Tuy nhiên, việc phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, nhất là khu vực ngoài quốc doanh tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, công tác tuyên truyền về chính sách BHXH còn hạn chế, công tác
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LƯƠNG DUY TÌNH
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ
HỘI HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Đức
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lương Duy Tình
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn BHXH tỉnh, Phòng Quản lý thu BHXH, Phòng Khai thác và thu nợ BHXH tỉnh, Huyện ủy, UBND huyện Sông Lô, BHXH huyện Sông Lô cùng Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ BHXH huyện, các đơn vị doanh nghiệp, cán bộ quản lý nhân sự các công ty, các Hộ kinh doanh cá thể, người lao động tham gia BHXH trên địa bàn huyện Sông Lô đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tôi xin được cảm ơn tất cả bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình làm luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lương Duy Tình
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ viii
Danh mục hình viii
Danh mục hộp viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abtract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của luận văn 3
1.4.1 Về lý luận 3
1.4.2 Về thực tiễn 3
1.5 Bố cục các nội dung của luận văn 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 5
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 5
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý thu BHXH bắt buộc 5
2.1.2 Vai trò và mục tiêu của quản lý thu bảo hiểm xã hội 8
2.1.3 Đặc điểm quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 11
2.1.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 11
2.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 23
2.2 Cơ sở thực tiễn quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 26
Trang 52.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội băt buộc ở một số nước trên
thế giới 26
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam 28
2.3 Một số bài học kinh nghiệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc cho huyện Sông Lô 34
2.3.1 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số nước trên Thế giới 34
2.3.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 35
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 37
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Vài nét về huyện Sông Lô 37
3.1.2 Vài nét về Bảo hiểm xã hội huyện Sông Lô 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 48
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 48
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 49
3.2.3 Phương pháp tổng hợp phân tích thông tin 50
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 51
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 53
4.1 Thực trạng quản lý thu bhxh bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 53
4.1.1 Thực trạng quản lý thu BHXH bắt bộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 53
4.1.2 Tình hình quản lý đối tượng tham gia BHXH 54
4.1.3 Lập kế hoạch thu 60
4.1.4 Tình hình quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 62
4.1.5 Tình hình quản lý nguồn thu bảo hiểm xã hội 63
4.1.6 Tình hình nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội 64
4.1.7 Tình hình kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện thu, nộp BHXH 67
4.1.8 Kết quả thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện 71
4.1.9 Đánh giá chung về quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh 73
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc tại bảo hiểm xã hội huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2014 - 2016 86
Trang 64.2.1 Nhận thức của đối tượng tham gia BHXH 86
4.2.2 Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 88
4.2.3 Qui mô doanh nghiệp 89
4.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền 90
4.2.5 Tổ chức bộ phận quản lý thu BHXH 91
4.3 Các giải pháp quản lý thu BHXH bắt buộc tại bảo hiểm xã hội huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 92
4.3.1 Căn cứ pháp lý đề xuất giải pháp 92
4.3.2 Giải pháp nâng cao công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô 95
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 105
5.1 Kết luận 105
5.2 Kiến nghị 106
5.2.1 Kiến nghị với Nhà nước 106
5.2.2 Kiến nghị với cấp uỷ, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc 107
5.2.3 Kiến nghị với BHXH tỉnh Vĩnh Phúc 108
5.2.4 Kiến nghị với Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Sông Lô 108
Tài liệu tham khảo 109
Phụ lục 112
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê diện tích đất đai của huyện Sông Lô 39
Bảng 3.2 Kết quả sản xuất các ngành kinh tế và cơ cấu kinh tế của huyện Sông Lô qua 3 năm (2014- 2016) 41
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Sông Lô qua 3 năm 2014- 2016 43
Bảng 3.4 Trình độ cán bộ BHXH huyện Sông Lô giai đoạn 2014 – 2016 45
Bảng 3.5 Đối tượng và số lượng mẫu điều tra 50
Bảng 4.1 Số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện giai đoạn 2014-2016 55
Bảng 4.2 Số lao động tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện giai đoạn 2014 - 2016 58
Bảng 4.3 Dự toán thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2016 61
Bảng 4.4 Tổng hợp quỹ lương, mức lương đóng BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện giai đoạn 2014-2016 62
Bảng 4.5 Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2014 - 2016 64
Bảng 4.6 Tình hình nợ đọng BHXH của từng khối tham gia BHXH từ 2014-2016 66
Bảng 4.7 Thực hiện kiểm tra của BHXH huyện năm 2016 68
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra của BHXH huyện năm 2016 69
Bảng 4.9 Kết quả thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô 2014-2016 72
Bảng 4.10 Tình hình trốn đóng BHXH khối DNNQD từ năm 2014-2016 79
Bảng 4.11 Số lao động tham gia theo khối loại hình năm 2016 79
Bảng 4.12 Tổng hợp mức lương tối thiểu vùng qua từng thời kỳ (2008-2016) 81
Bảng 4.13 Lãi suất chậm đóng bảo hiểm xã hội và lãi suất cho vay của Ngân hàng BIBV năm 2014 – 2016 83
Bảng 4.16 Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của chủ sử dụng lao động về pháp luật BHXH đối với 40 DN điều tra 87
Bảng 4.17 Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của chủ sử dụng lao động về mức đóng BHXH đối với 40 DN điều tra 88
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp thu nhập bình quân của người lao động tại 40 DN điều tra 89
Bảng 4.14 Bảng tổng hợp điều tra số lao động tại 40 DN điều tra 89
Bảng 4.15 Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực hiện Luật BHXH tại 40 DN điều tra 91
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của BHXH huyện Sông Lô 45
DANH MỤC HÌNH Sơ đồ 3 1 Bộ máy tổ chức của BHXH huyện Sông Lô 45
Hình 4.1 Số đơn vị tham gia BHXH giai đoạn 2014-2016 56
Hình 4.2 Số lao động tham gia BHXH giai đoạn 2014-2016 59
Hình 4.3 Tình hình nợ đọng BHXH giai đoạn 2014-2016 65
Hình 4.4 Tình hình nợ động của từng khối tham gia BHXH giai đoạn 2014 - 2016 66
DANH MỤC HỘP Hộp 4.1 Tình hình nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội 67
Hộp 4.2 Tình hình thực hiện công tác kiểm tra trên địa bàn huyện Sông Lô 71
Hộp 4.3 Nhận thức của người lao động về chính sách BHXH 88
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác gi ả: Lương Duy Tình
Tên lu ận văn: “Quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Sông Lô, tỉnh
Vĩnh Phúc”
Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Sông Lô là huyện miền núi, những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, vấn đề chính sách xã hội luôn được Đảng và chính quyền địa phương rất quan tâm, trong đó chính sách BHXH được các cơ quan chức năng tiến hành triển khai, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện kịp thời tới các đơn vị sử dụng lao động, người lao động Tuy nhiên, việc phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, nhất là khu vực ngoài quốc doanh tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, công tác tuyên truyền về chính sách BHXH còn hạn chế, công tác quản lý còn chưa chặt chẽ, cơ chế phối hợp thực hiện Luật BHXH còn nhiều bất cập, chế tài xử phạt đã có nhưng chưa đủ mạnh, mức phạt còn quá nhẹ, tính cưỡng chế của Pháp luật chưa nghiêm, các chủ sử dụng lao động cố tìm cách trốn đóng BHXH, lạm dụng tiền BHXH để làm vốn sản xuất kinh doanh, về phía người lao động cũng chưa hiểu đúng về chế độ Bảo hiểm xã hội khi bị trích một phần tiền lương thì không muốn, bên cạnh
đó do áp lực về việc làm nên không giám đấu tranh đòi hỏi quyền lợi tham gia BHXH, BHYT, BHTN Để có cái nhìn một cách hệ thống trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện, những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH thời gian qua ở huyện Sông Lô và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thu BHXH ở huyện Sông Lô trong thời gian tới, là người trực tiếp làm công tác
quản lý thu BHXH ở huyện, từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài “Quản lý thu Bảo hiểm
xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn Thạc sĩ
Mục tiêu nghiên cứu chính là đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luộn và thực tiễn về quản lý thu BHXH bắt buộc Chủ thể nghiên cứu là các đơn vị, doanh nghiệp, người lao động đang tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Nghiên cứu đã bàn luận những khái niệm về quản lý thu BHXH bắt buộc, vai trò và mục tiêu của quản lý thu BHXH Nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của quản lý thu BHXH Nội dung mà đề tài nghiên cứu là quản lý thu BHXH bắt buộc thông qua các căn cứ pháp lý thu BHXH bắt buộc, tổ chức quản lý thu BHXH bắt buộc, quản lý đối tượng thu BHXH bắt buộc, công tác lập kế hoạch, quản lý tỉ lệ thu, quản lý tiền thu, công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý thu BHXH, kết quả thu BHXH bắt buộc Các nhân tố ảnh
Trang 11hưởng đến kết quả thu BHXH bắt buộc, gồm: chính sách về tiền lương và chính sách về BHXH bắt buộc, nhận thức, thói quen của người lao động, chủ sử dụng lao động, công tác thông tin tuyên truyền, sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền, chính sách lao động và việc làm, công tác tổ chức thực hiện BHXH, tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Địa bàn nghiên cứu là huyện Sông Lô, có các đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh
tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH Để tiến hành phân tích, đề tài sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu; phương pháp thu thập thông tin; hệ thống các chỉ tiêu, nghiên cứu đã sử dụng hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu: Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương; Nhóm chỉ tiêu phản ánh công tác thu BHXH; Nhóm chỉ tiêu
phản ánh nguyên nhân
Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc qua các năm 2014-2016 trên địa bàn huyện Sông Lô cho thấy số lượng các đơn vị và lao động tham gia BHXH có xu hướng tăng lên làm gia tăng số thu BHXH trên toàn huyện, năm 2014
số thu 36.303 triệu đồng, đến 2016 số thu 46.370 triệu đồng, tăng bình quân 113.05%
Số đơn vị tham gia BHXH tăng nhanh theo các năm đã cho thấy công tác khai thác, phát triển, mở rộng đối tượng của BHXH huyện Sông Lô thực hiện khá hiệu quả, năm 2014
có 133 đơn vị, đến 2016 là 174 đơn vị Tuy nhiên, việc thi hành Luật BHXH còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn ở mức thấp, đang tồn tại đó là: Nhận thức của người SDLĐ và NLĐ
về chính sách BHXH và trách nhiệm thực hiện pháp luật BHXH còn thấp, công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH đã có chuyển biến tích cực nhưng chưa xứng với tiềm năng, hiện trên địa bàn huyện có 4.260/5.997 lao động tham gia BHXH, bằng 71.04% Tình trạng chủ Doanh nghiệp tìm đủ mọi cách trốn tránh tham gia BHXH cho NLĐ, hiện chỉ có 55/115 đơn vị doanh nghiệp tham gia BHXH cho người lao động, bằng 47.826%, tỷ lệ nợ đọng bình quan hàng năm là 1.3%
Các yếu tố như nhận thức về BHXH của người sử dụng lao động và người lao động còn hạn chế, mặt khác một số doanh nghiệp chưa quan tâm đến quyền lợi và nghĩa
vụ tham gia BHXH Chế tài quy định về xử phạt vi phạm về BHXH chưa chặt chẽ, chưa nghiêm Công tác thanh, kiểm tra trong lĩnh vực BHXH còn ít và chưa thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, hiệu quả thấp, xử lý chưa dứt điểm, dẫn đến không giải quyết tận gốc các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH bộ lộ nhiều yếu kém
Để công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện đạt kết quả tốt cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: (1) Tăng cường công tác công tác thông tin tuyên truyền chính sách BHXH bắt buộc; (2) mở rộng, phát triển đối tượng tham gia; (3) Hoàn thiện và nâng cao khả năng làm việc của đội ngũ cán bộ thu; (4) khắc phục nợ đọng tiền đóng BHXH; (5) tăng cường thanh tra, kiểm tra; (6)tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; (7) đẩy mạnh ứng dụng công nghê thông tin trong quản lý thu BHXH
Trang 12THESIS ABTRACT
Master candidate: Luong Duy Tinh
Thesis title: “Management of collecting compulsory social insuranceat Social security office of Song Lo district, Vinh Phuc province”
Educational Institution: Vietnam National University of Agriculture
Song Lo is a mountainous district, in recently, along with the socio-economic development, social policies have always been lured attention of the communist party and local authorities The social insurance policy has been guiding, organizing, implementingto employees and employerstimely However, the development of the participantsof compulsory social insurance, especially in the non-state sectorwasat low rate; the propaganda on social insurance policy was not sufficient(many employees did not want to pay part of their salary for contributing to social insurance fund, while some others did not dare to ask for the entitlement of the social insurance due to the pressure
of losing the job); the management mechanism is still not tight, the mechanism to coordinate the implementation of the Law on social insurance still many inadequacies (sanctions have been not strong enough, the penalty is too light, the enforcement of the law is not strict, many employers have trying to evade social insurance money and turn
it into capital for their business) In order to have a systematic view on the current situation ofmanagement of compulsory social insurance collection inSong Lo district, I chose to study the thesis titled: "Management of collecting compulsory social insurance
at Social security office of Song Lo district, Vinh Phuc province"
The objectives of the study were to assess the current situation of management
of compulsory social insurance collection at social security office in Song Lo district, Vinh Phuc province; on that basis, to propose solutions to improve the management of collecting compulsory social insurance in the coming years The research subjectswere the practical and practical issues of collecting compulsory social insurance management Research objectswere institutions, enterprises and employees who were participating in compulsory social insurance in Song Lo district, Vinh Phuc province
The study reviewed the concepts of compulsory social insurance management, the role and objectives of collecting social insurance management Research has identified the basic characteristics of social insurance collection management The research has been applied the theorical framework includings the legal base of management of collecting; implementation of collecting compulsory social insurance, management of the participants in collecting compulsory social insurance, planning,
Trang 13revenue management, inspection of social insurance collection, results of collecting compulsory social insurance Factors influencing the results of collecting compulsory social insurance has also been addressed including wage policy and compulsory social insurance policy, perception and habits of employees, employers, information publication and propaganda, the effort of the Party committees and authorities, labor and employment policies, the implementation of social insurance, economic growth rate and incomeper capita
The study area is Song Lo district, where natural characteristics and economic conditions are relevant to the management of collecting the social insurance
socio-To conduct the analysis, the author had applied the study site selection method; information collection method; system of research indicators including group of indicators reflecting the current socio-economics situation of the district; group of indicators of the collection of social insurance
The analysis and assessment of the situation of collection compulsory social insurance management in period from 2014 to 2016 in Song Lo district has shown that the number of employers and employees participating in social insurance tended to increase thus led to the increase of the insurance revenue In 2014, the district social insurance collected a revenue of 36,303 million VND, then in 2016 the revenue was 46,370 million VND, reflected to an development rate of 113.05% annually The number of entities participating in social insurance increased rapidly thank to the work
of exploitation, development and expansion of social insurance participant in Song Lo district, in 2014 there were 133 employers, but in 2016 that number increased up to 174 However, the implementation of the Law on Social Insurance also revealed many limitations The awareness of employers and laborers about social insurance policy and responsibility for implementation of social insurance law is not sufficient;the development of participants in social insurance has changed positively but not commensurate with the potential, currently in the district there were 4.260 in total of 5.997 employees already participated in social insurance, accounted for 71.04% The situation that enterprises owners have finding all ways to avoid paying social insurance premium for employees were still popular The inspection result revealed that only 55 in total of 115 enterprises contributed to social insurance premium for workers, accounted for 47.826%, but the average annual debt was about 1.3%
That situation above was dued to the limited awareness of social insurance of employers and workers, on the other hand some enterprises have not paid attention to the rights and obligations to participate in social insurance The sanctioning regulations
on violations of social insurance was not strict Inspection and checking in the field of social insurance was not implemented regularly, not met the tasks requirements, low
Trang 14efficiency, not handled definitely thus led to not solving the root of the violation of the law on social insurance
In order to ensure the effective management of collecting the compulsory social insurance in the district, the following measures should be implemented: (1) strengthening information and propagandainitiaties on compulsory social insurance; (2) expanding and developing the participants; (3) improving and enhancing the ability of the social security collecting staffs; (4) remedying debts owed to social insurance office; (5) intensifying inspections; (6) further reforming of administrative procedures; (7) promoting the application of information technology in management
of social insurance collection
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
Nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội được coi là xương sống của hệ thống Bảo hiểm
xã hội, Qũy Bảo hiểm xã hội là cơ sở quan trọng và quyết định mọi hoạt động của
cơ quan Bảo hiểm xã hội Bởi vậy, Quản lý thu tốt sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội đồng thời tạo lập nguồn quỹ để chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội cho người lao động Thực tiễn công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Việt Nam nói chung và Bảo hiểm xã hội các tỉnh, địa phương nói riêng, trong thời gian qua mặc dù chính sách Bảo hiểm xã hội đã được sửa đổi, bổ sung nhiều, quy trình tổ chức thực hiện thu Bảo hiểm xã hội đã có nhiều cải cách, cải tiến rõ rệt, song kết quả thu Bảo hiểm xã hội chưa thực sự cao, chưa tương xứng với tiềm năng, cần phải có sự nỗ lực hơn nữa
Sông Lô là huyện miền núi mới được thành lập tháng 4 năm 2009 theo nghị định số 09/2008/NĐ-CP ngày 23/12/2008 về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch thành lập huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Trung tâm huyện cách thành phố Vĩnh Yên khoảng 23 km và cách thủ đô Hà Nội 71km Những năm qua, cùng với sự phát triển, hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của tỉnh, với vị trí địa lý thuận lợi, Sông Lô được xác định là vùng trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội phía Tây của tỉnh Vĩnh Phúc, là điểm dừng chân lý tưởng để các đơn vị, doanh nghiệp đặt trụ sở, nhà máy, các khu công nghiệp sản xuất Đó cũng là điều kiện thuận lợi cho công tác thu Bảo hiểm xã hội trong thời gian tới, đồng thời cũng là khó khăn, thách thức không nhỏ đối với công tác quản lý thu BHXH và quản lý đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn huyện
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, vấn đề chính sách xã hội luôn được Đảng và chính quyền địa phương rất quan tâm, trong
đó chính sách BHXH được các cơ quan chức năng tiến hành triển khai, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện kịp thời tới các đơn vị sử dụng lao động, người lao động Do vậy, số đơn vị, số người tham gia, số thu BHXH ngày một tăng, nếu như năm đầu thành lập huyện 2009 có 122 đơn vị, với 1.994 lao động tham gia BHXH, tổng thu BHXH đạt gần 11,5 tỷ đồng, thì đến hết năm 2016, tổng số đơn
vị tham gia BHXH đã lên tới 174 đơn vị với 4.260 lao động, tổng thu BHXH đạt trên 66 tỷ đồng Tuy nhiên, việc phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, nhất là khu vực ngoài quốc doanh tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, hiện toàn
Trang 16huyện có 71.03 % lao động tham gia BHXH, trong đó khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ có 32.1% lao động tham gia; Tỉ lệ nợ đọng, chậm đóng BHXH còn cao trên 1,2%; công tác tuyên truyền về chính sách BHXH còn hạn chế nên một bộ phận người lao động chưa nắm bắt, chưa hiểu được bản chất tốt đẹp, tính nhân văn, chia sẻ của chính sách BHXH, công tác quản lý còn chưa chặt chẽ; cơ chế phối hợp thực hiện Luật BHXH nói chung, trong quản lý đối tượng thuộc diện phải tham gia BHXH theo Luật nói riêng còn nhiều bất cập; chế tài xử phạt
đã có, nhưng chưa đủ mạnh, mức phạt còn quá nhẹ, tính cưỡng chế của Pháp luật chưa nghiêm Do đó, các chủ sử dụng lao động cố tìm cách trốn đóng Bảo hiểm
xã hội nhất là các đơn vị mới thành lập, lạm dụng tiền Bảo hiểm xã hội để làm vốn sản xuất kinh doanh, về phía người lao động cũng chưa hiểu đúng về chế độ Bảo hiểm xã hội khi bị trích một phần tiền lương thì không muốn, nên không yêu cầu chủ doanh nghiệp tham gia, bên cạnh đó do áp lực về việc làm nên không giám đấu tranh đòi hỏi quyền lợi tham gia BHXH, BHYT, BHTN Để có cái nhìn một cách hệ thống về thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô thời gian qua như thế nào, Kết quả đạt được là gì? Có những bất cập nào? những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH, yếu tố nào mang tính chất quyết định? Những giải pháp nào cần đề xuất nhằm nâng cao công tác quản lý thu BHXH ở huyện Sông Lô trong thời gian tới?
Là người trực tiếp làm công tác quản lý thu BHXH ở huyện, từ những lý
do trên nên tôi chọn đề tài “Quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn Thạc sĩ
Đánh giá thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Đánh giá thực trạng về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trang 17- Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luộn và thực tiễn về quản lý thu BHXH bắt buộc
- Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị, doanh nghiệp, người lao động đang tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
quản lý thu BHXH bắt buộc, không đề cập đến các loại thu khác
huyện Sông Lô
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thực hiện dựa vào tài liệu có liên quan đến
nội dung nghiên cứu thu thập từ năm 2014 đến năm 2016 Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc từ nay đến năm 2020 Trong đó:
Dữ liệu thứ cấp thu thập tập trung trong 3 năm gần đây (2014, 2015, 2016)
Dữ liệu sơ cấp thu thập vào 02 năm (2016, 2017)
Hệ thống hóa lý luận về quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, góp phần cung cấp căn cứ khoa học cho cấp uỷ, chính quyền huyện hoạch định chủ trương, chính sách nhằm nâng cao quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn
Giải pháp mà luận văn đề xuất có ý nghĩa thực tiễn quan trọng góp phần nâng cao quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới
Luận văn được kết cấu thành 5 phần
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
"Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra" (Hồ Văn Vĩnh, 2002)
Quản lý diễn ra trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người khi có nhiều người liên kết, hợp tác với nhau, diễn ra trên nhiều cấp độ khác nhau, được vận dụng từ khái niệm chung về quản lý Đối với hoạt động BHXH nói chung và hoạt động thu BHXH nói riêng cũng cần có quản lý
Để tồn tại và phát triển con người phải lao động Lao động tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của con người Sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người càng được nâng cao Do đó, việc thỏa mãn nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào khả năng lao động của họ Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi để có thu nhập và các điều kiện sống bình thường Ngược lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ngẫu nhiên phát sinh làm cho giảm, hoặc mất thu nhập và các điều kiện phát sinh khác như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm hay khi tuổi già… Khi gặp phải những rủi ro đó, thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất, không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, mà cả gia đình họ
cũng vậy, từ đó gây bất ổn đến xã hội
Bởi vậy, để tồn tại và phát triển ổn định, con người phải tìm ra cách giải quyết các vấn đề trên Sự tương trợ cộng đồng dần được hình thành, mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc hiện vật để trợ giúp nhau Các hình thức trợ giúp tự nguyện của cá nhân, của cộng đồng đã góp phần bảo đảm nguồn vật chất cần thiết đối với những người gặp rủi ro Đây là tiền đề hình thành bảo hiểm xã hội Khi nền kinh
tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn lao động diễn ra phổ biến, làm cho mối quan hệ kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động càng phức tạp
Trang 20hơn Ngoài thu nhập từ tiền công, người lao động không có bất kỳ thu nhập nào khác, cuộc sống của họ phụ thuộc vào tiền công Vì vậy, khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn… họ gặp rất nhiều khó khăn, không tự trang trải trong khi họ không nhận được tiền công, tiền lương hay bất kỳ sự trợ giúp nào khi phải nghỉ việc Thực tế
đó dẫn đến việc người lao động đấu tranh buộc người sử dụng phải cam kết trả lương khi họ nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn, sinh đẻ và khi hết tuổi lao động Đối với người sử dụng lao động, do đòi hỏi của người lao động sẽ làm phát sinh chi phí là tiền công cho người lao động khi họ gặp rủi ro Điều này ngoài mong muốn của người sử dụng lao động Mâu thuẫn này càng gay gắt hơn khi người lao động tiến hành đấu tranh quyết liệt, thường xuyên, buộc người sử dụng phải thực hiện yêu cầu của họ Chính điều này đã tác động to lớn đến đời sống kinh tế,
xã hội Trước tình hình đó, Nhà nước đã có những biện pháp can thiệp nhằm ổn định tình hình, trong đó phải kể đến biện pháp hình thành quỹ tài chính tập trung
có sự tham gia đóng góp của các bên Trong đó Nhà nước quy định:
Thứ nhất, hàng tháng, người lao động và người sử dụng lao động phải
đóng góp một khoản tiền nhất định Khoản tiền này được tính toán trên cơ sở xác xuất rủi ro của người lao động và tiền công, tiền lương mà người sử dụng lao
động trả cho người lao động
Thứ hai, số tiền đóng góp của người lao động và người người sử dụng lao
động hình thành nên một quỹ tài chính tập trung Ngoài tiền đóng góp của người
lao động và người người sử dụng lao động, quỹ này còn được Nhà nước hỗ trợ
Thứ ba, khi người lao động gặp rủi ro, họ sẽ được hỗ trợ từ quỹ tài chính
này Nhờ vậy mà thu nhập của người lao động ổn định hơn, cuộc sống của bản
thân họ cũng như gia đình họ được đảm bảo tốt hơn
Những hoạt động bao gồm các mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đây được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH ra đời và phát triển là tất yếu khách quan, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH Do đó BHXH ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia Và trên thực tế BHXH đã trở thành quyền lợi và nhu cầu
không thể thiếu của người lao động
Vậy BHXH là gì? Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Bảo hiểm xã hội là
sự đảm bảo, thay thế hay bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất, hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
Trang 21nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất… dựa trên cơ sở quỹ tài chính được
Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ mà
xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế
và trợ cấp cho các gia đình đông con
Ở Việt Nam, theo Luật BHXH thì BHXH Là sự bảo đảm thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội
Tuy nhiên, dưới các góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau, sẽ
có những quan niệm khác nhau về BHXH như:
Từ góc độ pháp luật, thì BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn
lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu), hoặc chết
Từ góc độ chính sách xã hội, thì BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Bảo hiểm xã hội có hai hình thức tham gia là BHXH bắt buộc và BHXH
tự nguyện Cả hai hình thức đều được sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, sự kiện bảo hiểm làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH Tuy nhiên đối với BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia theo quy định (Quốc hội, 2014)
Trang 222.1.1.4 Khái ni ệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Quan niệm về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức phí quy định Trên cơ
sở đó hình thành, tạo lập một quỹ tiền tệ nhằm mục đích bảo đảm cho việc chi trả các chế độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH (Trần Văn Định, 2015)
* Khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội:
Trước khi đi đến khái niệm công tác quản lý thu BHXH cần phải hiểu thế nào là quản lý? Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý Nhưng xét về mặt bản chất, quản lý chính là sự tác động có kế hoạch, sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, kiểm tra các chủ thể quản lý, các quá trình xã hội và hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ chức và đúng với ý chí của nhà nước quản lý với chi phí thấp nhất
Quản lý thu BHXH là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý để điều chỉnh các hoạt động thu Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống các biện pháp hành chính, kinh tế và pháp luật nhằm đạt được mục tiêu thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và không để thất thu tiền đóng BHXH, đảm bảo thời gian theo quy định
Quản lý thu BHXH là quy trình thu của cơ quan BHXH, xác nhận chính xác số lao động, số tiền phải thu, số tiền đã thu, số tiền lãi chậm nộp, tiền lãi truy thu, số tiền nợ, số tiền nộp thừa của người sử dụng lao động; thời gian nộp, mức tiền lương, tiền công nộp BHXH của người lao động, đồng thời xác nhận việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH của cơ quan BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người tham gia BHXH từng thời điểm và theo yêu cầu quản lý Tình hình chấp hành các nguyên tắc, quy định của Nhà nước về thu BHXH và một số nội dung khác
Quản lý thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý,
chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu BHXH (Trần Văn Định, 2015)
Quản lý thu BHXH tốt sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng quỹ
Trang 23BHXH đồng thời tạo lập nguồn quỹ để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động Nguồn quỹ BHXH được coi là xương sống của hệ thống BHXH Quỹ
BHXH là cơ sở quan trọng, quyết định mọi hoạt động của cơ quan BHXH
Trong quản lý thu BHXH liên quan đến hầu hết các hoạt động xã hội và các hoạt động kinh tế, có phạm vi hoạt động rộng, quy mô lớn, có liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của số đông người trong cộng đồng xã hội Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì lợi ích của các bên tham gia vào hoạt động BHXH cũng rất khác nhau Chủ sử dụng lao động vì lợi nhuận thường muốn đóng góp càng ít càng tốt, thậm chí muốn trốn tránh trách nhiệm đóng góp; người lao động muốn đóng góp ít nhưng lại muốn được đảm bảo nhiều quyền lợi Bên cạnh đó, cơ quan BHXH cũng phải bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách tăng cường thu, tiết kiệm chi…Chính vì có những lợi ích khác nhau, thậm chí ở một phạm vi nào đó trái ngược nhau, nên các bên tham gia hoạt động BHXH thường xuyên tiềm ẩn những mâu thuẫn Để giải quyết những mâu thuẫn, đảm bảo quyền lợi hợp pháp và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH, cần có người làm trọng tài là Nhà nước, với tư cách là chủ thể duy nhất quản lý xã hội
Như vậy, quản lý thu BHXH đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động BHXH, cụ thể:
Thứ nhất, tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH
Thu BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng Đối tượng tham gia BHXH thuộc tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực, mức thu nhập, nhận thức, thái độ khác nhau Nếu không có sự chỉ đạo thống nhất thì hoạt động thu sẽ không đạt kết quả cao Quản lý tạo ra sự thống nhất, đồng bộ giữa các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện Đồng thời, thông qua việc lập kế hoạch, phân công công việc một cách rõ ràng, công tác quản lý thu BHXH cũng đạt hiệu quả cao mà lại giảm được phần chi phí đáng kể
Thông qua hoạt động quản lý đã thống nhất được những nội dung quan trọng của hoạt động thu BHXH đó là: Thống nhất về đối tượng thu, thống nhất về
Trang 24biểu mẫu, hồ sơ thu, quy trình thu, nộp BHXH
Thứ hai, đảm bảo hoạt động thu BHXH ổn định, bền vững, hiệu quả
Ổn định, bền vững, hiệu quả trong hoạt động thu BHXH là mục tiêu mà
hệ thống BHXH của quốc gia nào cũng mong muốn Tuy nhiên, mục tiêu này chỉ đạt được khi:
+ Hoạt động thu BHXH được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng: Một trong những nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhiệm là chỉ huy Nhờ chỉ huy mà quy trình thu với rất nhiều yếu tố phức tạp được tổ chức, điều hòa phối hợp nhịp nhàng, từ đó tăng cường tính ổn định trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu quản lý thu BHXH
+ Hoạt động thu BHXH được định hướng đúng đắn thông qua quản lý, công tác thu được định hướng đúng đắn theo mục tiêu chung là: Thu đúng, thu
đủ, không để thất thoát thu Từ đó, hướng mọi sự nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó
+ Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức: Thông qua đánh giá, khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân tổ chức thu BHXH tốt sẽ tạo động lực cho các
cá nhân Đồng thời, qua việc uốn nắn những lệch lạc sai sót của cá nhân giúp cho quá trình thu không bị thất thoát
phục sự sai lệch của hệ thống thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát Vì quá trình thực hiện giữa kết quả với mục tiêu đề ra luôn có sự sai lệch, để kết quả này gần với mục tiêu thì công tác thu mới đạt hiệu quả Nhờ có hoạt động quản lý thu sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn được sát thực tiễn với quá trình thu (Trần Văn Đinh, 2015)
Xác định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH; phân định rõ chức năng hoạt động quản lý Nhà nước với chức năng sự nghiệp của BHXH
Không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thu BHXH được sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHXH liên tục tăng trưởng, chống thất thoát quỹ BHXH
Trang 25Phát triển quỹ BHXH, đảm bảo các yếu tố đầu vào (tiền nộp BHXH) đủ khả năng chi trả các chế độ cho người lao động tham gia BHXH
Đảm bảo cho các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, bảo đảm tính xã hội thông qua việc chia sẻ rủi ro (Vũ An Phương, 2014)
2.1.3 Đặc điểm quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tham gia BHXH bắt buộc là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ Việc đóng góp vào quỹ BHXH của các bên tham gia BHXH là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng Vậy thu từ đóng góp của những người tham gia BHXH là nguồn nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất cho quỹ BHXH ở hầu hết các quốc gia
Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, thu đúng đối tượng và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia BHXH Bên cạnh đó cần phải tổ chức theo dõi, ghi chép kết quả đóng BHXH của từng người, đơn vị để làm cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH theo quy định
Do vậy, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc có những đặc điểm sau:
- Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian nên công tác quản lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp
- Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại do đó khối lượng công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương ứng
- Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn tiền thu BHXH
Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong cả hệ thống từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả đặc biệt là quản lý tiền thu quỹ BHXH…(Thư viện học liệu mở Việt Nam)
2.1.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Bộ Luật lao động đã sửa đổi bổ sung và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2003, tại Chương XII quy định về BHXH, ở điều 141 có quy định Loại
Trang 26hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng
bảo hiểm xã hội Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới ba tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm Khi hết hạn hợp đồng lao động mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới, thì áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định
- Như vậy, ngoài các chế định pháp luật đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội khác; căn cứ thu BHXH theo Bộ Luật lao động thì người lao động phải có hợp đồng lao động với thời hạn từ đủ ba tháng trở lên
- Nếu dưới ba tháng sau đó tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới thì áp dụng BHXH bắt buộc
- Bộ Luật lao động sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực từ ngày 01/05/2013 quy định Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động
để thực hiện công việc theo thỏa thuận, tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định
Về mức đóng, Tại điều 149 Bộ Luật lao động 2002 quy định người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với quý tiền lương và người lao động đóng bằng 5% tiền lương Luật BHXH được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thực hiện chính sách BHXH, tỷ lệ thu BHXH là 20% đến hết năm 2009, sau đó năm 2010 mức đống là 22%, 2012 mức đóng là 24% và ổn định từ năm 2014 với mức đóng là 26%
- Ngoài ra, các chế định về thu nộp, quản lý đối tượng tham gia BHXH còn được điều chỉnh bởi các văn bản Luật khác như Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật đầu tư trong nước, Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật việc làm, Luật hợp tác xã
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về thu
và quản lý đối tượng tham gia BHXH còn được thể hiện trong các văn bản dưới
Trang 27luật như các Nghị định, Quyết định của Chính Phủ, Thông tư, hướng dẫn của các
bộ ngành liên quan, của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính Phủ và nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 12/CP đã quy định toàn diện vè trách nhiệm và quyền lợi của các đối tượng là người lao động trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức đều phải tham gia BHXH bắt buộc; quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý là BHXH Việt Nam Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH là cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang bao gồm quân đội, công an và cơ yếu được điều chỉnh tại nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính Phủ
- Các quy định về thu và quản lý đối tượng tham gia BHXH còn được điều chỉnh bằng các văn bản liên quan như: cán bộ chuyên trách, công chức xã, phường, thị trấn được tham gia BHXH theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính Phủ, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính Phủ
Chính phủ và các Bộ, ngành có rất nhiều văn bản để hướng dẫn, điều chỉnh Các văn bản mặc dù được điều chỉnh ở nhiều phạm vi, lĩnh vực khác nhau của Bộ Luật lao động nhưng vấn đề quan trọng nhất là đều liên quan đến công tác thu BHXH bắt buộc
BHXH Việt Nam với chức năng là cơ quan thực hiện BHXH đã có nhiều văn bản hướng dẫn trong tổ chức triển khai liên quan đến công tác quản
lý và thu BHXH
- Văn bản quy định về BHXH đối với người lao động nói chung, quy định
về BHXH đối với lực lượng vũ trang, BHXH đối với người lao động hợp tác với nước ngoài, lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, BHXH đối với giáo viên mầm non, BHXH đối với cán bộ y tế cấp xã, BHXH đối với khu vực ngoài công lập trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể dục thể thao, văn hóa
- Văn bản quy định về hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể
- Văn bản quy định về tiền lương, tiền công
- Văn bản về mức đóng, phương thức đóng BHXH, về cấp sổ BHXH
Trang 282.1.4.2 T ổ chức quản lý thu bảo hiểm xã hội băt buộc
Các nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội trong hệ thống BHXH Việt Nam như sau:
* Phân cấp quản lý
Phân cấp thu đóng góp BHXH từ người tham gia BHXH là nhằm nâng cao trách nhiệm đối với cán bộ làm công tác thu theo địa bàn hành chính đồng thời phân bổ khối lượng công việc đồng đều cho các đơn vị, các cấp và tạo điều kiện thuận tiện cho đơn vị và đối tượng tham gia đăng kí đóng BHXH phù hợp với điều kiện quản lý hiện nay
Việc phân cấp quả lý thu BHXH thực hiện như sau:
BHXH Việt Nam: Chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH trong toàn ngành bao gồm cả BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ Xác định mức lãi suất bình quân trong năm của hoạt động đầu tư quỹ BHXH và thông báo cho BHXH tỉnh
BHXH tỉnh: Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để phân cấp quản lý thu BHXH cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Đồng thời xây dựng, quản lý cơ
sở dữ liệu liên quan đến NLĐ tham gia BHXH trên địa bàn huyện Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện công tác thu, cấp sổ BHXH theo phân cấp quản lý và quyết toán số tiền thu BHXH đối với BHXH huyện theo định
kỳ quý, 6 tháng, năm và lập “Biên bản thẩm định số liệu thu BHXH bắt buộc"
BHXH huyện: Tổ chức, hướng dẫn thực hiện thu BHXH, cấp sổ BHXH đối với NSDLĐ và NLĐ theo phân cấp quản lý
BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ: trực tiếp thu BHXH, cấp sổ BHXH đối với NLĐ do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý; xây dựng kế hoạch thu và báo cáo quyết toán thu BHXH, cấp sổ BHXH hàng năm với cơ quan BHXH Việt Nam
Hàng năm, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, BHXH các cấp phải xây dựng kế hoạch thu BHXH bắt buộc Các đơn vị cấp trên kiểm tra, xét duyệt và giao chỉ tiêu kế hoạch cho đơn vị cấp dưới, đây là chỉ tiêu pháp lệnh quan trọng để làm căn cứ tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả hoàn thành công tác của đơn vị (BHXH Việt Nam, 2011)
Trang 29* Quản lý trình tự và thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội hiện nay:
- Đối với đơn vị tham gia lần đầu, đơn vị di chuyển từ địa bàn huyện, thành phố khác đến Hồ sơ quy định như sau:
Đối với người lao động: Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT, BHTN Đối với người được hưởng quyền lợi BHYT cao hơn: Giấy tờ chứng minh
Đối với đơn vị: Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN; Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN; Bảng kê hồ sơ làm căn cứ hưởng quyền lợi BHYT cao hơn
- Hàng tháng, khi có biến động về lao động, tăng, giảm về tiền lương, tiền công hoặc phụ cấp làm căn cứ đóng (Đối với điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN hằng tháng) Hồ sơ quy định như sau:
Đối với người lao động: Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; Đối với người được hưởng quyền lợi BHYT cao hơn: Giấy tờ chứng minh; Trường hợp ngừng tham gia BHYT: thẻ BHYT còn hạn sử dụng
Đối với đơn vị: Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN; Bảng
kê hồ sơ làm căn cứ hưởng quyền lợi BHYT cao hơn ; Trường hợp thay đổi thông tin tham gia BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị: Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin đơn vị tham gia BHXH, BHYT
- Việc truy thu các trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về đóng BHXH, BHYT, BHTN; điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH, BHYT, BHTN Thành phần hồ sơ gồm:
Người lao động: Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT, BHTN
Đơn vị: Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN; Bảng kê giấy tờ hồ sơ làm căn cứ truy thu
- Cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa hoặc hồ sơ giao dịch điện tử, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp của hồ sơ ghi mã số quản lý đơn vị và từng người lao động trên danh sách và trên Tờ khai tham gia BHXH, BHYT Trường hợp hồ sơ chưa đủ, chưa đúng cơ quan BHXH phải hướng dẫn
Trang 30cụ thể để đơn vị hoàn thiện Ký đóng dấu vào hoặc ký chữa ký điện tử đối với giao dịch điện tử "Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT " trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ cơ quan BHXH trả kết quả để đơn vị thực hiện đóng BHXH
- Định kỳ hàng tháng, cơ quan BHXH căn cứ giấy báo có của Ngân hàng, Kho bạc để kiểm tra, đối chiếu và xác định tổng số người lao động tham gia BHXH, tổng quỹ tiền lương, tiền công, tổng số tiền phải đóng, tổng số tiền đã đóng, số tiền thừa, thiếu và số lãi chưa đóng, chậm đóng, lãi truy thu (nếu có) Trên cơ sở đó, cơ quan BHXH có trách nhiệm lập "Thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT" gửi cho từng đơn vị sử dụng lao động trước ngày 10 của tháng sau
- Đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu với Thông báo của Bảo hiểm xã hội chuyển đến, nếu có chênh lệch thì phối hợp với Bảo hiểm xã hội để kiểm tra, đối chiếu và xác định lại trước ngày 15 của tháng sau
Từ ngày 15 trở đi, nếu người sử dụng lao động không có ý kiến phản hồi thì số
mà cơ quan BHXH thông báo là số liệu đúng (BHXH Việt Nam, 2015)
* Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc:
Theo Luật BHXH, người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được
Trang 31hưởng sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ
* Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc gồm:
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
Cơ quan BHXH tỉnh, huyện có trách nhiệm: điều tra, lập danh sách các đơn vị thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn; thông báo, hướng dẫn các đơn vị đăng ký tham gia, đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo quy định của pháp luật Định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp, cơ quan quản lý lao động địa phương tình hình chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT của các đơn vị trên địa bàn, đề xuất biện pháp giải quyết đối với các đơn vị chậm đóng kéo dài hoặc đơn vị cố tình trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH, BHYT, BHTN theo quy định của pháp luật
Thứ nhất, lập kế hoạch thu BHXH:
BHXH huyện: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước, 6 tháng đầu năm và khả năng mở rộng đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn, lập kế hoạch thu
BHXH, BHYT năm sau (mẫu K01-TS) gửi đến BHXH tỉnh
BHXH Tỉnh: Lập kế hoạch thu BHXH đối với các đối tượng do Tỉnh trực tiếp thu; tổng hợp toàn Tỉnh, lập kế hoạch thu BHXH, BHYT (mẫu K01-TS) gửi
Trang 32đến BHXH Việt Nam
BHXH Việt Nam: Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm trước, ước thực hiện năm hiện tại và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu BHXH, BHYT,
BHTN, lập kế hoạch thu BHXH (BHXH Việt Nam 2011)
Thứ hai, giao kế hoạch thu hàng năm
BHXH Việt Nam: Căn cứ chỉ tiêu kế hoạch thu BHXH được Nhà nước
giao, lập kế hoạch thu BHXH và giao kế hoạch thu cho BHXH các Tỉnh
BHXH Tỉnh: Căn cứ kế hoạch thu BHXH do BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ kế hoạch thu BHXH, trình Giám đốc BHXH Tỉnh phê duyệt giao
kế hoạch thu cho BHXH huyện (BHXH Việt Nam, 2011)
Quỹ BHXH đều được hình thành từ nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước hỗ trợ, đóng thêm và các nguồn thu khác từ các cá nhân, tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi Tuy nhiên, phương thức đóng góp và tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, thu nhập, tiền lương, các yếu tố sinh học, tuổi thọ, … mà mỗi thời kỳ quy định mức đóng góp cho phù hợp
Với Luật BHXH được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thực hiện chính sách BHXH, phù hợp với thông lệ quốc tế khi Việt Nam tham gia WTO Tỷ lệ thu BHXH là 20% đến hết năm 2009, sau đó năm 2010 mức đống là 22%, 2012 mức đóng là 24% và ổn định từ năm 2014 với mức đóng là 26%
Cơ quan BHXH căn cứ hồ sơ của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHXH đối với người tham gia và đơn vị theo phương thức đóng của đơn vị, người tham gia
* Hình thức đóng tiền:
Trên cơ sở số tiền phải đóng BHXH, đơn vị tham gia BHXH đóng BHXH bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH huyện mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
Hàng ngày, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước huyện tự động chuyển tiền thu
Trang 33BHXH của Bảo hiểm xã hội huyện về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh theo
quy chế phối hợp giữa ngành BHXH với Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước
Tại BHXH tỉnh, hàng ngày Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước tỉnh tự động chuyển tiền thu BHXH của Bảo hiểm xã hội tỉnh về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Namtheo quy chế phối hợp giữa ngành BHXH với Ngân hàng, Kho
Đơn vị đóng BHXH bắt buộc chậm thời hạn theo quy định từ 30 ngày trở
lên thì phải đóng số tiền lãi tính trên số tiền BHXH bắt buộc chưa đóng
Truy thu BHXH: đơn vị vi phạm quy định của pháp luật về đóng BHXH được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý buộc truy đóng hoặc do cơ quan BHXH kiểm tra và truy thu hoặc đơn vị có yêu cầu được truy thu theo quy định
của Luật BHXH.Tỷ lệ truy thu: tính bằng tỷ lệ % đóng BHXH, BHYT, BHTN do Nhà nước quy định tương ứng thời gian truy thu (BHXH Việt Nam, 2011)
Theo quy định hiện hành, các hành vi được coi là vi phạm Pháp luật về đóng BHXH bao gồm:
- Không đóng BHXH
- Đóng BHXH không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH
- Đóng BHXH không đúng thời gian quy định
Trang 34- Đóng BHXH không đúng mức quy định
* Biện pháp xử lý: Điều 122, Chương VIII Luật BHXH số 58/2014/QH13
quy định xử lý vi phạm pháp luật BHXH như sau:
- Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của Luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định đóng BHXH từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử
lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng
và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội
Kế hoạch kiểm tra: Căn cứ tình hình cụ thể của địa phương và kế hoạch kiểm tra do BHXH Việt Nam giao hàng năm, BHXH tỉnh, BHXH huyện lập kế hoạch kiểm tra đối với các đơn vị đang tham gia BHXH, BHYT; báo cáo UBND cùng cấp để có kế hoạch phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền hoặc thành lập đoàn kiểm tra để tổ chức thực hiện
Phương pháp kiểm tra: Căn cứ hồ sơ đăng ký và hồ sơ điều chỉnh của đơn
vị gửi cơ quan BHXH trong quá trình đóng BHXH, BHYT, BHTN; các thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT của đơn vị và người lao động do cơ quan BHXH gửi hàng tháng, hàng năm để kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ, chứng từ đóng BHXH, BHYT, BHTN tại đơn vị như danh sách lao động trong biên chế của đơn
vị, danh sách trả lương, HĐLĐ, các quyết định của đơn vị đối với người lao động; các chứng từ chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN
Hàng năm BHXH tỉnh, BHXH huyện tổ chức kiểm tra tình hình đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với các đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn
Trang 35Nội dung kiểm tra gồm: Tình hình đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị, người lao động
Lập biên bản về tình hình đóng BHXH, BHYT, BHTN đơn vị
Giải thích, hướng dẫn đơn vị khắc phục các sai sót, nhầm lẫn trong quá trình đóng BHXH, BHYT, BHTN theo đúng quy định của Pháp luật Trường hợp đơn vị kê khai thiếu lao động hoặc kê khai nhầm mức tiền lương, tiền công của người lao động thì yêu cầu đơn vị kê khai điều chỉnh và đóng theo đúng quy định Đối với những trường hợp vi phạm Pháp luật về BHXH, BHYT như trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN; đóng không đúng tiền lương, tiền công của người lao động; thu tiền của người lao động nhưng không đóng, đóng không kịp thời; đóng không đủ số tiền phải đóng thì yêu cầu đơn vị truy đóng đủ cho người lao động; đồng thời báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý theo quy định của Pháp luật
Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các người sử dụng lao động nhằm thực hiện quyền lợi cho người lao động Việc đóng góp vào quỹ BHXH của các bên tham gia BHXH là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng Vậy thu
từ đóng góp của người tham gia BHXH là nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất cho quỹ BHXH ở hầu hết các quốc gia
Thu BHXH phải theo nguyên tắc thu đúng, thu đủ, đúng đối tượng, rõ ràng, minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia BHXH Bên cạnh đó cần phải tổ chức theo dõi, ghi chép kết quả đóng BHXH của từng người, đơn vị để làm cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH theo quy định Có những đơn vị có nợ đọng về nhiều lý do khách quan như chuyển giao từ tỉnh khác sang, hoặc do chủ quan làm ăn thua lỗ… thì việc thu BHXH phải đảm bảo thu hết số nợ đọng hoặc số nợ ít nhất Được thể hiện qua các tiêu chí sau:
Thứ nhất, tiêu chí đánh giá số thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Số thu BHXH bắt buộc ở đây được hiểu là số tiền phải đóng của đối tượng tham gia cho cơ quan BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động Chỉ tiêu số thu BHXH bắt buộc bao gồm các số thu sau: đóng góp của người sử dụng
lao động; và đóng góp của người lao động Chỉ tiêu số Thu BHXH bắt buộc không chỉ là căn cứ để cơ quan BHXH thực hiện chi trả các chế độ cho người lao
Trang 36động; mà còn là căn cứ đánh giá hiệu quả thu của cơ quan BHXH Số thu thường được thể hiện thu hoàn thành đủ kế hoạch giao trong một năm
Đối với số tiền phải nộp của một đơn vị khi nộp đúng hạn, được tính theo công thức: Số tiền = Tổng quỹ lương của đơn vị x tỉ lệ thu theo %
Để xác định hoàn thành kế hoạch thu BHXH bắt buộc trong một năm, tính theo công thức: Số lượng tiền thu BHXH bắt buộc thực tế/Số lượng tiền thu BHXH bắt buộc theo kế hoạch (%)
Tăng trưởng số lượng tiền thu BHXH bắt buộc thực tế: [Số lượng tiền thu BHXH bắt buộc thực tế năm (t)/Số lượng tiền thu BHXH bắt buộc thực tế năm (0)]*100-100% (%); trong đó: năm (t): năm cần
Thứ hai, tiêu chí đánh giá về số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Số lượng lao động là chỉ tiêu biểu thị số người của một loại lao động nhất định trong doanh nghiệp tại thời điểm hay thời kỳ nào đó của năm báo cáo Số lượng lao động tăng trong một năm thể hiện sự tăng về số lượng lao động tại các doanh nghiệp Đây là chỉ tiêu quan trọng vì là đầu mối để tăng đối tượng tham gia BHXH trong một năm
Hoàn thành kế hoạch về đối tượng thu BHXH bắt buộc được tính theo công thức: số đối tượng thu BHXH bắt buộc thực tế/Số đối tượng phải thu BHXH bắt buộc theo kế hoạch (%)
Tăng trưởng số đối tượng thu BHXH thực tế được tính theo công thức: [Số đối tượng thu BHXH bắt buộc thực tế năm (t)/Số đối tượng thu BHXH bắt buộc thực tế năm (0)]*100-100% (%)
Thứ ba, tiêu chí đánh giá về số nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tiêu chí đánh giá về số nợ BHXH bắt buộc là số tiền BHXH bắt buộc mà người sử dụng lao động phải đóng cho cơ quan BHXH nhằm đảm bảo các chế độ cho người lao động, nhưng số tiền này chưa được đơn vị đóng vào quỹ BHXH khi đã đến hạn đóng theo thông báo của cơ quan BHXH Đây là căn cứ để tiến hành giải quyết chế độ cho người lao động của đơn vị, nếu đơn vị còn nợ BHXH thì cơ quan BHXH không giải quyết các chế độ cho người lao động của đơn vị như quyền được có thẻ BHYT, hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe…
Trang 37Phương pháp tính: Số nợ = Số tiền phải thu kỳ trước - Số tiền phải thu kỳ này Từ phương pháp tính sẽ cho các kết quả như sau:
Một là, nếu số nợ là số lớn hơn 0, nghĩa là đơn vị chưa chuyển đủ tiền vào
tài khoản thu của BHXH
Hai là, nếu số nợ là số nhỏ hơn 0, nghĩa là đơn vị đã chuyển đầy đủ số tiền
phải đóng BHXH và đảm bảo các chế độ cho người lao động
Thứ tư,tiêu chí thời gian nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thời gian nợ BHXH bắt buộc là khoảng thời gian tính từ ngày đến hạn đóng BHXH theo thông báo của cơ quan BHXH mà đơn vị vẫn không thực hiện đóng BHXH vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH cho đến khi đơn vị hoàn thành việc đóng đầy đủ các khoản tiền nợ đọng và tiền lãi phát sinh do chậm đóng cho cơ quan BHXH
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả công tác thu Nếu cơ quan BHXH thực hiện đôn đốc thu tốt, tích cực kiểm tra, nhắc nhở đơn vị đóng BHXH đúng thời gian quy định thì thời gian nợ BHXH của đơn vị tham gia BHXH sẽ không
bị kéo dài, đảm bảo được quyền lợi của người lao động cũng như đảm bảo cho hoạt động của quỹ BHXH
Thời gian nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc: Thời gian nợ BHXH = Thời điểm tính nợ - Thời điểm đến hạn đóng theo thông báo của BHXH
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chắc chắn đời sống của người lao động dần được cải thiện; việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp được thuận lợi,
vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao động, từ
đó làm giảm tình trạng trốn tránh tham gia BHXH Bên cạnh đó, người lao động
có thu nhập cao, đời sống được cải thiện, nhận thức của người lao động cũng được nâng lên, ngoài việc ý thức đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ mong muốn có khoản trợ giúp khi không may gặp các rủi ro xã hội cũng như đảm bảo cuộc sống khi về già, như: Ốm đau, TNLĐ-BNN, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp khiến cho họ bị mất hoặc bị giảm thu nhập Tất cả những yếu tố trên tác
động tích cực làm tăng thu BHXH hoặc ngược lại (Vũ An Phương, 2014)
Trang 382.1.5.2 S ự ảnh hưởng của Chính sách tiền lương và chính sách về bảo hiểm xã
h ội
Chính sách tiền lương là cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH, bởi
vì cơ sở để tính toán mức đóng và hưởng BHXH hiện nay phụ thuộc vào tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định Như vậy khi Nhà nước nâng lương tối thiểu, điều đó đồng nghĩa với việc tăng mức đóng BHXH bắt buộc, theo đó số thu BHXH tăng lên Ngoài ra, người lao động đóng BHXH bắt buộc theo thang bảng lương Nhà nước quy định, mức đóng còn phụ thuộc vào hệ số lương Vì vậy, khi Nhà nước điều chỉnh lại thang bảng lương thì mức đóng BHXH sẽ tăng
Chính sách về chế độ BHXH nhằm giải quyết chế độ một cách kịp thời, thuận lợi cho người lao động và là nội dung quan trọng giúp người sử dụng lao động, người lao động yên tâm đóng BHXH Tuy nhiên, thực hiện chính sách
về chế độ BHXH phụ thuộc vào nhận thức người tham gia BHXH Theo đó, nhận thức của người tham gia tốt là nhân tố thiết yếu để công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đạt kết quả cao Chính sách ra đời chỉ là sự hướng dẫn chung nhất, nhưng để chính sách đi vào thực tế, nhất định phải có
sự chấp hành tốt chính sách đó Ý thức tham gia BHXH của các đối tượng thuộc diện tham gia, bao gồm người lao động và người sử dụng lao động đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH (Trần Văn Định, 2015)
Chính sách lao động, việc làm có ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham gia đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động, cụ thể:
- Khi Nhà nước chú trọng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động trên các phương diện về chuyên môn, kỹ năng hành nghề, kỹ năng ứng xử, giao tiếp, tác phong làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động và Pháp luật Điều đó sẽ giúp cho thị trường lao động có nguồn lao động chất
Trang 39lượng cao, các doanh nghiệp sẽ đỡ được một phần chi phí trong công tác đào tạo Lực lượng lao động này sẽ có cơ hội tìm được việc làm ổn định và thu nhập cao (chất lượng lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập) tác động trực tiếp làm tăng số lao động tham gia BHXH và do đó làm tăng mức đóng BHXH
- Việc ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn trong toàn
xã hội để giải quyết việc làm sẽ làm chuyển dịch cơ cấu lao động, số người làm công ăn lương sẽ tăng lên cũng là lý do làm tăng tỷ trọng lao động xã hội tham gia BHXH
- Việc phát triển thị trường lao động, hình thành hệ thống thông tin thị trường việc làm là yếu tố quan trọng giúp cho người lao động dễ dàng tìm việc phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của mình; đồng thời có quyền lựa chọn những đơn vị thực hiện đầy đủ quyền lợi của người lao động và thu nhập cao; chủ sử dụng lao động cũng thuận tiện hơn trong việc tuyển dụng lao động, tiết kiệm thời gian và chi phí (Vũ An Phương, 2014)
BHXH là một cơ chế phức tạp với nhiều mối quan hệ đa dạng, trong đó nổi bật là quan hệ lợi ích, tức là quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH Người sử dụng lao động thường vì lợi nhuận mà không muốn tham gia đóng BHXH cho người lao động Phần lớn họ chỉ nhận thấy lợi ích trước mắt mà
chưa nghĩ đến hậu quả lâu dài khi rủi ro đến với người lao động Còn với người lao động, do hiểu biết kém, thu nhập không cho phép, hoặc lo sợ bị mất việc làm khiến họ không dám lên tiếng đòi quyền lợi và đặc biệt chưa có ý thức trong việc phòng ngừa rủi roc ho bản thân Khi ý thức của các đối tượng tham gia BHXH thấp, tức là không có sự hợp tác từ phía các đối tượng tham gia, thì quản lý đối tượng tham gia BHXH sẽ gặp nhiều khó khăn Ở những nước phát triển, công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH gặp ít trở ngại hơn bởi người dân rất tự giác chấp hành tốt chính sách này
Thông tin, tuyền truyền là nội dung quan trọng trong mọi lĩnh vực Chính sách BHXH tác động đến đông đảo người tham gia, nên thông tin, tuyên truyền
là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý đối tượng tham gia Cụ thể, công tác thông tin, tuyên truyền giúp cho đối tượng tham gia hiểu rõ về chế độ, chính sách BHXH theo quy định của luật pháp, làm thay đổi thái độ đối với công
Trang 40tác BHXH theo hướng tích cực, phù hợp với pháp luật Để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc tham gia BHXH của người lao động và người sử dụng lao động, thì vai trò của cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền có tác động rất lớn đến BHXH nói chung, đến công tác thu BHXH nói riêng Đó là việc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong đó có nghĩa vụ đóng BHXH thông qua tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng trong doanh nghiệp Là việc yêu cầu các doanh nghiệp khi đăng ký thành lập, hoạt động phải có chỉ tiêu thực hiện BHXH; thành lập các đoàn thanh tra, xử lý vi phạm về đóng BHXH, về đăng ký lao động tham gia BHXH
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội băt buộc ở một số nước trên thế giới
Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hành quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1847, hiện tại nó bao gồm các chế độ: cứu trợ
xã hội, phúc lợi xã hội, y tế công và BHXH Các chế độ BHXH bao gồm hai phần: A) BHXH (bảo hiểm hưu trí, BHYT) do cơ quan BHXH quản lý và tổ chức thực hiện B) Bảo hiểm lao động (bảo hiểm việc làm do cơ quan Bảo đảm việc làm của Chính phủ thực hiện; Bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động do cơ quan Thanh tra lao động thực hiện) Hệ thống cơ quan BHXH bao gồm cơ quan Trung ương, 47 cơ quan BHXH địa phương với 312 văn phòng chi nhánh BHXH
- Chế độ hưu trí chia ra hai loại hình chính là: 1) Chế độ bảo hiểm hưu trí quốc gia áp dụng đối với công dân Nhật Bản tuổi từ 20 đến dưới 60 tuổi và thực hiện tự nguyện cho người dân Nhật Bản ở trong nước từ 60 đến dưới 65 tuổi; ở nước ngoài từ 20 đến dưới 65 tuổi; 2) Chế độ hưu trí thực hiện cho người lao động dưới 65 tuổi làm việc tại các tổ chức, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty, tập đoàn, trường học tư
- Đối tượng tham gia đóng BHXH: chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm 1: lao động cá thể, nông dân, người không có việc làm, sinh viên tham gia chế độ hưu trí quốc gia Mức đóng là 13.300 yên/ tháng, từ 4/2005 tăng mỗi năm 280 yên để đạt mức 16.900 yên/tháng vào năm 2017