quả nghiên cứu từ kiểm tra và Khảo sát Doanh nhiệp 72
3.4.2 Phân tích mức dộ tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thu BHXH của Phú Thọ 79
3.5 Đánh giá công tác quản lý thu bhxh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 90
3.5.1 Những kết quả đạt được 90
3.5.2 Những mặt còn hạn chế 91
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 93
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 95
4.1 Mục tiêu và phương hướng quản lý thu bảo hiểm xã hội 95
4.1.1 Mục tiêu phấn đấu thu bảo hiểm xã hội 95
4.1.2 Phương hướng phát triển hoạt động Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 96
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thu bhxh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 97
4.2.1 Nhóm các giải pháp tổ chức thu bảo hiểm xã hội 97
4.2.2 Nhóm các giải pháp cho cơ quan BHXH 102
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3 BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
4 BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
9 DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
11 TN&QLHS Tiếp nhận và quản lý hồ sơ
Trang 11DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Tình hình thu BHXH bắt buộc khối HCNN, tại BHXH tỉnh
13 Bảng 3.13 Báo cáo công tác quản lý BHXH tỉnh Phú Thọ (2014-2016) 72
14 Bảng 3.14 Mức độ hiểu biết về pháp luật BHXH đối với DN điều tra 73
15 Bảng 3.15 Thu nhập bình quân của người lao động tại các DN được
Trang 1216 Bảng 3.16 Tổng hơp điều tra số lao động tại DNNQD 74
17 Bảng 3.17 Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực
18 Bảng 3.18 Cronbach’s alpha của thang đo “loại hình doanh nghiệp” 80
20 Bảng 3.20 Cronbach’s alpha của thang đo “Chính sách – Pháp Luật” 81
21 Bảng 3.21 Cronbach’s alpha của thang đo “Phương thức và mức thu
26 Bảng 3.26
Ma trận các thành phần sau khi thực hiện xoay các nhân tố nhằm xác định mức độ đóng góp của các biến giải thích trong các thành phần chính
85
27 Bảng 3.27 Kiểm định KMO và Bartlett về sự thích hợp của các nhân tố 87
29 Bảng 3.29 Sự phù hợp của hàm Hồi Quy trong phân tích nhân tố ảnh
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ
Thọ tỉnh Phú Thọ
48
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, chính sách BHXH là chính sách lớn, là bộ phận quan trọng trong
hệ thống chính sách an sinh xã hội, đã đước Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện
BHXH gắn liền với sự phát triển kinh tế và xã hội, nên việc xác định đúng vai trò
của BHXH trong cuộc sống, sự tác động của BHXH đối với đời sống của NLĐ, với
xã hội là một vấn đề đặt ra Cùng với công cuộc đổi mới đang diễn ra trên khắp các
lĩnh vực, chính sách bảo hiểm xã hội cũng từng bước được sửa đổi để phù hợp với
sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội Vì vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn về bảo hiểm xã hội là một vấn đề cấp bách và cơ bản không những của các
nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, mà còn cả những người lao động với tư cách vừa
là đối tượng, vừa là chủ thể của chính sách bảo hiểm xã hội
phát triển nền kinh tế thị trương hiện nay Trong xã hội , sự phân hóa giàu nghèo
đang có sự chênh lêc ̣h khá lớn , do đó, người lao động cần có sự tương trợ của cộng
đồng, phát huy vai trò của cộng đồng để giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống
do các rủi ro mang lại Với nhu cầu này, chính sách bảo hiểm xã hội hướng tới mục
tiêu vì cuộc sống tốt đẹp của con người và văn minh của toàn xã hội
Xác định đúng vị trí và vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội trong công
cuộc đổi mới, ngày 29/6/2006 Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (có hiệu
lực thi hành từ 01/01/2007) nhằm thực hiện thống nhất chính sách bảo hiểm xã hội
trong phạm vi cả nước, ở mọi thành phần kinh tế Tuy nhiên, trong thời gian vừa
qua việc thực hiện chính sách BHXH còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là công tác
thu BHXH, cụ thể: số đơn vị, số lao động tham gia BHXH còn ít, tình trạng đơn vị
nợ đọng BHXH còn nhiều, gây ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi của người lao
động Việc tăng nguồn thu BHXH còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng Công
tác thu BHXH ở tỉnh Phú Thọ cũng không tránh khỏi những hạn chế trên Có rất
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một trong những nguyên nhân đó là
Formatted: Footer distance from edge: 2.17
cm
Formatted: Vietnamese (Vietnam)
Trang 152
công tác quản lý chưa phù hợp, sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan thiếu chặt
chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ
Hoạt động quản lý công tác thu BHXH bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến
công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH
cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên nguyên tắc “có đóng, có
hưởng”, công tác thu nộp BHXH bắt buộc đã đặt ra yêu cầu thu đúng, đủ, kịp thời
Nếu không thu được BHXH bắt buộc thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho
các chế độ BHXH cho NLĐ Do đó, thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc đóng
một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống
của NLĐ cũng như các đơn vị sử dụng lao động được hoạt động bình thường
Do vậy, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc là nhiệm vụ quan trọng và khó
khăn của ngành BHXH Để công tác thu BHXH bắt buộc đạt hiệu quả cao thì đòi
hỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ, hợp lý, khoa học Để khắc phục những
hạn chế trên, nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn thu BHXH bắt buộc, phát triển
bền vững quỹ BHXH, rất cần có những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong thời
gian tới
Từ nhận thức những vấn đề nêu trên, Học viên đã chọn đề tài “Quản lý thu
bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn của mình,
nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế nêu trên
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách xã hội lớn của một quốc gia
vàchứa đựng bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an bình, hạnh phúc của
con người Tham gia BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc tử
tuất Hoàn thành nhiệm vụ thu BHXH sẽ tạo đầu vào để hình thành và phát
triển quỹ BHXH, đáp ứng được khả năng chi trả các chế độ BHXH, công tác
thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH Quản lý thu BHXH tốt sẽ
giúp tăng số lượng đơn vị sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, tăng số
Formatted: Font: Bold
Formatted: Font: Bold
Trang 16người tham gia bảo hiểm xã hội qua đó tăng nguồn thu bảo hiểm xã hội và
giúp ngày càng nhiều người lao động hưởng các chế độ BHXH, đảm bảo pháp
luật về lao động được thực thi, giảm bớt gánh nặng cho xã hội trong tương lai
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu, rộng vào hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay, quản lý thu BHXH lại càng có ý nghĩa sâu sắc trong việc
phòng ngừa, ngăn chặn người sử dụng lao động lạm dụng nguời lao động nhất
là việc thuê mướn, sử dụng, trả tiền lương, tiền công bất bình đẳng
Tại Việt Nam BHXH là mảng an sinh xã hội trọng tâm của đất nước,
với tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn, cho nên trải qua hơn 20 năm hình thành
và phát triển, ngành BHXH Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách
và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ổn định đời sống nhân
dân, thực hiện công bằng xã hội và ổn định chính trị - xã hội Với chức năng
nhiệm vụ được giao, BHXH Việt Nam luôn hướng vào các mục tiêu chủ yếu
như: (i) Từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT ở mọi thành
phần kinh tế, tiến tới thực hiện mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và
BHYT toàn dân như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và IX đã
đề ra; (ii) Giải quyết đúng chế độ chính sách, chi trả kịp thời đầy đủ các chế độ
BHXH cho người lao động; đảm bảo quyền lợi về khám chữa bệnh cho người
tham gia BHYT; (iii)Cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông
tin, đổi mới quy trình làm việc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động
và nhân dân khi tham gia BHXH, BHYT; (4) Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ
máy; nâng cao năng lực chỉ đạo và tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức, nhất là trình độ chuyên môn và ý thức, trách nhiệm phục vụ
nhân dân
Từ khi thành lập đến nay, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ đã luôn cố
gắng nỗ lực phấn đấu trong công tác quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
nên kết quả thu hàng năm đạt và vượt so với kế hoạch được giao
Tuy nhiên, kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, diện
bao phủ BHXH mới chỉ đạt khoảng 20% lực lượng lao động Bên cạnh những
Formatted: Font: 13 pt, Bold Formatted: Font: Bold
Formatted: Font: 13 pt, Bold
Trang 174
mặt tích cực đã đạt được, công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, đã bộc lộ nhiều
hạn chế, tình trạng người lao động và đơn vị sử dụng lao cố tình né tránh
không tham gia bảo hiểm xã hội, nợ và trốn đóng bảo hiểm xã hội làm cho
nguồn quỹ bảo hiểm xã hội, nhất là Quỹ hưu trí, tử tuất có nguy cơ mất cân
đối trong tương lai gần; tình trạng người lao động lạm dụng chính sách bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế xảy ra khá phổ biến Vậy thực trạng quản lý thu
BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ như thế nào? Cần có giải pháp gì để hoàn
thiện công tác này? Đây là những vấn đề có tính cấp thiết đối với BHXH tỉnh
Phú thọ Do vậy tôi chọn đề tài: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình nhằm tìm ra giải
đáp cho những vấn đề trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để đề xuất giải pháp
hoàn thiện hoạt động này tầm nhìn đến 2020
Luận văn nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu sau: Thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ như thế nào và cần có giải pháp gì để cải thiện hoạt động này tầm nhìn đến 2020?
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung như trên, luận văn cần đạt được các mục tiêu cụ
thể như sau:
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH
- Đánh giá được thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai
đoạn 2014-2016, phát hiện được những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tai và
nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất được những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu hiểm xã hội trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Bold
Formatted: Font: 13 pt, Bold, Vietnamese
(Vietnam)
Formatted: Indent: First line: 1 cm
Trang 18Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý thu BHXH bắt buộc (sau đây
viết là quản lý thu BHXH) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Phạm vi nghiên cứu:
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý thu
BHXH bắt buộc tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ
3.2.2 Phạm vi về thời gian: Các tài liệu và số liệu nghiên cứu được thu thập
từ các nguồn trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016, tập trung vào giai đoạn 2014 -
2016
3.2.3 Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về: (1) Quản lý
đối tượng tham gia BHXH, (2) Quản lý quỹ lương làm căn cứ tính tiền đóng
BHXH, (3) Quản lý tiền thu BHXH và (4) Thanh tra, kiểm tra đóng BHXH
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ theo hiện Luật Bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các đơn vị sử dụng lao động có thực
hiện Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Trong đó
luận văn sẽ chỉ nghiên cứu quản lý thu BHXH ở các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, đây là đơn vị có nhiều hiện tượng trốn, nợ đọng bảo hiểm xã hội trong
những năm qua Luận văn chỉ nghiên cứu quản lý thu bảo hiểm XH bắt buộc
(BHXHBB) vì đây là nguồn thu ổn định Luận văn không nghiên cứu về quản lý thu
bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) vì đây là nguồn thu không ổn định và tùy
thuộc vào nguyện vọng của người muốn tham gia BHXH trong từng thời điểm
3.2.2 Giới hạn về không gian nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý thu BHXH của các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ở thành phố Việt Trì và thị trấn của các huyện trong tỉnh Phú Thọ
3.2.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn
Formatted: Font: 13 pt, Italian (Italy)
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Font: 13 pt, Italian (Italy)
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Font: 13 pt, Italian (Italy)
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Font: 13 pt, Italian (Italy)
Trang 196
Phú Thọ giai đoạn từ 2014 tới 2016
4 Đóng góp của luận văn
Luận văn có một số đóng góp cụ thể sau:
- - Đánh giá được thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai
đoạn 2014-2016 qua đó phát hiện những thành tựu đạt được, những hạn chế và
nguyên nhân
- - Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quản lý thu BHXH trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ tầm nhìn đến 2020
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương, bao gồm
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về
quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn cấp tỉnh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý thu bhxh
Trong những năm gần đây, lĩnh vực BHXH nói chung và thu BHXH nói riêng đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu Đã có một số
công trình nghiên cứu về BHXH với những cách tiếp cận khác nhau, được đề cập và
thể hiện trong một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc
sĩ khác Cụ thể như:
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, 1996 Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và
một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn
Châu, BHXH Việt Nam Đây là một trong những đề tài được thực hiện sớm nhất kể
từ khi ngành BHXH Việt Nam được thành lập (1995) Đối tượng nghiên cứu của đề
tài là quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam với vai trò là cơ quan cấp Trung
ương quản lý về BHXH, trong công cuộc đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nước
đề ra Phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc Đề tài đã đánh giá kết quả công tác thu
BHXH thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp là nguyên nhân kìm hãm sự phát
triển chính sách BHXH, phân tích thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra đối với
BHXH Việt Nam đối với quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam khi mà Nhà
nước đang mở ra một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, với nhiều thành
phần kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải đổi mới chính sách pháp luật
quy định về thu BHXH nhằm đảm bảo mở rộng đối tượng NLĐ và NSDLĐ thuộc
các thành phần kinh tế tham gia đóng BHXH đầy đủ Đáp ứng thực tiễn phong phú,
đa dạng về các mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, hình thức đóng
BHXH đồng thời có cơ chế quản lý số tiền thu BHXH từ cấp địa phương đến trung
ương Đề tài đã đóng góp những nghiên cứu khoa học, có ý nghĩa thực tiễn về xây
dựng hệ thống biểu mẫu thu BHXH, phương thức thực hiện thu BHXH từ địa
phương đến trung ương, quản lý quỹ BHXH cũng như hình thức, phạm vi đầu tư
Formatted: Font color: Auto Formatted: Indent: First line: 0 cm Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 218
tăng trưởng một phần quỹ BHXH góp phần tạo lập bền vững và cân đối quỹ BHXH
về lâu dài
- Đề tài cấp Bộ, 2007 Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH bắt buộc
khi thực hiện Luật BHXH” Chủ nhiệm đề tài Phạm Đỗ Nhật Tân, Bộ Lao động
thương binh và Xã hội Nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH đã được các nhà nghiên
cứu khoa học xã hội và tổ chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị tới Chính phủ
Việt Nam từ khi xây dựng Luật BHXH Khi mà nguồn hình thành và quản lý các
quỹ thành phần như là quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ BHTN, trong đó quỹ BHXH
chia thành các quỹ thành phần như là: quỹ chi trả chế độ hưu trí, tử tuất (dài hạn);
quỹ chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp (ngắn hạn) Việc hình thành nên các quỹ này là từ nguồn thu
BHXH bắt buộc Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống các quy định của Nhà nước về
đối tượng thu, mức thu, cách thức vận hành và quản lý các quỹ BHXH, phân tích
đánh giá thực trạng tình hình thu - chi của quỹ BHXH bắt buộc của Việt Nam, từ đó
đề tài đã đề ra các dẫn chứng về những ưu điểm và những mặt hạn chế về việc duy
trì và mở rộng nguồn thu BHXH, sử dụng quỹ BHXH, điều kiện để hưởng các chế
độ chính sách BHXH nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹ BHXH, cân đối quỹ BHXH
trong tương lai
- Đỗ Văn Sinh, 2005 Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam Luận án
Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã góp phần làm
rõ thêm cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam; tổng kết
mô hình và phương thức quản lý quỹ BHXH của một số nước trên thế giới để rút ra
một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam;
đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam
- Phạm Trường Giang, 2010 Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam
Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Lao động xã hội Đóng góp nghiên cứu khoa học của
luận án đó là tác giả đã nghiên cứu về cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam,
việc phân cấp quản lý thu BHXH, các chế tài về đóng BHXH và xử lý vi phạm về
đóng BHXH Trên cơ sở phân tích cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam, đề
Formatted: Font color: Auto, Dutch
(Netherlands)
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Dutch (Netherlands)
Trang 22cập vấn đề chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BHXH còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tác giả có tham khảo một số mô hình thu BHXH ở một số nước phát triển, từ đó tác giả có 7 khuyến nghị một số giải pháp có ý nghĩa thực tiễn hoàn thiện cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam
- Nguyễn Hữu Vinh, 2010 Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Hà Nội” Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường ĐH kinh tế quốc dân ; Nguyễn Dương, 2010 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Hai đề tài của hai tác giả được thực hiện trong cùng một thời gian, trên cùng một địa bàn, nghiên cứu hai nội dung khác nhau nhưng lại
có những vấn đề liên quan tới nhau Tác giả Nguyễn Hữu Vinh đi sâu lý giải nguyên nhân làm giảm nguồn thu là do tình trạng nợ đọng tiền đóng BHXH kéo dài, trốn đóng BHXH dưới nhiều hình thức của các doanh nghiệp, từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp làm giảm tình trạng nợ đọng, truy thu, tính lãi thậm chí là khoanh
nợ để đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời không làm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các chế độ BHXH của NLĐ Còn tác giả Nguyễn Dương đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng quản lý thu BHXH, từ đó tác giả đã có nhận định về quản lý thu BHXH còn yếu kém do nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, tác giả đã có những kiến nghị về giải pháp tăng cường chất lượng quản lý thu, khắc phục tình trạng nợ đọng, trốn đóng tiền BXHH
- Đề án khoa học: “Xây dựng quy định quản lý thu nợ BHXH, BHYT, BHTN”, chủ nhiệm đề án, Thạc sĩ Trần Đình Liệu, Trưởng Ban Thu BHXH Việt Nam
Đề án đã nghiên cứu và đánh giá tình hình nợ BHXH, BHYT của các đơn vị
sử dụng lao động tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước và công tác quản lý thu nợ BHXH, BHYT trong thời gian 02 năm 2014-2016 Xác định những nguyên nhân khách quan, chủ quan đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý có hiệu quả nhằm chống thất thu, ngăn ngừa tình trạng chiếm dụng tiền đóng và giảm nợ đọng BHXH, BHYT như:
Trang 23+ Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thu BHXH, BHYT
- Đề án nghiên cứu khoa học, 2011 Hoàn thiện quy trình quản lý thu, quy trình cấp và quản lý sổ BXHH, thẻ BHYT.Chủ nhiệm đề án: Dương Xuân Triệu, Viện nghiên cứu khoa học - BHXH Việt Nam Đề án đã hệ thống hóa các văn bản của Nhà nước, của Ngành về thực hiện về thu BHXH, cấp sổ BXHH, thẻ BHYT, phân tích đánh giá thực trạng thực hiện thu BHXH, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong mối tương quan hỗ trợ nhau Đề án đã phân tích được những mặt còn chưa hợp lý, hạn chế như: văn bản quy định chồng chéo, thủ tục hành chính còn nhiều, biểu mẫu chưa khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp, việc thực hiện ở các địa phương còn chưa đồng nhất do nhận thức chưa đúng quy định của Nhà nước, của Ngành Từ đó Đề án đề ra các giải pháp về xây dựng thống nhất các chỉ tiêu, biểu mẫu, quy trình về thu BHXH, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT phù hợp với tình hình mới
- Ngoài ra học viên còn tham khảo giáo trình giảng dạy môn Kinh tế Bảo hiểm của Trường ĐH Kinh tế quốc dân; tài liệu giảng dạy của Trường đào tạo nghiệp vụ BHXH của ngành, tài liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu khoa học BHXH
Qua nắm bắt tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, học viên nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đây liên quan đến quản lý thu BHXH đều xuất phát từ thực trạng và hướng tới các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH ở mỗi địa phương, mỗi thời kỳ nhằm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu BHXH một cách bền vững Tuy nhiên trong thời gian gần đây, khi mà Nhà nước ban hành nhiều sửa đổi bổ sung chế độ chính sách BHXH, chính sách kinh tế xã hội thì chưa có
Trang 24công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu nào về quản lý thu BHXH bắt buộc sau khi
Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006, Luật BHXH sửa đổi bổ sung số
58/2014/QH13, ngày 20/11/2014 và Luật BHYT sửa đổi bổ sung số 46/2014/QH13,
ngày 13/6/2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua với nhiều quy định mới, trong
9 bối cảnh tình hình nợ đọng BHXH, trốn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động
tăng cao đáng báo động làm ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợi cho người lao
động, tiềm tàng nguy cơ vỡ quỹ BHXH
Khoảng trống nghiên cứu
Mặc dù có một số nghiên cứu về BHXH nêu trên, song trong phạm vi tiếp cận của
tác giả chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về quản lý thu BHXH của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tập trung ở Việt Trì, Phú Thọ
1.2 cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội (bhxh)
1.2.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội
1.2.1.1 Khái niệm
Định nghĩa
Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “BHXH là sự bảo vệ của
xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu
nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết Hơn nữa
BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi
cần thiết” Định nghĩa này phản ánh một cách tổng quan về mục tiêu, bản chất và
chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia Mục tiêu cuối cùng của bảo hiểm xã hội
là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với
mọi người
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm
giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, tử tuất, già yếu, mất việc làm, trên cơ sở hình thành một quỹ tài chính do sự
đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo
đúng pháp luật Nhằm bảo đảm an toàn, ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ,
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 2512
đồng thời góp phần đảm bảo xã hội
Theo luật Bảo hiểm xã hội của Việt Nam thì BHXH là biện pháp Nhà nước sử
dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo
hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, sự kiện bảo hiểm làm suy giảm sức khoẻ,
mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết, gắn liền với quá trình
tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Sự cần thiết khách quan của BHXH
Con người muốn tồn tại và phát triển luôn cần phải thoả mãn các nhu cầu tối
thiểu về vật chất và tinh thần, và để thoả mãn các nhu cầu đó con người phải lao
động, sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm Tuy nhiên, con người không phải bao giờ
cũng gặp thuận lợi, có đủ thu nhập và điều kiện sinh sống mà rủi ro luôn đi kèm với
con người Trong nhiều trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm giảm hoặc mất khả
năng lao động như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… Khi rơi vào các
trường hợp đó các nhu cầu cần thiết của cuộc sống con người không vì thế mà giảm
đi hoặc mất đi, thậm chí còn tăng thêm hoặc phát sinh những nhu cầu mới như chi
phí khám chữa bệnh khi ốm đau xảy ra Bởi vậy, muốn duy trì đảm bảo cuộc sống
NLĐ đòi hỏi phải có nguồn thu nhập thay thế để bù đắp
Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển, sản xuất mang tính chuyên môn hoá cao
thì quan hệ thuê mướn lao động ra đời và ngày càng phát triển Những người làm
công phải hoàn toàn dựa vào tiền lương làm nguồn sống chủ yếu, khi ốm đau, tai
nạn, sinh đẻ… Thì phải nghỉ việc và không có lương, cuộc sống của họ bị đe doạ
NLĐ đã ý thức được sự cần thiết phải có thu nhập đề phòng khi họ gặp rủi ro tai
nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm bảo một số thu nhập
nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, thai sản… Lúc đầu
giới chủ cam kết đảm bảo cho NLĐ những khoản thu nhập nhất định đó Song
nhiều khi rủi ro xảy ra liên tục buộc người chủ phải chi ra những khoản tiền lớn mà
họ không muốn Do vậy, giới chủ đã chi nhiều hơn nên xuất hiện mâu thuẫn và
tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn ngày càng gay gắt Đứng trước tình tình đó,
nhà nước là người thứ ba đứng ra giải quyết mâu thuẫn và điều hoà lợi ích giữa chủ
Formatted: Font color: Auto
Trang 26và thợ, cụ thể: yêu cầu cả chủ và thợ đều phải đóng góp những khoản tiền nhất định
để hình thành quỹ, đồng thời nhà nước hỗ trợ một phần để giúp các bên giải quyết khó khăn Từ đó và giới chủ và thợ đều được đảm bảo và họ thấy có lợi các nguồn đóng góp và sự hỗ trợ của nhà nước hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung - quỹ BHXH Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH
Từ khía cạnh kinh tế thì tham gia BHXH và được BHXH là sự phản ánh một quy luật có tính khách quan: quy luật cung - cầu Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu
Đối người lao động (NLĐ):
Trong cuộc sống hàng ngày không ai dám chắc chắn rằng mình sẽ không gặp phải rủi ro Do vậy trong quá trình lao động, sản xuất kinh doanh phải đóng góp đầy
đủ, kịp thời vào quỹ BHXH theo mức chung, sau đó NLĐ có quyền được hưởng trợ cấp về BHXH, căn cứ vào sự đóng góp và theo chế độ quy định, khi NLĐ gặp phải những rủi ro như: ốm đau, tai nạn lao động hoặc mắc các bệnh nghề nghiệp xẩy ra, làm cho bị mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, dẫn đến nguồn thu nhập của họ bị giảm đi hoặc không còn nữa; hoặc NLĐ bị chết trong khi con cái đang tuổi vị thành niên, bố mẹ già không nơi nương tựa Những rủi ro này không chỉ làm giảm thu nhập của NLĐ mà còn làm giảm nguồn lực tài chính của họ và gia đình họ Vậy chính sách BHXH góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình
họ, tạo niềm tin cho NLĐ, góp phần nâng cao năng suất lao động
Đối với doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp, mối quan hệ giữa chủ SDLĐ và
NLĐ là mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau bởi quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên Các doanh nghiệp vừa phải tạo điều kiện làm việc tốt cho NLĐ, phải trả công cho họ và phải có trách nhiệm giúp đỡ khi họ không may gặp phải rủi ro trong quá trình lao động, sự quan tâm đó thể hiện qua việc tham gia, đóng góp đầy đủ BHXH
Trang 2714
cho NLĐ, khi không may NLĐ gặp phải rủi ro thì cơ quan BHXH sẽ chi trả chế độ
cho NLĐ Vậy BHXH góp phần ổn định sản xuất kinh doanh, giúp người SDLĐ đỡ
phải bỏ ra một khoản tiền lớn, nhiều khi là rất lớn để thực hiện trách nhiệm của
mình đối với NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro
Đối với Nhà nước và xã hội: Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật
cạnh tranh, nhiều trường hợp đã đẩy một số doanh nghiệp vào tình trạng bất ổn,
thậm trí phá sản dẫn đến hàng loạt NLĐ bị mất việc làm, không đảm bảo được cuộc
sống và tạo ra nhiều vấn đề phức tạp Vì thế để đảm bảo nền kinh tế xã hội phát
triển bình thường, xét về phía trách nhiệm của xã hội, Nhà nước sẽ phải xây dựng
hệ thống pháp luật về BHXH, tổ chức thực hiện các chính sách về BHXH và Nhà
nước sử dụng pháp luật để can thiệp vào mối quan hệ chủ SDLĐ và NLĐ, đảm bảo
những quyền lợi xã hội cho NLĐ, tạo sự công bằng, bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ của công dân đồng thời cùng có trách nhiệm đóng góp và hỗ trợ thêm để
đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với NLĐ Như vậy, đứng trước những rủi
ro trong cuộc sống của NLĐ, trong quá trình lao động, sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp và cả xã hội đều cần phải có một nguồn lực tài chính đủ lớn nhằm
đảm bảo cho sự ổn định cuộc sống cho NLĐ, hoạt động của các tổ chức xã hội và
sự ổn định về mặt chính trị, trật tự an toàn xã hội Tham gia BHXH tức là trong
quá trình lao động cả NLĐ và người SDLĐ trích ra một phần thu nhập của mình để
cùng Nhà nước thành lập nên một quỹ tài chính BHXH Cùng với sự tiến bộ của xã
hội và tiến bộ của loài người, BHXH đã được coi như là nhu cầu khách quan của
con người và được xem như là một trong những quyền cơ bản của con người và
được Đại hội đồng liên hiệp quốc thừa nhận và nghi vào tuyên ngôn nhân quyền
ngày 10/12/1948 như sau: " Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội
đều có quyền hưởng BHXH Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền kinh tế
xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người"
1.2.1.2 Bản chất và chức năng của bảo hiểm xã hội
* Bản chất của BHXH
Trang 28NLĐ Có thể hiểu BHXH chính là quá trình tổ chức sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích dần, do sự đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động, dưới sự quản
lý, điều tiết của nhà nước để đảm bảo phần thu nhập thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu của NLĐ khi họ gặp những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội nhất là trong
xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển ở một mức nào đấy Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện, có thể nói BHXH là nhu cầu cần thiết để đảm bảo các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH là mối quan hệ 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết
- Những rủi ro xảy ra trong BHXH có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc là những trường hợp không hoàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản
- Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc bị mất đi khi gặp phải sự cố, rủi ro sẽ
bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia bảo hiểm đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ
từ phía Nhà nước
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập, mất việc làm để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ, chăm sóc sức khoẻ và chống lại bệnh tật Như vậy BHXH không phải là loại hình bảo hiểm cá nhân hay cá nhân tự bảo hiểm mà nó là
sự bảo hiểm đặt trong những mối quan hệ nhất định trong cộng đồng, BHXH không thể tách khỏi một chế độ chính trị nhất định và phải dựa trên nền kinh tế cụ thể Nó thể hiện bản chất cơ bản sau:
* Bản chất kinh tế của BHXH
Trang 2916
Sự tồn tại của rủi ro đối với thu nhập của NLĐ là khó lường trước Để bù đắp những khoản thu nhập bị mất đi khi sự cố xảy ra nếu không tham gia BHXH thì cách cơ bản nhất là phải tích luỹ cá nhân Tuy nhiên, cách dự trữ cá nhân có nhiều hạn chế, bởi vì nếu đòi hỏi phải dự trữ lớn ngay một lúc thì sẽ rất khó khăn, hơn nữa nhiều lao động không có khả năng Còn nếu tích luỹ dần thì khi rủi ro xảy ra sớm, mức độ thiệt hại lớn thì không đủ nguồn tài chính để bù đắp, trang trải phần thu nhập bị mất Nhưng nếu thông qua BHXH, người lao động chỉ cần đóng góp hàng tháng một tỷ lệ nhỏ phần trăm so với tiền lương của mình cùng với sự hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước để tạo ra một quỹ BHXH, quỹ này là tập hợp của số đông người lao động tham gia BHXH để bù đắp cho số ít người tham gia bị rủi ro Khi rủi ro xảy ra bằng hình thức lấy số đông bù số ít người bị rủi ro sẽ giúp khắc phục những khó khăn trong đời sống cá nhân từng lao động do bị mất hoặc giảm thu nhập Như vậy BHXH không phải là dịch vụ sản xuất mà nó là dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những khoản thu nhập bị mất của NLĐ khi gặp sự cố trong cuộc sống
* Bản chất xã hội của BHXH
BHXH là lĩnh vực vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội và vừa mang tính chất dịch vụ, nhưng trong đó tính xã hội được thể hiện rõ nhất Nhờ có BHXH khi NLĐ bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết làm cho thu nhập của họ bị mất hẳn hoặc giảm sút, họ sẽ được bù đắp lại một phần hoặc tất cả từ quỹ BHXH, mà quỹ này là do số đông NLĐ đóng góp, cùng trách nhiệm của người SDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước Vậy có thể thấy rằng bản chất của BHXH là sự san sẻ rủi ro giữa tập thể NLĐ Qua đó cũng thể hiện rõ trách nhiệm xã hội giữa chủ SDLĐ với NLĐ, của NLĐ với nhau và sự quan tâm của Nhà nước tới sự cống hiến cho lợi ích xã hội của NLĐ
* Bản chất pháp lý của BHXH:
Mối quan hệ các bên tham gia BHXH được quy định, điều chỉnh thông qua bộ luật BHXH, hoặc các văn bản BHXH dưới luật hoặc phần quy định về BHXH ở bộ luật khác, do đó nó ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm và quyền lợi và các bên có liên
Trang 30quan và ở đây trách nhiệm lớn nhất của NLĐ và của người SDLĐ là đóng phí
BHXH cho cơ quan BHXH, quyền lớn nhất của NLĐ là được chi trả BHXH khi có
sự cố theo quy định của pháp luật Vậy thực chất BHXH là bản cam kết giữa cơ
quan BHXH, người sử dụng lao động và NLĐ về trách nhiệm và quyền lợi của mỗi
bên thông qua các quy định của pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về BHXH
Chức năng của BHXH
Do tính chất đặc thù của mình BHXH không những có tính kinh tế mà còn
có tính xã hội rất cao Vì vậy, BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, BHXH bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia
bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc
làm Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và
cả cơ chế tổ chức hoạt động BHXH
Thứ hai, BHXH góp phần phân phối lại thu nhập BHXH tiến hành phân phối
và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Tham gia BHXH
không chỉ có NLĐ mà cả những người sử dụng lao động Các bên tham gia đều phải
đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số NLĐ tham gia khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp Như vậy, theo quy luật số đông
bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang
Phân phối lại giữa những NLĐ có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ
mạnh đang làm việc với những người ốm đau phải nghỉ việc… Thực hiện chức
năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thứ ba, BHXH kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái lao động
sản xuất Đối với NLĐ khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, NLĐ được chủ
SDLĐ trả lương hoặc tiền công Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về
già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của họ và
gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa Do đó, NLĐ yên tâm làm
việc và tích cực lao động sản xuất làm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả
Formatted: Font color: Auto
Trang 3118
kinh tế Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích NLĐ nâng cao
năng suất lao động và kéo theo là năng xuất lao động xã hội tăng lên
Thứ tư, BHXH phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích giữa người lao động và
người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội Thông qua BHXH, những
mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động… được
điều hoà và giải quyết Đặc biệt cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có
lợi và được bảo vệ Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với
nhau Đối với nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có
hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được những khó khăn về đời sống cho NLĐ và
gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được
phát triển an toàn hơn
Đối tượng của BHXH
Để có sự nhận biết đúng đắn, đầy đủ về một loại hình bảo hiểm nào đó, trước
hết chúng ta phải xem xét đến các khái niệm cơ bản của chúng như: đối tượng được
tham gia, đối tượng được bảo hiểm, đối tượng hưởng thụ quyền lợi bảo hiểm Đối
với BHXH việc nhận biết các đối tượng này không khó, tuy nhiên vẫn có nhiều
người nhầm lẫn giữa đối tượng và đối tượng tham gia BHXH, họ cho rằng đối
tượng của BHXH là NLĐ Thực ra trong BHXH thì đối tượng của nó chính là thu
nhập của NLĐ Bởi lẽ khi NLĐ gặp sự cố hoặc rủi ro thì họ bị giảm hoặc mất khả
năng lao động dẫn đến thu nhập bị giảm hoặc mất hẳn, do đó tại thời điểm họ mong
muốn có một khoản tiền nhất định để chi trả cho những nhu cầu thiết yếu cũng như
các nhu cầu mới phát sinh Cần phân biệt đối tượng của BHXH với đối tượng tham
gia BHXH, bởi vì hai định nghĩa này rất dễ nhầm lẫn Đối tượng tham gia BHXH là
NLĐ và người sử dụng lao động Tuy nhiên, tuỳ theo vào điều kiện phát triển kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc có thể là một bộ
phận những NLĐ nào đó Hầu hết các nước mới có chính sách BHXH đều thực hiện
BHXH đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công ăn lương Việt Nam
cũng không thoát khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng
giữa tất cả những NLĐ, làm việc ở tất cả mọi thành phần kinh tế
Formatted: Font color: Auto
Trang 32Xem xét mối quan hệ rằng buộc trong BHXH, ngoài NLĐ còn có người sử
dụng lao động (SDLĐ) và cơ quan BHXH dưới sự bảo trợ của Nhà nước Người
SDLĐ tham gia đóng góp vào BHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực và
tính ưu việt khi tham gia BHXH và là trách nhiệm của họ để BHXH cho NLĐ mà
họ đang sử dụng, một phần là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản
quy phạm pháp luật Đối với Nhà nước thì lại khác, họ tham gia BHXH với hai tư
cách là chủ SDLĐ đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởng lương
từ ngân sách Nhà nước; tư cách thứ hai là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể
là bảo hộ giá trị cho quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ, nhằm tạo sự ổn
định cho quỹ và sự ổn định về mặt chính trị xã hội Cơ quan BHXH nhận sự đóng
góp của NLĐ và NLĐ phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi
công việc về BHXH đối với NLĐ Mối quan hệ ràng buộc này là đặc trưng riêng có
của BHXH Nó quyết định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của BHXH một cách
bền vững
Hệ thống các chế độ BHXH
BHXH ra đời từ thế kỷ 13 ở Nam châu Âu - khi nền kinh tế hàng hóa bắt đầu
phát triển Nửa cuối thế kỷ 19 ở Đức và vài nước công nghiệp phát triển ở châu Âu
đã xuất hiện BHXH Những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, BHXH đã lan ra hầu hết
châu Âu và các nước Bắc Mỹ Đến sau chiến tranh thế giới lần thứ II, BHXH có
nhiều thay đổi về chất, phát triển phong phú đa dạng ở trên 100 nước trên thế giới
và được nhiều tổ chức quốc tế khác quan tâm
Lúc đầu các chế độ BHXH chỉ được thực hiện dưới dạng các quỹ ốm đau để
đề phòng khi mất thu nhập vì bệnh tật Dần dần đã mở rộng các chế độ BHXH
thành bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp, bảo hiểm bệnh tật và tuổi già Đến ngày
28/6/1952 hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế đã nhất trí tập hợp tất cả
các chế độ hiện có về BHXH của các nước trên thế giới thành một hệ thống bao
Trang 33Tại hội nghị này tổ chức lao động quốc tế đồng thời tuyên bố tuỳ theo điều
kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia mà thực hiện các chế độ BHXH nói trên
Nhưng bắt buộc phải thực hiện các chế độ sau:
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Chế độ trợ cấp sinh đẻ
- Chế độ trợ cấp cho những người còn sống
Theo số liệu thống kê ở 140 nước và khu vực trên thế giới cho thấy tính đến
năm 1993 có 33 nước thực hiện cả 9 chế độ, có 34 nước chưa thực hiện chế độ thứ
3, có 62 nước chưa thực hiện chế độ thứ 3 và thứ 6 Điều kiện và mức hưởng các
chế độ trợ cấp BHXH tuỳ theo sự thực hiện của mỗi nước do mỗi nước có nguyên
tắc, kinh tế chiết lý và chủ nghĩa khác nhau Công ước chỉ đề ra những tiêu chuẩn
tối thiểu để các quốc gia phê chuẩn và thực hiện
Quỹ BHXH
Quỹ BHXH là tổng hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia
BHXH, và phần sinh lời tăng trưởng tiền nhàn rỗi hình thành nên một quỹ tiền tệ
tập trung để chi trả cho những người được hưởng BHXH và gia đình họ khi họ bị
giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng,
nó vừa mang tính kinh tế , vừa mang tính xã hội rất cao, và là điều kiện hay cơ sở
vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của
tất cả những người tham gia BHXH với tổng dự trữ ít nhất giúp cho việc dàn trải rủi
Formatted: Font color: Auto
Trang 34ro được thực hiện theo cả hai chiều, không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm
tới mức thấp nhất những thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi
cho cả ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình người lao động
Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trước hết là sự đóng
góp của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước, đây là khoản thu
chính chiếm tỷ trọng lớn của quỹ BHXH Hai là được hình thành từ khoản thu từ
hoạt động tài chính của một phần nhàn rỗi của quỹ Thứ ba là phần thu từ nộp phạt
của những tổ chức và cá nhân vi phậm điều lệ về BHXH, ngoài ra còn có các khoản
thu khác như viện trợ của nước ngoài hợp tác về BHXH
Quỹ BHXH đảm nhận những khoản chủ yếu như trợ cấp theo các chế độ
BHXH (khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn), chi phí cho bộ máy hoạt động BHXH
(tiền lương của cán bộ nhân viên ngành BHXH, tiền đào tạo cán bộ )
Mức đóng góp của mỗi người vào quỹ BHXH gọi là phí BHXH Phí BHXH
có thể có nhiều loại tuỳ theo cách phân loại cụ thể theo quá trình lao động, phí
BHXH chia làm 2 loại: phí dài hạn và phí ngắn hạn
- Phí BHXH dài hạn tạo thành nguồn quỹ để chi trả trợ cấp BHXH dài hạn
như: hưu trí, mất sức lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Phí BHXH ngắn hạn tạo thành nguồn quỹ chi trả trợ cấp BHXH ngắn hạn
như thai sản, ốm đau và tai nạn lao động nhẹ
Quỹ BHXH được quản lý trong cơ chế cân bằng thu chi, phần quỹ nhàn rỗi
phải được đem đầu tư sinh lợi
1.2.1.3 Thu bảo hiểm xã hội
Khái niệm thu BHXH
Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng
phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng được tự
nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập
của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo
đảm cho các hoạt động BHXH (Giáo trình BHXH- NXBLĐ-XH)
- Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các
Formatted: Font color: Auto
Trang 35và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH Công tác thu BHXH có những vai trò chủ yếu sau:
- Thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung, thống nhất Thu các khoản đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ trung ương đến địa phương cùng với sự phối kết hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung
từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
- Thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ được tập trung về một mối, vừa đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi vậy, công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung, thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan, đơn vị cũng như của từng người lao động Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham gia BHXH để tạo lập nên quỹ BHXH Cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong việc thực hiện chính sách BHXH Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng của mình
Trang 36- Thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực
hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm
khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng, có hưởng đã đặt ra yêu cầu quy định
đối với công tác thu nộp quỹ BHXH Nếu không có thu BHXH thì quỹ không có
nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho người lao động Vậy hoạt động thu
BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách
BHXH Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then
chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động cũng như các
đơn vị, doanh nghiệp được hoạt động bình thường
Mục đích thu BHXH
Tạo lập quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của người sử dụng
lao động, người lao động và Nhà nước, nhà nước và thực hiện nguyên tắc hạch toán
cân đối thu chi và được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH được quản lý và sử dụng
theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ
BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước
- Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH
- Thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng, đảm bảo sự công bằng giữa cống
hiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ chính
sách BHXH
1.2.2 Một số vấn đề lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.2.1 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội
Xuất phát từ khái niệm của quản lý: "Quản lý là sự tác động có tổ chức có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra
"[43, tr.11] Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục
tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng
quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp
và có tính bắt buộc Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều
cấp độ, nhiều mối liên hệ với nhau Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao
gồm cả quản lý các đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Justified, Indent: First line: 1 cm
Formatted: Font color: Auto
Trang 3724
quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng
Khi nói đến quản lý thu BHXH là nói đến một loạt quan hệ, bao gồm quan
hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan BHXH Trong mối quan hệ trên đây, thì người lao động, người sử dụng lao động là đối tư-ợng quản lý; Nhà nước giao cho cơ quan BHXH chủ thể quản lý; Nhà nước là chủ thể duy nhất điều tiết và quản lý BHXH, vì các bên tham gia có lợi ích khác nhau thậm chí trái ngược nhau (người lao động muốn đóng ít nhưng lại muốn được hư-ởng thụ quyền lợi nhiều, người sử dụng lao động muốn đóng BHXH càng ít càng tốt để giảm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận) Nhà nước với hai tư cách:
Một là, thông qua cơ quan lập pháp (Quốc hội) đề ra Luật BHXH, thông qua
Chính phủ đề ra các quy định về BHXH;
Hai là, thông qua các cơ quan nhà nước để thực hiện nộp BHXH cho người
lao động hưởng lương từ Ngân sách nhà nước và thành lập cơ quan chuyên trách (BHXH Việt Nam) thực hiện chính sách BHXH Để quản lý thu BHXH đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, cơ quan BHXH phải xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp với các cơ quan hữu trách và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung ương đến cấp huyện, thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín Như vậy, trong quản lý thu BHXH, mối quan hệ ba bên là người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH được xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên do pháp luật về BHXH quy định, các quy định này là những căn cứ pháp lý mà mỗi bên phải tuân thủ, thực hiện nghiêm túc Mặt khác để thu đúng, đủ, kịp thời, không để thất thoát tiền thu, đòi hỏi cơ quan BHXH phải có phương pháp và biện pháp hữu hiệu, kể các các biện pháp hỗ trợ "thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu bảo hiểm xã hội" [58, tr.5] và "Quản lý thu BHXH là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt được mục
tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phương pháp nhất định" [59, tr.19]
Trang 38Từ phân tích trên, về quản lý thu BHXH, theo tác giả được hiểu như sau: Quản
lý thu BHXH là sự tác động của Nhà nước thông qua các quy định mang tính pháp
lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ thực hiện; trong đó cơ quan BHXH sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và các phương pháp đặc thù tác động trực tiếp vào đối tượng đóng BHXH để đạt mục tiêu đề ra
1.2.2.2 Cơ sở pháp lý thực hiện quản lý thu BHXH của Việt nam
Ngày 26/1/1995, Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số
12CP, trong đó quy định rõ về đối tượng tham gia BHXH và tỷ lệ thu BHXH như: Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng phải áp dụng các chế
độ BHXH theo quy định Với tỷ lệ thu BHXH là 20%, trong đó người sự dụng lao động 15% tổng quỹ tiền lương, người lao động 5% tiền lương tháng Theo đó, Bộ Tài chính có Thông tư số 58/TT-BTC hướng dẫn quy định tạm thời về tài chính BHXH, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, quy trình quản lý thu BHXH Mặt khác, để phù hợp với tình hình kinh tế phát triển của đất nước Chính phủ tiếp tục quy định đối tượng lao động hợp tác có thời hạn ở nước ngoài theo quy định tại nghị định số 152/2000/NĐ-CP; Các chức danh thuộc xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 09/2008/NĐ-CP ngày 03/01/1998; người lao động làm việc tại các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao theo quy định tại Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999… Ngày 09/01/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP đã quy định đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc được mở rộng đến các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tô hợp tác; người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 03 tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật hợp tác xã và các ngành sự nghiệp khác; các tổ chức khác có sử dụng lao động Ngày 29/6/2006 Quốc hội khóa 11 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật BHXH Đây là cơ sở pháp lý cơ bản và hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh về quản lý thu, nộp BHXH trong hoạt động BHXH Việt Nam Gấn đây nhất là Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày
Trang 3926
22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020
1.2.2.3 Vai trò của quản lý thu BHXH:
Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH
Hoạt động thu BHXH có tính chất đặc thù khác với các hoạt động khác, đó là:
Đối tượng thu BHXH rất đa dạng và phức tạp do đối tượng tham gia BHXH bao
gồm ở tất cả các ngành nghề khác với nhiều độ tuổ khác, mức thu nhập khác …
thêm nữa họ rất khác về địa lý, vùng miền cho nên nếu không có sự chỉ đạo thống
nhất thì hoạt động thu BHXH sẽ không đạt kết quả cao Chính nhờ có yếu tố quản
lý đã tạo sự thống nhất ý chí trong hệ thống BHXH bao gồm các cấp trong quá trình
tổ chức thực hiện thu BHXH Sự thống nhất trong những người bị quản lý với nhau
và trong những người bị quản lý và người quản lý Chỉ có tạo nên sự thống nhất đa
dạng thì quản lý mới có kết quả và mới giảm chi phí tiền của và công sức Quản lý
thu BHXH thông qua công tác lập kế hoạch cũng đã quy định rõ sự phân công trách
nhiệm thu BHXH cho các cấp trong hệ thống BHXH, tuy nhiên, để hoạt động thu
được thống nhất, rất cần có sự hợp tác trong các bộ phận tài chính, bộ phận tuyên
truyền, hệ thống ngân hàng… Như vậy, chính thống qua hoạt động quản lý đã thống
nhất được các nội dung quan trọng của hoạt động thu BHXH đó là: Thống nhất về
đối tượng thu, thống nhất về biểu mẫu, hồ sơ thu, quy trình thu, nộp BHXH
Đảm bảo hoạt động thu BHXH bền vững, hiệu quả
Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là những mục tiêu
mà bất kỳ một hệ thống BHXH của quốc gia nào cũng mong muốn đạt được Bởi vì,
khi mục tiêu này đạt được cũng có nghĩa hệ thống an sinh xã hội được đảm bảo đây
là điều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế Song những mục tiêu này chỉ đạt được
khi:
- Hoạt động thu BHXH được định hướng một cách đúng đắn, phù hợp với
điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ
- Thông qua quá trình quản lý đã định hướng công tác thu BHXH
- Cơ sở xác định mục tiêu chung ở hoạt động thu BHXH, đó là thu đúng, thu
Formatted: Font color: Auto
Trang 40đủ, không để thất thu, từ đó hướng mọi nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu
chung đó
- Hoạt động thu BHXH được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức
Kiểm tra, đánh giá hoạt động thu BHXH
Thu BHXH là một nội dung của tài chính BHXH, mà thông thường bất kỳ
hoạt động nào liên quan đến tài chính đều dễ mắc phải tình trạng gây thất thoát, vô
ý hoặc cố ý làm sai Vì vậy, với nhiệm vụ mà người quản lý phải đảm bảo đó là:
Kiểm tra hoạt động thu BHXH đã được đánh giá hoạt động một cách kịp thời và
toàn diện Nhờ có hoạt động quản lý sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn
được sát thực tiễn với quá trình thu, hoạt động thu sẽ được điều chỉnh kịp thời sau
khi có sự đánh giá
1.2.2.4 Mục tiêu quản lý thu BHXH
Thứ nhất, đảm bảo cho yếu tố "đầu vào" (tiền nộp BHXH) đủ khả năng thực
hiện quá trình tái sản xuất xã hội, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mới đảm
bảo chi trả chế độ cho người lao động, góp phần ổn định đời sống của người lao
động trong quá trình lao động không may bị rủi ro, nghỉ hưu, cũng như khi về già
Thứ hai, xác lập rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH, đó là:
người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH; phân định rõ chức năng
quản lý nhà nước với chức năng hoạt động sự nghiệp của BHXH
Thứ ba, không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thu BHXH
được sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHXH liên tục tăng
trưởng
Thứ tư, đảm bảo cho các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêm túc,
hiệu quả, khắc phục được tính bình quân nhưng vẫn bảo đảm tính xã hội thông qua
việc điều tiết, chia sẻ rủi ro Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, quản lý thu
BHXH lại càng có ý nghĩa sâu sắc trong việc phòng ngừa, ngăn chặn những lạm
dụng của người sử dụng lao động với nguời lao động nhất là việc thuê mướn, sử
dụng, trả tiền lương, tiền công bất bình đẳng
Formatted: Font color: Auto