Khái niệm về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc Chế độ BHXH bắt buộc là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ HOA
QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM
XÃ HỘI HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: T.S Lê Thị Minh Châu
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Minh Châu – Trưởng bộ môn Kế toán tài chính, Khoa kế toán
và quản trị kinh doanh, Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Kế toán tài chính, Khoa Kế toán và quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài
và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức BHXH huyện Tiền Hải
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình, sơ đồ vii
Trích yếu lý luận viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 4
2.1 Những vẫn đề lý luận cơ bản về bhxh bắt buộc 4
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội 27
2.2.1 Hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 27
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại một số huyện cùng cấp ở trong nước 29
2.2.3 Bài học kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Tiền Hải 32
2.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan 33
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 34
3.1 Một số đặc điểm của huyện tiền hải có ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội 34
3.1.1 Giới thiệu chung về huyện Tiền Hải 34
3.1.2 Dân số và lao động 37
3.1.3 Kinh tế - xã hội 38
3.1.4 Giới thiệu về bảo hiểm xã hội huyện Tiền Hải 39
Trang 53.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 43
3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 44
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 45
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47
4.1 Quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 47
4.2 Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 48
4.2.1 Lập kế hoạch thu bảo hiểm xã hội 48
4.2.2 Tổ chức thực hiện thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 53
4.2.3 Quyết toán thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 57
4.2.4 Kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm 58
4.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến quản lý thu bhxh bắt buộc trên địa bàn huyện Tiền Hải 59
4.3.1 Yếu tố khách quan 59
4.3.2 Yếu tố chủ quan 64
4.4 Một số giải pháp tăng cường quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Tiền Hải 68
4.4.1 Mục tiêu chung của giải pháp 68
4.4.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý thu BHXH bắt buộc tại huyện Tiền Hải 70 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 79
5.2.1 Kiến nghị với huyện ủy - HĐND - UBND huyện Tiền Hải 79
5.2.2 Kiến nghị với bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình 80
5.2.3 Kiến nghị với bảo hiểm xã hội Việt Nam 80
5.2.4 Kiến nghị với chính phủ 81
5.2.5 Kiến nghị với các bộ, ngành 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 85
Phiếu khảo sát 85
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT
BHTN
Bảo hiểm y tế Bảo hiểm thất nghiệp CCHC Cải cách hành chính
CĐBHXH Chế độ bảo hiểm xã hội
DN Doanh nghiệp
HCSN Hành chính sự nghiệp
LĐLĐ Liên đoàn lao động
LĐTB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội
NLĐ Người lao động
NSDLĐ Người sử dụng lao động
NSNN Ngân sách Nhà nước
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNHS&TKQTTHC Tiếp nhận hồ sơ & trả kết quả thủ tục hành chính TTHC
HĐND
Thủ tục hành chính Hội đồng nhân dân UBND Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mức phạt vi phạm hành chính về BHXH 21
Bảng 3.1 Dân số huyện Tiền Hải giai đoạn 2016 -2018 38
Bảng 3.2 Tăng trưởng kinh tế theo GDP giai đoạn 2016- 2018 39
Bảng 4.1 Tỷ lệ trích nộp bảo hiểm xã hội đối với người lao động và người sử dụng lao động từ năm 2016-2018 50
Bảng 4.2 Mức lương cơ sở giai đoạn từ năm 2016 đến nay 50
Bảng 4.3 Mức lương tối thiểu vùng giai đoạn 2016 – 2018 51
Bảng 4.4 Kế hoạch giao thu quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội huyện Tiền Hải Giai đoạn 2016-2018 52
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện kế hoạch về quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Tiền Hải giai đoạn 2016 – 2018 54
Bảng 4.6 Tổng quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của các khối loại hình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong giai đoạn 2016-2018 54
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện kế hoạch về quản lý số tiền thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Tiền Hải giai đoạn 2016 – 2018 55
Bảng 4.8 Kết quả nợ đọng bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp tại huyện Tiền Hải giai đoạn 2016-2018 57
Bảng 4.9 Kết quả đơn vị thanh tra kiểm tra tại bảo hiểm xã hội huyện Tiền Hải giai đoạn 2016-2018 59
Bảng 4.10 Đánh giá của các doanh nghiệp về hoạt động thông tin tuyên truyền 65
Bảng 4.11 Nguồn thông tin tìm hiểu về bảo hiểm xã hội của người lao động 66
Bảng 4.12 Đánh giá của các đơn vị về cải cách hành chính 67
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Quy trình tổ chức quản lý thu BHXH bắt buộc 19
Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý thu BHXH bắt buộc tại Việt Nam 29
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý BHXH huyện Tiền Hải 43
Sơ đồ 4.1 Quy trình quản lý thu BHXH bắt buộc tại huyện Tiền Hải 47
Sơ đồ 4.2 Phối hợp giữa các bên liên quan trong quản lý thu BHXH 47
Sơ đồ 4.3 Căn cứ lập kế hoạch thu BHXH tại BHXH huyện Tiền Hải 48
Trang 9TRÍCH YẾU LÝ LUẬN Tên tác giả: Vũ Thị Hoa
Tên luận văn: “Quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình”
Ngành: Kế toán Mã số: 8340301
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH bắt buộc
- Phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý thu BHXH bắt buộc đến năm 2025
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Phương pháp thống kê mô tả, Phương pháp so sánh, phương pháp xử lý số liệu
- Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu:
Kết quả chính và kết luận
- BHXH huyện đã tích cực tham mưu với các cấp có thẩm quyền, phối hợp với các ngành có liên quan, tăng cường công tác truyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động doanh nghiệp và người lao động tham gia, chính vì thế số người tham gia BHXH năm sau thường cao hơn năm trước (từ năm 2016 đến năm 2018 số lao động tham gia BHXH tăng bình quân hàng năm là 5.7%)
- Hàng năm BHXH đã xây dụng kế hoạch sát với tình hình thực tế và thường xuyên báo cáo cấp trên về khả năng thực hiện trong công tác quản lý thu, xin ý kiến chỉ đạo kịp thời để triển khai, tổ chức thực hiện theo quy định đảm bảo có hiệu quả, năm
2016 số thu vượt so với số kế hoạch 2,2% đến năm 2018 số thu vượt số kế hoạch 1,5%, ngoài ra BHXH huyện Tiền Hải cũng đã thực hiện tốt công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn thể hiện qua số đơn vị nợ và số tiền nợ đọng cụ thể: năm 2016 có 9 đơn vị nợ với số tiền 2,3 tỷ đồng, năm 2018 có 7 đơn vị nợ với số tiền 4,6 tỷ đồng
Trong nhiều năm qua công tác thu BHXH trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung
và BHXH huyện Tiền Hải nói riêng luôn hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được giao
Bảo hiểm xã hội huyện đã thực hiện quản lý nguồn thu, quản lý, phát triển, mở
Trang 10rộng đối tượng, tăng nguồn thu một cách hiệu quả
BHXH huyện vẫn còn có nhiều hạn chế: Trong điều kiện hệ thống pháp luật đang hoàn thiện và chưa nghiêm minh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chối bỏ hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm xã hội của mình Nhiều doanh nghiệp còn nợ đọng bảo hiểm, đóng không đúng mức lương và không đóng đủ số người theo quy định
Tác giả đã nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH trong thời gian tới là: (i) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục Luật BHXH và các văn bản quy phạm pháp luật; (ii) Tham mưu cơ chế phối hợp với các cơ quan chức năng trong quản lý thu BHXH bắt buộc; (iii) Xử lý khắc phục tình trạng nợ đọng tiền BHXH; (iv) Cải thiện phương thức quản lý thu BHXH bắt buộc; (v) Tăng cường hoạt động thanh, kiểm tra; (vi) Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ viên chức và hỗ trợ kinh phí cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ
Trang 11THESIS ABSTRACT Master candidate: Vu Thi Hoa
Thesistitle: "Management of compulsory social insurance revenue at the Social
Insurance of Tien Hai district, Thai Binh province"
Materials and Methods
- Methods of data collection: Secondary data, primary data
- Methods of data processing and analysis: methods of descriptive statistical, methods of comparison, methods of data processing
- System of research targets
Main findings and conclusions
- District social insurance has actively consulted with competent authorities, coordinated with relevant departments, strengthened the propaganda, dissemination of laws, mobilized businesses and workers to participate, therefore the number of people participating
in social insurance has been often higher than the previous year (from 2016 to 2018, the average number of workers participating in social insurance increased 5.7% annually)
- Annually, Social Insurance build a plan close to the actual situation and regularly reports to its superior about the ability to perform in the management of revenue, asks for timely direction to deploy and organize the implementation according to regulations to ensure effectiveness, in 2016 the revenue exceeded the plan by 2.2%, to 2018 the revenue exceeded the plan by 1.5%, in addition, the Social Insurance of Tien Hai district also performs well the management of social insurance revenue in the area It is reflected in the number of debt units and outstanding debts: in 2016, there were 9 debt units with the amount of VND 2.3 billion, in
2018 there were 7 debt units with the amount of 4.6 billions dong
Trang 12For many years, the social insurance revenue in Thai Binh province in general and the social insurance of Tien Hai district in particular has always completed the assigned targets
District Social Insurance has issued regulations on revenue management, management, development, object expansion, effective revenue increase
The district social insurance still has many limitations: In the condition that the legal system is completing and not strict, creating conditions for businesses to deny or not fully implement their social responsibilities Many businesses still owe insurance debts, pay the wrong amount of salary and do not pay the full number of people as prescribed
The author has researched and proposed solutions to improve the management
of social insurance revenue in the coming time as follows: (i) Promoting information and propaganda about social insurance; (ii) strengthening coordination mechanisms with related departments; (iii) coordinating in handling and overcoming the situation of outstanding social insurance debts; (iv) improving the method of management of compulsory social insurance revenue; (v) strengthening the inspection and supervision
in the implementation of social insurance; (vi) improving the capacity of officials and have mechanisms to support officials in the process of performing tasks
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của Bảo hiểm xã hội (BHXH) và coi nó là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống chính sách an sinh xã hội
Ngày nay, BHXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu, mang tính nhân văn sâu sắc để giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động như bị ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, mất khả năng lao động, già cả hoặc bị chết, bằng việc lập các quỹ BHXH từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH
và Nhà nước để trợ giúp cho họ khi gặp các rủi ro trên Vì thế, BHXH ngày càng trở thành nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia, của mọi thể chế nhà nước và được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn xác định chính sách BHXH nói chung
và BHXH bắt buộc nói riêng là chính sách có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với cuộc sống con người, là trụ cột chính của hệ thống
an sinh xã hội, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập và thường xuyên bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước
Thực hiện tốt chính sách BHXH bắt buộc là tạo nên một mạng lưới an toàn có tính nhân văn góp phần ổn định cuộc sống về mặt vật chất và tinh thần cho người lao động (NLĐ), đồng thời đảm bảo an sinh xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để thực hiện quan điểm này ngày 16/02/1995 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP thành lập BHXH Việt Nam BHXH Việt Nam được tổ chức theo hệ thống dọc 3 cấp đó là: BHXH Việt Nam, BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHXH các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Bảo hiểm xã hội huyện Tiền Hải là đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh Thái
Trang 14Bình, được thành lập theo Quyết định số 04/QĐ-TCCB ngày 12/7/1995 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình Trải qua 24 năm từ khi thành lập, BHXH huyện Tiền Hải đã từng bước vươn lên, không ngừng phát triển Với chức năng nhiệm vụ được giao, BHXH huyện Tiền Hải đã triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH, Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) góp phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn huyện Tiền Hải
Xác định quản lý thu BHXH bắt buộc là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành nhằm đáp ứng các yêu cầu về tăng trưởng, phát triển
và khả năng cân đối quỹ, đảm bảo chi trả các chế độ BHXH cho người lao động (NLĐ) Với mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định, giảm số nợ đọng, không ngừng mở rộng đối tượng tham gia, có như vậy người lao động mới sớm được thụ hưởng quyền lợi về BHXH Nhận thức được điều này, BHXH huyện Tiền Hải đã luôn coi trọng, tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, thời gian qua, quản lý thu BHXH bắt buộc cũng gặp nhiều khó khăn, bất cập như:
Số đơn vị, số lao động tham gia BHXH khu vực ngoài nhà nước tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp
Công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật về BHXH bắt buộc còn hạn chế nên có một số người sử dụng lao động và người lao động chưa hiểu được bản chất tốt đẹp, tính nhân văn, nhân đạo của chính sách BHXH bắt buộc, trách nhiệm và quyền lợi của mình đối với chính sách BHXH bắt buộc nên chưa tích cực tham gia
Công tác quản lý còn thiếu đồng bộ, cơ chế phối hợp trong thực hiện Luật BHXH còn nhiều bất cập Chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, mức phạt quá nhẹ, tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm do đó nhiều chủ sử dụng lao động trốn đóng BHXH, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia, không thực hiện trích nộp BHXH kịp thời theo quy định
Để khắc phục những hạn chế, bất cập nói trên, nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn thu BHXH, phát triển bền vững quỹ BHXH bắt buộc, đảm bảo
công tác an sinh xã hội, rất cần có những giải pháp cụ thể Vì vậy đề tài “Quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”
được lựa chọn và nghiên cứu
Trang 151.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH bắt buộc, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể của luận văn là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH bắt buộc
- Phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý thu BHXH bắt buộc đến năm 2025
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến quản lý thu BHXH bắt buộc như cơ chế, chính sách mức đóng BHXH, phương thức đóng, thủ tục thực hiện, hành vi vi phạm và
Phạm vi về không gian:
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm từ năm
2016-2018
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 2.1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BHXH BẮT BUỘC
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883 là nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa Liên bang Đức), đánh dấu sự ra đời của BHXH Tổ chức này đã đưa ra khái niệm: BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khó khăn về mặt kinh tế
và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động (TNLĐ), mất sức lao động (MSLĐ), tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ (ILO, 1919)
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội lại cho rằng: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính
do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội (Bộ luật Lao động, 2012)
- Theo Luật BHXH số 71/2006/QH11 và Luật BHXH sửa đổi số 58/2014/QH13: + Theo Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội" (Luật BHXH, 2006)
+ Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật số 58/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm
Trang 17hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội" (Luật BHXH, 2014)
Các khái niệm nêu trên cho thấy BHXH là một vấn đề kinh tế, xã hội tổng hợp có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
- Nghiên cứu dưới góc độ chính sách: BHXH bắt buộc là một chính sách xã hội quan trọng, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị quốc gia
- Nghiên cứu dưới góc độ tài chính: BHXH bắt buộc là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước
- Nghiên cứu dưới góc độ thu nhập: BHXH bắt buộc là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi NLĐ tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập
- Nghiên cứu dưới góc độ quản lý: BHXH bắt buộc là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, người SDLĐ và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội
Trong luận văn này, khái niệm BHXH bắt buộc được sử dụng là khái niệm được xác định trong Luật BHXH số 58/2014/QH13 ban hành năm 2014
Ở Việt Nam, BHXH là một trong những công cụ của chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhằm góp phần ổn định và đảm bảo sự công bằng trong xã hội Trước đây chỉ có một loại hình BHXH mà ngày nay gọi là BHXH bắt buộc, từ năm 2008 mới có thêm BHXH tự nguyện theo Luật BHXH
2.1.1.2 Khái niệm về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Chế độ BHXH bắt buộc là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH bắt buộc đối với NLĐ Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định
Trang 18được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp cụ thể
Các chế độ BHXH bắt buộc là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong từng trường hợp cụ thể Tùy theo điều kiện, hệ thống BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH khác nhau trong
số 9 chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định Có thể nói, các chế độ BHXH bắt buộc là nội dung cốt lõi nhất của BHXH
- Theo quy định tại Điều 4, Luật BHXH số 58/2014/QH13, BHXH bắt buộc bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
Chế độ trợ cấp ốm đau: Chế độ này giúp cho người lao động có được
khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất do không làm việc được khi bị ốm đau Người tham gia được hưởng chế độ này khi có giấy chứng nhận của cơ sở y tế xác nhận về việc ốm đau Thời gian hưởng và mức trợ cấp ốm đau cũng được quy định khác nhau theo thời gian và mức đóng BHXH
Chế độ trợ cấp thai sản: Giúp lao động nữ và trẻ sơ sinh được chăm sóc
cần thiết và có được khoản trợ cấp thay thế cho thu nhập bị mất do không làm việc được khi nghỉ thai sản Chế độ này ở Việt Nam đã tính đến yếu tố điều kiện
và môi trường lao động nhằm đảm bào sức khỏe cho sản phụ ở các nhóm lao động khác nhau
Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Chế độ này góp phần
ổn định cuộc sống cho người lao động không may bị tai nạn trong quá trình lao động hoặc do các nguyên nhân trong công việc mà bị mắc bệnh như: môi trường làm việc độc hại, công việc có tính chất căng thẳng Chế độ này còn quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với các trường hợp xảy ra TNLĐ Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động
Chế độ hưu trí: Đây là chế độ mà người lao động thường quan tâm nhất,
cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không còn nhận được từ nghề nghiệp do nghỉ hưu Hiện nay, ở nước ta đã bóc tách được phần lớn các chế
độ ưu đãi xã hội ra khỏi chế độ hưu trí Điều kiện hưởng chế độ này phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là độ tuổi nghỉ hưu và số năm đóng BHXH, ngoài ra còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe và tính chất công việc
Trang 19Chế độ tử tuất: Đây là một trong những chế độ BHXH mang tính nhân
đạo nhất Chế độ này giúp cho thân nhân người tham gia BHXH chết có được khoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình khi một người lao động mất đi Chế độ này ở Việt Nam đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm, yếu tố xã hội giữa người sống và người chết, đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân người chết
2.1.1.3 Khái niệm về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để bắt buộc người sử dụng lao động và người lao động phải đóng BHXH theo mức phí quy định Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động BHXH và đảm bảo công tác an sinh xã hội (ASXH)
Theo quy định tại Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam, thu BHXH bắt buộc được thực hiện theo 03 cấp đó là: Cấp huyện (BHXH huyện), cấp tỉnh (BHXH tỉnh), cấp TW (BHXH Việt Nam), cụ thể như sau:
- Tổ chức thực hiện kiểm tra các nội dung do người tham gia, đơn vị đã kê khai, kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp kê khai không đúng
- Tổng hợp, báo cáo thu BHXH, và tiền lãi chậm đóng; cấp sổ BHXH theo quy định
- Lưu trữ hồ sơ tham gia BHXH, hồ sơ truy thu BHXH quy định của pháp luật
- Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH theo yêu cầu của cơ quan quản lý có thẩm quyền
- Phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo từng lĩnh vực trong từng bộ phận chuyên môn để thực hiện đúng các nội dung theo quy định để thực hiện quy trình thu; cấp sổ BHXH Cán bộ, viên
Trang 20chức BHXH huyện chịu trách nhiệm trước Giám đốc, trước pháp luật về những nội dung được giao kể cả khi nghỉ chế độ hoặc chuyển công tác
* BHXH tỉnh
- Thu tiền đóng BHXH các đơn vị chưa phân cấp BHXH cho huyện
- Giải quyết các trường hợp truy thu, hoàn trả tiền đóng BHXH, tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với đơn vị, người tham gia BHXH do BHXH tỉnh trực tiếp thu
- Tổ chức thực hiện thu; cấp sổ BHXH đối với các đối tượng tham gia BHXH do BHXH tỉnh trực tiếp thu theo quy định
- Phân công, phân cấp theo hướng dẫn đối với các phòng thuộc BHXH tỉnh, tổ thuộc BHXH huyện
- Tổng hợp, báo cáo thu BHXH và tiền lãi chậm đóng; cấp sổ BHXH, hằng quý, năm theo quy định
- Hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc công tác thu; cấp sổ BHXH đối với BHXH huyện
- Thẩm định số liệu thu BHXH đối với BHXH huyện theo định kỳ quý, năm
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra về việc chấp hành quy định của pháp luật về BHXH và tổ chức thực hiện sau khi Quyết định được phê duyệt
- Tổ chức thẩm định số liệu thu BHXH, tình hình quản lý, sử dụng phôi sổ BHXH, đối với BHXH tỉnh theo quy định
- Kiểm tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện quy trình thu; cấp sổ BHXH của BHXH tỉnh
Trong ba cấp trên BHXH cấp tỉnh, thành phố; quận, huyện trực tiếp thu BHXH của các đối tượng, cấp Trung ương có nhiệm vụ tổng hợp số liệu thu trong toàn quốc và nghiên cứu, xây dựng, tham mưu giúp lãnh đạo đưa ra các
Trang 21văn bản chỉ đạo, xử lý trong công tác thu BHXH và trực tiếp chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố thực hiện thu BHXH
2.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội
BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan; nền kinh tế ngày càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi
sự phát triển phù hợp của ngành BHXH BHXH được hình thành trên cơ sở quan
hệ lao động giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Chủ sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chính sách BHXH quy định, đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH (Giáo trình bảo hiểm xã hội, 2013)
Từ mối quan hệ về BHXH, cho ta thấy nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao, lấy
hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH
Thứ hai, BHXH là một loại hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do Nhà
nước cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao động, do Nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ (có một số nước trên thế giới do khu vực tư nhân quản lý và cung cấp dịch vụ) Hiện nay, ở nước ta việc tham gia BHXH bắt buộc do Nhà nước quản lý và cung cấp
Thứ ba, cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế ba bên: Cơ quan BHXH
- Người sử dụng lao động - Người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý của Nhà nước BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra thực hiện do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt Nam Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền, đó là: Cung BHXH do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt buộc, cầu về mức đóng và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ còn kém
Thứ tư, thực hiện thống nhất việc quản lý Nhà nước về BHXH, thực hiện
nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ BHXH chặt chẽ, đúng đối tượng và
Trang 22đúng thời hạn Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào quỹ riêng, độc lập với ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất và được sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu - chi theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển
Thứ năm, người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng
và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của người lao động Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động
Tóm lại, chính sách BHXH bắt buộc là chế độ, chính sách do Nhà nước quy định để đảm bảo quyền lợi vật chất cho người tham gia BHXH bắt buộc dựa trên quan hệ lao động trong xã hội BHXH là một hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do Nhà nước quản lý và cung cấp; hoạt động trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, chia sẻ rủi ro; quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước và được quản lý tập trung, thống nhất
2.1.3.Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.3.1 Đối với Nhà nước
* Góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Kể từ khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại gương mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách BHXH bắt buộc đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”
Hệ thống an sinh xã hội là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều chế độ, chính sách mà trong đó mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp, bao gồm toàn bộ dân cư của một quốc gia Hệ thống này có mục tiêu bảo vệ mọi thành viên trước những rủi ro và giữ gìn cuộc sống của họ với những biện pháp thích hợp hay những quyền lợi hợp lý trước những biến động bất thường xảy ra hay trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt Tuy nhiên, trong
hệ thống an sinh xã hội thì hệ thống BHXH bắt buộc giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất vì vậy phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính
Trang 23sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Giáo trình bảo hiểm xã hội, 2013)
* Góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân
BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững
*Góp phần tăng nguồn vốn cho phát triển đất nước
Quỹ BHXH càng phát triển lớn mạnh thì phần quỹ BHXH nhàn rỗi được đầu tư trở lại nền kinh tế, như vậy sẽ tăng được nguồn vốn cho phát triển đất nước, tạo việc làm cho người lao động và nguồn thu cho đất nước
2.1.3.2.Đối với xã hội
* Góp phần ổn định cuộc sống của người lao động
Thực hiện tốt chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người lao động, cụ thể:
Đối với người lao động khi sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc và hưởng trợ cấp thai sản như vậy cuộc sống của người lao động và gia đình ổn định hơn, có điều kiện chăm sóc gia đình tốt hơn
Đối với người lao động khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu tham gia BHXH thì được hưởng các chế độ BHXH tương ứng
do cơ quan BHXH chi trả, như vậy giúp người lao động giảm được gánh nặng trong cuộc sống và yên tâm công tác
Đối với người lao động hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động, nếu đã tham gia BHXH thì được hưởng các chế độ BHXH như hưu trí, chế độ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
* Góp phần ổn định tình hình trật tự, an ninh xã hội và phát triển kinh tế
Thực hiện tốt chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
* Góp phần giảm bớt gánh nặng cho xã hội
Quỹ BHXH là do các bên tham gia quan hệ lao động đóng góp trong quá trình lao động, việc chi trả các chế độ BHXH cho người tham gia BHXH được
Trang 24trích từ quỹ BHXH như vậy nhà nước cũng bớt gánh nặng trong thực hiện các chính sách xã hội
2.1.4 Nguyên tắc và mục tiêu bảo hiểm xã hội bắt buộc
cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định
- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội
2.1.4.2 Mục tiêu
- Đảm bảo thu đúng đối tượng
Nghĩa là các đối tượng trong diện bắt buộc tham gia BHXH theo quy định của Luật BHXH đều phải tham gia BHXH
- Đảm bảo thu đủ số lượng
Số người trong diện tham gia và số tiền phải đóng được thu đầy đủ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia khi họ được hưởng các chế độ BHXH
- Đảm bảo thời gian theo Luật định (thu kịp thời)
Người lao động và người sử dụng lao động phải trích nộp BHXH theo đúng thời gian quy định trong Luật BHXH
Trang 252.1.5 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.5.1 Lập kế hoạch thu BHXH
Để thực hiện quản lý thu, cần có một kế hoạch thu BHXH thích hợp với
cơ chế quản lý kinh tế, giải quyết được hàng loạt vấn đề cả lý luận và thực tiễn Lập kế hoạch, dự toán thu là một khâu rất quan trọng, được thực hiện một cách thường xuyên theo từng năm ở tất cả các đơn vị BHXH từ trung ương đến địa phương Kế hoạch thu BHXH là cơ sở để tổ chức thực hiện và quản lý công tác thu
ở từng đơn vị nói riêng và trên phạm vi toàn hệ thống BHXH nói chung; để các cơ quan BHXH tổ chức thực hiện và quản lý các công tác khác của BHXH như hoàn thiện hệ thống chế độ chính sách, quản lý và bảo tồn phát triển quỹ BHXH, đảm bảo cân đối quỹ lâu dài Kế hoạch lập ra càng sát với thực tế, phù hợp với điều kiện chung về kinh tế xã hội từng địa bàn thì công tác tổ chức thực hiện và điều hành công tác thu quỹ BHXH càng chủ động và được thực hiện tốt hơn
+ Xác định đối tượng tham gia bao gồm: người lao động và người sử dụng lao động
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
Trang 26+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ
- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
+ Đơn vị tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động bao gồm:
+ Cơ quan của Đảng, Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện đến cấp xã và đơn vị thuộc lực lượng vũ trang
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) và Luật Đầu tư
+ Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã
+ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho người lao động
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
Trang 27+ Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Việc thống kê, lập danh sách các đơn vị sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn huyện rất quan trọng trong quản lý thu BHXH nhằm nắm bắt được số đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, từ đó phục vụ cho công tác quản lý thu có hiệu quả Ngoài việc lập danh sách NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc tại các đơn vị, doanh nghiệp đang tham gia BHXH thì việc rà soát, thống kê các đơn vị, doanh nghiệp chưa tham gia BHXH cho NLĐ
để có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH để NSDLĐ và NLĐ hiểu để có ý thức tham gia, từ đó tăng nguồn thu BHXH
+ Xác định mức thu
Căn cứ cơ bản để tiến hành hoạt động thu BHXH của người lao động là tiền lương tháng, đối với người sử dụng lao động là tổng quỹ lương của những người lao động tham gia BHXH trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức
*Mức đóng = Tỷ lệ đóng BHXH x Tiền lương, tiền công tháng
+Tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc
- Đối với đơn vị thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:
- Đối với tiền lương do Nhà nước quy định: Bao gồm tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ hợp đồng và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu ( nếu có) Tiền lương này được tính trên mức lương cơ sở
-Đối với tiền lương do đơn vị sử dụng lao động quyết định:
+ Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương theo quy định tại Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 4 của Thông tư 47/2016/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 bao gồm: các khoản phụ cấp chức vụ, chức danh, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm, phụ cấp thâm niên, phụ cấp khu vực, phụ cấp lưu động…
+ Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 4 của thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế
độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại điều 103 của Bộ luật lao
Trang 28động, tiền thưởng sáng kiến, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở…
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người quản lý DN có hưởng tiền lương quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do DN quyết định
+ Tiền lương đối với người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do đại hội thành viên quyết định
+ Đối với người làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng Trường hợp qua đào tạo, học nghề phải cao hơn ít nhất 7% mức lương tối thiểu vùng Trường hợp công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc độc hại , nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động binh thường
Mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ nhưng thấp nhất bằng lương tối thiểu vùng, cao nhất bằng 20 lần tháng lương cơ sở
Đối với cơ quan BHXH cấp huyện, hàng năm căn cứ vào danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp của các đơn vị sử dụng lao động hiện đang quản
lý cộng thêm số phát triển được dự kiến trong năm để lập kế hoạch thu và gửi cho cơ quan BHXH cấp tỉnh trước 30/7 hàng năm
2.1.5.2 Tổ chức thực hiện thu BHXH
Bước 1: Tiếp xúc với các đơn vị sử dụng lao động và người lao động
Đây là căn cứ để biến những tiềm năng của quỹ BHXH thành những nguồn thu thực tế, là nhiệm vụ mang tính trọng tâm, được tiến hành thường xuyên, liên tục đối với tất cả các đơn vị BHXH địa phương
Đối với các đơn vị sử dụng lao động mới thành lập, chưa đăng ký tham gia BHXH, cơ quan BHXH phải chủ động tiếp xúc, gặp gỡ với các đơn vị đó để tuyên truyền, giải thích các chế độ chính sách về BHXH trách nhiệm, quyền lợi
và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động
Bước 2: Tổ chức thực hiện thu BHXH
Trang 29+ Hướng dẫn các đơn vị SDLĐ lập, gửi các danh sách lao động và tiền lương, lập tờ khai theo biểu mẫu quy định để làm thủ tục cấp sổ BHXH cho lao động, điều chỉnh tăng giảm lao động, quỹ lương …
+ Thống nhất với đơn vị sử dụng lao động về thời gian làm việc, phương thức thu nộp BHXH, thông báo các thông tin liên quan như số hiệu tài khoản của các bên, địa điểm giao dịch…
Đối với các đơn vị sử dụng lao động đã đăng ký tham gia BHXH, các cán
bộ quản lý thu cần thường xuyên tiếp xúc với họ, làm công tác điều tra, theo dõi sát sao để đảm bảo những thông tin họ nhận được về số lao động, tiền lương là xác thực Đôn đốc và tổ chức thu BHXH theo quy định, hàng tháng các đơn vị sử dụng lao động phải trích và nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH huyện chậm nhất vào cuối tháng Kiểm tra, đối chiếu nộp BHXH của quý trước; nếu có chênh lệch giữa số đã nộp và số phải nộp thì phải nộp tiếp vào tháng đầu quý sau nếu chênh lệch thiếu; coi như đã nộp trước cho quý sau nếu đó
là chênh lệch thừa Trường hợp các đơn vị sử dụng lao động chậm nộp hàng tháng thì ngoài việc nộp phạt số tiền chậm trả tính theo mức lãi suất tiền gửi ngân hàng tại thời điểm truy nộp, các đơn vị còn phải nộp phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt hành chính
Bước 3: Thống kê số liệu và báo cáo BHXH tỉnh
Các bộ phận nghiệp vụ chịu trách nhiệm mở sổ theo dõi, chuyển dữ liệu, lập báo cáo và kế hoạch các loại theo quy định Khi lập báo cáo phải đối chiếu số liệu liên quan giữa các loại sổ và biểu mẫu báo cáo BHXH huyện chịu trách nhiệm lập và gửi lên BHXH tỉnh Báo cáo tháng gửi trước ngày 03 tháng sau, Báo cáo quý gửi trước ngày 10 tháng đầu quý sau, Báo cáo năm trước ngày 10 tháng 01 năm sau BHXH huyện cần phải thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin, dữ liệu của người tham gia BHXH để phục vụ kịp thời cho công tác nghiệp vụ và quản lý
Tổ chức phân loại, lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài liệu thu BHXH đảm bảo khoa học để thuận tiện cho việc khai thác và sử dụng Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý người tham gia BHXH cấp sổ BHXH, cho người tham gia
Bước 4: Đôn đốc, thu nợ BHXH
Làm tốt quản lý thu và giải quyết nhanh gọn, đầy đủ,kịp thời đúng chế độ chính sách BHXH, bảo đảm quyền và lợi ích cho NLĐ
Trang 30- Chủ động phối hợp với các ngành chức năng liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra những doanh nghiệp nợ đọng BHXH, xử lý nghiêm, kịp thời các đơn vị
cố tình chậm đóng, trốn đóng BHXH làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ Xem việc khởi kiện như là biện pháp thu nợ cuối cùng, xây dựng tiêu chí nợ làm
cơ sở khởi kiện và khởi kiện kịp thời (tránh để nợ kéo dài, khó thu hồi nợ sau khởi kiện)
- Phối hợp với Phòng Khai thác và thu nợ, Phòng Thanh tra - Kiểm tra để đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các đơn vị không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định
- Kiểm tra, rà soát, xác định tình trạng đơn vị giải thể, phá sản, bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngừng hoạt động, tạm ngừng hoạt động,
bỏ địa chỉ kinh doanh (Mẫu số D04c-TS) để đôn đốc đơn vị đóng tiền, chốt số tiền phải đóng và tiền lãi chậm đóng đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động
- Hằng tháng, cán bộ thu thực hiện đôn đốc đơn vị nộp tiền theo quy định
- Trường hợp đơn vị nợ quá 02 tháng tiền đóng, đối với phương thức đóng hằng tháng; 04 tháng, đối với phương thức đóng 03 tháng một lần; 07 tháng, đối với phương thức đóng 06 tháng một lần:
- Cán bộ thu trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, lập Biên bản làm việc về việc đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động (Mẫu D04h-TS);
- Gửi văn bản đôn đốc 15 ngày một lần
- Sau 02 lần gửi văn bản mà đơn vị không nộp tiền, chuyển hồ sơ (Mẫu D04h-TS; văn bản đôn đốc đơn vị nộp tiền) đến Phòng Khai thác và thu nợ tiếp tục xử lý
- Hằng tháng chuyển báo cáo chi tiết đơn vị nợ (Mẫu B03-TS) kèm theo
dữ liệu cho Phòng Khai thác và thu nợ để quản lý, đôn đốc thu nợ và đối chiếu
* Quản lý số tiền thu BHXH
- Phối hợp với hệ thống Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng cuối ngày tự động chuyển số tiền thu BHXH về tài khoản chuyên thu BHXH cấp tỉnh BHXH huyện không được lấy số tiền thu BHXH để sử dụng vào bất cứ mục đích nào;
- Không được lấy số phải chi trả chế độ của người lao động để chuyển sang
số thu BHXH của đơn vị;
Trang 31- Hoàn trả lại tiền thu BHXH đã nộp (do các yếu tố khách quan) thì Giám đốc
BHXH cấp tỉnh và cấp huyện xem xét quyết định;
BHXH tỉnh
Hình 2.1 Quy trình tổ chức quản lý thu BHXH bắt buộc
2.1.5.3 Quyết toán thu BHXH bắt buộc
Các bộ phận nghiệp vụ chịu trách nhiệm mở sổ theo dõi, chuyển dữ liệu,
lập báo cáo các loại theo quy định Khi lập báo cáo phải đối chiếu số liệu liên
quan giữa các loại sổ và biểu báo cáo BHXH huyện chịu trách nhiệm lập và gửi
lên BHXH tỉnh để báo cáo tháng, trước ngày 03 tháng sau, Báo cáo quý trước
ngày 10 tháng đầu quý sau, Báo cáo năm trước ngày 10 tháng 01 năm sau
BHXH huyện cần phải thường xuyên cập nhật thông tin, dữ liệu của người tham
gia BHXH, để phục vụ kịp thời cho công tác quyết toán và quản lý
Tổ chức phân loại, lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài liệu thu BHXH, đảm bảo
Hướng dẫn tuyên truyền
Hồ sơ tham gia BHXH
Báo cáo kế hoạch thu BHXH năm sau
Thẩm định, hướng dẫn Giao kế hoạch
Thẩm định, hướng dẫn Giao kế hoạch
Thông báo đối chiếu
- Lập kế hoạch thu năm sau
BHXH Việt Nam
Trang 32gọn gàng, khoa học để thuận tiện cho việc khai thác và sử dụng Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý người tham gia BHXH, cấp sổ BHXH, cho người tham gia BHXH, bắt buộc (Quyết định 595/QĐ- BHXH, 2017)
2.1.5.4 Kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm
Cơ quan BHXH thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH bắt buộc, theo quy định của Luật BHXH
+Những hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH bắt buộc gồm:
- Trốn đóng BHXH bắt buộc;
- Chậm đóng tiền BHXH;
- Chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH;
- Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc;
- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội không đúng pháp luật;
- Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người sử dụng lao động;
- Truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội;
- Báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về bảo hiểm xã hội
* Về phương thức xử lý vi phạm
- Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của Luật BHXH, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này, tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2
và 3 Điều 17 của Luật BHXH từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp
số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, Kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao
Trang 33động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội
* Quy định về xử phạt vi phạm hành chính
- Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm bảo hiểm xã hội được quy định tại Nghị định 95/2013/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 95) và Nghị định 88/2015/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 88) Cụ thể theo bảng 2.1 sau đây:
- Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về đóng BHXH, BHTN của người lao động khi người lao động hoặc công đoàn yêu cầu;
- Không làm văn bản đề nghị cơ quan BHXH xác nhận việc đóng BHTN cho người lao động;
- Làm mất, hư hỏng hoặc sửa chữa, tẩy xóa sổ BHXH
Khoản 1 Điều 28 Nghị định 88
2 01 - 02 triệu đồng - Không trả chế độ ốm đau, thai sản, trợ
cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau
ốm đau, thai sản trong 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người lao động;
- Không trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định chi trả của
cơ quan BHXH
Khoản 2 Điều 28 Nghị định 88
3 02 - 03 triệu đồng - Không lập hồ sơ tham gia BHXH,
BHTN cho người lao động trong 30 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng;
- Không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị
cơ quan BHXH giải quyết chế độ hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đúng quy định;
- Không giới thiệu người lao động đi giám định suy giảm khả năng lao động
Khoản 3 Điều 28 Nghị định 88
Trang 34tại Hội đồng Giám định y khoa để giải quyết chế độ
4 05 - 10 triệu đồng Giả mạo hồ sơ BHXH, BHTN để trục lợi
mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (áp dụng với mỗi hồ sơ)
Khoản 3 Điều 27 Nghị định 88
5 20 - 30 triệu đồng Sử dụng Quỹ BHXH sai mục đích Khoản 5 Điều 28
Theo Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi bổ sung: cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về BHXH sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
200 triệu đồng:
- Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung
hồ sơ BHXH, BHTN lừa dối cơ quan BHXH;
- Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ sai lệch nội dung lừa dối cơ quan BHXH
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
- Tái phạm nguy hiểm (đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do
cố ý, chưa được xóa mà lại thực hiện hành
Khoản 2
Trang 35STT Mức phạt Hành vi Căn cứ
vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý)
4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng,
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng, cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
01 - 05 năm
Khoản 4
Trang 36* Khởi kiện đơn vị vi phạm pháp luật về thu nộp BHXH
Khởi kiện là biện pháp cuối cùng của cơ quan BHXH trong việc xử lý các đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH
Nếu như trước đây, để khởi kiện đơn vị nợ BHXH, cơ quan BHXH tiến hành kiểm tra, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, lập biên bản
về vụ việc vi phạm Biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm, nội dung cụ thể vụ việc,
có đủ chữ ký, đóng dấu của NSDLĐ, công đoàn của đơn vị SDLĐ ( nếu có), trưởng đoàn kiểm tra hoặc BHXH Hết thời hạn ghi nhận trong biên bản về sai phạm kể trên, NSDLĐ không thực hiện nghĩa vụ với cơ quan BHXH thì cơ quan BHXH có trách nhiệm làm văn bản đề nghị Chánh thanh tra Sở LĐTBXH hoặc Chủ tịch UBND các cấp tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH của NSDLĐ
Hết thời hạn quy định trong quyết định xử phạt hành chính nhưng NSDLĐ vẫn không thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định của pháp luật, thì cơ quan BHXH tiến hành khởi kiện NSDLĐ ra Tòa án dân sự
- Căn cứ theo Luật BHXH năm 2014, việc khởi kiện doanh nghiệp nợ BHXH đã được chuyển giao từ ngành Bảo hiểm xã hội sang ngành Công đoàn và được quy định tại khoản 8, điều 110 của Luật Công đoàn cụ thể: Tổ chức công đoàn đại diện cho tập thể người lao động khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động bị xâm phạm; đại diện cho người lao động khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm phạm và được người lao động uỷ quyền
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội
* Yếu tố khách quan
- Hệ thống chính sách của Nhà nước
Chính sách bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo đảm ổn định xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước
Ở Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, nhất là từ sau khi Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục được cải cách
trong thời gian tới cụ thể như sau:
Trang 37- Hệ thống BHXH vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa thật gắn kết chặt chẽ hữu cơ
với hệ thống các tầng ASXH (việc làm, thu nhập và giảm nghèo bền vững, BHXH, trợ giúp xã hội và các dịch vụ xã hội tối thiểu) và trong mối quan hệ giữa đóng góp của người hưởng lợi với hỗ trợ từ ngân sách nhà nước
Đặc biệt, chưa có sự gắn kết và hỗ trợ của bảo hiểm thất nghiệp để giúp người lao động trở lại thị trường lao động nhằm duy trì và mở rộng độ bao phủ BHXH; chưa phát triển hình thức BHXH bổ sung trên cơ sở thỏa thuận trong các doanh nghiệp, bảo hiểm hưu trí tiết kiệm; chưa hình thành tầng hưu trí cơ bản có tính phổ quát (hưu trí xã hội)
Chưa quán triệt và thực hiện đầy đủ nguyên tắc đóng - hưởng mà còn gắn chặt việc điều chỉnh lương hưu với tiền lương tối thiểu (nay là tiền lương cơ sở)
và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;
- Thông số đóng và hưởng theo Luật BHXH năm 2014 để hưởng lương hưu chưa hợp lý: Quy định điều kiện thời gian tối thiểu 20 năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu là quá dài (quốc tế thường quy định thấp hơn, khoảng 10 năm); tỷ lệ tích lũy 2% cho 1 năm tăng thêm đóng BHXH sau khi đủ điều kiện đóng để hưởng lương hưu và mức hưởng tối đa 75% là khá cao (quốc tế chỉ khoảng 1,5% cho mỗi năm tăng thêm và hưởng tối đa khoảng 60%);
- Điều kiện tuổi hưởng lương hưu đối với nam đủ 60 tuổi, đối với nữ đủ
55 tuổi được quy định từ năm 1960 đến nay vẫn chưa thay đổi, trong khi tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam tăng, năm 2017 là 73,4 tuổi và xu hướng già hóa dân số nhanh;
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH chưa bảo đảm thống nhất vào một đầu mối, chuyên môn hóa và chuyên nghiệp, hiện đại trên cơ
sở áp dụng công nghệ cao (chính phủ điện tử) Năng lực cán bộ còn hạn chế, chuyên gia đầu ngành ít
- Cơ sở hạ tầng đã được quan tâm nhưng còn nhiều bất cập, chưa có sự thống nhất đồng bộ trong quản lý
- Mức xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH chưa đủ mạnh để khiến các đối tượng không dám vi phạm
- Mức độ hiểu biết về BHXH
Mức độ hiểu biết về pháp luật trong lĩnh vực BHXH của chủ doanh nghiệp
và nhất là người lao động còn khá hạn chế Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng
Trang 38vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH Nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp không nộp BHXH cho NLĐ là do chủ sử dụng lao động không quan tâm, hoặc lợi dụng kẽ hở của Luật BHXH để trục lợi và chiếm dụng vốn, không ít trường hợp chủ doanh nghiệp trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH nhưng không thực hiện chuyển nộp cho cơ quan BHXH hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử
lý thì doanh nghiệp mới chịu nộp ngoài ra, đa số người lao động thiếu hiểu biết về Luật BHXH để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động, hoặc biết nhưng không dám đấu tranh sợ bị mất việc làm Thời gian qua, do việc chậm nộp, trốn nộp BHXH, nộp không đầy đủ của một số doanh nghiệp dẫn đến hậu quả là một bộ phận người lao động không được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, nhiều người không thể chuyển công tác do không được chốt sổ BHXH
- Quy mô doanh nghiệp và ý thức chấp hành
Quy mô doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH, qua nghiên cứu cho thấy, đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên không ổn định trong sản xuất kinh doanh, số lao động thường xuyên có biến động, năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý hạn chế, cán bộ làm công tác BHXH thường xuyên thay đổi và kiêm nhiệm nhiều việc, mức độ hiểu biết về chính sách BHXH không nhiều, Việc SXKD tại những đơn vị nhỏ và vừa đôi khi còn sản xuất cầm chừng, vừa sản xuất, vừa nghe ngóng, việc mở rộng thị trường kinh doanh gặp khó khăn do hạn chế về nguồn vốn, do đó ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH
- Hoạt động tuyên truyền
Hoạt động tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH, hiện nay còn nhiều doanh nghiệp và người lao động còn chưa hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH dẫn đến các doanh nghiệp và người lao động chưa có ý thức tự giác tham gia BHXH mà chỉ coi đó là một điều kiện bắt buộc để có thể sản xuất kinh doanh theo các quy định của Nhà nước
Người lao động chưa ý thức được những quyền lợi mà mình được hưởng khi tham gia BHXH, trong khi đó người sử dụng lao động lại muốn tiết kiệm một phần chi phí sản xuất kinh doanh đáng lẽ ra phải đóng góp BHXH cho người lao động của mình
Có lúc, có nơi người lao động và người sử dụng lao động đã đồng tình với nhau để không tham gia BHXH, họ mong có được thêm một khoản thu nhập từ nguồn tiền đóng vào BHXH, họ sử dụng tiền đóng BHXH để chia nhau Cũng có tình trạng một số doanh nghiệp (trong đó có cả những doanh nghiệp Nhà nước)
Trang 39đã cố tình chiếm dụng số tiền đóng BHXH cho người lao động để sử dụng làm vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây ra tình trạng né tránh, nợ đọng tiền đóng BHXH Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho ĐVSDLĐ vi phạm pháp luật
về BHXH
- Sự phối hợp giữa các ngành liên quan
- Sự tham gia giám sát của các tổ chức xã hội, nhất là tổ chức công đoàn
cơ sở trong thực hiện chính sách BHXH còn hạn chế
Chính sách BHXH chịu sự tác động, đan xen của nhiều chính sách khác như tiền lương, tiền công… Vì vậy, để thực hiện tốt chính sách BHXH rất cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan như Cục Thuế, Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội, Thanh tra Nhà nước, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh… Bởi khi
DN thành lập phải đăng ký chế độ tiền lương và số lao động mà DN sẽ áp dụng đối với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
2.2.1 Hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc Sau cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định
về các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950) Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH Quyền này được cụ thể hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ Suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình
họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh
tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung
Trang 40và chính sách BHXH nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách Tiếp đến Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng
đã nêu lên “ Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế” Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp
lý quan trọng cho việc đổi mới chínhsách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường, ngay sau khi Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị đình 12/CP ngày 26/1/1995/ về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế Nội dung của bản Điều lệ này góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra, góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ
xã hội, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của
cả nước, sau đó Nghị định số 01/2003/NĐ-CP được ban hành và quy định về việc
mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiếp theo là Luật BHXH số 71/2006/QH11 ra đời
và được sửa đổi thay thế bởi Luật BHXH số 58/2014/QH13 Luật BHXH quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm
xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
Bộ máy quản lý thu BHXH bắt buộc được tổ chức khoa học và thống nhất trong cả hệ thống BHXH, thực hiện nhiệm vụ như: phân cấp thu, lập kế hoạch, giao chỉ tiêu, thanh quyết toán, kiểm tra, quản lý tiền thu quỹ BHXH và tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ thu BHXH bắt buộc theo các quy định
BHXH Việt Nam chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự quản lý của Nhà nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trong phạm vi theo phân cấp của Chính phủ