Ðánh giá và phân tích thực trạng về quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH Quận Ba Đình cho thấy:Trong những năm qua, mặc dù Bảo hiểm Xã hội quận Ba Đình đạt được nhiều thành tích trong thực
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG THỊ KIM THOA
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Mã số: 60 34 01 02 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Văn Viện
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu, số liệu
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim Thoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Ban Giám đốc, cán bộ cơ quan BHXH Quận Ba Đình Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn giúp đỡ của PGS TS Đỗ Văn Viện - người thầy đã định hướng, chỉ bảo và hết lòng tận tụy, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh và đặc biệt sự quan tâm, chỉ bảo, tham gia ý kiến quý báu của PGS
TS Đỗ Văn Viện; Cùng với sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của quý cơ quan nơi tôi đang công tác, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè, các đơn vị đã cộng tác giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, dữ liệu nghiên cứu để tôi hoàn chỉnh bản luận văn này
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân song do khả năng và trình độ còn hạn chế nên chắc hẳn luận văn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định; Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo
và đóng góp ý kiến quý báu của các thầy giáo, cô giáo và những độc giả quan tâm tới đề tài này để luận văn hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim Thoa
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ, biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 4
2.1 Cơ sở ̀ lý luận về quản lý thu bhxh bắt buộc 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Đặc điểm của BHXH và BHXH bắt buộc 6
2.1.3 Vai trò của BHXH bắt buộc 8
2.1.4 Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc 10
2.1.5 Quyền lợi của người tham gia BHXH bắt buộc 11
2.1.6 Các chế độ trợ cấp BHXH bắt buộc 12
2.2 Quản lý thu bhxh bắt buộc 15
2.2.1 Khái niệm thu BHXH bắt buộc 15
2.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý thu BHXH bắt buộc 16
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc 23
2.3 Cơ sở thực tiễn 27
2.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu BHXH bắt buộc ở một số nước trên thế giới 27
Trang 52.3.2 Kinh nghiệm quản lý thu BHXH bắt buộc ở một số địa phương tại Việt Nam 30
2.3.3 Bài học kinh nghiệm quản lý thu BHXH bắt buộc rút ra cho BHXH quận Ba Đình 33
2.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan 34
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
3.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của BHXH quận Ba Đình 37
3.1.3 Chức năng nhiệm vụ của BHXH quận Ba Đình 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 39
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 40
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 40
3.2.4 Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 41
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 43
4.1 Thực trạng tham gia bhxh bắt buộc tại quận ba đình 43
4.1.1 Thực trạng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc 43
4.1.2 Tình hình tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc 47
4.2 Thực trạng quản lý thu bhxh bắt buộc tại BHXH quận ba đình 50
4.2.1 Tổ chức đăng ký và thực hiện thu BHXH bắt buộc 50
4.2.2 Quy trình quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH Quận Ba Đình 52
4.2.3 Xác định mức thu và phương thức thu BHXH bắt buộc 54
4.2.4 Xây dựng kế hoạch thu BHXH Quận Ba Đình 57
4.2.5 Kết quả thu BHXH 58
4.2.6 Nợ đọng BHXH bắt buộc và xử lý nợ đọng trên địa bàn Quận 61
4.2.7 Thanh tra, kiểm tra về thu BHXH trên địa bàn Quận 68
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bhxh bắt buộc ở quận Ba Đình 69
4.3.1 Yếu tố khách quan 72
4.3.2 Yếu tố chủ quan 75
4.4 Đánh giá chung tình hình quản lý thu bhxh bắt buộc tại BHXH quận ba đình 78
4.4.1 Kết quả đạt được 78
Trang 64.4.2 Hạn chế tồn tại 79
4.4.3 Nguyên nhân của hạn chế tồn tại 80
4.5 Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu bhxh bắt buộc tại BHXH quận ba đình những năm tới 83
4.5.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc 83
4.5.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH quận 85
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 95
5.2.1 Đối với các Bộ, ngành 95
5.2.2 Đối với BHXH thành phố Hà Nội 96
5.2.3 Đối với UBND quận Ba Đình 96
Tài liệu tham khảo 97
Phụ lục 99
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cán bộ, viên chức BHXH quận Ba Đình năm 2016 36 Bảng 3.2 Bảng tổng hợp mẫu điều tra năm 2016 39 Bảng 4.1 Số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc (2014-2016) 43 Bảng 4.2 So sánh đơn vị tham gia BHXH bắt buộc với đơn vị hiện có quận
Ba Đình năm 2016 44 Bảng 4.3 Số người tham gia BHXH bắt buộc tại quận Ba Đình (2014-2016) 45 Bảng 4.4 So sánh lao động tham gia BHXH bắt buộc với lao động hiện có
tại quận Ba Đình năm 2016 45 Bảng 4.5 Tình hình quỹ lương trích nộp BHXH tại quận Ba Đình (2014-2016) 48 Bảng 4.6 Đơn vị đăng ký tham gia BHXH (2014-2016) 51 Bảng 4.7 Tổng hợp mức lương thực tế và mức lương làm căn cứ đóng
BHXH 55 Bảng 4.8 Tình hình lập và được giao kế hoạch thu BHXH quận Ba Đình
(2014-2016) 58 Bảng 4.9 Kết quả thu BHXH từ năm 2014 đến năm 2016 58 Bảng 4.10 Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH bắt buộc tại Quận Ba
Đình (2014 - 2016) 60 Bảng 4.11 Tổng hợp số nợ đóng BHXH tại BHXH quận Ba Đình (2014-
2016) 61 Bảng 4.12 Số đơn vị nợ BHXH tại quận Ba Đình (2014-2016) 63 Bảng 4.13 Nợ BHXH bắt buộc tại BHXH quận Ba Đình (2014-2016) 65 Bảng 4.14 Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc tại BHXH quận Ba Đình (2014
- 2016) 66 Bàng 4.15 Kết quả thu hồi nợ đọng tại BHXH quận Ba Đình (2014-2016) 68 Bảng 4.16 Kết quả kiểm tra của BHXH tại các đơn vị trên địa bàn Quận Ba
Đình ( 2014-2016) 68 Bảng 4.17 Đánh giá của các doanh nghiệp về BHXH năm 2016 70 Bảng 4.18 Tổng hợp số tiền thu BHXH so với kế hoạch thu được giao của
BHXH Quận Ba Đình ( 2014 - 2016) 78 Bảng 4.19 Mục tiêu phát triển số đơn vị và số lao động tham gia BHXH bắt
buộc của BHXH Ba Đình 84
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tổng quỹ lương trích nộp BHXH qua 3 năm 2014-2016 49
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH 20
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH quận Ba Đình 37
Sơ đồ 4.1 Quy trình chi tiết thu BHXH bắt buộc tại BHXH Quận Ba Đình 52
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Thị Kim Thoa
Tên luận văn: Quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn Quận
Ba Đình những năm gần đây và những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu; Luận văn đề xuất các g ả pháp hoàn th ện quản lý thu BHXH bắt buộc cho BHXH Quận Ba Đình trong thờ g an tớ Mục t êu cụ thể:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản, thực t ễn về BHXH, BHXH bắt buộc và quản lý thu BHXH bắt buộc
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Ba Đình Thành phố Hà Nộ trong những năm qua
- Định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc tạ Quận Ba Đình Thành phố Hà Nộ những năm tới
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số l ệu: Ngoà số liệu thứ cấp, đề tài còn thu thập số liệu
sơ cấp thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi Đối tượng phỏng vấn là đơn vị
sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Tổng số mẫu thu thập là
300 mẫu Trong đó, phiếu doanh nghiệp là 150 và người sử dụng lao động là 150 Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 108 phiếu doanh nghiệp và 100 phiếu người lao động Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phỏng vấn 17 doanh nghiệp và 20 người lao động; tiến hành phỏng vấn 25 đơn vị hành chính sự nghiệp với 30 lao động Bên cạnh đó, phỏng vấn sâu cũng được tiến hành với giám đốc cơ quan BHXH và cán bộ trực tiếp phụ trách
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng Excel
- Phương pháp phân tích số liệu: Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, so sánh và chuyên gia Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu gồm: nhóm chỉ tiêu phản ánh số đơn vị, người lao động; Các chỉ tiêu phản ánh mức độ tham gia BHXH bắt buộc; nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình thu BHXH bắt buộc
Trang 11Kết quả chính và kết luận
BHXH đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong đời sống của mỗi người lao động cũng như trong chính sách xã hội của các quốc gia, cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, chính sách BHXH cũng được đổi mới; chính sách BHXH đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống
an sinh xã hội
Ðánh giá và phân tích thực trạng về quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH Quận Ba Đình cho thấy:Trong những năm qua, mặc dù Bảo hiểm Xã hội quận Ba Đình đạt được nhiều thành tích trong thực hiện công tác BHXH như số đơn vị tham gia BHXH ngày một tăng cao (9.18%/năm), và số lao động tham gia BHXH tăng 2%/năm/
Số thu BHXH không ngừng lớn mạnh (từ 890 tỉ năm 2014 lên 1146 tỉ năm 2016,… Tuy nhiên, so với tiềm năng và thực tế tại địa phương thì tỷ lệ đạt được vẫn còn thấp; tỷ lệ doanh nghiệp tham gia BHXH là 43% lao động tham gia BHXH (59%) còn thấp so với
số lao động thực có, còn tình trạng trốn tránh tham gia BHXH, đóng không đủ số người (90%), mức đóng thấp, nợ đọng, trây ỳ kéo dài gây thất thu quỹ BHXH và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động nói riêng và tình hình an ninh, chính trị, xã hội và phát triển kinh tế tại địa phương nói chung
Các giải pháp đề ra trong luận văn nhằm tạo điều kiện cho người lao động, các
cơ quan tổ chức thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện việc "Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật" Các giải pháp tập trung vào tuyên truyền về BHXH, hoàn thiện cơ cấu bộ máy BHXH; cải cách hành chính trong thu BHXH; Phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện công tác BHXH; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong thực hiện công tác BHXH; Nâng cao ý thức trách nhiệm và thái độ phục vụ của nhân viên ngành Bảo hiểm xã hội
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Thi Kim Thoa
Thesis title: A study on collecting management of compulsory social insurance at Social Insurance Department of Ba Dinh district
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Main objectives is to analyze the collecting management of compulsory social insurance in Ba Dinh district then to provide recommendations to improve the collecting management of compulsory insurance at Ba Dinh district Specific objectives:
- Contribute to literature review on social insurance and compulsory social insurance and its collection buy the social insurance organizations
- Evaluate the collecting management of compulsory insurance and its determinants in Ba Dinh district, Ha Noi city
- Provide recommendations to improve the collecting management of compulsory insurance in Ba Dinh district
Materials and Methods
Concerning with the secondary data, the thesis collect data through the sample surveys using questionnaires Total observations were 300 including 150 employers and
150 employees The private sectors were interviewed 208 observations (108 employers and 100 employees) The foreign direct investment sector had 37 observations (17 employers and 20 employees) The number of observation collected from administration agencies were 55 including 25 employers and 30 employees In addition, in-depth interviewed were conducted with the leaders and responsibility staffs of Social Insurance Organizations Data were processed through M Excel Descriptive analysis, comparison method are the main methods using in the thesis together with the evaluation indicators such as: number of entitled employers and employees, Percentages
of participation in compulsory social insurance, indicators reflexed the collection of compulsory social insurance
Main findings and conclusions
- Social insurance has the main contribution to National welfare and develop
Trang 13together with economic growth and the development of enterprise sectors
- In Ba Dinh district, compulsory social insurance has increased In term of 2014-2016, number of entitled employers rose 9.18% per year, the number of entitled employees grew 2.1%/year Total social insurance collected had increased from 890 billion VND in 2014 to 1146 billion VNDs in 2016
- Social insurance in Ba Dinh district has the potential development The percentage of entitled employers were 43% and participation employees were 59% Total 4687 employers were in debt with total 179,2 billion VNDs Most of insurance debt were the ones within 6 months The percentage of employees per employers joined
in social insurance were 90%; The wages base for calculating social insurance were low There were 6.3% of total employers had been in debt over 1 years
- Recommendations had provided to improve the collection of social insurance
in Ba Dinh district Innovating the communication on social insurance to employers and employees; Improving policies and the roles of local governors; Monitoring and inspecting the collection of social insurance; Applying punishment on the debtor; and training in improving public service related to the operation of Social Insurance Department of Ba Dinh district
Trang 14
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bảo hiểm xã hội là chính sách có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với người lao động Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta xác định: "Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật
tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc" Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nh ều chủ trương, chính sách nhằm g ả quyết các vấn đề xã hộ Bảo h ểm xã hộ góp phần quan trọng trong
v ệc hỗ trợ tà chính và đã phát huy va trò trụ cột trong hệ thống an s nh xã hộ của một Quốc gia trong hiện tại cũng như tương lai Các chính sách bảo h ểm xã
hộ luôn được đổ mớ , phù hợp vớ sự phát tr ển k nh tế xã hộ của đất nước, góp phần tích cực vào v ệc ổn định tình hình chính trị, xã hộ bảo đảm đờ sống của người lao động
Bảo h ểm xã hộ không đơn thuần chỉ là số t ền mà ngườ lao động và ngườ chủ sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH để g ả quyết các chế độ chính sách cho ngườ tham g a BHXH Thông qua những chế độ, chính sách mà ngườ lao động được hưởng, sẽ làm cho ngườ lao động an tâm làm v ệc g úp chủ sử dụng lao động có nguồn nhân lực ổn định, có khả năng hoạch định được chính sách, ch ến lược sản xuất, k nh doanh từ đó thúc đẩy k nh tế phát tr ển
Để ngành BHXH phát tr ển và lớn mạnh thì công tác thu BHXH và quản lý thu BHXH có vị trí hết sức quan trọng, bở lẽ thu BHXH là yếu tố hàng đầu, đóng va trò then chốt trong v ệc tạo lập quỹ BHXH (quỹ BHXH là quỹ t ền tệ tập trung, nằm ngoà ngân sách nhà nước, dùng để ch trả các chế độ BHXH cho ngườ lao động và duy trì hoạt động của bộ máy BHXH)
Trong những năm qua, BHXH Quận Ba Đình đã có nh ều chính sách khác nhau để cả th ện và nâng cao chất lượng công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn Tuy nh ên, công tác thu BHXH vẫn còn nh ều bất cập và hạn chế nhất định cần quan tâm giải quyết đó là:
- Tình trạng vi phạm pháp luật trốn đóng, nợ đọng BHXH, chưa tham gia hoặc tham gia không đầy đủ cho số lao động làm v ệc tạ đơn vị d ễn ra khá phức tạp Có nh ều doanh ngh ệp thành lập, sử dụng lao động nhưng trốn đóng hoặc đóng không đúng đố tượng, không đủ quỹ t ền lương của đơn vị kh trích khoản
Trang 15đóng của người lao động lại kéo dà thờ g an làm tăng tình trạng nợ đọng BHXH Cá b ệt có nh ều đơn vị lạm dụng quỹ BHXH, t ền đóng BHXH của ngườ lao động làm vốn sử dụng và hoạt động sản xuất k nh doanh của đơn vị mình, gây ra nh ều khó khăn cho v ệc quản lý thu BHXH, ảnh hưởng không nhỏ
tớ công tác thu nộp nó r êng và công tác thu- ch nó chung của ngành BHXH
- Công tác tuyên truyền pháp luật về BHXH của cơ quan BHXH và các đơn
vị chưa được thường xuyên; công tác kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật BHXH đối với các chủ Doanh nghiệp cố tình không đóng, đóng không đúng, không kịp thời, đầy đủ BHXH cho người lao động còn chưa được quan tâm đúng mức; giải quyết nợ đọng BHXH là một trong những vấn đề gây bức xúc hịên nay
- Trong tình hình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập và cũng có không ít doanh nghiệp không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường, hoặc làm ăn thua lỗ kéo dài phải giải thể, phá sản Dẫn đến những biến động tăng, giảm, di chuyển lao động rất phức tạp và xẩy ra thường xuyên, liên tục khó khăn cho công tác quản lý người tham gia cũng như thu BHXH Như vậy, sự thách thức đố vớ hoạt động thu BHXH bắt buộc là rất lớn; tất cả những đ ều đó đang đặt ra những vấn đề bức xúc cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH làm cơ sở để giải quyết chế độ chính sách cho người tham gia, đảm bảo tăng trưởng quỹ BHXH và thực hiện công bằng xã hội
Qua thờ g an công tác tạ Bảo h ểm xã hộ Quận Ba Đình là cán bộ thu chuyên quản đơn vị, t ếp xúc vớ nh ều ngườ lao động và chủ sử dụng lao động trên địa bàn quận, từ những k nh ngh ệm thực t ễn trong công tác cùng k ến thức
cơ bản trong khóa học; Để hạn chế và khắc phục những tồn tại trên, được sự phân công của khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh Học viện nông nghiệp Việt Nam tôi lựa chọn nghiên cứu đề tà : “Quản lý thu bảo h ểm xã hộ bắt buộc tạ Bảo h ểm xã hộ Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nộ ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn Quận Ba Đình những năm gần đây Từ đó đề xuất các g ả pháp hoàn th ện quản lý thu BHXH bắt buộc cho BHXH Quận Ba Đình trong thờ g an tớ
Trang 16- Định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc
tạ Quận Ba Đình Thành phố Hà Nộ những năm tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý thu BHXH bắt buộc tạ BHXH Quận Ba Đình- TP Hà Nộ
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
2.1 CƠ SỞ ̀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm
Bảo hiểm là một thách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, tính mạng ( wikipedia-www.vi wikipedia.org)
Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm
Bảo hiểm là một lĩnh vực rộng và phức tạp hàm chứa yếu tố kinh tế, pháp
lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc thù; Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu ví dụ:
- Xét về mặt xã hội: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít
- Xét về phương diện kinh tế: Bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
- Xét về góc độ kỹ thuật tính: Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng
để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được
Theo các chuyên gia Pháp, một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau: Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
Trang 182.1.1.2 Khái niệm BHXH và BHXH bắt buộc
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi Bảo hiểm xã hội (BHXH) là bộ phận chính cấu thành hệ thống an sinh xã hội (ASXH), là chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia Tuy nhiên, rất khó có một khái niệm chung về BHXH được các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về vấn đề này phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của Nhà nước, của tập quán và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro…ở từng nước
Theo cách tiếp cận từ thu nhập BHXH là sự đảm bảo cho người lao động khi họ gặp khó khăn, bị giảm hoặc mất thu nhập, khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Trên phương diện quốc tế, khái niệm chung của ILO về an sinh xã hội cũng được sử dụng trong lĩnh vực BHXH Theo đó BHXH có thể được hiểu khái quát là "Sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con" (Công ước 102, 1952)
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Bảo hiểm là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, của người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết” (Từ điển Bách khoa, tr.18)
Theo Điều 3 Luật Bảo hiểm 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014:
“Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Luật BHXH, 2014)
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia
Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung cả hai khái niệm trên
Trang 19đều thể hiện rõ bản chất và đặc trưng cần có của BHXH Cụ thể đã nêu rõ được:
- Bảo hiểm xã hội là những quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động
- Người lao động được trợ giúp vật chất trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết
- Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho chính họ
Như vậy, có thể hiểu rằng BHXH và BHXH bắt buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH do Nhà nước đứng
ra tổ chức thực hiện, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước; nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ; qua đó góp phần thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, phát triển đất nước
2.1.2 Đặc điểm của BHXH và BHXH bắt buộc
BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, đảm bảo cho người lao động có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống
BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Chủ
sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chính sách BHXH quy định, đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH; Cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế
ba bên: Cơ quan Bảo hiểm Xã hội - Người sử dụng lao động - Người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý của Nhà nước BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra thực hiện do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt Nam Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền, đó là: Cung BHXH do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt buộc cầu và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ còn kém
Trang 20BHXH là một hình thức bảo hiểm có tầm quan trọng đối với một quốc gia,
nó có 1 số đặc điểm cơ bản sau:
- Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của người lao động, của cả cộng đồng
- Hoạt động BHXH nhằm huy động sự đóng góp của người lao động và Nhà nước tạo lập tài chính để phân phối sử dụng nó đảm bảo bù đắp một phần thu nhập nhất định nào đó cho người lao động khi có những sự cố bảo hiểm xuất hiện như: tai nạn, ốm đau, hưu trí, tử tuất… Điều đó có nghĩa là mục đích của quỹ BHXH là lấy một phần thu nhập trong thời gian lao động bình thường để giành bảo đảm cho cuộc sống trong những ngày không lao động không có thu nhập
- Việc phân phối sử dụng quỹ BHXH được chia làm hai phần:
+ Phần thực hiện chế độ hưu trí mang tính chất bồi hoàn Mức bồi hoàn phụ thuộc vào mức đóng góp vào quỹ BHXH
+ Các chế độ còn lại vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn Nghĩa là người lao động trong quá trình lao động không bị ốm đau, tai nạn thì không được bồi hoàn; khi bị ốm đau, tai nạn được bồi hoàn theo quy định trong Luật BHXH hiện hành Sự tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của xã hội loài người nói chung, của từng nước nói riêng Việc vận dụng và thực hiện các chế độ BHXH do tổ chức quốc tế về lao động quy định hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước, để vừa ổn định đời sống của người lao động, vừa ổn định phát triển kinh tế xã hội của đất nước
BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ bắt buộc phải tham gia với mức đóng góp tối thiểu theo quy định của pháp luật
BHXH bắt buộc mới bù đắp các rủi ro của người lao động liên quan đến thu nhập của họ như: Ốm đau; thai sản; Tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp (Đó
là những chế độ ngắn hạn) Do những rủi ro này mà người lao động bị giảm và mất nguồn thu nhập, thông qua BHXH bắt buộc bù đắp nguồn thu này cho người lao động
Quỹ BHXH bắt buộc là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH bắt buộc là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thể của quỹ BHXH bắt buộc chính là những
Trang 21người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Tóm lại, BHXH bắt buộc là hệ thống những chế độ, chính sách do Nhà nước quy định để đàm bảo quyền lợi vật chất cho người tham gia BHXH BHXH bắt buộc là một loại dịch vụ công, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động BHXH bắt buộc hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít, chia sẻ rủi ro, là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH theo xu hướng có lợi cho đối tượng gặp phải những rủi ro trong lao động và đời sống xã hội
2.1.3 Vai trò của BHXH bắt buộc
2.1.3.1 Đối với Nhà nước
a Góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì
sự lớn mạnh và phát triển không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách BHXH đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
Hệ thống an sinh xã hội là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều chế độ, chính sách mà trong đó mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp bao gồm toàn bộ dân cư của một quốc gia Hệ thống này có mục tiêu bảo vệ mọi thành viên trước những rủi ro và giữ gìn cuộc sống của họ với những biện pháp thích hợp hay những quyền lợi hợp lý trước những biến động bất thường xảy ra hay trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt Tuy nhiên, trong
hệ thống an sinh xã hội thì hệ thống BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
b Góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân
BHXH bắt buộc là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững
Trang 22c Góp phần tăng nguồn vốn cho phát triển đất nước
Quỹ BHXH bắt buộc càng phát triển lớn mạnh thì phần quỹ BHXH nhàn rỗi được đầu tư trở lại nền kinh tế, như vậy sẽ tăng được nguồn vốn cho phát triển đất nước, tạo việc làm cho người lao động và nguồn thu cho đất nước
2.1.3.2 Đối với xã hội
a Góp phần ổn định cuộc sống của người lao động
BHXH bắt buộc mang lại sự đảm bảo và ổn định cuộc sống cho người dân đặc biệt là người làm công ăn lương
Khi có sự cố bảo hiểm, những người tham gia bảo hiểm nhất định sẽ nhận được một số tiền bảo hiểm để giảm bớt khó khăn về mặt tài chính, tạo điều kiện duy trì mức sống đã đạt được Như vậy, thực hiện tốt chính sách bảo hiểm nghĩa
là tạo sự an tâm cho người lao động trong quá trình lao động Hỗ trợ và thực hiện các biện pháp an toàn lao động, tạo điều kiện để cải thiện, nâng cao sức khỏe cho người lao động Đây là vai trò tích cực của BHXH bắt buộc đối với người lao động vì nó vừa có thể nâng cao đời sống cho người lao động lại vừa giảm bớt được các khoản chi trợ cấp về tai nạn, bệnh nghề nghiệp,… vừa đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường Sử dụng nguồn tài chính nhàn rỗi để tham gia vào thị trường tài chính nhằm mục đích bảo toàn và phát triên quỹ BHXH
b Góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội và phát triển nền kinh tế
Thực hiện tốt chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, góp phần ổn định tình hình an ninh và trật tự xã hội
BHXH bắt buộc đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia, kích thích tiêu dùng của xã hội, hỗ trợ và bổ sung các chính sách vĩ mô khác của Chính phủ BHXH giải quyết được rủi ro đối với người lao động, góp phần tích cực vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của họ và góp tăng năng suất lao động của xã hội Thông qua sự trợ giúp của BHXH người lao động nhận được các chế độ BHXH, họ sẽ có thu nhập thay thế
BHXH bắt buộc có tác động mạnh mẽ tới chính sách tài chính quốc gia,
có ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư tài chính từ quỹ BHXH Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH có tác động không nhỏ tới quá trình phát triển của đất nước, là nguồn vốn quan trọng để tạo ra những cơ sở
Trang 23sản xuất kinh doanh mới, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo thu nhập cho người lao động và tăng tổng sản phẩm quốc dân
c Góp phần giảm bớt gánh nặng cho xã hội
BHXH bắt buộc cũng là chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội, là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Quỹ BHXH bắt buộc là do các bên tham gia quan hệ lao động đóng góp trong quá trình lao động, việc chi trả các chế độ BHXH cho người tham gia BHXH được trích từ quỹ BHXH vì vậy Nhà nước cũng bớt gánh nặng trong thực hiện các chính sách xã hội
2.1.3.3 Đối với người lao động
Mục đích lớn nhất của BHXH là bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ, người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập mất đi khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm; khi họ hết tuổi lao động theo quy định sẽ được hưởng chế độ hưu trí (lương hưu); khi chết
sẽ được hưởng trợ cấp tiền tuất, mai táng phí; ngoài ra được hưởng trợ cấp khi
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và dưỡng sức
Tham gia BHXH, người lao động yên tâm cống hiến và không phải lo lắng nhiều về những rủi ro mà mình có thể gặp phải trong hoạt động lao động sản xuất, công tác, sinh hoạt BHXH góp phần làm hạn chế và điều hoà các mâu thuẫn giữa người tham gia BHXH và người sử dụng lao động, tạo môi trường làm việc ổn định, đảm bảo cho hoạt động lao động sản xuất, công tác với hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước
2.1.4 Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Tại Điều 2 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 quy định đối tượng áp dụng (tham gia BHXH bắt buộc) bao gồm:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Trang 24+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018);
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018)
- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
2.1.5 Quyền lợi của người tham gia BHXH bắt buộc
Quyền lợi của người tham gia BHXH được quy định tại điều 18 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, bao gồm:
- Được tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này
Trang 25- Được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội
- Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời, theo một trong các hình thức chi trả sau:
+ Trực tiếp từ cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền;
+ Thông qua tài khoản tiền gửi của người lao động mở tại ngân hàng; + Thông qua người sử dụng lao động
- Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây:
+ Đang hưởng lương hưu;
+ Trong thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi;
+ Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; + Đang hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành
- Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 của Luật này và đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm xã hội
- Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
- Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng bảo hiểm xã hội; định kỳ hằng năm được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận
về việc đóng bảo hiểm xã hội; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội
- Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
Trang 26thuộc danh mục bệnh dài ngày thì được hưởng trợ cấp 180 ngày đầu là 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, quá thời hạn trên thì mức trợ cấp sẽ là 65% đến 50% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, tùy theo thời gian đóng BHXH nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội
- Người lao động có con dưới 07 tuổi bị ốm đau phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau được trả trợ cấp bằng 75% tiền lương trong thời gian từ 15 ngày đến 20 ngày cho mỗi con trong một năm, tùy vào tuổi của con
Ngoài ra, còn có chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau: Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 ngày đến 10 ngày trong một năm Mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở
2.1.6.2 Trợ cấp thai sản
Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con
Thời gian nghỉ sinh con đối với lao động nữ trước và sau sinh con là 06 tháng (Tùy theo số con sinh ra thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người
mẹ được nghỉ thêm 01 tháng); Đối với người lao động nhận nuôi con nuôi dưới
06 tháng tuổi được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi Những trường hợp này mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc
Lao động nữ được hưởng chế độ thai sản khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con trong khoảng thời gian 30 ngày đầu, được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 05 ngày đến 10 ngày (tùy theo phương thức sinh con của vợ và số con sinh ra) Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thực hiện các biện pháp tránh thai Những trường hợp này mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc; Nếu người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng mức hưởng là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội Thời gian nghỉ việc hưởng các chế độ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH mặc dù thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH
Trang 27Ngoài ra, nếu lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày Mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở
2.1.6.3 Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% được hưởng trợ cấp một lần; Suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng 05 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% được hưởng thêm 0,5 lần mức lương
cơ sở
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng; Suy giảm 31% khả năng lao động được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% được hưởng thêm 2% mức lương
cơ sở
Ngoài ra, còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe
từ 05 ngày đến 10 ngày; Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương cơ sở nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình; bằng 40% mức lương cơ sở nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại cơ sở tập trung
2.1.6.4 Trợ cấp hưu trí
- Người lao động có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
+ Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có
đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;
- Người lao động có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu nói trên nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Trang 28+ Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;
+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
+ Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định
- Người lao động tham gia BHXH mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu hàng tháng được hưởng BHXH một lần; Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau: 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014; 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi; Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bảo hiểm xã hội bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm
xã hội
Người lao động có thể bảo lưu thời gian tham gia BHXH, chuyển tham gia
ở nơi khác, chờ đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí
2.1.6.5 Trợ cấp tử tuất
Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà đã có thời gian đóng từ đủ 12 tháng trở lên; Đang hưởng chế độ BHXH (hưu trí, TNLĐ, BNN) khi chết người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng chết
Người lao động tham gia BHXH hoặc đang hưởng chế độ BHXH (hưu trí, TNLĐ, BNN) khi chết thân nhân có thể được hưởng tiền tuất hàng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần theo quy định
2.2 QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC
2.2.1 Khái niệm thu BHXH bắt buộc
- Thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ
Trang 29đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu bảo hiểm xã hội
- Quản lý thu BHXH là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt được mục tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phương pháp nhất định
- Thu BHXH bắt buộc là sự tác động của Nhà nước thông qua các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ thực hiện; trong đó cơ quan BHXH sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và các phương pháp đặc thù tác động trực tiếp vào đối tượng đóng BHXH để đạt mục tiêu đề ra 2.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý thu BHXH bắt buộc
2.2.2.1 Tổ chức đăng ký và quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Được quy định tại Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày ngày 09/09/2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quy định quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế
a Đăng ký tham gia BHXH bắt buộc: Đơn vị tham gia lần đầu, đơn vị di chuyển
từ địa bàn tỉnh, thành phố khác đến; Lập 01 bộ hồ sơ, thành phần hồ sơ:
b Quy trình quản lý thu BHXH bắt buộc
- Đối với người tham gia
+ Kê khai và nộp hồ sơ tham gia BHXH
+ Nộp tiền BHXH, BHYT, BHTN cho đơn vị
Trang 30+ Nhận kết quả: Sổ BHXH, thẻ BHYT do cơ quan BHXH cấp khi đóng BHXH, BHYT, BHTN đúng quy định Hàng năm, nhận thông tin xác nhận về việc đóng BHXH do cơ quan BHXH cung cấp thông qua Cổng thông tin điện tử của BHXH Việt Nam hoặc thông qua đơn vị nơi làm việc
- Đối với đơn vị sử dụng lao động
+ Tham gia lần đầu:
* Lập hồ và nộp hồ sơ cho cơ quan BHXH
* Nộp tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN theo quy định
* Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động
* Nhận thẻ BHYT từ cơ quan BHXH trả cho người lao động
+ Điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN hàng tháng
* Kê khai, lập hồ sơ điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN; tăng, giảm lao động, mức đóng, số tiền phải đóng; truy thu, hoàn trả; thay đổi, điều chỉnh thông tin đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với đơn vị, người lao động; nộp hồ sơ kịp thời cho cơ quan BHXH để xác định số tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN; cấp, ghi, xác nhận, chốt sổ BHXH, thẻ BHYT đối với đơn vị, người tham gia và đóng BHXH, BHYT, BHTN đầy đủ, đúng thời hạn
* Phối hợp với cơ quan BHXH xác nhận, chốt sổ BHXH cho người lao động khi người lao động chấm dứt HĐLĐ, HĐLV hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật
+ Cấp lại sổ BHXH, thẻ BHYT, điều chỉnh nội dung đã ghi trên sổ BHXH, thẻ BHYT của người lao động
* Trường hợp người lao động nộp hồ sơ thông qua đơn vị: đơn vị nhận hồ
sơ và nộp kịp thời cho cơ quan BHXH Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH, thẻ BHYT cho người lao động
* Xác nhận Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) đối với các trường hợp điều chỉnh họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh đã ghi trên sổ BHXH của người lao động
+ Thu hồi thẻ BHYT của người lao động ngừng tham gia BHYT, nộp cho
cơ quan BHXH để điều chỉnh số phải thu (trừ trường hợp chết; chờ giải quyết chế độ hưu trí, trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hàng tháng)
+ Hàng tháng, nhận thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu
Trang 31C12-TS) tra cứu tại Cổng thông tin của BHXH Việt Nam; kiểm tra, đối chiếu, nếu có sai lệch, phối hợp với cơ quan BHXH để giải quyết
+ Định kỳ 6 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động
+ Hàng năm, nhận thông tin đóng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động (Mẫu C13-TS) do cơ quan BHXH cung cấp để niêm yết công khai tại đơn vị 2.2.2.2 Xác định mức thu và phương thức thu BHXH bắt buộc
Mức thu
+ Cơ quan BHXH căn cứ hồ sơ tham gia của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHXH đối với người tham gia và đơn vị theo phương thức đóng của đơn vị, người tham gia
+ Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không tính đóng BHXH tháng đó
+ Người lao động có số ngày không làm việc và không hưởng tiền lương dưới 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì tính đóng BHXH đối với đơn vị và người lao động cả tháng đó
Mức đóng cụ thể
Mức đóng hàng tháng = Tỷ lệ (%) đóng BHXH x Mức tiền lương, tiền công tháng của người lao động
Tỷ lệ (%) đóng BHXH qua các năm như sau:
Từ 01/01/2010 đến 31/12/2011: 22% (Người lao động: 6%; Đơn vị: 16%)
Từ 01/01/2012 đến 31/12/2013: 24% (Người lao động: 7%; Đơn vị: 17%)
Từ 01/01/2014 trở đi: 26% (Người lao động: 8%; Đơn vị: 18%)
Phương thức thu
+ Đóng hàng tháng
Hàng tháng, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương tháng của những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
+ Đóng 3 tháng hoặc 6 tháng một lần
Trang 32Đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóng theo phương thức hằng tháng hoặc 3 tháng, 6 tháng một lần Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH
- BHXH Việt Nam
Tổng hợp, xây dựng và điều chỉnh kế hoạch, giao kế hoạch đảm bảo sát tình hình thực tế và khả năng thực hiện
2.2.2.4 Phân cấp quản lý thu BHXH
Công tác quản lý thu BHXH là cách thức tổ chức sắp xếp công tác thu BHXH do cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực BHXH quy định, nhằm hướng dẫn, điều chỉnh các bộ phận trong hệ thống Bảo hiểm Xã hội hoạt động theo một phương thức thống nhất
Trong công tác thu BHXH phân cấp thu BHXH sẽ đảm bảo cho công tác thu được đồng bộ, đảm bảo các yêu cầu về thông tin chỉ đạo, xử lý kịp thời các vướng mắc và chuyên môn hoá trong từng khâu Đối với việc phân cấp của ngành
Trang 33Bảo hiểm Xã hội hiện nay, công tác thu BHXH được phân thành các cấp quản lý theo mô hình
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH
Theo mô hình trên việc phân cấp quản lý được chia làm 3 cấp:
- Cấp Trung ương: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
- Cấp tỉnh: Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Cấp huyện: Bảo hiểm xã hội các quận, huyện, thị xã, TP trực thuộc tỉnh Trong đó, Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh và Bảo hiểm xã hội cấp huyện trực tiếp thu BHXH của đơn vị sử dụng lao động và người tham gia BHXH Bảo hiểm xã hội cấp Trung ương có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo nghiệp vụ, tổng hợp số liệu thu BHXH của toàn quốc; nghiên cứu, xây dựng, tham mưu giúp lãnh đạo ban hành các văn bản chỉ đạo, xử lý những vướng mắc trong công tác thu BHXH và trực tiếp chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ thu BHXH Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo công tác thu BHXH trên phạm vi địa bàn tỉnh và Bảo hiểm xã hội các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc; thu BHXH của một số đơn vị; đồng thời có nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo số thu BHXH của toàn tỉnh tới Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội cấp huyện trực tiếp thu BHXH của các đơn vị SDLĐ trên địa bàn huyện theo phân cấp quản lý thu của Bảo hiểm xã hội tỉnh (đơn vị chủ quản)
BHXH Tỉnh 2
BHXH
Tỉnh 1
BHXH Tỉnh N
Bảo hiểm xã hội Việt Nam
BHXH Tỉnh 64
BHXH huyện 1.n
BHXH
huyện 1.1
BHXH huyện 64.1
BHXH huyện 64.n
Trang 34Các chu trình quản lý thu BHXH được thực hiện theo một nguyên tắc khép kín từ Trung ương tới cơ sở
2.2.2.5 Quản lý tiền thu BHXH
- Hình thức đóng tiền: Đơn vị sử dụng lao động, người tham gia BHXH đóng bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt
Chuyển khoản: Chuyển tiền đóng BHXH vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
Tiền mặt: Đơn vị, người tham gia nộp trực tiếp tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
Trường hợp đơn vị, người tham gia nộp cho cơ quan BHXH thì trước 16 giờ trong ngày cơ quan BHXH phải nộp toàn bộ số tiền mặt đã thu của đơn vị, người tham gia vào tài khoản chuyên thu tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
- Hoàn trả
* Được thực hiện theo quy định trong các trường hợp sau:
+ Đơn vị giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật hoặc di chuyển nơi đăng ký tham gia đã đóng thừa tiền, đóng trùng tiền BHXH
+ Đơn vị chuyển tiền vào tài khoản chuyên thu không thuộc trách nhiệm quản lý thu của cơ quan BHXH tỉnh, huyện theo phân cấp
+ Số tiền đơn vị, cá nhân đã chuyển vào tài khoản chuyên thu không phải
+ Giám đốc BHXH ra quyết định hoàn trả (Mẫu C16-TS), gửi 01 bản cho
Trang 35Phòng/ Tổ kế hoạch tài chính lưu và làm thủ tục chuyển tiền, gửi Phòng/Tổ Quản
lý thu 01 bản Trường hợp ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước hạch toán nhầm thì gửi 01 bản cho ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước đó để kiểm soát
2.2.2.6 Xử lý nợ đọng bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội cấp huyện có trách nhiệm điều tra lập danh sách các đơn
vị sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn; thông báo, hướng dẫn các đơn vị kịp thời đăng ký tham gia đóng đủ tiền BHXH cho người lao động theo quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo UBND cùng cấp, cơ quan quản lý lao động tại địa phương tình hình chấp hành pháp luật về BHXH của các đơn vị trên địa bàn, đề xuất các biện pháp giải quyết đối với các đơn vị nợ đọng kéo dài hoặc đơn vị cố tình trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH theo quy định của pháp luật Các trường hợp đơn vị
vi phạm pháp luật về đóng BHXH, như: không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật thì cơ quan BHXH lập biên bản, truy thu BHXH cho người lao động theo quy định về truy thu
Đối với đơn vị tham gia BHXH nợ từ 03 tháng trở lên thì cán bộ chuyên quản thu liên hệ và trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, đối chiếu thu nộp và lập Biên bản đối chiếu thu nộp (mẫu C05-TS) Sau đó tiếp tục gửi văn bản đôn đốc đơn vị,
15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần; đồng thời gửi cho Tổ Thu nợ của Bảo hiểm Xã hội tỉnh, Bảo hiểm Xã hội cấp huyện phối hợp thực hiện cho đến khi thu
nợ xong
Trường hợp phát hiện đơn vị không còn tồn tại, không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng không thực hiện các thủ tục báo giảm, giải quyết chế độ cho người lao động thì bộ phận Thu báo cáo Giám đốc BHXH huyện để báo cáo UBND, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động cùng cấp để kiểm tra, lập biên bản xác định thời điểm đơn vị ngừng tham gia BHXH do không còn tồn tại, không tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh; căn cứ biên bản kiểm tra, cơ quan BHXH chốt số tiền nợ BHXH đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động và dừng tính lãi chậm đóng, dừng tính số phải thu phát sinh
Thực hiện trình tự khởi kiện các đơn vị nợ đọng BHXH kéo dài: Đối với đơn vị nợ đọng BHXH, cơ quan BHXH đã thực hiện đối chiếu, lập biên bản đối chiếu thu nộp BHXH theo quy định, gửi văn bản đôn đốc thu nộp đến 03 lần nhưng đơn vị vẫn không đóng thì cơ quan BHXH thu thập số liệu gửi cho tổ chức
Trang 36công đoàn tiến hành khởi kiện ra Tòa án Giám đốc BHXH cấp tỉnh giao cho Giám đốc BHXH cấp huyện chịu trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan
để lập hồ sơ khởi kiện
2.2.2.7 Thanh tra, kiểm tra về thu BHXH
Kiểm tra: Hàng năm BHXH tỉnh, BHXH huyện tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật BHXH, BHYT, BHTN đối với các đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn Căn cứ tình hình đóng BHXH, BHYT, BHTN; truy đóng BHXH, BHYT, BHTN; số lượng đơn vị, doanh nghiệp, số người thuộc diện tham gia BHXH, BHYT, BHTN; số đơn vị, số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, tiền lương đóng BHXH, BHYT để lập kế hoạch và tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất tại đơn vị theo quy định của pháp luật
Thanh tra: Từ ngày 01/01/2016, hàng năm BHXH tỉnh, BHXH huyện
tổ chức thanh tra việc đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với đơn vị trên địa bàn như sau:
- Đối tượng thanh tra
+ Đơn vị đã được cơ quan BHXH kiểm tra phát hiện vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN nhưng chưa khắc phục trong thời hạn quy định
+ Đơn vị chưa được kiểm tra nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật về đóng BHXH, BHYT, BHTN
- Nội dung, kế hoạch, phương pháp thanh tra
Thực hiện theo Văn bản quy định của Chính phủ và hướng dẫn theo quy định của BHXH Việt Nam
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc
và đương nhiên số thu BHXH cũng tăng lên Từ năm 1990 đến năm 2016, với 13 lần tăng mức lương cơ sở từ 120.000 đồng/ tháng lên 1.210.000 đồng/ tháng thì
Trang 37số thu BHXH hằng năm tăng theo tiền lương tối thiểu
+ Chính sách lao động và việc làm: Người lao động là đối tượng tham gia BHXH, họ là những người trong độ tuổi lao động, là những người trực tiếp tạo ra của cải xã hội Như vậy nếu một quốc gia có dân số “già” tức là số người trong
độ tuổi lao động thấp so với tổng số dân sẽ dẫn đến việc mất cân đối quỹ BHXH, bởi vì số người tham gia đóng góp ngày càng ít, trong khi số người hưởng các chế độ BHXH, đặc biệt là chế độ hưu trí ngày càng tăng Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay với số người trong độ tuổi lao động ước tính xấp xỉ 54,36 triệu người chiếm khoảng 57,6% tổng số dân
Chính sách lao động, việc làm có ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế ngoài nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham gia đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động, vì:
Khi Nhà nước chú trọng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động trên các phương diện về chuyên môn, kỹ năng hành nghề, kỹ năng ứng xử, giao tiếp, tác phong làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động và pháp luật điều đó sẽ giúp cho thị trường lao động có nguồn lao động chất lượng cao, các doanh nghiệp sẽ đỡ được một phần chi phí trong công tác đào tạo Lực lượng lao động này sẽ có cơ hội tìm được việc làm ổn định và thu nhập cao (chất lượng lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập) tác động trực tiếp làm tăng
số lao động tham gia BHXH và do đó làm tăng mức đóng BHXH
Việc ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn trong toàn
xã hội để giải quyết việc làm sẽ làm chuyển dịch cơ cấu lao động, số người làm công ăn lương sẽ tăng lên cũng là lý do làm tăng tỷ trọng lao động xã hội tham gia BHXH
Việc phát triển thị trường lao động, hình thành hệ thống thông tin thị trường việc làm là yếu tố quan trọng giúp cho người lao động dễ dàng tìm việc phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của mình; đồng thời có quyền lựa chọn những đơn vị thực hiện đầy đủ quyền lợi của người lao động và thu nhập cao; chủ sử dụng lao động cũng thuận tiện hơn trong việc tuyển dụng lao động, tiết kiệm thời gian và chi phí
+ Tuổi nghỉ hưu : Tuổi nghỉ hưu là nhân tố tác động trực tiếp và chủ yếu đến quỹ BHXH về mặt lý luận do chính sách tinh giảm biên chế và do có số đông lao động nghỉ hưu trước tuổi, được giảm tuổi có thời gian làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại hoặc người không đủ sức khỏe để tiếp tục tham
Trang 38gia lao động
Theo quy định hiện hành tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60, nữ là 55 Ngoài ra, có quy định riêng với một số trường hợp về hưu ở tuổi 50 hoặc 55 đối với nam và 45 hoặc 50 đối với nữ Những lao động làm việc trong các nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại thì nghỉ hưu không phụ thuộc vào tuổi đời mà chỉ phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH
Việc tăng hoặc giảm tuổi nghỉ hưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu lao động xã hội Đối với quỹ BHXH nói chung và số thu BHXH nói riêng sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu giảm tuổi nghỉ hưu Bởi vì, khi giảm 5 tuổi nghỉ hưu sẽ tương ứng giảm thời gian đóng BHXH 5 năm Theo tính toán mỗi năm một người về nghỉ hưu trước tuổi Nhà nước phải bù 10,8 tháng lương
- Điều kiện phát triển kinh tế xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu
tư của Nhà nước, vì thế nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chắc chắn đời sống của người lao động dần được cải thiện; việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp được thuận lợi, vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao động, từ đó làm giảm tình trạng trốn tránh tham gia BHXH Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững phản ánh nhiều người lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện tiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHXH Mặt khác, khi đời sống kinh tế cao thì nhận thức của người lao động cũng được nâng lên, ngoài việc ý thức đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ mong muốn có khoản trợ giúp khi không may gặp các rủi ro xã hội cũng như đảm bảo cuộc sống khi về già, như: ốm đau, TNLĐ-BNN, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp khiến cho họ bị mất hoặc
bị giảm thu nhập Tất cả những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHXH 2.2.3.2 Yếu tố chủ quan
- Công tác tuyên truyền về hệ thống pháp luật và quy định về luật BHXH + Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động và người sử dụng lao động: BHXH là một cơ chế phức tạp với nhiều mối quan hệ đa dạng, trong đó nổi bật là quan hệ lợi ích, tức là quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH Dù là người lao động hay là người sử dụng lao động thì tâm lý chung
là làm sao lợi ích càng nhiều càng tốt, lợi ích không giới hạn và trách nhiệm càng
Trang 39ít càng tốt, trách nhiệm có hạn Quyền và nghĩa vụ trong BHXH rõ nhất là vấn đề đóng và hưởng BHXH Người lao động và người sử dụng lao động luôn mong muốn chỉ phải đóng góp BHXH ở mức thấp nhất (giảm chi phí cho gia đình và doanh nghiệp), nhưng lại muốn được hưởng BHXH tốt nhất Vì thế, người tham gia BHXH mới tìm cách trì hoãn việc đóng BHXH hoặc giảm mức đóng góp BHXH (khai lương thấp, giảm số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH, chậm đóng, nợ BHXH) Nhiều khi, từ chỗ nhận thức giản đơn về việc tham gia BHXH, tức là không tham gia, hoặc chưa tham gia hay tham gia ở mức độ nhất định vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp, nên người
sử dụng lao động không có kế hoạch tài chính chủ động thực hiện việc đăng ký tham gia BHXH; ngay chính bản thân người lao động cũng chưa có thói quen sống vì bảo hiểm Chủ doanh nghiệp chỉ thấy lợi trước mắt, lợi cục bộ cho doanh nghiệp, thiếu quan tâm đến đời sống và quyền lợi BHXH của người lao động nên tìm mọi cách trốn tránh đăng ký tham gia BHXH cho người lao động hoặc đăng
ký tham gia theo kiểu đối phó khi có thanh tra, kiểm tra Tình trạng chủ doanh nghiệp ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng với người lao động và hợp đồng vụ việc, nhằm lách luật về BHXH Vấn đề đặt ra là ngành BHXH phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách BHXH để người lao động và chủ sử dụng lao động hiểu rõ hơn làm thế nào để giảm thiểu những sự lạm dụng và vi phạm pháp luật về BHXH
+ Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền: Để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc tham gia BHXH của người lao động và người sử dụng lao động, thì vai trò của cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền có tác động rất lớn đến BHXH nói chung, đến công tác thu BHXH nói riêng Đó là việc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong đó có nghĩa vụ đóng BHXH thông qua tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng trong doanh nghiệp Đó là việc yêu cầu các doanh nghiệp khi đăng ký thành lập, hoạt động phải có chỉ tiêu thực hiện BHXH; thành lập các đoàn thanh tra, xử lý vi phạm về đóng BHXH, về đăng ký lao động tham gia BHXH Bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của cấp uỷ Đảng và chính quyền trong công tác BHXH ở các địa phương cần được tổng kết, phát huy để phát triển nhanh đối tượng tham gia, tăng nguồn thu BHXH, tạo cơ sở để giải quyết chế độ, đảm bảo quyền lợi cho người lao động
- Năng lực và chất lượng đội ngũ cán bộ BHXH: Hiện nay công tác thu và quản lý thu BHXH rất phức tạp, khối lượng công việc nhiều, đa phần là quả tải
Trang 40đối với mỗi cán bộ, các văn bản luật, nghị định, hướng dẫn từ các cấp ban ngành được cấp nhật thường xuyên, liên tục đòi hỏi người cán bộ phải chuyên tâm nghiên cứu, cần cù, có trách nhiệm với công việc, đồng thời phải có trình độ Một
số đơn vị trốn đóng, hay lách luật với những thủ đoạn tinh vi, bài bản đòi hỏi người cán bộ BHXH vừa phải có năng lực tốt, vừa phải có tư cách đạo đức và ý chí bền bỉ thì công tác thu và quản lý thu BHXH mới thực sự thành công và không bị ảnh hưởng tiêu cực
- Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động quản lý thu: Ngành BHXH cũng
đã chú trọng tới việc trang bị các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động quản lý thu Tất cả các cán bộ làm công tác thu đều được trang bị máy vi tính có used và mật khẩu riêng có kết nối với hệ thống máy chủ ở BHXH tỉnh thông qua đường truyền cáp quang riêng
Mức đóng BHXH: Được chia ngang bằng cho chủ sử dụng lao động và người lao động; Mỗi bên đóng 7,65% mức tiền lương, tiền công của người lao động (trong đó đóng BHYT là 1,45%) Khu vực nông nghiệp và phi Chính Phủ người lao động phải đóng 15,3% tiền lương tháng
Khi đóng phí BHXH, người lao động được cấp thẻ BHXH, họ có thể nhận được tối đa 04 thẻ BHXH trong một năm Khi thực hiện chi trả trợ cấp BHXH cho người lao động thì cơ quan BHXH sẽ thu lại thẻ BHXH để lưu trữ
Số tiền thu BHXH được dành dưới 1% cho chi phí quản lý hành chính, 70% chi cho trợ cấp hưu trí, 19% chi trợ cấp y tế, 10% chi trợ cấp khuyết tật và thân nhân
Ngoài hình thức BHXH bắt buộc, Liên bang Mỹ còn thực hiện loại hình BHXH tự nguyện, quỹ hưu trí của ngành Người lao động có thể vừa tham gia hình thức BHXH bắt buộc vừa tham gia hình thức BHXH tự nguyện Hiện nay,
có khoảng hơn nửa lực lượng lao động nước Mỹ tham gia BHXH tự nguyện