Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều tổ chức, doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về BHXH, nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách để trốn tránh trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ, n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG
NGUYỄN QUANG QUYỀN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Người hướng dẫn khoa học: TS LƯƠNG VĂN HẢI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Quyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Mở Hà Nội, cảm ơn các thầy, cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nhận dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn TS Lương Văn Hải người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang, đã cung cấp thông tin, và nhiệt tình giúp đỡ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Quyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 8
1.1.1 Bảo hiểm xã hội 8
1.1.2 Bảo hiểm xã hội bắt buộc 13
1.1.3 Thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 23
1.2 QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 26
1.2.1 Khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 26
1.2.2 Vai trò quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 27
1.2.3 Mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 28
1.2.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 29
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu BHXH bắt buộc 38
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 40
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài 40
1.3.2 Các nhân tố bên trong 42
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC 42
1.4.1 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội 42
1.4.2 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Nam Định 44
1.4.3 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên 45
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang 46
Tiểu kết chương 1 48
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG 49
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG 49
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang 49
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang 49
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 53
2.1.4 Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang 54
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG 56
2.2.1 Thực trạng lập kế hoạch thu bảo hiểm bắt buộc 56
của BHXH tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015-2018 57
2.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 58
2.2.3 Tình hình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thu BHXH bắt buộc 73
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG 78
2.3.1 Những kết quả đạt được 78
2.3.2 Những hạn chế 80
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 81
Tiểu kết chương 2 87
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2022 88
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG 88
3.1.1 Quan điểm về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 88
3.1.2 Mục tiêu về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 88
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 90
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội cho người lao động và người sử dụng lao động 90
Trang 63.2.2 Tập trung phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh 92
3.2.3 Khắc phục nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở khối doanh nghiệp 94
3.2.4 Tăng cường các biện pháp quản lý nguồn thu bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp 96
3.2.5 Tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm, cưỡng chế về bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BHXH 97
3.2.6 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang 100
3.2.7 Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang 101
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 102
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 102
3.3.2 Kiến nghị với các Bộ, ngành ở Trung ương 103
3.3.3 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 103
3.3.4 Kiến nghị với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang 105
3.3.5 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố 105
Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
* Danh mục các bảng biểu
Bảng 1.1: Mức đóng BHXH năm 2017 và 2018 19
Bảng 1.2: Mức đóng BHXH đối với NLĐ Việt Nam năm 2019 19
Bảng 1.3: Mức đóng BHXH đối với NLĐ nước ngoài năm 2019 20
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động của BHXH tỉnh Bắc Giang 55
Bảng 2.2: Tình hình giao kế hoạch thu BHXH bắt buộc của BHXH tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015-2018 57
Bảng 2.3: Tình hình đơn vị tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015-2018 64
Bảng 2.4: Tình hình lao động tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015 - 2018 67
Bảng 2.5: Tình hình đóng BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 69
Bảng 2.6: Kết quả thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 72
Bảng 2.7 Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc từ năm 2015 - 2018 72
Bảng 2.8: Thực hiện thanh tra, kiểm tra về đóng BHXH bắt buộc của BHXH tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2015-2018 74
Bảng 2.9: Kết quả xử lý vi phạm về đóng BHXH bắt buộc sau thanh tra, kiểm tra của BHXH tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2015 - 2018 75
Bảng 2.10: Kết quả phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra về đóng BHXH bắt buộc giai đoạn 2015-2018 76
* Danh mục các sơ đồ Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHXH tỉnh Bắc Giang 54
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ban hành điều kiện của công chức khi nghỉ hưu BHXH đã được quy định trong Hiến pháp và Bộ Luật Lao động Chính sách BHXH thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của đất nước Ban đầu đối tượng tham gia BHXH chỉ là cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước, các chế độ BHXH đan xen với các chính sách xã hội khác Để khắc phục những hạn chế của chính sách BHXH cũ, xây dựng một chính sách BHXH mới phù hợp với sự phát triển của đất nước thời kỳ đổi mới và hoà nhập với
xu thế phát triển BHXH của các quốc gia trên thế giới, đồng thời đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo NLĐ và NSDLĐ, lần đầu tiên Luật BHXH được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 và đến năm
2014 Luật BHXH tiếp tục được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014 thay thế cho Luật BHXH năm 2006 Có thể thấy, việc ban hành Luật BHXH là cơ sở để tổ chức, triển khai, thực hiện nhằm phát triển BHXH và đem lại lợi ích thiết thực cho người dân trong xã hội Từ đây phạm vi đối tượng tham gia BHXH mang tính xã hội rộng lớn được áp dụng với mọi NLĐ thông qua các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, NSDLĐ và NLĐ phải đóng BHXH bắt buộc để thực hiện các chế độ BHXH cho NLĐ
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều tổ chức, doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về BHXH, nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách để trốn tránh trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ, nợ đọng BHXH còn diễn ra khá phổ biến ở khối doanh nghiệp, bên cạnh một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì vẫn còn có doanh nghiệp lạm dụng quỹ BHXH, tiền đóng BHXH của NLĐ để sử dụng vào mục đích khác, từ đó gây ra nhiều khó khăn cho việc quản lý thu BHXH và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan BHXH trong công tác thu BHXH và đặc biệt là ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH
Trang 10Bắc Giang là một tỉnh trung du và miền núi phía Bắc thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Bắc Giang hiện có 09 huyện và 01 thành phố, trong đó có 06 huyện miền núi và 01 huyện vùng cao; với 230 xã, phường, thị trấn Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, chính sách xã hội cũng được đảng, chính quyền địa phương rất quan tâm, trong đó chính sách BHXH được các cơ quan chức năng tiến hành triển khai, phổ biến, hướng dẫn, tổ chức thực hiện kịp thời tới các đơn vị, cá nhân trên địa bàn Tuy nhiên, việc đăng ký tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn chưa cao, công tác tuyên truyền về chính sách BHXH còn có những hạn chế nhất định nên một bộ phận NLĐ chưa nắm bắt, chưa hiểu được đầy
đủ bản chất tốt đẹp của chính sách BHXH, cơ chế phối hợp thực hiện Luật BHXH trong quản lý đối tượng thuộc diện phải tham gia BHXH theo Luật còn có những bất cập, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, mức phạt còn quá nhẹ, tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm do đó nhiều chủ sử dụng lao động còn tìm cách tránh né, không đóng, đóng không đủ số người thuộc diện phải tham gia, không thực hiện trích nộp BHXH đúng, đủ và kịp thời theo quy định, nợ đọng BHXH kéo dài tiếp tục diễn ra ở nhiều doanh nghiệp Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề
tài "Quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang" làm đề tài cho
Luận văn của mình, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế nêu trên
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong những năm gần đây, lĩnh vực BHXH nói chung và thu BHXH nói riêng đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu Đã có một số công trình nghiên cứu về BHXH với những cách tiếp cận khác nhau, được đề cập và thể hiện trong một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ khác Cụ thể như:
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (1996), của tác giả Nguyễn Văn Châu, BHXH
Việt Nam, với đề tài: “Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và một số biện pháp
nâng cao hiệu quả công tác thu” Đây là một trong những đề tài được thực hiện sớm
nhất kể từ khi ngành BHXH Việt Nam được thành lập (1995) Đối tượng nghiên
Trang 11Trung ương quản lý về BHXH, trong công cuộc đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nước đề ra Phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc Đề tài đã đánh giá kết quả công tác thu BHXH thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển chính sách BHXH, phân tích thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt Nam đối với quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam khi mà Nhà nước đang mở ra một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải đổi mới chính sách pháp luật quy định về thu BHXH nhằm đảm bảo mở rộng đối tượng NLĐ và NSDLĐ thuộc các thành phần kinh tế tham gia đóng BHXH đầy đủ Đáp ứng thực tiễn phong phú,
đa dạng về các mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, hình thức đóng BHXH đồng thời có cơ chế quản lý số tiền thu BHXH từ cấp địa phương đến trung ương Đề tài đã đóng góp những nghiên cứu khoa học, có ý nghĩa thực tiễn về xây dựng hệ thống biểu mẫu thu BHXH, phương thức thực hiện thu BHXH từ địa phương đến trung ương, quản lý quỹ BHXH cũng như hình thức, phạm vi đầu tư tăng trưởng một phần quỹ BHXH góp phần tạo lập bền vững và cân đối quỹ BHXH
về lâu dài
- Đề tài cấp Bộ (2007), của tác giả Phạm Đỗ Nhật Tân, với đề tài : “Các giải
pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH bắt buộc khi thực hiện Luật BHXH” Nguy cơ
mất cân đối quỹ BHXH đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và tổ chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị tới Chính phủ Việt Nam từ khi xây dựng Luật BHXH Khi mà nguồn hình thành và quản lý các quỹ thành phần như là quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ BHTN, trong đó quỹ BHXH chia thành các quỹ thành phần như: Quỹ chi trả chế độ hưu trí, tử tuất (dài hạn); quỹ chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (ngắn hạn) Việc hình thành nên các quỹ này là từ nguồn thu BHXH bắt buộc Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống các quy định của Nhà nước về đối tượng thu, mức thu, cách thức vận hành và quản lý các quỹ BHXH, phân tích đánh giá thực trạng tình hình thu - chi của quỹ BHXH bắt buộc của Việt Nam, từ đó đề tài đã đưa ra các dẫn chứng về những ưu điểm và những mặt hạn chế về việc duy trì và mở rộng nguồn
Trang 12thu BHXH, sử dụng quỹ BHXH, điều kiện để hưởng các chế độ chính sách BHXH nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹ BHXH, cân đối quỹ BHXH trong tương lai
- Luận án Tiến sĩ kinh tế (2005), của tác giả Đỗ Văn Sinh, với đề tài: “Hoàn
thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam” Tác giả đã góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa
học và thực tiễn của quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam; tổng kết mô hình và phương thức quản lý quỹ BHXH của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam; đề xuất quan điểm
và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế (2010), của tác giả Nguyễn Hữu Vinh, Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, với đề tài: “Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng
và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Hà Nội” và Luận văn thạc sĩ kinh tế (2010), của tác
giả Nguyễn Dương, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, với đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội
thành phố Hà Nội” Hai đề tài của hai tác giả được thực hiện trong cùng một thời
gian, trên cùng một địa bàn, nghiên cứu hai nội dung khác nhau nhưng lại có những vấn đề liên quan với nhau Tác giả Nguyễn Hữu Vinh đi sâu lý giải nguyên nhân làm giảm nguồn thu là do tình trạng nợ đọng tiền đóng BHXH kéo dài, trốn đóng BHXH dưới nhiều hình thức của các doanh nghiệp, từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp làm giảm tình trạng nợ đọng, truy thu, tính lãi thậm chí là khoanh nợ để đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời không làm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các chế độ BHXH của NLĐ Còn tác giả Nguyễn Dương đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng quản lý thu BHXH, từ đó tác giả đã có nhận định về quản lý thu BHXH còn yếu kém do nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, tác giả đã có những kiến nghị về giải pháp tăng cường chất lượng quản lý thu, khắc phục tình trạng nợ đọng, trốn đóng tiền BHXH trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đề án nghiên cứu khoa học (2011), của tác giả Dương Xuân Triệu, Viện
nghiên cứu khoa học - BHXH Việt Nam, với đề tài: “Hoàn thiện quy trình quản lý
thu, quy trình cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế” Đề án đã hệ
thống hóa các văn bản của Nhà nước, của Ngành về thực hiện thu BHXH, cấp sổ
Trang 13BHXH, thẻ BHYT, phân tích đánh giá thực trạng thực hiện thu BHXH, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong mối tương quan hỗ trợ nhau Đề án đã phân tích được những mặt còn chưa hợp lý, hạn chế như: Văn bản quy định chồng chéo, thủ tục hành chính còn nhiều, biểu mẫu chưa khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp, việc thực hiện ở các địa phương còn chưa đồng nhất do nhận thức chưa đúng quy định của Nhà nước, của Ngành Từ đó Đề án đưa ra các giải pháp về xây dựng thống nhất các chỉ tiêu, biểu mẫu, quy trình về thu BHXH, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT phù hợp với tình hình mới
- Đề án khoa học của tác giả Trần Đình Liệu, Trưởng Ban thu - BHXH Việt
Nam, với đề tài: “Xây dựng quy định quản lý thu nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp” Đề án đã nghiên cứu và đánh giá tình hình nợ BHXH,
BHYT, BHTN của các đơn vị sử dụng lao động tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước
và công tác quản lý thu nợ BHXH, BHYT, BHTN trong thời gian 03 năm
2010-2012 Xác định những nguyên nhân khách quan, chủ quan đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý có hiệu quả nhằm chống thất thu, ngăn ngừa tình trạng chiếm dụng tiền đóng và giảm nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN
Luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ An Phương (2013), với đề tài: Quản lý thu
BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Đề tài đã đánh giá
thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Ngoài ra học viên còn tham khảo giáo trình giảng dạy môn Kinh tế Bảo hiểm của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; tài liệu giảng dạy của Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH của ngành, tài liệu nghiên cứu của Viện Khoa học BHXH, các bài viết trên Tạp chí BHXH, Báo BHXH Qua nắm bắt tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, học viên nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đây liên quan đến quản lý thu BHXH đều xuất phát từ thực trạng và hướng tới các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH ở mỗi địa phương, mỗi thời kỳ nhằm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu BHXH một cách bền vững
Trang 14Tuy nhiên, từ khi Luật BHXH sửa đổi bổ sung số 58/2014/QH13, ngày 20/11/2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua với nhiều quy định mới, trong bối cảnh tình hình nợ đọng BHXH, trốn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động tăng cao, đáng báo động làm ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợi cho NLĐ, tiềm tàng nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH trong dài hạn, chưa có công trình nghiên cứu,
đề tài nghiên cứu nào về quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2022
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, tác giả có đưa ra một số câu hỏi chủ yếu sau:
- BHXH là gì?
- Thu BHXH bắt buộc là gì?
- Quản lý thu BHXH bắt buộc là gì?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc?
- Thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại tỉnh Bắc Giang đang diễn ra như thế nào?
- BHXH tỉnh Bắc Giang đã đạt được kết quả gì trong thời gian qua?
- BHXH tỉnh Bắc Giang còn những hạn chế nào cần khắc phục và cần làm gì
để tăng cường công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý thu
BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH tỉnh Bắc Giang
Trang 156 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp truyền thống, bao gồm:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tài liệu được thu thập là các giáo trình, bài báo, các báo cáo của BHXH tỉnh Bắc Giang, Sở Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Giang, Cục Thông kế tỉnh Bắc Giang…
- Phương pháp phân tích: Dùng để phân tích công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bắc Giang
- Phương pháp thống kê: Để đánh giá sự tương quan giữa các biến số
- Phương pháp đánh giá: Để rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bắc Giang
7 Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại cơ quan
Bảo hiểm xã hội tỉnh Chương 2: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bặt buộc tại Bảo hiểm xã
hội tỉnh Bắc Giang Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm
xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI CƠ QUAN
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1.1 Bảo hiểm xã hội
1.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
Qua quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về BHXH, vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về BHXH, với cách tiếp cận từ nhiều góc độ khác:
Nếu tiếp cận từ mục đích an sinh xã hội và hình thức tổ chức thực hiện thì có khái niệm chung nhất về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền
tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội [25]
Từ góc độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết
Từ góc độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Từ góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…
Theo tập một Từ điển Bách khoa Việt Nam, thì: "BHXH là sự thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau,
Trang 17thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội"
Theo quy định tại Điều 3, Luật BHXH năm 2014: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [34]
Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và những người ruột thịt của NLĐ trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Hoạt động BHXH đã hình thành mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động
và diễn ra giữa ba bên là: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Trong đó:
- Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật BHXH Bên tham gia BHXH gồm có NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước
- Bên BHXH là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH, thường là một số tổ chức do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân hoặc tổ chức kinh tế xã hội) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ, lập nên quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH phát triển
- Bên được BHXH là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do có các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra Trong BHXH, bên được BHXH là NLĐ tham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu được BHXH
do pháp luật quy định
Trang 181.1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội
BHXH có các vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống NLĐ, trợ
giúp NLĐ khi gặp rủi ro: Ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm theo phương thức khi NLĐ có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của NLĐ và gia đình họ Do vậy, hoạt động BHXH một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất
về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững
Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH, nhất là chế độ hưu trí, góp phần ổn
định cuộc sống của NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày
Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất
lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của NLĐ trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của NLĐ về chính sách BHXH Khi đó, mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH Phạm vi đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi
Trang 19BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh Sự an tâm của NLĐ cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ thông qua chính sách BHXH đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ tư, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân
phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hình thành tự phát căn
cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông qua những quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và NLĐ là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng NLĐ Do vậy, NLĐ có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhập cao Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người “yếu thế” hơn trong xã hội Một bộ phận lao động khác do gặp phải rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống
1.1.1.3 Phân loại bảo hiểm xã hội
Trong lý luận cũng như trong thực tế, BHXH thường được phân loại theo các tiêu thức cơ bản sau:
* Phân loại theo loại hình BHXH của người tham gia BHXH
Theo cách này, BHXH được chia thành hai loại:
- BHXH bắt buộc: là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia
- BHXH tự nguyện: là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và
Trang 20Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
* Phân loại theo thời gian cân đối và hạch toán quỹ BHXH
Nếu căn cứ vào thời gian cân đối và hạch toán quỹ BHXH, có thể phân loại BHXH thành:
- BHXH ngắn hạn: thường dùng để chỉ nhóm các chế độ BHXH có thời hạn ngắn, trong khoảng một năm, chủ yếu trên cơ sở tương trợ cộng đồng giữa những người tham gia bảo hiểm
- BHXH dài hạn: thường được dùng để chỉ nhóm các chế độ BHXH dài hạn, từ khi NLĐ bắt đầu tham gia cho đến khi quan hệ BHXH kết thúc, theo hình thức lập quỹ tiết kiệm bắt buộc, có kết hợp với tương trợ cộng đồng
- Nếu căn cứ vào tần suất chi trả bảo hiểm, có thể phân BHXH thành các loại bảo hiểm một lần, bảo hiểm một thời kỳ và bảo hiểm thường xuyên
- Nếu căn cứ vào đối tượng hưởng BHXH, có thể phân thành BHXH cho NLĐ và trợ cấp BHXH cho thân nhân của NLĐ …
Việc phân loại BHXH theo các tiêu thức trên có thể sử dụng trên cơ sở các mục đích nghiên cứu khác nhau
1.1.1.4 Chức năng của bảo hiểm xã hội
Nhiều NLĐ thường băn khoăn và không muốn tham gia BHXH vì nghĩ rằng mức đóng BHXH khá cao nhưng không hiểu rõ được đóng BHXH để làm gì? Vậy thực chất khi đóng BHXH để làm gì?
Thứ nhất, BHXH sẽ bảo đảm thay thế hoặc bù đắp sự thiếu hụt về thu nhập của NLĐ và gia đình họ khi gặp phải những rủi ro trong cuộc sống khi tai nạn, ốm
Trang 21Thứ hai, BHXH sẽ phân phối lại thu nhập Chức năng này thể hiện ở việc NLĐ san sẻ thu nhập theo thời gian Cụ thể họ sẽ rút phần thu nhập từng tháng của mình để dành cho những phần trợ cấp khi gặp rủi ro Hay việc NSDLĐ cũng sẽ đóng BHXH cho NLĐ thành từng khoản tiền nhỏ tránh phải mất một khoản tiền lớn cho NLĐ khi họ gặp nhiều rủi ro cùng một lúc Ngoài ra, NLĐ khỏe đóng góp cho NLĐ ốm đau, NLĐ trẻ đóng góp cho NLĐ già
Thứ ba, góp phần tạo sự tương trợ, chia sẻ giữa các nhóm người Mỗi NLĐ chỉ phải đóng một phần tiền nhỏ theo thu nhập nhưng với số lượng NLĐ lớn sẽ tạo thành một quỹ bảo hiểm xã hội khổng lồ, giúp đỡ cho những NLĐ gặp rủi ro Hay việc NSDLĐ trích ra từ nguồn thu đóng BHXH sẽ không phải lo lắng khi NLĐ của
họ gặp rủi ro
Như vậy, BHXH mang tính chất kinh tế - xã hội, giúp cho mối quan hệ lao động ổn định, doanh nghiệp phát triển, kinh tế hưng thịnh
1.1.2 Bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo khoản 2 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 cho rằng: Bảo hiểm xã hội bắt
buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia
1.1.2.2 Đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo Điều 4, Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định đối tượng tham gia đóng BHXH bắt buộc gồm:
Thứ nhất, NLĐ là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc, bao gồm:
- Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Trang 22- Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ ngày 01/01/2018);
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong
tổ chức cơ yếu đối với trường hợp BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH tỉnh;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc được áp dụng đối với các hợp đồng sau:
+ Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép đưa NLĐ
đi làm việc ở nước ngoài;
+ Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài;
+ Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa NLĐ đi làm việc theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề;
+ Hợp đồng cá nhân
- Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH;
- NLĐ quy định tại các Điểm 1.1, 1.2, 1.3, 1.4, 1.5 và 1.6 Khoản này được cử
đi học, thực tập, công tác trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương ở trong nước thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc;
Trang 23Thứ hai, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy
phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ ngày 01/01/2018 theo quy định của Chính phủ)
Thứ ba, NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
1.1.2.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Chế độ ốm đau: Khi NLĐ bị ốm đau, tai nạn không phải là tai nạn lao
động hoặc tự hủy hoại sức khỏe của họ và có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế thì họ sẽ được nghỉ hưởng chế độ ốm đau Trường hợp NLĐ có con dưới 7 tuổi cũng sẽ được hưởng chế độ nghỉ con ốm nếu như có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền
Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau cùng mức hưởng chế độ ốm đau phụ thuộc vào đối tượng hưởng, làm việc trong môi trường bình thường hay làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên, mắc bệnh nhẹ hay mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành và thời gian tham gia BHXH
Sau khi hưởng chế độ ốm đau, trong vòng 30 ngày kể từ ngày quay lại làm việc mà sức khỏe NLĐ chưa được phục hồi thì họ còn được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe
* Chế độ thai sản: NLĐ thuộc đối tượng và thuộc một trong các trường hợp
theo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật BHXH năm 2014 khi đang đóng BHXH vào quỹ ốm đau và thai sản sẽ được nghỉ hưởng chế độ thai sản
Trang 24Đối với NLĐ nữ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sẽ được nghỉ khám thai; nghỉ hưởng chế độ khi sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý; nghỉ hưởng chế độ khi sinh con; nghỉ hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai Ngoài ra, lao động nữ khi mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ hoặc NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi cũng sẽ được nghỉ hưởng chế độ thai sản khi đủ điều kiện hưởng
Lao động nữ sinh con hoặc NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động
nữ sinh con hoặc tháng NLĐ nhận nuôi con nuôi Trường hợp sinh con nhưng chỉ
có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con
Lao động nữ sau khi hưởng chế độ thai sản, trong vòng 30 ngày kể từ ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày
* Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: NLĐ khi bị tai nạn lao động
thuộc đối tượng quy định tại Điều 42 Luật BHXH năm 2014 và đủ điều kiện được quy định thuộc Điều 43, Điều 44 Luật BHXH năm 2014 sẽ được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động, thời gian tham gia BHXH
Ngoài khoản trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng, NLĐ khi đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động, chế độ bệnh nghề nghiệp còn có thể được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; hưởng trợ cấp phục vụ hàng tháng; trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật
* Chế độ hưu trí: Về điều kiện nghỉ hưu phụ thuộc vào tuổi, thời gian tham
gia BHXH tối thiểu là 20 năm, công việc, mức suy giảm khả năng lao động,… được quy định tại Điều 54 và Điều 55 Luật BHXH năm 2014
Mức lương hưu hàng tháng của NLĐ đóng BHXH tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXH và mức bình quân tiền lương đóng BHXH Năm 2019, tương ứng
Trang 25với 45% mức bình quân tiền lương đóng BHXH đối với NLĐ nam nghỉ hưu tham gia BHXH 17 năm; lao động nữ nghỉ hưu tham gia BHXH 15 năm Sau đó cứ thêm mỗi năm, NLĐ được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%
Về thời điểm hưởng lương hưu hoặc là thời điểm ghi trong quyết định nghỉ việc do NSDLĐ lập khi NLĐ đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật; hoặc là tính từ tháng liền kề khi NLĐ đủ điều kiện hưởng lương hưu và
có văn bản đề nghị gửi cho cơ quan BHXH; hoặc là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của NLĐ đã đủ điều kiện hưởng lương hưu
Ngoài ra, nếu như NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH; sau 1 năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH và không tiếp tục đóng BHXH; ra nước ngoài định cư; mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng thì họ có thể yêu cầu cơ quan BHXH cấp quận (huyện) nơi mà họ cư trú để hưởng BHXH một lần Về mức hưởng BHXH một lần phụ thuộc vào thời gian đã tham gia BHXH
và mức tiền lương bình quân đóng BHXH
Đối với cách xác định mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần:
- NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ phụ thuộc vào thời gian bắt đầu tham gia BHXH
- NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian
* Chế độ tử tuất: Hiện nay sẽ gồm có trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất hàng
tháng, trợ cấp tuất một lần
NLĐ đang đóng BHXH hoặc NLĐ đang bảo lưu thời gian đóng BHXH mà
đã có thời gian đóng từ đủ 12 tháng trở lên; NLĐ chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc chết trong thời gian điều trị do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc sẽ được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức
Trang 26lương cơ sở tại tháng mà người đó chết Nhân thân của những đối tượng trên được hưởng trợ cấp mai táng khi người đó bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Trợ cấp tuất là khoản bảo hiểm thu nhập cho người lao động, phần thu nhập dành cho những thân nhân của những người lao động đã tham gia BHXH không có khả năng lao động như những người đã già (hết tuổi lao động) hoặc trẻ em (chưa đến tuổi lao động) Trước đây những người này đã sống bằng nguồn thu nhập (hoặc nguồn bảo hiểm thu nhập) của người lao động
Mức trợ cấp tuất hàng tháng phụ thuộc vào mức lương cơ sở, mức trợ cấp tuất một lần phụ thuộc vào thời gian tham gia BHXH và mức tiền lương bình quân đóng BHXH
* Bảo hiểm thất nghiệp: là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH, có
mục đích hỗ trợ thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thất nghiệp Để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động phải đang tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian 24 tháng trước khi bị thất nghiệp Trong thời gian 3 tháng kể từ ngày thất nghiệp, người lao động phải nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm Người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp phải chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp
Về thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ BHYT theo quy định của pháp luật về BHYT
1.1.2.4 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Căn cứ vào Luật BHXH năm 2014 và các Nghị định của Chính phủ Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ, bao gồm: mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác
* Mức đóng BHXH của người sử dụng lao động và NLĐ trong năm 2017 và
2018 được quy định cụ thể trong bảng sau:
Trang 27BNN
BHXH HT&TT BHYT BHTN
HT &
TT
Ốm đau, TS
và bệnh nghề nghiệp bằng 0,5% mức lương tháng của NLĐ Như vậy, tổng mức đóng BHXH 2018 của NSDLĐ giảm 0,5% so với mức đóng BHXH 2017
* Mức đóng BHXH của NLĐ và người sử dụng lao động năm 2019
Căn cứ vào Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, Luật BHXH 2014, Luật việc làm 2013, Nghị định 146/2018/NĐ-CP, Nghị định 44/2017/NĐ-CP, Nghị định 143/2018/NĐ-CP, Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 thì mức đóng BHXH bắt buộc {đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất (HT); quỹ ốm đau, thai sản (ÔĐ); quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (LĐ); quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); quỹ BHYT} áp dụng trong năm 2019 cụ thể như sau:
- Đối với NLĐ Việt Nam
Bảng 1.2: Mức đóng BHXH đối với NLĐ Việt Nam năm 2019
Trang 28- Đối với NLĐ nước ngoài
Bảng 1.3: Mức đóng BHXH đối với NLĐ nước ngoài năm 2019
- Ốm đau, thai sản: 3%
- Hưu trí, tử tuất: 22%
Đối tượng người hoạt động không chuyên trách phường, xã mức đóng BHXH hàng tháng vào quỹ hưu trí, tử tuất bằng 22% mức lương cơ sở trong đó NLĐ đóng 8%; đơn vị đóng 14%
Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối với NLĐ đã có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã hưởng BHXH một lần
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa không quá 06 tháng để đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc trợ cấp tuất hằng tháng: Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của NLĐ trước khi nghỉ việc (hoặc chết) vào quỹ hưu trí và tử tuất
1.1.2.5 Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Tiền lương do Nhà nước quy định
- NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân
Trang 29hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này tính trên mức lương cơ sở
Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại Điểm này bao gồm cả
hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương
- Người hoạt động không chuyên trách phường, xã thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương cơ sở
* Tiền lương do đơn vị quyết định
- Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức lương và phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về HĐLĐ, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động (sau đây được viết là Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH)
Phụ cấp lương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động
mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như: phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự
- Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 Điều này và các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH
- Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi NLĐ có thân nhân bị chết, NLĐ
Trang 30có người thân kết hôn, sinh nhật của NLĐ, trợ cấp cho NLĐ gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong HĐLĐ theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày
12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động
- Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do doanh nghiệp quyết định, trừ viên chức quản lý chuyên trách trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu
Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do đại hội thành viên quyết định
- Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người đại diện phần vốn nhà nước không chuyên trách tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà nước sau cổ phần hóa; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (sau đây được viết là tập đoàn, tổng công ty, công ty) là tiền lương theo chế độ tiền lương của
cơ quan, tổ chức đang công tác trước khi được cử làm đại diện phần vốn nhà nước
Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người đại diện phần vốn nhà nước chuyên trách tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty là tiền lương theo chế độ tiền lương do tập đoàn, tổng công ty, công ty quyết định
- Trong thời gian NLĐ ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động
mà vẫn được hưởng tiền lương thì NLĐ và NSDLĐ thực hiện đóng BHXH, BHYT, BHTN theo mức tiền lương NLĐ được hưởng trong thời gian ngừng việc
- Mức tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT cao hơn 20 tháng lương cơ sở thì mức tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT bằng 20 tháng lương cơ sở Mức tiền lương tháng đóng BHTN cao hơn 20 tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng BHTN bằng 20 tháng lương tối thiểu vùng
Trang 311.1.2.6 Phương thức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Đóng hàng tháng
Hằng tháng, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương tháng của những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH
mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
* Đóng 03 tháng hoặc 06 tháng một lần
Đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóng theo phương thức hằng tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng một lần Chậm nhất đến ngày cuối cùng của phương thức đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH
1.1.3 Thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.3.1 Đặc điểm công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
+ Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian nên công tác quản lý thu BHXH bắt buộc là rất khó khăn và phức tạp
+ Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại do đó khối lượng công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương ứng
+ Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn là tiền thu BHXH
Trang 32Do vậy, công tác quản lý thu BHXH cũng là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành BHXH Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong cả hệ thống từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả thu, đặc biệt là quản lý tiền thu quỹ BHXH…
Trong quá trình tiến hành công tác thu với phương châm là thu đúng đối tượng, đúng phạm vi thu và quan trọng hơn nữa là thu được đủ số tiền đóng BHXH
từ các đối tượng tham gia BHXH thì việc tăng cường công tác quản lý thu BHXH là vấn đề được các cơ quan quản lý và mọi người rất quan tâm Để hình thành nên một
kế hoạch thu, một chính sách thu BHXH thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết hàng loạt vấn đề cả về
lý luận và thực tiễn
1.1.3.2 Vai trò của công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng
và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH
- Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành
BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống nhất: Thu BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa
phương cùng với sự phối hợp của các ban, ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ
việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ
đọng BHXH từ các cơ quan, đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
- Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH có vai
trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách
Trang 33BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập
quỹ BHXH Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm
và có sự biến động về mức đóng và số lượng người tham gia
- Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về một
mối, vừa đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập
trung thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan, đơn vị cũng như của từng NLĐ Hơn nữa, hoạt động thu BHXH
là hoạt động liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng cũng như bản chất của mình
- Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công
tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng
như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ Vậy hoạt động thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị doanh nghiệp được hoạt động bình thường
1.1.3.3 Phương pháp thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Phương pháp thu BHXH bắt buộc được thực hiện thông qua hình thức gửi thông báo kết quả đóng BHXH bắt buộc: Hàng tháng, căn cứ điều chỉnh tăng, giảm
Trang 34lao động, quỹ tiền lương tham gia BHXH của đơn vị sử dụng lao động, cơ quan BHXH gửi thông báo đến các đơn vị sử dụng lao động để làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc Các đơn vị sử dụng lao động căn cứ vào phương thức đóng BHXH theo quy định (hằng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng) để thực hiện chuyển khản hoặc nộp tiền đóng BHXH vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH
Đối với các đơn vị sử dụng lao động nợ tiền BHXH, thì phương pháp thu chính được cơ quan BHXH thực hiện như sau: Tính lãi chậm đóng; Lập biên bản làm việc, gửi văn bản đôn đốc nợ; thanh tra chuyên ngành và xử phạt vi phạm hành chính; khởi kiện doanh nghiệp ra tòa án Trường hợp phát hiện đơn vị có dấu hiệu phạm tội trốn đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ, chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền đề nghị điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật hình sự
1.2 QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.2.1 Khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quản lý thu BHXH bắt buộc là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt được mục tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phương pháp nhất định" [28] Quản lý thu BHXH bắt buộc giữ vai trò quan trọng và quyết định sự thành công trong việc thực hiện BHXH Nguồn quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ Đây là nguồn thu chính, lớn nhất và đóng vai trò quyết định
Muốn quản lý tốt nguồn thu, thì trước tiên phải quản lý được đối tượng Đây
là công việc đầu tiên mà cơ quan BHXH nên thực hiện khi triển khai BHXH
- Quản lý đối tượng nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ không những đảm bảo quyền lợi của NLĐ mà còn đảm bảo khả năng chi trả của quỹ BHXH và từ đó đảm bảo cho chính sách BHXH được thực hiện nghiêm túc
- Quản lý đối tượng bao gồm các nội dung: Quản lý đối tượng thuộc diện tham gia BHXH; quản lý quỹ lương của doanh nghiệp; quản lý đối tượng đăng ký tham gia BHXH và quản lý quá trình tham gia BHXH của đối tượng thông qua sổ BHXH
Trang 35- Trên cơ sở quản lý được đối tượng thuộc diện tham gia BHXH và quỹ lương của doanh nghiệp cơ quan BHXH sẽ có căn cứ để buộc các doanh nghiệp phải tham gia đầy đủ, thực hiện BHXH cho NLĐ
Quản lý đối tượng tham gia BHXH và quá trình đóng BHXH của đối tượng nhằm duy trì nguồn thu và tránh được hiện tượng gian lận nhằm trục lợi BHXH
1.2.2 Vai trò quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quản lý thu BHXH có liên quan đến hầu hết các hoạt động xã hội khác và các hoạt động kinh tế, có phạm vi hoạt động rộng, quy mô lớn, có liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của số đông người trong cộng đồng xã hội Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì lợi ích của các bên tham gia BHXH cũng rất khác nhau Chủ sử dụng lao động thường muốn đóng góp càng ít càng tốt, thậm chí muốn trốn tránh trách nhiệm đóng góp; NLĐ muốn đóng góp ít nhưng lại muốn được đảm bảo nhiều quyền lợi Chính vì vậy cơ quan BHXH quản lý và tổ chức thực hiện chính sách BHXH phải tăng cường các biện pháp để thu đúng, thu đủ thu theo quy định của pháp luật
Như vậy, quản lý thu BHXH đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động BHXH, cụ thể:
Một là, tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH
Đối tượng tham gia BHXH bao trùm tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực, mức thu nhập, nhận thức, thái độ khác nhau Nếu không có sự chỉ đạo thống nhất thì hoạt động thu sẽ không đạt kết quả cao Quản lý tạo ra sự thống nhất, ý chí, sự đồng bộ giữa các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện Đồng thời, thông qua việc lập kế hoạch, phân công công việc một cách rõ ràng, công tác quản lý thu BHXH cũng đạt hiệu quả cao
mà lại giảm được phần chi phí đáng kể
Thông qua hoạt động quản lý đã thống nhất được những nội dung quan trọng của hoạt động thu BHXH đó là: Thống nhất về đối tượng thu, thống nhất về biểu mẫu, hồ sơ thu, quy trình thu, nộp BHXH
Hai là, đảm bảo hoạt động thu BHXH ổn định, bền vững, hiệu quả
Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là mục tiêu mà
hệ thống BHXH của quốc gia nào cũng mong muốn Tuy nhiên, mục tiêu này chỉ đạt được khi:
Trang 36+ Hoạt động thu BHXH được định hướng đúng đắn thông qua quản lý, công tác thu được định hướng đúng đắn theo mục tiêu chung là: Thu đúng, thu đủ, không
để thất thoát thu Từ đó, hướng mọi sự nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó
+ Hoạt động thu BHXH được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng: Một trong những nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhiệm là chỉ huy Nhờ chỉ huy
mà quy trình thu với rất nhiều yếu tố phức tạp được tổ chức, điều hòa phối hợp nhịp nhàng, từ đó tăng cường tính ổn định trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu quản
lý thu BHXH
+ Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức: Thông qua đánh giá, khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân tổ chức thu BHXH tốt sẽ tạo động lực cho các cá nhân Đồng thời, qua việc uốn nắn những lệch lạc sai sót của cá nhân giúp cho quá trình thu không bị thất thoát
Ba là, kiểm tra đánh giá hoạt động thu BHXH: Quá trình thu BHXH không
tránh khỏi tình trạng thất thoát Vì vậy, với nhiệm vụ của người quản lý là kiểm tra thì hoạt động thu BHXH đã được đánh giá một cách kịp thời và toàn diện Nhờ có hoạt động quản lý thu sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn được sát thực tiễn với quá trình thu
1.2.3 Mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quản lý thu BHXH bắt buộc nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Phát triển quỹ BHXH, đảm bảo các yếu tố đầu vào (tiền nộp BHXH) đủ khả năng chi trả các chế độ cho NLĐ tham gia BHXH
Đảm bảo cho các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, bảo đảm tính xã hội thông qua việc chia sẻ khi NLĐ gặp rủi ro
Xác định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH; phân định
rõ chức năng hoạt động quản lý Nhà nước với chức năng sự nghiệp của BHXH
Không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thu BHXH được
sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHXH liên tục tăng trưởng, chống thất thoát quỹ BHXH
Trang 371.2.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.4.1 Lập kế hoạch thu
* Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã (gọi chung là BHXH huyện)
- BHXH huyện căn cứ tình hình thực hiện năm trước, 6 tháng đầu năm và khả năng mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT năm sau (mẫu K01-TS) gửi 01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 10/6 hằng năm
- Lập 02 bản kế hoạch Ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT,
hỗ trợ quỹ BHTN, gửi kịp thời cho cơ quan tài chính cùng cấp theo phân cấp Ngân sách địa phương để tổng hợp trình UBND huyện quyết định, hoặc gửi BHXH tỉnh
để lập kế hoạch chung toàn tỉnh
* Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố (gọi chung là BHXH tỉnh)
- Phòng Quản lý thu BHXH tỉnh lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN; phối hợp các Phòng có liên quan lập kế hoạch kinh phí hỗ trợ công tác thu đối với các đối tượng do tỉnh trực tiếp thu
- Tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT (mẫu K01-TS), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/6 hàng năm
- Lập 02 bản kế hoạch Ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT,
hỗ trợ quỹ BHTN, gửi Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh quyết định
- Trên cơ sở kế hoạch thu, phân bổ kinh phí hỗ trợ công tác thu, hoa hồng đại
lý được BHXH Việt Nam giao, tiến hành giao kế hoạch thu cho BHXH tỉnh và BHXH huyện
* Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Ban thu BHXH Việt Nam căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm trước, ước thực hiện năm nay và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu BHXH, BHYT, BHTN, lập kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN, phối hợp với Ban KHTC báo cáo Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, bảo vệ kế hoạch với Nhà nước
Trang 38* Quy trình thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Hiện nay, quy trình thu BHXH bắt buộc đang được thực hiện theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam, theo các bước sau:
Bước 1: Đơn vị mới đăng ký tham gia BHXH bắt buộc và các đơn vị đang
tham gia BHXH bắt buộc có biến động về lao động, tổng quỹ lương, thì đơn vị lập danh sách lao động, quỹ lương để đăng ký với cơ quan BHXH
Bước 2: Căn cứ số liệu ở danh sách lao động, quỹ lương mà các đơn vị đã lập
theo mẫu, cơ quan BHXH lập sổ chi tiết phải thu BHXH bắt buộc đối với từng đơn vị
Bước 3: Đơn vị chuyển tiền đóng BHXH bắt buộc và thanh toán cho các đối
tượng hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khoẻ Sau khi nhận được giấy báo của ngân hàng về việc đơn vị chuyển tiền nộp BHXH bắt buộc và các chứng từ quyết toán số tiền 2% để lại đơn vị, cơ quan BHXH tiến hành hạch toán vào tài khoản thu BHXH bắt buộc
Bước 4: Căn cứ số liệu từ tài khoản, cơ quan BHXH lập sổ chi tiết tiền đóng
BHXH bắt buộc
Bước 5: Căn cứ số liệu từ sổ chi tiết số phải thu BHXH bắt buộc và sổ chi
tiết tiền đóng BHXH bắt buộc cho cơ quan BHXH lập được bảng tính lãi
Bước 6: Căn cứ số liệu từ bảng tính lãi để lập sổ chi tiết tiền lãi
Bước 7: Cơ quan BHXH lập sổ tổng hợp căn cứ số liệu từ sổ chi tiết phải thu,
sổ chi tiết tiền đóng, sổ chi tiết tiền lãi
Bước 8: Từ sổ tổng hợp, căn cứ yêu cầu của công tác thu BHXH bắt buộc để
lập các báo cáo; thông báo quỹ BHXH bắt buộc; báo cáo 2% để lại đơn vị; báo cáo lãi
1.2.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
- BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản)
- Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch-Tài chính) và BHXH huyện gửi thông báo quyết toán cho Phòng Quản lý thu hoặc bộ phận Thu;
Trang 39- BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH bắt buộc theo 6 tháng hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh
* Phân cấp quản lý thu BHXH bắt buộc
- BHXH Việt Nam (Ban thu) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH bắt buộc; Kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH bắt buộc, cấp sổ BHXH và thẩm định số thu BHXH bắt buộc
- BHXH tỉnh:
+ BHXH tỉnh (Phòng Quản lý thu) trực tiếp thu: Các đơn vị do Trung ương quản lý đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố; Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh quản lý; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức quốc tế; Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang; Các đơn vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Những đơn vị BHXH huyện không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổ chức thu
+ Phòng Quản lý thu có trách nhiệm: Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH bắt buộc; Định kỳ quý, năm thẩm định số thu BHXH bắt buộc đối với BHXH huyện; Phối hợp với phòng Kế hoạch Tài chính lập và giao kế hoạch, quản lý tiền thu
- BHXH huyện trực tiếp thu BHXH bắt buộc: Các đơn vị trên địa bàn do huyện quản lý; Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quản lý thu, nộp BHXH bắt buộc;
* Quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Đối tượng tham gia BHXH bao gồm NLĐ và NSDLĐ Đây là người trực tiếp đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một tỷ lệ nhất định trên cơ sở tiền lương, tiền công của NLĐ Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội Trong thời kỳ đầu, khi triển khai chính sách BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với NLĐ thuộc khu vực Nhà nước nhằm đảm bảo mức đóng góp ổn định và đảm bảo an toàn quỹ BHXH Đến nay, khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng lao động trong và ngoài Nhà nước tăng lên, nên đối tượng tham gia BHXH cũng
Trang 40được mở rộng cho phù hợp Ở Việt Nam hiện nay, đối tượng tham gia đóng BHXH bắt buộc được quy định trong Quyết định 595/QĐ-BHXH, ngày 14 tháng 4 năm
2017
* Quản lý mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ nguồn đóng góp của NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước hỗ trợ, đóng thêm và các nguồn thu khác từ các cá nhân, tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, thu nhập, tiền lương, các yếu
tố sinh học, tuổi thọ, … mà mỗi nước quy định mức đóng góp cho phù hợp
* Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc
- Thu BHXH bắt buộc bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp cá biệt phải thu bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải nộp tiền vào ngân hàng ngay trong ngày
- Không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc để chi cho bất cứ việc gì; Không được áp dụng hình thức gán thu bù chi tiền BHXH bắt buộc đối với các đơn vị
- Chậm nhất vào ngày cuối tháng, cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng phải nộp đủ số tiền đã được xác định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH nơi đăng ký tham gia BHXH bắt buộc Nếu chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với kỳ hạn phải nộp thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt hành chính về BHXH, cơ quan, đơn vị còn phải nộp tiền lãi theo mức lãi suất tiền vay quá hạn do ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm truy nộp
- BHXH huyện chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng Riêng tháng cuối năm chuyển toàn
bộ số tiền thu BHXH bắt buộc của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờ ngày 31/12
- Hàng tháng BHXH tỉnh chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam vào các ngày 10, 20 và ngày cuối tháng Nếu số
dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh quá 5 tỷ đồng, thì BHXH tỉnh phải chuyển bổ sung ngay về BHXH Việt Nam Riêng tháng cuối năm chuyển hết số tiền thu BHXH bắt buộc về BHXH Việt Nam trước 24 giờ ngày 31/12