1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, Tản Đà được mệnh danh là nhà nho tài tử trong thời hiện đại với nhiều sáng tác ở cácthể loại khác nhau, những sáng tác của ông đề
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht p:// www.l rc t nu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NHUNG
BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht p:// www.l rc t nu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NHUNG
BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Điệp
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Thị Nhung
Trang 4người hướng dẫn khoa học
T S H o à n g Đ i ệ p
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tên, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Điệp đã trựctếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo, giúp đỡ em rất nhiều trong quatrình làm luận văn tốt nghiệp
Em cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban chứcnăng, Khoa Sau Đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái nguyêncùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè, đồngnghiệp, các anh chị em trong lớp Văn học Việt Nam CH K22 đã giúp đỡ, khích
lệ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Do năng lực bản thân còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Thị Nhung
Trang 6Trang bìa phụ
MỤC LỤC
Trang
Trang 7Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu
7 4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
8 5 Phương pháp nghiên cứu
8 6 Đóng góp của luận văn
8 7 Cấu trúc của luận văn
9 Chương 1 THƠ TẢN ĐÀ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN TÀI 1
1.1 Biểu tượng và khái niệm có liên quan
1 1.1.1 Biểu tượng (Symbol) 1
1.1.2 Biểu tượng văn hóa
3 1.1.3 Biểu tượng văn học
4 1.2 Tác giả Tản Đà 6
1.2.1 Nhà nho tài tử sống trong thời hiện đại
6 1.2.2 Tản Đà - Nhà nho lãng mạn giữa hai thế kỷ 9
1.3 Khái quát về biểu tượng trong thơ Tản Đà 11
Tiểu kết chương 1 14
Trang 8TẢN ĐÀ 15
2.1 Biểu tượng Nước .15
Trang 92.1.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 15
2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng Nước trong thơ Tản Đà 19
2.2 Biểu tượng Giời (Trời) 25
2.2.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 25
2.2.2 Ý nghĩa biểu tượng Giời (Trời) trong thơ Tản Đà 30
2.3 Biểu tượng Đất 41
2.3.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 41
2.3.2 Ý nghĩa biểu tượng Đất trong thơ Tản Đà 44
2.4 Biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) 52
2.4.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) 52
2.4.2 Ý nghĩa biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) trong thơ Tản Đà 53
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ 64
3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 64
3.1.1 Ngôn ngữ có tính giản dị, trong sáng, tự nhiên 64
3.1.2 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình 67
3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật 73
3.2.1 Thời gian mang tính biểu tượng 74
3.2.2 Không gian mang ý nghĩa biểu tượng 80
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học luôn hướng con người tới những chân trời mới, khám
phá những chặng đường mới của cuộc sống cũng như thế giới nội tâm khuấtlấp trong mỗi con người Trong hành trình khám phá và chinh phục đó, ta bắtgặp những biểu tượng xuyên suốt tạo nên tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ tácphẩm của từng nhà thơ Và thông qua những biểu tượng đó ta tìm thấyđược những giá trị, những vẻ đẹp tiềm ẩn của non sông, đất nước, con người
1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, Tản Đà
được mệnh danh là nhà nho tài tử trong thời hiện đại với nhiều sáng tác ở cácthể loại khác nhau, những sáng tác của ông đều đem lại nhiều ấn tượng sâusắc trong lòng độc giả Thơ ông viết về những điều bình dị, đời thường nhấttrong cuộc sống bằng tất cả sự trải nghiệm của chính cuộc đời mình thông quanhững biểu
tượng với nhiều tầng ý nghĩa nghệ thuật
1.3 Được xem là một cây bút xông xáo, nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực,
Tản Đà đã để lại cho hậu thế một số lượng tác phẩm đáng kể về thơ ca, vănchương, tiểu thuyết, dịch thuật…Thơ, văn của ông luôn có một ý nghĩa nhânvăn sâu sắc, nhiều tâm sự, suy nghĩ của mình ẩn giấu trong từng câu chữ.Chính vì vậy nó luôn có sức thu hút đối với bạn đọc Nhiều tác phẩm mangtính thời sự nóng bỏng, gắn liền với vận mệnh của dân tộc mình, do đó thơvăn Tản Đà luôn chiếm một vị trí quan trọng trên văn đàn văn học ViệtNam.Bởi vậy, cho đến nay vẫn còn rất nhiều công trình nghiên cứu vẫn đangtếp tục khám phá tm hiểu những tác phẩm văn chương của Tản Đà
1.4 Là một người tài hoa, cá tính độc đáo với một cái tôi mới mẻ, Tản
Đà đã thồi một luồng gió mới mẻ vào nên văn chương đương thời Tuy
nó không mạnh mẽ, cuồng nhiệt như Xuân Diệu,như các nhà Thơ mới,
Trang 11nhưng cũng đủ để cho giới nhà văn, nhà thơ đương thời phải bàn tán, xônxao Có rất
Trang 12nhiều giới nghiên cứu về nhà thi sĩ Tản Đà, nhưng chưa có một ai nghiên cứu
về những biểu tượng đặc sắc trong thơ Tản Đà, từ đó đánh giá vị trí, vai tròcủa nó trong sự nghiệp thơ ca của thi sĩ Qua những biểu tượng trong các sángtác thơ Tản Đà, ta hiểu được những giá trị tiềm ẩn, ý nghĩa nhân văn sau từngbiểu
tượng cũng như những quan niệm, tư tưởng mà nhà thơ muốn gửi gắmtrong đó Từ đó có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí những sángtác của Tản Đà trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Để hiểu rõ mộtcách sâu sắc hơn các tác phẩm văn học cũng như có thể đóng góp một phần trithức vào việc nghiên cứu, giảng dạy, tm hiểu tác phẩm văn học trong nhà
trường, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu: “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” để tm ra
những giá trị tềm ẩn, khuất sâu trong từng biểu tượng đó
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi nghiên cứu về tác giải Tản Đà, đã có rất nhiều ý kiến đánh giá, bìnhluận trái chiều về ông, trong đó có cả mặt tích cực và tiêu cực Điều đó
được thể hiện rất rõ trong cuốn Tản Đà - về tác gia và tác phẩm [11] của
tác giả Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Đức Mậu, NXB Giáo Dục, 2003
Tản Đà xuất hiện trên văn đàn với Khối tình con đã gây ảnh hưởng mạnh
mẽ: “Dựng ra một cái văn phái mới”, “Quốc dân nhiều người cổ võ” vì “có
giọng mới, ý lạ” như lời công nhận và ca ngợi của Phạm Quỳnh Khi Giấc
mộng con xuất hiện trên văn đàn, Phạm Quỳnh đã phê phán nặng nề “Không
những không có ích mà còn có hại”, “là đánh thuốc độc cho cả nước”, và răn đe
“cái vạ hư văn từ trước tới nay đã gây ra cái gương vong quốc rồi đó” (Nam
Phong, số 24).
Cũng như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc không cho Giấc mộng con là
văn chương, theo ông văn chương phải là “vỏ bọc tư tưởng” (Nam Phong, số
17).
Tư tưởng cá nhân hay cái tôi cá nhân của Tản Đà, cụ thể là Giấc mộng
Trang 13con đã vượt ngưỡng, đã thái quá đối với quan niệm của Phạm Quỳnh
và Nguyễn Văn Ngọc Chính vì lý do đó, nên trong tuyển tập Đào nương
ca,
Trang 14Nguyễn Văn Ngọc không tuyển hát nói của Tản Đà, mặc dù hát nói của Tản Đàđược nhiều người đương thời thích và tuyển vào sách của họ
Khi Thơ mới xuất hiện và được khẳng định, thì Tản Đà được đưa ra làm
đối tượng phê phán về sự cổ lỗ, báo Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn đưa Tản Đà ra giễu Năm 1936, Lưu Trọng Lư đã khinh mạn “Nàng thơ ấm Hiếu
mũi thò lò” trên báo Ngày nay.
Tuy nhiên, đến năm 1939 sau khi Tản Đà qua đời, ông lại được đề cao.Nếu như trước đây các nhà Thơ mới xếp Tản Đà vào quá khứ thì giờ đây Tản
Đà được khẳng định những đóng góp với thơ văn hiện đại
Xuân Diệu đã đánh giá Tản Đà là “người mở đầu cho thơ Việt Nam hiện
đại, dám có một cái tôi, dám cho trái tim và linh hồn được có quyền sống cái đời riêng của chúng” Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Khái Hưng đã viết chân dung Tản Đà ở những nét cá tính ngangtàng, phóng túng, tài hoa, dị thường Như vậy, đến năm 1939, Tản Đà đã đượcquan tâm, khẳng định trên nhiều mặt
Năm 1942, Hoài Thanh, Hoài Chân (Thi nhân Việt Nam) và Vũ Ngọc Phan
(Nhà văn hiện đại) đã đánh giá “Tản Đà là người của hai thế kỷ, đã dạo những
bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” [50].
Cùng năm đó, Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) đã đưaTản Đà vào chương trình dạy văn ở trong nhà trường - một biểu hiện đánh giácao tài năng của Tản Đà Dương Quảng Hàm cũng nhấn mạnh các yếu tố đãđược nhiều người nói đến như giọng điệu nhẹ nhàng, Việt Nam thuần túy, tính ngông ở Tản Đà
Năm 1957, nhóm Lê Quý Đôn trong (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam) nhận định “Thơ văn Tản Đà phản ánh tâm trạng chung của thời đại những năm
cách mạng Việt Nam dịu xuống Tản Đà là một tài năng bị chế độ thực dân phong kiến đè nén, bị những ngòi bút tay sai của nó vùi dập” [11, dẫn theo
Trang 15tr.135].
Trang 16Cũng trong năm 1957, trong Thơ Tản Đà chọn lọc, Nguyễn Hữu
Đang xếp Tản Đà gần với Nguyễn Đình Chiểu, qua các cuộc tranh luậnnhững năm 60,79
Năm 1974, trong giáo trình (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
1900-1930) được biên soạn và giảng dạy tại Đại học Tổng hợp, in- rô- nê - ô năm
1977 đã xếp Tản Đà vào mẫu loại nhà nho tài tử…Tản Đà kết hợp văn học báchọc với văn chương bình dân, cách tân văn học cũ để hiện đại hóa văn học
Năm 1975, Nguyễn Khắc Xương đã chứng minh chủ nghĩa yêu nước củaTản Đà và xếp Tản Đà vào bộ phận văn học yêu nước cùng Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, Nguyễn Thông, Nguyễn Thiện Kê Chỉ có lòng yêu nước là tiêu chuẩnbao trùm cao nhất để khẳng định giá trị văn học, vì vậy những sầu cảm mộng
mị, ngông cuồng ở Tản Đà đã bị thành kiến
Năm 1963, Tầm Dương viết bài Một hiện tượng văn học phức tạp và
năm 1964, toàn bộ ý tưởng trong bài này được hoàn chỉnh trong một công
trình công phu, công trình hướng tới một cách nhìn toàn diện Tản Đà
khối mâu thuẫn lớn Tầm Dương nghiên cứu và khảo sát tư tưởng, lý giải cơ
sở xã hội và mâu thuẫn của nó trong thơ văn Tản Đà
Năm 1974, giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
[24] được biên soạn và giảng dạy ở Đại học Tổng hợp, in rô nê ô năm 1977.Trong giáo trình này tác giả Trần Đình Hượu đặt Tản Đà vào giao đoạn giaothời Đông - Tây, giải quyết lại các vấn đề yêu nước, giai cấp, tư tưởng, cảilương…đã đặt ra trước đó
Đến những năm cuối 70, đầu 80, Tản Đà không được bàn trên báo chí
Năm 1983, Xuân Diệu trong cuốn Thơ Tản Đà [5] tếp tục khẳng định
Tản Đà đưa cái tôi cá nhân vào trong văn học
Từ điển văn học [1] tập II xuất bản 1984, Nguyễn Huệ Chi khẳng định
Tản Đà là một hiện tượng độc đáo, đột xuất, là cây bút phóng khoáng, mộtnhà thơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổ điển và Thơ mới
Trang 17Năm 1988, kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tản Đà, khoa văn Đại họcTổng hợp hội thảo khoa học đã khẳng định thêm vị trí cũng như đóng gópcủa Tản Đà.
Năm 1989, hội nghị Khoa học về Tản Đà do viện Văn học tổ chức tại HàNội đã mở rộng sự quan tâm nhiều mặt về Tản Đà
Năm 1997, Trần Ngọc Vương trong cuốn Văn học Việt Nam dòng riêng
giữa nguồn chung [66] viết về Tản Đà với một số lượng trang khá lớn, với
nhan đề Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong tư tưởng và trong sáng
tác của Tản Đà Mặc dù được công bố năm 1997, nhưng bài viết đã được hoàn
thành từ năm 1976, dưới sự hướng dẫn khoa học của vị ân sư Trần Đình Hượu
Như vậy có thể thấy rất nhiều ý kiến trái chiều về Tản Đà nhưng cuốicùng họ đều đi đến khẳng định, công nhận những đóng góp của Tản Đà trongtến trình văn học dân tộc, và vị trí của thi sĩ Tản Đà trong nền văn học ViệtNam hiện đại
Những công trình nghiên cứu về Tản Đà chủ yếu ở phương diện thipháp, phong cách, cá tính Theo sự thống kê của Nguyễn Ái Học trong luận án
Tiến sĩ Thi pháp thơ Tản Đà [19] cho đến nay đã có hơn 300 công trình nghiên
cứu, giới thiệu, phê bình, bình luận ở các cấp về cuộc đời, thơ văn Tản Đà Vàhiện tại vẫn còn có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khoa học vẫn tiếp tục nghiêncứu về Tản Đà Như vậy có thể thấy được, thơ Tản Đà có một sức sống mãnhliệt, có sức ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ bạn đọc Nguyễn Ái Học
đã chia lịch sử nghiên cứu Tản Đà thành ba hướng chính: thứ nhất là nghiêncứu Tản Đà với cái Tôi ngông nghênh, cá tính Thứ hai là nghiên cứu thơ Tản
Đà theo hướng tìm hiểu tư tưởng, loại hình nhà văn Thứ ba là nghiên cứu thơTản Đà theo hướng phân tích, bình luận, bình giảng các tác phẩm thơ
Là một nhà văn lãng mạn, đa sầu đa cảm Nên khía cạnh này cũng đượcnhiều nhà phê bình, nghiên cứu hướng đến Xuân Diệu đã từng nhận
Trang 18đất, vốn
Trang 19có trong thơ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du…nhưng chủ nghĩa lãng mạn với cáitôi, cái bệnh của thế kỉ…với cái buồn mơ màng, cái cảm xúc chơi vơi của cáitôi…, phải những chục năm đầu của thế kỷ 20 với Tản Đà, mới có” [3, tr.9].
Trong cuốn Tản Đà thơ và đời [67], Nguyễn Khắc Xương đã đi nghiên
cứu tm hiểu khá kĩ, chi tiết, cụ thể cuộc đời, con người cũng như những thăngtrầm trong sự nghiệp, những mối quan hệ phức tạp
Trong Tản Đà toàn tập [68], Nguyễn Khắc Xương đã nghiên cứu về thơ,
dịch thuật, văn xuôi của Tản Đà Đây là một công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ,
có giá trị lớn vì nó mang ý nghĩa bảo tồn, gìn giữ lại tất cả khối lượng tác phẩmcủa ông
Trong cuốn Tản Đà,khối mẫu thuẫn lớn [8], Tầm Dương đã nghiên
cứu chỉ ra những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến cá tính, sự nghiệp củaTản Đà “Tản Đà là nhà văn đầu tên trong lịch sử văn học Việt Nam cócan đảm sinh sống bằng ngòi bút của mình Tản Đà chính là nhà văn thứnhất mà “vợ dại con thơ, sự sinh hoạt trông nhờ ngòi bút”[8, tr.33] Tác giảcũng khẳng định có nhân tố lãng mạn trong những sáng tác của Tản Đà, bởinếu không có nhân tố lãng mạn thì có thể những vần thơ của Tản Đà đãkhông còn đượ bạn đọc yêu mến và tồn tại
Trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại [71] đã giới thiệu, tập hợp những
lời bình, sự nghiệp, giai thoại về Tản Đà Đây có thể coi là một công trìnhnghiên cứu khá kĩ càng và sắc nét, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, đachiều về con người và cuộc đời Tản Đà Sống trong bối cảnh đất nước rối ren,
sự giao thời của cái cũ, mới nên thơ ông cũng bị ảnh hưởng Trong cuốn sáchnày cũng tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng như:Nguyễn Khắc Xương, Trần Ngọc Vương, Trần Đình Hượu…
Lịch trình tiếp cận Tản Đà tuy mới chỉ là một quãng ngắn, nhưng chắcchắn đã được tiếp xúc với những vấn đề cơ bản Tản Đà còn là một nhà thơcòn
Trang 201 1
được tiếp tục nghiên cứu và bộ môn lịch sử văn học, lý luận văn học còntiếp
Trang 21tục được điều chỉnh, phát triển Như vậy có thể thấy rằng, ngoài những côngtrình nghiên cứu của nhiều học giả nổi tếng trên, còn có rất nhiều bàibáo, nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về Tản Đà trên nhiều phương diện,nhiều mặt khác nhau Đó cái tôi cá nhân ngông nghênh, cá tính, phóngkhoáng của Tản Đà; ảnh hưởng của văn học dân gian đến thơ Tản Đà; nhữngcảm hứng chủ đạo trong thơ; thơ thất ngôn của Tản Đà;loại hình ký giả, vănnhân…tất cả đều
được các tác giả nghiên cứu tỉ mỉ và khá rõ ràng Tuy nhiên qua tm hiểu,chúng tôi nhận thấy rằng những công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đếncuộc đời tác giả với những thăng trầm, phong cách, cá tính ngông nghênh,nghệ thuật thơ ca Tản Đà… chứ chưa ai nghiên cứu sâu, kĩ về những biểutượng trong thơ Tản Đà từ góc độ nội dung và nghệ thuật
Trên cơ sở những đánh giá, bình luận, nghiên cứu văn học suốt quá trình
qua, chúng tôi tiến hành tm hiểu “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” với hy vọng
sẽ hé lộ được nhiều vấn đề lý thú chưa được khai thác, và để khẳng định đượcnhững đóng góp cũng như ảnh hưởng của nhà thơ đối với nền văn họcViệt Nam hiện đại
3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tiếp cận các tác phẩm thơ của Tản Đà theohướng phân tích những biểu tượng chủ đạo, tiêu biểu Từ đó bạn đọc sẽthấy
được cái hay, cái đẹp, đặc sắc trong nghệ thuật sáng tác thơ Tản Đà Thôngqua
những biểu tượng đó ta thấy được tâm hồn, tình cảm của nhà thơ đối vớicon
người cũng như cảnh sắc tươi đẹp của non sông, quê hương, dân tộc mình.Ngoài việc nghiên cứu khoa học cho chính bản thân, hi vọng đề tài sẽ đóng gópmột phần nhỏ làm tư liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc, cho nhà trường
Trang 221 3
phổ thông trong việc đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, cảm thụ thơ Tản Đà
Hướng tới những mục đích trên, chúng tôi đi vào giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:
Trang 23Đi sâu vào nghiên cứu “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” nhằm tm ra
những đặc trưng, thể hiện của biểu tượng và những ý nghĩa sâu xa, giá trị tiềm
ẩn khuất lấp trong từng biểu tượng đó
Trên cơ sở đó, một lần nữa khẳng định những đóng góp của ông trong
tến trình phát triển của văn học dân tộc
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là “Biểu tượng trong thơ Tản Đà”.
Chúng tôi tập trung vào tm hiểu một số biểu tượng tiêu biểu trong cáctác phẩm thơ Tản Đà, đó là những biểu tượng có ý nghĩa phổ quát, xuất hiệnnhiều lần và phổ biến trong các tác phẩm từ đó tạo nên những giá trị đích thựccho tác phẩm Do đó, đối tượng nghiên cứu của luận văn là Biểu tượng trongthơ Tản Đà trên bình diện nội dung và nghệ thuật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài luận văn “Biểu tượng trong thơ Tản Đà”, do đó đề tài nàychúng tôi tập trung chủ yếu vào các sáng tác thơ của Tản Đà, cụ thể là 304 bàithơ trong Thơ Tản Đà (2012), Nxb Văn học [40]
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề của đề tài nêu ra, chúng tôi sử dụng chủ yếu nhữngphương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn hướng đến những đóng góp ý nghĩa:
Tiếp cận các tác phẩm thơ Tản Đà từ phương diện biểu tượng nhằmphân tích, đưa ra những giá trị tiềm ẩn sau những biểu tượng Từ đó khẳng
Trang 241 5
định được vai những đóng góp của Tản Đà trong tiến trình nền văn học ViệtNam
Trang 257 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Những biểu tượng tiêu biểu trong thơ Tản Đà
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Tản Đà
Trang 26Chương 1 THƠ TẢN ĐÀ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN TÀI
1.1 Biểu tượng và khái niệm có liên quan
1.1.1 Biểu tượng (Symbol)
Biểu tượng là một khái niệm đã được đưa vào nghiên cứu trên nhiều
phương diện ở nhiều nơi trên thế giới Ngay cả Việt Nam, biểu tượng cũngđã
được nhiều nhà nghiên cứu tm hiểu và đưa ra khái
niệm
Trong tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ “symbol” đượcbắt nguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng…
Theo Từ điển tiếng Việt (GS Hoàng Phê): “Biểu tượng là hình ảnh
tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào các giác quan đã chấm dứt” [42, tr.132].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi): “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức cao hơn
cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [15, tr.1].
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier): “Biểu tượng
cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [27, tr.76].
Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng củathế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy
Trang 27ra trước đó, được lưu giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới đượchình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng khôngphải hoàn
Trang 28toàn là thực tế, bởi vì nó xây dựng lại hình ảnh thực tế sau khi đã được tri giác.Nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuấtphát từ những hoạt động tâm trí của chủ thể
Tuy nhiên cần hiểu rằng, không phải bất cứ hình ảnh nào cũng là biểutượng, nó phải cao hơn hình ảnh và mang một ý nghĩa sâu xa, giúp con ngườikhơi gợi ra những giá trị tiềm ẩn mà không phải ai cũng nhận thấy ngay Vì thế,biểu tượng phải là những hình ảnh chứa đầy ý nghĩa sâu sắc, mà khi đisâu khám phá nó,ta mới cảm nhận được hết được những tầng nghĩa đó
Biểu tượng luôn gắn liền với cuộc sống, trải qua một quá trình từ khicon người có thể ý thức được đến khi trưởng thành, chúng ta đã tích lũy đượccho bản thân mình vốn sống, kinh nghiệm sống và được lưu giữ trong trí nhớ.Những hình ảnh của sự vật hiện tượng mà chúng ta thường gặp trongcuộc sống lại hàm chứa một ý nghĩa sâu xa khác theo cách cảm nhận riêngcủa mỗi người tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng Những hình ảnh đóđược nhà văn đưa vào trong các sáng tác của mình thường xuyên và gửi gắmvào trong đó những ý nghĩa sâu xa của chính bản thân về cuộc đời và conngười Khi độc giả tiếp xúc với những hình ảnh quen thuộc đó sẽ nhận rađược dụng ý của nhà thơ, nhà văn gửi gắm trong đó, làm cho những tácphẩm đó có sức sống và tồn tại cùng thời gian Đó là những biểu tượng mangtính cá nhân được nhà thơ quy định Ngược lại, trong một thời điểm lịch sửnhất định, trong một xã hội nhất định, có những hình ảnh được cả cộng đồng
đó thừa nhận và nó mang một dụng ý sâu xa ẩn chứa trong hình ảnh đó,trải qua một thời gian dài nó vẫn mang ý nghĩa nội hàm nhất định khôngthay đổi thì nó sẽ trở thành biểu
tượng của cả cộng đồng
đó
Nếu như với người Việt Nam chúng ta, hoa sen được coi là biểu tượngcho sự thanh xuân, tnh khiết, biết hòa nhập, thích nghi với môi trường, thanh
Trang 29lọc những chất nhơ bằng thân rễ của chính mình giữa mênh mông nướcnổi, ngai ngái mùi bùn nhưng vẫn vươn lên rạng ngời Thì ở đất nước NhậtBản,
Trang 30loài hoa anh đào được coi là biểu tượng cho cái đẹp, sức sống mãnh liệt, cho
sự khiêm nhường nhẫn nhịn Loài hoa tưởng như mong manh, yếu đuối khôngthể trụ nổi trước những cơn gió, bão nhưng vẫn hiên ngang, vẫn vươn lênkhoe sắc với đời Như vậy, có thể thấy rằng biểu tượng cộng đồng phải được
cả xã hội đó thừa nhận và mang một ý nghĩa nhất định cho cả cộng đồng
đó Trải qua một thời gian dài với những biến cố, thăng trầm của lịch sử nóvẫn giữ nguyên
được những giá trị, ý nghĩa nhất định mà không hề bị chết yểu, vẫn luôn tồntại
cùng thời gian, đó mới được coi là biểu
tượng
Hiện nay, biểu tượng vẫn được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ranhững định nghĩa khác nhau dựa trên những cơ sở, quan điểm riêng, nhưngtrong những định nghĩa đó ta vẫn thấy có những đặc điểm chung về biểutượng Biểu tượng chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượngkhách quan đã được tri giác từ trước Nó kích thích, gợi mở, giúp chúng tavượt qua dáng vẻ bên ngoài để đi tm ý nghĩa ẩn kín, thiêng liêng và đạt tới cõisiêu thực
1.1.2 Biểu tượng văn
hóa
Văn hóa là một khái niệm nội hàm mang ý nghĩa rất rộng với nhiều cáchhiểu khác nhau bao gồm cả hai khía cạnh vật chất như: nhà cửa, đồđạc, phương tiện, quần áo…và khía cạnh phi vật chất như ngôn ngữ, tư tưởng,giá trị…nó mang những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
Theo G.S Đinh Gia Khánh đã nói: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [28, tr.4].
Theo Từ điển tếng Việt của Hồng Mây - Ngọc Sương - Minh Mẫn: “Văn
Trang 31hóa là những điều hiểu biết, kiến thức có trình độ cao, biết cách cư xử” [34,
tr.341]
Do đó có thể hiểu được văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộphận trong đời sống con người, không chỉ liên quan đến tinh thần mà còn baogồm cả vật chất
Trang 32Như vậy biểu tượng văn hóa là bất cứ cái gì mang một ý nghĩa cụ thểđược cộng đồng người nhận biết Từ vật chất, phi vật chất: âm thanh, đồ vật,hành động đến ký tự, ngôn ngữ…đều là biểu tượng văn hóa Biểu tượngvăn hóa luôn tồn tại trong đời sống xã hội, nó có khi hiện diện trong các phongtục, tập quán, lễ hội của con người hay những tìn hiệu dân gian như: Cây Nêu -biểu
tượng văn hóa trong các lễ hội của người Cor, nhà Gươl- biểu tượng vănhóa của người Cơ Tu hoặc có khi chúng lại được khai thác ở những lĩnh vựctâm linh, trong nghệ thuật truyền thống như: Biểu tượng Âm - Dương trong sựsống
- chết, trong hôn nhân, trong mỗi quốc gia, dân tộc; Biểu tượng chùa Một Cột,biểu tượng long, ly, quy, phụng…
Khi nói đến trang phục của dân tộc Việt Nam, ta có thể nghĩ ngay đến
Áo dài Trải qua nhiều thời, kỳ, nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, nhưng
tà áo dài vẫn tồn tại cùng thời gian Nó được xem là trang phục truyền thống,
là biểu tượng của văn hóa dân tộc Việt Nam Áo dài được xem như mộttrang phục chuẩn mực cho những dịp đặc biệt, trang trọng như những ngày lễlớn của đất nước, lễ cưới hỏi, ngày tết, ngày tốt nghiệp và cả những cuộcthi quan trọng Áo dài luôn được người phụ nữ Việt Nam coi trọng bởi nó tônlên vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ, đồng thời thể hiện niềm tự hào dântộc Không chỉ đơn thuần là cái áo - áo dài đã trở thành biểu tượng của trangphục người phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hóa vật thể truyền thốngkhông thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt
Chung quy lại, biểu tượng chính là một thành tố cơ bản, quan trọng
để tạo nên văn hóa Những biểu tượng mang giá trị vật chất và tinh thần
đó đi cùng với sự phát triển của cộng đồng con người và xã hội đã trở thànhnhững tinh hoa, thành những biểu tượng văn hóa truyền thống để lại nhữngdấu ấn, những giá trị nhân văn cao cả của cộng đồng con người và dân tộc
1.1.3 Biểu tượng văn học
Trang 33Biểu tượng văn học là các biểu tượng nghệ thuật cấu tạo lại thông qua tín
hiệu ngôn ngữ trong văn học Vì vậy trước hết có thể thấy biểu tượngnghệ
Trang 34giác được Nhưng khi đi vào các tác phẩm văn học, hình ảnh đó không chỉđược tác giả tri giác mà còn mang thêm những tâm tư, tnh cảm, cảm xúc.Biểu
tượng được hình thành trên cơ sở tri giác và cảm giác được lưu giữ lại trong ýthức, do đó biểu tượng cao hơn cảm giác Xét trong toàn bộ tác phẩm vănhọc, biểu tượng đó phải là những hình ảnh mang sức gợi lớn, được lặp đilặp lại nhiều lần
Biểu tượng văn học thường có sự cộng hưởng bởi các yếu tố lịch sử,văn hóa, xã hội của dân tộc Ngay từ trong văn học dân gian, đã có rất nhiềubiểu
tượng mang giá trị văn hóa sâu sắc, ý nghĩa mang đậm bản sắc văn hóa dântộc Việt Nam Hình ảnh “dải yếm” của người phụ nữ Việt Nam đã trở thànhmột biểu tượng cho vẻ đẹp của người thiếu nữ, là cầu nối gặp gỡ, tình tự giaoduyên và biểu thị một tình yêu thủy chung son sắt… Đến những tác phẩm vănhọc về sau, các tác giả cũng sử dụng những biểu tượng nghệ thuật mang đậmdấu ấn cá nhân để tăng giá trị và chiều sâu cho tác phẩm của mình Nó giúpcho tác phẩm có sức hút, ấn tượng vừa mang một vẻ đẹp thẩm mỹ vừagiúp người đọc đạt
được sự khoái cảm của trí tuệ Điều đó tạo nên sức hấp dẫn, mới lạ cho vănchương nghệ thuật
Hay một biểu tượng hay được nhắc đến trong các tác phẩm, đó là
“cây tre”
Trang 35Trong thơ Nguyễn Duy, “cây tre” là biểu tượng cho tâm hồn, khí phách,dân tộc Việt Nam Cây tre còn là biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất, anhdũng… Nó xuất hiện khá nhiều trong những tác phẩm văn học, từ những câutruyện truyền thuyết, cổ tích cho đến những tác phẩm văn chương hiện đại.
Trang 36“Biểu tượng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực "phi lý" đồng
thời lại là phương tiện để khái quát về một giá trị, một ý nghĩa nào đó của hiệnthực Điều đó nói lên biểu tượng khi thì tách xa, khi thì xích lại gần với hìnhtượng nghệ thuật, nhiều khi nó lại có những nét và những thuộc tính của hìnhtượng nghệ thuật Và, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, hình tượng nghệ thuật sẽtrở thành biểu tượng
Biểu tượng không chỉ biểu thị một sự việc nó đã hoàn thành, mà cònbiểu thị cái đang phát triển Nó không chỉ biểu thị mặt bảo thủ, mà còn biểu thịmặt năng động của cuộc sống
Ví dụ: "ngọn đuốc" tượng trưng cho sự khai sáng, tiến bộ; "cờ đỏ"
tượng trưng cho cách mạng Trong các tác phẩm nghệ thuật có giá trị và nổitiếng, chúng ta thường hay gặp những biểu tượng biểu thị cho sự tiến bộ,phản kháng sự lạc hậu hoặc mang ý nghĩa khẳng định công lý và chủ nghĩanhân đạo, trong đó tập trung những tình cảm và ước vọng cao
1.2 Tác giả Tản Đà
1.2.1 Nhà nho tài tử sống trong thời hiện đại
Tản Đà là biệt hiệu tên ghép của núi Tản và sông Đà, tên thật là NguyễnKhắc Hiếu (1889-1939), là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà báo “cómột không hai” trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20 Tản Đà nổi lên như mộtbiểu tượng vừa độc đáo, vừa khác biệt, vừa dồi dào năng lực sáng tác
Tản Đà sinh ra trong một gia đình truyền thống khoa bảng, cha làNguyễn Danh Kế, thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sửtrong Kinh Mẹ là Lưu Thị Hiền, có nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm, là một đàohát tài hoa ở Hàng Thao, Nam Định Bà là người hát hay, có tài làm thơ Nôm
Về sau ông Kế lấy bà về làm vợ lẽ khi ông làm Phú Xuân Trường
Biến cố, sóng gió bắt đầu xuất hiện khi Tản Đà lên 3 tuổi thì cha mất, mẹ
bỏ đi Về sau chị ruột cũng theo nghề mẹ… Tất cả những sự kiện đó đã để lạidấu ấn khó phai trong tâm hồn Tản Đà, hấp thu nền nho giáo từ nhỏ và rồi
Trang 37từ
Trang 38Tản Đà sinh ra trong thời kì xã hội loạn lạc, đất nước bị chiếm đóng,nhân dân khổ cực lầm than, triều đình phong kiến bất lực Thực dân Pháp saukhi tiến hành càn quét, xâm lược chúng bắt đầu tiến hành công cuộc cai trịđất
nước trên tất cả mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Hàngtriệu linh hồn Việt bị chà đạp, bị nhốt chặt trong guồng máy cai trị của chúng.Trên lĩnh vực văn hóa, chúng tiến hành đem học thuật phương Tây gieorắc, phổ biến vào toàn thể đồng bào, dân tộc Việt để phục vụ cho việc cai trịcũng như củng cố thế đứng vững chắc, đồng thời làm mai một đi nền văn hóatruyền thốn của dân tộc Việt Nam ta Hồn thể của Tản Đà đã thầm nhuần, hấpthu nền nho học Đông phương từ nhỏ, nhưng trong thời kì loạn lạc, giao tranhchữ quốc ngữ ngày càng được phổ biến trong xã hội Ra đời và lớn lên là mộtnhà nho phong kiến quý tộc nối đời khoa bảng, là sinh đệ tử của Khổng -Mạnh, Tản Đà là một nhà nho đích thực Nhà nho ấy lại sống trong một hoàncảnh đặc biệt, một thời kỳ quá độ của xã hội Việt Nam Đó là một tấm thảmkịch của Tản Đà, là nguồn gốc của những mâu thuẫn nội tâm giằng xé trong conngười ông
Trong hoàn cảnh hiện tại, Tản Đà cực kỳ nhạy bén, ông cho rằng khôngthể cứ mãi theo đuổi lối văn chương kiểu “chi, hồ, giả, dã” được Tản Đà cũngnhư những tri thức buổi giao thời hiểu sâu sắc rằng, muốn đánh đuổiPháp, trước hết phải học Pháp, mà cái cần học đầu tiên là chữ quốc ngữ
Do đó, không có gì ngạc nhiên khi một nhà nho theo lối học cử nghiệp, vốn
Trang 39quen thuộc với văn, sách, thơ, phú, thơ luật Đường…như Tản Đà lại có thể dễdàng hòa nhập với những tri thức mới mẻ của nên văn hóa phương Tây và chữquốc ngữ Tản Đà là người đầu tên trong Việt Nam sử dụng hình thức thơmới thích hợp
Trang 40với nội dung của thời đại Thế nhưng, ông cũng đã vội lùi bước về vị trí củagiai cấp mình, nhiệt thành chấn hưng Khổng học, đề cao lễ giáo phong kiến.Ông viết văn xuôi rất hay, sắc sảo, nhuần nhuyễn Văn xuôi Tản Đà đã đề cậpnhiều vấn đề của xã hội đương đại bằng một lối văn giàu tính nghệ thuật, hấpdẫn, sáng tạo, mới mẻ có bản lĩnh
Trong lĩnh vực thơ ca cũng vậy, các sáng tác của ông mang lại bản sắcriêng, độc đáo, không lẫn vào đâu được Chính Xuân Diệu cũng đã từng viết “
Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”, (báo Ngày
Nay, số ra 17/6/1939) Trong thơ ông đã có rất nhiều tư tưởng cách
tân, nhiều tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn vượt qua ngoài khuôn khổ sáo cũ.Trong các sáng tác của mình, Tản Đà luôn hướng theo một phong cáchriêng “Chẳng lề chẳng lối cũng văn chương” Tản Đà luôn trong một tư thếngông nghênh, kiêu ngạo, phá phách muốn thoát khỏi những định luật, địnhkiến gò bó, khuôn sáo của xã hội
“Tản Đà là một nhà nho, nhưng không phải loại nhà nho chính thống
hành đạo, ẩn dật Ông là nhà nho tài tử, nhà nho tài tử sống trong môi trường khác, xã hội tư sản” [11, tr.439].
Là một nhà nho sống trong thời hiện đại, có những tư tưởng cách tântrong thơ ca của mình, thế nhưng ông vẫn giữ được những tư tưởng củamột nhà nho Thơ ông có sự cách tân nhưng chưa đi quá giới hạn của mình,bởi cho dù là nhà nho sống trong thời hiện đại, nhưng cốt lõi ông vẫn là một
nhà nho chân chính “Là nhà nho, cho dẫu là nhà nho tài tử, Tản Đà thật
không đủ can đảm để sống và viết về những cảm giác mạnh như Xuân Diệu.
Đó không chỉ là cái ngưỡng của ông, đó cũng là cái ngưỡng của tất cả những người “nặng cân” đạo lý nho giáo như ông Trước hết là và chủ yếu
là những giới hạn về nội dung thể hiện đã giữ Tản Đà lại Để rồi bị “xâu”