1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương trong vụ hè và vụ đông năm 2017 tại huyện thanh thủy tỉnh phú thọ

116 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 27,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm lựa chọn được một số giống đậu tương mới, có năng suất cao,chất lượng tốt phù hợp điều kiện sinh thái nhằm thúc đẩy sản xuất đậu tươngcủa huyện phát triển.. Trước thực trạng đó, chú

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THÚY

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRONG VỤ HÈ VÀ VỤ ĐÔNG

NĂM

2017 TẠI TỈNH PHÚ THỌ

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số ngành: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Trung Dũng

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn làtrung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõnguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực tiễn nghiên cứu đề tài, tôi luônnhận được sự quân tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của cácthầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Dương

Trung Dũng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn

thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Nông học - Trường Đạihọc Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn này.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thường trực Tỉnh đoàn Phú Thọ, tập thểcán bộ Ban Đoàn kết tập hợp thanh niên Tỉnh đoàn đã tạo điều kiện giúp đỡcho tôi được tham gia khóa đào tạo này

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điềukiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

1 2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Nguồn gốc cây đậu tương 5

1.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 5

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và trong nước 9 1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

18 1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 18

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

22 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

27 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

Trang 5

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu .28

Trang 6

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

28 2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 28

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28

2.4.2 Quy trình kỹ thuật 30

2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi

31 2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Hè và vụ Đông năm 2017 tại Phú Thọ 35

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm 35

3.1.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Hè và vụ Đông 2017 tại Phú Thọ 41

3.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 47

3.2.2 Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống đâu tương

49 3.3 Tình hình sâu bệnh hại của các giống đậu tương thí nghiệm 51

3.3.1 Sâu cuốn lá 52

3.3.2 Sâu đục quả 53

3.4 Khả năng chống đổ, chống tách vỏ quả của các giống đậu tương thí nghiệm 53

3.4.1 Khả năng chống đổ 53

3.4.2 Khả năng chống tách vỏ quả 54

3.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương tham gia thí nghiệm 55

3.5.1 Số quả chắc/cây: 56

Trang 7

3.5.3 Khối lượng 1000 hạt 57

Trang 8

3.5.4 Năng suất của các dòng đậu tương thí nghiệm 58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

1 Kết luận 61

2 Đề nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 9

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm

gần đây 10

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu tương của một số nước

11 đứng đầu thế giới 11

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam những năm gần đây 19 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương trong những năm gần đây tại Phú Thọ 26

Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm 36

Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm 42

Bảng 3.3 Chiều cao cây của các giống đậu tương thí nghiệm 45

Bảng 3.4 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm 48

Bảng 3.5 Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu tương 50

thí nghiệm 50

Bảng 3.7 Khả năng chống đổ và chống tách vỏ của các giống đậu tương thí nghiệm 54

Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Hè và vu Đông 2017 tại Phú Thọ 56

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ năng suất lý thuyết của các giống đậu tương thí nghiệm

vụ Hè và vụ Đông năm 2017 59Hình 3.2: Biểu đồ năng suất thực thu của các giống đậu tương thí nghiệm

vụ Hè và vụ Đông năm 2017 60

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Đậu tương tên khoa học là Glycine max (L) Merr Là một trong số

5 loại cây trồng chính quan trọng của nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam,đậu tương là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày rất được quantâm và phát triển, do đậu tương là cây trồng có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh

tế cao và là cây trồng có tác dụng nhiều mặt như: Cung cấp thực phẩm chocon người, nguyên liệu công nghiệp, thức ăn cho gia súc và là cây trồng làmtăng độ phì nhiêu cho đất (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [5]

Đậu tương là cây trồng có hàm lượng dinh dưỡng cao, trong hạt đậutương có chứa khoảng 40 - 50% protein, 18 - 25% lipit và 36 - 40%hydratcacbon Ngoài ra, trong hạt còn chứa đầy đủ và cân đối các loại axitamin, đặc biệt là axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Triptophan ;các loại vitamin như: PP, A, C, E, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 có vai tròquan trọng đối với cơ thể con người và gia súc (Phạm Văn Thiều, 2006) [15].Đậu tương là cây có khả năng cải tạo và bồi dưỡng đất rất tốt, có được khả

năng này là do sự cộng sinh giữa rễ với vi khuẩn nốt sần (Rhyzobium japonium) có khả năng cố định nitơ trong không khí làm giàu đạm cho đất.

Sau mỗi vụ trồng đậu tương đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 - 80kg N/ha,tương đương với 200 - 300 kg đạm sunphat

Đối với ngành y học, đậu tương được dùng làm vị thuốc chữa bệnhgiúp tránh suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế loãngxương cho phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp

Từ các giá trị trên của cây đậu tương, với ưu thế là cây ngắn ngày, dễtrồng nên rất thuận tiện để bố trí trong các công thức luân canh, xen canh nênthực tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đậu tương được trồng kháphổ

Trang 13

biến Tuy nhiên thực tế trồng đậu tương ở nước ta còn nhiều hạn chế năng suất còn thấp sản lượng đậu tương chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và chế biến

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam có diện tíchđất và điều kiện sinh thái phù hợp cho phát triển cây đậu tương ở tất cả các

vụ gieo trồng: Xuân, Hè, Hè Thu và Đông có tổng diện tích trồng đậu tương

là 233 ha, sản lượng là 413,7 tấn, năng suất đạt 17,75 tạ/ha (Cục thống kêtỉnh Phú Thọ)] [3] Tuy nhiên sản xuất đậu tương ở Phú Thọ chưa thực sựphát triển, hàng năm Phú Thọ cũng phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tươngcác nước trên thế giới như Trung Quốc, Mỹ, Úc để phục vụ cho chế biếnthực phẩm cho con người và gia súc

Đặc biệt, Thanh Thủy là một huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ,dọc theo ven bờ sông Đà Tổng diện tích tự nhiên là 12.550 ha Trong đó,diện tích đất gieo trồng tính đến hết năm 2013 là 7096 ha Có điều kiện khíhậu, đất đai rất tốt cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên,việc sản xuất đậu tương của huyện chưa đáp ứng được yêu cầu Một trongnhững nguyên nhân làm giảm sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậutương là chưa sử dụng và khai thác hết tiềm năng của các giống nên hiệu quảsản xuất chưa cao

Nhằm lựa chọn được một số giống đậu tương mới, có năng suất cao,chất lượng tốt phù hợp điều kiện sinh thái nhằm thúc đẩy sản xuất đậu tươngcủa huyện phát triển Tuy nhiên, trước khi đưa vào sản xuất, các giống nàycần được nghiên cứu và thử nghiệm để chọn được giống phù hợp với điềukiện sinh thái của địa phương Do vậy, cần một giống mới để đáp ứng nhu cầu

của sản xuất Trước thực trạng đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu

khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương trong vụ Hè

và vụ Đông năm 2017 tại huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ”.

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

Chọn được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt tạihuyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ giới thiệu cho công tác giống

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài là công trình nghiên cứu tuyển chọn một số giống đậu tươngphù hợp với điều kiện sản xuất tại huyện Thanh Thủy, kết quả nghiên cứu gópphần bổ sung cơ sở lý luận cho việc phát triển đậu tương tại huyện ThanhThủy tỉnh Phú Thọ

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học để các nhà nghiêncứu về nông nghiệp, giáo viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo

Thọ

Trang 15

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học

Giống có vai trò hết sức quan trọng trong công việc nâng cao năng suất

và sản lượng cây trồng Năng suất chỉ tương ứng với điều kiện kĩ thuật trongphạm vi do giống quy định Khi năng suất tối đa thì dù điều kiện ngoại cảnhcũng như kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng không thể làm tăng năng suất Giốngtốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăngnhanh hơn hàm lượng chất xám trong nông sản Giống quy định giới hạn năngsuất của cây trồng Mỗi một giống khác nhau sẽ có khả năng phản ứng với điềukiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau Vì vậy để phát huy được hiệu quả củagiống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu,đất đai, kinh tế xã hội Sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt,chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh hại, có khả năngcải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọngcủa việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vữngcao Để được có những giống đó thì công tác so sánh, đánh giá là việc làmcần thiết không thể thiếu, đồng thời quyết định sự thành công của công tácchọn tạo giống – một công tác đóng một vai trò vô cùng quan trọng trongnền Nông Nghiệp Việt Nam nói chung và nền Nông Nghiệp tại Phú Thọ nóiriêng

Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sựthích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu vàcác biện pháp kĩ thuật khác Nếu những giống mới chưa được khảo nghiệm kĩlưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diệnrộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất,thâm canh tăng năng suất cây trồng

Trang 16

1.1.1 Nguồn gốc cây đậu tương

Theo Vavilov (1950) đậu tương có nguồn gốc ở trung tâm phát sinh câytrồng Trung Quốc và đã được con người biết đến cách đây khoảng 5000 năm

Fukada (1933), Hymowits (1970) đã kết luận: Đậu tương xuất hiện đầutiên ở dạng cây thuần hoá từ 1.100 năm trước công nguyên tại vùng Đông BắcTrung Quốc Từ phía Bắc Trung Quốc đậu tương phát triển sang Triều Tiên,Nhật Bản, thế kỷ 17 nhập sang châu Âu

Từ miền Đông nam Trung Quốc, đậu tương được truyền lan sang cácnước Đông Nam châu Á Cho đến nay nông dân các nước châu Á coi cây đậutương là một trong những cây trồng chính (Đào Thế Vinh và các cs, 2004)[20]

Theo Mose (1950) viết: Ghi chép đầu tiên về cây đậu tương nằm trongcuốn “Bản thảo cương mục” Tương truyền cuốn sách này do Lý Thời Trầnviết năm 2838 trước công nguyên Đậu tương được xem là cây trồng quantrọng, được xếp vào hàng ngũ cốc (5 cây lấy hạt quan trọng: Lúa nước, đậutương, đại mạch, cao lương và kê) quyết định sự tồn tại của nền văn minhTrung Quốc

Năm 1804 đậu tương đã được trồng ở Hoa Kỳ nhưng đến đầu thế kỷ 20mới thực sự trở thành cây trồng có ý nghĩa ở quốc gia này

Ở Việt Nam, cây đậu tương đã được trồng từ lâu đời Theo sách “Vânđài loại ngữ” của Lê Quý Đôn thế kỷ 13 đậu tương đã được trồng ở một sốtỉnh vùng Đông Bắc nước ta (Mai Quang Vinh và cs, 2004) [21]

1.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

Đậu tương được trồng từ vĩ độ 550 Bắc đến 550 Nam, từ những vùngthấp hơn mặt nước biển cho đến những vùng cao trên 2.000 m so với mặt nướcbiển

Những yếu tố về môi trường có thể bao gồm: Ảnh hưởng của đất,không khí, sinh vật Những điều kiện trong đất ảnh hưởng đến sinh trưởngcây là: nước, không khí, cấu trúc đất, nhiệt độ đất, pH, chất độc, muối, chấtkhoáng Những yếu tố không khí gồm: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí,

Trang 17

gió, nồng độ CO2 và khí gây ô nhiễm Những yếu tố sống gồm: cạnh tranh với

cỏ và những cây trồng cùng giống, loài khác, sâu bệnh và tuyến trùng Tất cả

Trang 18

những yếu tố ngoại cảnh này làm giảm năng suất thông qua việc gây ra nhữngrối loạn sinh lý trong cây Trong hạn chế đề tài này chỉ đề cập ảnh hưởng donhiệt độ, nước, ánh sáng.

Thời kỳ cây con từ khi ra lá đến khi cây ra 3 lá kép, đậu tương có khảnăng chịu rét hơn chịu hạn Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của cây con

là từ 22 - 270C

Thời kỳ phát triển thân, cành, lá Thời kỳ này thân cành phát triểnmạnh, nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ này là 20 - 300C, thấp nhất là 150C, caonhất là 370C Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự quang hợp của cây đậu tương là

từ 25 - 400C Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến ra hoa, kết quả, nếu nhiệt độ 100C

sẽ ngăn cản sự phân hóa mầm hoa, nhiệt độ dưới 180C có khả năng làm choquả không đậu, nhiệt độ cao trên 400C làm ảnh hưởng rất lớn đến hình thànhđốt, lóng và phân hóa mầm hoa Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ ra hoa là

22 - 250C

Trang 19

Nhiệt độ còn ảnh hưởng tới sự cố định Nitơ vi khuẩn RhizobiumJaconicum bị hạn chế ở nhiệt độ 330C, nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn hoạtđộng là 25 - 270C

Thời kỳ làm quả, quá trình tích lũy vật chất khô về hạt tăng, do đó quátrình quang hợp tăng, nếu nhiệt độ giảm, lượng nước trong quá trình hô hấp sẽbốc hơi nhanh, quá trình tích lũy vật chất khô giảm, sự vận chuyển của chấtdinh dưỡng về hạt giảm làm cho chất lượng hạt kém, năng suất giảm Nhiệt

độ thích hợp nhất cho thời kỳ hình thành quả và hạt là 21 - 230C Thời kỳ chínnhiệt độ thích hợp nhất là 19 - 200C Nhìn chung nhiệt độ bình quân trong mộtngày có lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của đậu tương là 18 - 220C

* Nước

Tuy là cây trồng cạn song nước cũng là một trong những nhu cầu quantrọng và cũng là một trong những yếu tố hạn chế chủ yếu đến sản xuất đậutương Nhu cầu nước của đậu tương thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, kỹthuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng Lượng mưa cần từ 350 - 600mm cho

cả quá trình sinh trưởng phát triển Hạt nảy mầm đòi hỏi độ ẩm đất 60 - 65%nếu đất khô quá thì hạt không mọc được, hạt nằm lâu trong đất thì sẽ bị thối,nếu đất ướt quá thì hạt thiếu khí sẽ không mọc được hạt cũng bị thối Nhu cầu

về nước tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và nhu cầu đó cũng thayđổi tùy theo điều kiện khí hậu, đất đai và vùng sinh thái Độ ẩm của đất có sựtương quan thuận với chiều cao của cây, đường kính và số đốt, số hoa, tỷ lệđậu quả và số hạt Giai đoạn ra hoa và bắt đầu làm quả nếu bị thiếu nước hoa

sẽ bị rụng nhiều làm giảm số quả trên cây

Việc cung cấp nước cho lá để duy trì sức căng của tế bào là yếu tố quantrọng để đảm bảo tốc độ tăng diện tích lá, mà hệ số diện tích lá tỷ lệ thuận vớitốc độ tăng trưởng của cây, làm giảm diện tích lá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến

sự sinh trưởng của cây

Trang 20

Giai đoạn vào mẩy là lúc đậu tương cần nhiều nước nhất, lúc này nếu

để thiếu nước thì sẽ làm năng suất giảm nhiều hơn các giai đoạn trước Tuy làrất cần nước nhưng cây đậu tương cũng có khả năng chịu được hạn trong thờigian nhất định nhưng muốn đạt năng suất cao cần phải đảm bảo cho câythường xuyên đủ ẩm, nếu gặp hạn đặc biệt vào các giai đoạn quan trọng thìphải tìm mọi cách khắc phục để tưới cho cây (Phạm Văn Thiều, 2006) [15]

* Ánh sáng

Là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương, nó làm thayđổi thời gian nở hoa và chín, ảnh hưởng tới chiều cao cây, diện tích lá và rấtnhiều các đặc tính di truyền khác của đậu tương

Ánh sáng là yếu tố quyết định quá trình quang hợp, sự cố định nitơ vàsản lượng chất khô cũng như nhiều đặc tính khác phụ thuộc vào quang hợp

Cây đậu tương có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau phảnứng với độ dài ngày khác nhau, là một cây ngắn ngày điển hình, sự tác độngcủa ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất là vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, lúcnày ánh sáng ngày ngắn sẽ làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, làmgiảm chiều cao cây, số đốt cũng như độ dài các lóng (Phạm Văn Thiều, 2006)[15]

Cây đậu tương chịu ảnh hưởng nhiều của cường độ ánh sáng, trongđiều kiện có độ dài ngày thích hợp thì chỉ có 30% cường độ bức xạ mặt trời làđược, do đó ta có thể trồng xen đậu tương với các loại cây trồng khác Trongthời kỳ ra hoa và hình thành hạt, số giờ chiếu sáng thích hợp là từ 6 - 12 giờ,lúc này nếu gặp điều kiện ngày dài thời gian chiếu sáng trên 13giờ/ngày thìcây sẽ không ra hoa được (Phạm Văn Thiều, 2006) [15]

* Đất đai

Đậu tương có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, thích hợp nhất làđất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu, thoáng, thoát nước, pH từ 6,5 - 7,2 Đậu tươngkhông sống được trên đất quá chua hoặc quá kiềm Đất ít màu, chua vẫn cóthể trồng được đậu tương, nhưng cần phải thoát nước, bón nhiều lân và vôi

Trang 21

1 0

Trong vụ xuân có thể gieo đậu tương trên các chân cao, không đủ nước

để cấy lúa chiêm xuân, chân đất bãi ven sông ở các tỉnh Đồng bằng và Trung

du Bắc Bộ Vụ Hè Thu có thể gieo vào các chân mạ, chân đất không làm đượclúa mùa vùng đồng bằng, đất nương rẫy ở vùng núi Vụ Thu Đông và vụĐông có thể gieo ở đất bãi ven sông sau khi nước rút, đất chuyên màu trong

đê (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [5]

* Dinh dưỡng

Cây đậu tương có khả năng tự tổng hợp đạm cho cây sử dụng nênlượng phân đạm cần bổ sung ít Chủ yếu bón cho cây là lân và kali Có 16nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của đậu tương, trong đó có 3 nguyên tố C,

H và O là thành phần chủ yếu trong chất khô và được hấp thụ dưới dạng CO2,

H2O, O2 tự do trong không khí Những nguyên tố cần thiết khác là N, P, K,

1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc nhưngkhả năng thích ứng rộng nên nó được phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400

Vĩ Nam Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương

Tuy Châu Á là nơi nguyên sản của cây đậu tương nhưng nó lại đượctrồng tập trung ở Châu Mỹ với 70,03% Châu Á chỉ có 23,5%, còn lại ở các

Trang 22

châu lục khác Hiện nay, cây đậu tương đã được trồng ở khắp các Châu lục và

là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới Vì vậy cây đậutương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất.Tình hìnhsản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng1.1

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây

Năm (triệu ha) Diện tích Năng suất (tạ/ha) (triệu tấn) Sản lượng

Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy:

Về diện tích: Từ năm 2011 - 2016 diện tích trồng đậu tương trên thếgiới tăng đều qua các năm và dao động trong khoảng từ 103,81 - 121,53 (triệuha) Trong đó diện tích trồng đậu tương đạt cao nhất là năm 2016 với 121,53(triệu ha), tăng khoảng 17 (triệu ha) so với năm 2011

Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đâytương đối ổn định, dao động từ 25,19 - 27,56 (tạ/ha) Năng suất đạt thấp nhấtvào năm 2012 với 22,89 (tạ/ha) và năng suất cao nhất vào năm 2016 với27,56 (tạ/ha)

Về sản lượng: Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sảnlượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên dao động từ 141,19 - 334,89(triệu tấn), năm 2012 đạt thấp nhất 141,19 (triệu tấn) Năm 2012 sản lượnggiảm khoảng một nửa so với 2011, đến năm 2013 thì sản lượng phục hồi lạigần gấp đôi

Trong vòng 5 năm từ 2012 -2016 sản lượng đậu tương tăng 193 (triệutấn) Năm 2016 sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 334,89 (triệu tấn) Sản

Trang 23

lượng tăng như vậy là do diện tích trồng trong nhưng năm gần đây tăng lên và

đã được sử dung các tiến bộ khoa học tiên tiến vào sản xuất

Theo dự đoán trong thời gian tới tốc độ phát triển đậu tương trên thếgiới sẽ chậm hơn so với các năm trước Kết quả nghiên cứu của trên 200chuyên gia ở các ngành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậutương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhucầu về sản lượng đậu tương tăng 4% /năm Trong tương lai với sự trợ giúpcủa công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói chung

và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt Công nghệ sinh học

là một trong những yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng hạt đậu tương vàkhả năng chống chịu của cây

Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tương tuy nhiên sản xuấtđậu tương tập trung chủ yếu ở 4 nước : Mỹ, Brazil, Acgentina và Trung Quốc(Phạm Văn Thiều, 2006) [15] Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiếm 90– 95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu tương của một số

nước đứng đầu thế giới

Sản lượng (triệu tấn)

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 24

Qua bảng 1.2 ta thấy:

Mỹ là quốc gia sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới Hiện nay Mỹ làquốc gia đứng đầu về sản xuất đậu tương với diện tích 33,12 triệu ha đạt106,95 triệu tấn năm 2015 lên 33,48 triệu ha với sản lượng 117,21 triệutấn năm 2016 Đồng thời Mỹ cũng là quốc gia xuất khẩu đậu tương lớn nhất,phần lớn sản lượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuấtkhẩu, mặc dù lượng đậu tương tiêu thụ ở người dân Mỹ đang tăng lên Đậutương đối với Mỹ được coi là mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu và thungoại tệ Dầu đậu tương chiếm tới 80% lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ

Nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới là Braxin, trong 2 năm 2015 và năm

2016 diện tích trồng đậu tương tăng lên từ 32,18 triệu ha lên 33,15 triệu hanăm 2016 nhưng năng suất và sản lượng lại giảm xuống Hiện nay, Brazilđang tiếp tục đẩy mạnh công tác chọn, tạo giống mới chống chịu sâu bệnh,giống chuyển nạp gen, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới vànghiên cứu kết hợp giữa trong và ngoài nước, phát triển mạnh lúa mỳ và ngôluân canh với đậu tương

Quốc gia đứng thứ 3 về sản xuất đậu tương là Acgentina Tại quốc gianày đậu tương thường được trồng luân canh với lúa mì Chính phủ nước này

đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương do đó mà cây đậutương phát triển khá mạnh đưa nước này lên xếp thứ 3 về sản xuất đậu tươngtrên thế giới

Trung Quốc là nước đứng thứ 4 về diện tích trồng cây đậu tương ỞTrung Quốc; diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trong năm 2015 vànăm 2016 đang tăng dần lên Tuy sản xuất đậu tương của Trung Quốc cònđứng sau Mỹ, Braxin và Argentina nhưng đây vẫn là nước có diện tích, năngsuất và sản lượng đậu tương lớn nhất châu Á

Trang 25

* Một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương trên thế giới

Nghiên cứu các yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương các nhà khoa học đãxếp chúng thành 3 nhóm gồm: nhóm yếu tố kinh tế - xã hội, nhóm yếu tố sinhhọc và nhóm yếu tố phi sinh học

Nhóm các yếu tố kinh tế xã hội, yếu tố quan trọng nhất hạn chế sảnxuất đậu đỗ là sự thiếu quan tâm chú ý ưu tiên phát triển cây đậu đỗ kể cảphía nhà nước và nông dân Nhiều nơi, con người chủ yếu chú trọng phát triểncây lương thực, coi cây đậu đỗ là cây trồng phụ Nông dân nghèo không có cơhội tiếp cận với những kỹ thuật tiến bộ

Nhóm các yếu tố sinh học hạn chế sản xuất đậu tương là vấn đề sâubệnh hại, thiếu giống cho năng suất cao thích hợp cho từng vùng sinh thái,giống có khả năng chống chịu với sâu bệnh và giống phù hợp với từng mụcđích sử dụng Do đậu tương là cây trồng không độc nên nó là đối tượng củarất nhiều loài sâu hại như sâu xanh, sâu đo, sâu ăn lá, côn trùng cánh cứng,sâu đục quả, bọ xít, rệp Tổng số quả/cây và khối lượng hạt giảm dần theomức tăng của mật độ rệp, trong khi đó số quả bị hại và số quả không pháttriển được lại tăng theo mức tăng của mật độ rệp Kết quả nghiên cứu cũngcho biết số quả không phát triển được có tương quan thuận chặt với mật độ rệp(r =

0,97) và năng suất hạt có tương quan nghịch chặt với mật độ rệp (r =

0,86)

Nhóm các yếu tố phi sinh học là đất đai, khí hậu đã hạn chế sản xuấtđậu tương trên thế giới Các yếu tố khí hậu, điều kiện đất, chế độ mưa lànhững yếu tố hạn chế năng suất đậu đỗ ở hầu hết khu vực châu Á Châu Ádinh dưỡng đất là nguyên nhân chính gây ra năng suất thấp ở cây đậu đỗ.Đậu tương là cây trồng cạn rất mẫn cảm với nước Đậu tương gặp hạn muộnsau giai đoạn ra hoa làm quả năng suất sẽ giảm nghiêm trọng do hệ số thuhoạch giảm mạnh Năng suất hạt có thể bị giảm từ 9 - 37% ở các giống đậutương khi gặp hạn ở giai đoạn bắt đầu ra hoa trong điều kiện gieo trồng ngoàiđồng ruộng Trong điều kiện có tưới và không tưới thì năng suất, tỷ lệ protêin

và tỷ lệ dầu trong hạt giữa các giống đậu tương sai khác có ý nghĩa

Trang 26

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu cây đậu tương trên thế giới

Đậu tương giữ một vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp cũng nhưkinh tế của nhiều quốc gia Để nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầungày càng cao của thị trường thì việc nghiên cứu chọn tạo các giống là rấtquan trọng Nhằm mục tiêu chọn tạo ra các giống có năng suất cao, chấtlượng tốt, thích nghi rộng để đưa vào sản xuất Hiện nay nguồn gen đậu tươngchủ yếu tại các nước Châu Á do nó là nơi nguyên sản của cây đậu tương nêngen của loài này rất phong phú Có 14 quốc gia lưu giữ chủ yếu nguồn gencây đậu tương trên thế giới là: Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Nhật Bản,Triều Tiên, Indonesia, Thái Lan, Hoa Kỳ, Liên Xô (cũ), Australia, Pháp, ThụyĐiển, Nam Phi, Nigeria với tổng số mẫu gen là trên 45.000 mẫu (Trần ĐìnhLong, 1991) [12] Những năm gần đây đã có nhiều trung tâm và viện nghiêncứu được thành lập nhằm công tác chọn tạo và lưu giữ nguồn gen cây đậutương và một số cây trồng khác như: Viên nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới(The International Institute of Tropical Agricalture :TITA), Trung tâm nghiêncứu và phát triển rau màu Châu Á (The Asian Vegetable Rearch andDevelopment Center: AVRDC), Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nôngnghiệp cho vùng Đông Nam Châu Á (The Southeast Asian Regional Centerfor Graduatesdy and Ressearch in Agriculture: SEARCA), Viện nghiên cứulúa (IRRI), chương trình hợp tác nghiên cứu cây thực phẩm các nước Trung

Mỹ (PPCCMA), Trung tâm Cải tiến ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) Qua

đó ta thấy viện nghiên cứu giống cây trồng nói chung và cây đậu tương đượcđặc biệt quan tâm Việc thành lập các viện và trung tâm nghiên cứu không chỉlưu giữ nguồn gen cây trồng mà còn nhằm mục đích sau:

- Nhập nội giống, tiến hành chọn lọc, thử nghiệm với điều kiện của cácvùng sinh thái khác nhau

- Khảo nghiệm giống ở các vùng sinh thái khác nhau nhằm tìm ra cácgiống có khả năng thích ứng với vùng sinh thái nhất định

Trang 27

và quan trọng nhất là năng suất cao và chất lượng tốt.

Việc chọn tạo và khảo nghiệm giống đậu tương cũng phát triển songsong nhau nhằm đưa các giống đậu tương mới nhanh chóng được đưa vào sảnxuất, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới Trung tâmnghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thốngđánh giá (Soybean-Evaluatintrial-Aset) giai đoạn 1 đã phân phát được trên20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 146 nước, vùng lãnh thổ nhiệt đới và

Trang 28

đoạn 1928 – 1932 thì trung bình mỗi năm Hoa Kỳ nhập 1190 dòng, giống đậutương khác nhau Từ đó các nhà khoa học chọn tạo ra được các giống có khảnăng thích nghi rộng và có khả năng chống chịu sâu bệnh như: Amsoy71, Lec

36, Clark 63, Herkey 67… Mục tiêu của thập kỷ 80 của thế kỷ XX tại Hoa Kỳ

là chọn tạo được các giống có khả năng chịu thâm canh, phản ứng với quangchu kỳ, chống chịu tốt với ngoại cảnh, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản vàchế biến

Hiện nay đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng thìviệc áp dụng công nghệ gen được áp dụng rất nhiều tại các nước Hoa Kỳ vàmột số quốc gia khác Vấn đề giống cây trồng biến đổi gen (GMO) cũng cònnhững tranh cãi về tác động của nó tới tính bền vững cũng như sức khỏe conngười Trong những cây chuyển gen được trồng thì cây đậu tương là cây trồngchuyển gen được trồng với diện tích lớn nhất sau đó mới tới các cây khác nhưbông, đu đủ, cải dầu… với tổng diện tích tại Hoa Kỳ chiếm 60% diện tích câychuyển gen Thành tựu trong lĩnh vực chuyển gen là tạo ra các cây trồng cókhả năng kháng dịch hại, kháng được thuốc diệt cỏ, tăng chất lượng của sảnphẩm lên nhờ chuyển gen theo ý muốn Riêng đối với đậu tương thì được chútrọng chuyển gen chống chịu với thuốc diệt cỏ làm giảm thiệt hại của cỏ dạigây ra Một số gen chống chịu với thuốc diệt cỏ hay kháng loài sâu bệnh hạiđược xác định và phân lập từ rất nhiều loài có khả năng này để chuyển vàocây trồng Ví dụ như gen trội Hb trên giống Clark 63 cho phản ứng chốngchịu với Benard and Bentazon, giống Hook có alen Hm mạng tính chống chịutốt với thuốc Metribuzin (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [5]

Trung Quốc những năm gần đây cũng có nhiều thành tựu trong côngtác giống đậu tương mới Thông qua gây đột biến các chủng giống bằng tácnhân là tia gama và quá trình chọn lọc dòng thì đã chọn tạo được các giốngnhư Teifeng 18 có khả năng chịu phèn cao, chống đổ tốt, năng suất cao, phẩmchất tốt Ngoài ra còn các giống như Heinom No6, Heinoum No 16 cũng xử

Trang 29

lý bằng tia gama có ưu điểm là hệ rễ phát triển tốt, lóng ngắn, nhiều cành,chịu hạn và có khả năng thích ứng rộng (Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệpViệt Nam, 1995) [21]

Đài loan bắt đầu chương trình chọn tạo và nghiên cứu tạo giống đậutương từ những năm 1961 Thành tựu điển hình cho công tác giống của nướcnày là đưa vào sản xuất giống Kasing T, Tai nung 3, Tai nung 4 cho năng suấtcao hơn các dòng khởi đầu và có những ưu điểm mới Theo tài liệu thì giốngTai nung 4 được dùng làm vật liệu lai tạo để chọn tạo ra các giống có khảnăng kháng một số bệnh trong các chương trình lai tạo giống tại các cơ sởgiống như trạm thí nghiệm Marjo Thái Lan, Trường Đại Học Philippine (VũTuyên Hoàng và cs, 1995) [10]

Ở Ấn Độ, công tác chọn tạo và khảo nghiệm các giống được bắt đầukhá sớm từ thập niên 60 của thế kỷ trước Các giống địa phương và nhập nộiđược đưa vào khảo nghiệm tại Đại học tổng hợp Pathaga Năm 1967 thành lậpchương trình đậu tương toàn cầu, Ấn Độ với nhiệm vụ lại tạo giống và khảonghiện giống mới, đã cho ra đời các giống có triển vọng như Biasoil, DS 74-24-2, DS 73-16 Tổ chức AICRPS (The All India Coordinated ResearchProject on Soybean) và NRCS (National Research Center for Soybean) đãphối hợp nghiên cứu về genotype và đã phát hiện hơn 50 tính trạng phù hợpvới khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát hiện những giống có gen chống bệnh caokhảm do virus gây ra (Brown D.M, 1960) [24]

Tại một số nước Đông Nam Á như Thái Lan và Philippines thì công tácchọn giống cây trồng cũng khá phát triển Thái Lan là nước rất năng độngtrong tạo giống cây trồng như sắn, cây chuyển gen, cây ăn quả, cây đậu đỗ.Với sự phối hợp của 2 trung tâm MOAC và CGPRT nhằm cải tiến giống chonăng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính như: gỉ sắt, sươngmai, vi khuẩn… đồng thời có khả năng chịu được đất mặn, chịu được hạnhán, sinh trưởng ngắn Tại Philippines, thì Viện lúa IRRI thành lập nhằm chủ

Trang 30

yếu nghiên cứu về lúa nhưng những năm gần đây cũng chú trọng tới các câytrồng khác như cây đậu tương nhằm phá vỡ thế độc canh cây lúa và cải tạo đấttrồng lúa qua luân canh.

Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á nghiên cứu về sâubệnh hại trên đậu tương họ thấy cây nhiễm sâu hại là Giòi đục thân mạnh nhấtvào 4 tuần sau mọc, cùng với loài này thì còn nhiều loài sâu bệnh cũng gâyhại như gỉ sắt, sâu cuốn lá, lở cổ rễ…

Nhật Bản cũng là một quốc gia có nguồn gen đậu tương phong phútheo thống kê của viện tài nguyên sinh học nông nghiệp quốc gia Nhật Bảnhiện đang lưu giữ hơn 6000 mẫu giống đậu tương khác nhau, trong đó có hơn

2000 mẫu được nhập nội về nhằm tạo nguồn vật liệu cho công tác giống củanước này

Hiện nay công tác giống đậu tương trên thế giới rất phát triển và đượcquan tâm tiến hành trên quy mô lớn Nhiều bộ giống do nhiều quốc gia chọntạo ra và khảo nghiệm tại rất nhiều vùng sinh thái khác nhau

1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt

Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt

Nam

Do vị trí địa lý nước ta nằm sát Trung Quốc, có sự giao lưu nhiều mặt

từ lâu đời nên cây đậu tương được biết đến và trồng từ rất sớm, ngay từ thờivua Hùng ông cha ta đã biết trồng đậu tương cùng với nhiều loại cây họ đậukhác

Hiện nay cây đậu tương ở Việt Nam chiếm một vị trí rất quan trọngtrong nền nông nghiệp Nhận thức được vai trò quan trọng của cây đậu tươngtrong việc phát triển kinh tế, nước ta đã và đang chú trọng vào sản xuất đậutương, văn kiện Đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam (tập II trang 37) cóghi: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người,gia súc, đất đai và trở thành một loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực ngày càngquan trọng”

Trang 31

Cây đậu tương đã góp phần vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nôngnghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, sử dụng hợp lý đất đai, lao động, tiềnvốn

Trang 32

Tuy nhiên sản xuất đậu tương ở nước ta chưa được đầu tư cao, năng suất cònthấp hơn nhiều so với thế giới Nhưng khi đánh giá về tốc độ phát triển sảnxuất đậu tương thì Việt Nam cũng là nước có tốc độ phát triển nhanh so vớicác nước khác trên thế giới Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ởViệt Nam những năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.3.

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam những năm gần đây Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Về diện tích: Diện tích đậu tương giảm dần qua các năm từ năm

2011-2016 Diện tích giảm từ 181,39 nghìn ha (năm 2011) giảm xuống còn 99,58nghìn ha (năm 2014) Qua 6 năm diện tích của nước ta giảm 81,81 nghìn ha.Năm 2011 diện tích trồng đậu tương đạt lớn nhất 181,39 nghìn ha Sở dĩnhưng năm gần đây diện tích trồng đậu tương giảm là do điều kiện khí hậu bấtlợi giá thành và người dân chưa thực sự chú trọng đến việc trồng đậu tương

Về năng suất: Năng suất đậu tương nước ta biến động từng năm Daođộng từ 14,32 – 16,14 tạ/ha Năm 2016 năng suất đậu tương đạt ở mức caonhất trong những năm gần đây với 16,14 tạ/ha Năm 2014 có năng suất thấp

Trang 33

Nguyên nhân chính dẫn đến năng suất đậu tương thấp là: Do trình độcanh tác của người dân còn hạn chế; Do người dân quen làm với cách làm cũ,khó tiếp thu kỹ thuật mới; Do người dân còn thiếu thông tin; Do thiếu sự quantâm của nhà nước trong hoạch định chính sách; Do thói quen trồng giống địaphương của người dân; Chưa quy hoạch được vùng sản xuất đậu tương hànghóa và chưa xác định được giống phù hợp cho từng vùng sinh thái; Diện tíchđất trồng đậu tương tập trung chủ yếu ở miền núi, điều kiện thời tiết khắcnghiệt, cơ sở vật chất còn nghèo nàn.

Hiện nay cả nước Việt Nam đã hình thành 6 vùng sản xuất chính: Đồngbằng sông Hồng; Trung du và miền núi Bắc Bộ; Đồng bằng ven biển miềntrung; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng Bằng sông Cửu Long

Vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất chiếm 26,2% diện tích trồngđậu tương cả nước, miền núi Bắc bộ chiếm 24,7%; vùng Đồng bằng SôngHồng chiếm 17,5%, Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 12,4% Tổng diện tíchcủa các vùng này chiếm trên 80% diện tích của cả nước (Ngô Thế Dân và cs(1999) [5]

Về sản lượng 3 vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, đồng bằngsông Cửu Long chiếm 63,8% sản lượng đậu tương cả nước Đặc biệt đồngbằng sông Cửu Long chỉ chiếm 12,4% diện tích nhưng chiếm tới 20,9% sảnlượng với năng suất bình quân 16 tạ/ha, cao nhất nước (Ngô Thế Dân và cs(1999) [5]

Theo số liệu thống kê, đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cảnước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tươngnước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không màu mỡ; và 35% đượctrồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Đậu tươngđược trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác

Trang 34

nhau nên có cả vụ xuân, vụ hè và vụ đông Trong các thời vụ trồng đậu tươngthì vụ xuân chiếm 14,2%, vụ hè thu 31,3%, vụ mùa 2,68%, vụ thu đông22,1%, vụ đông xuân 29,7% Ở vùng núi Bắc Bộ, khu 4 cũ, đồng bằng sôngCửu Long vụ đông xuân là vụ chính (59,8 - 83,5%), ở vùng đồng bằng sôngHồng, trung du Bắc Bộ vụ xuân là vụ chính (60,6 - 65,6%), ở vùng TâyNguyên, Đông Nam Bộ chủ yếu trồng vụ hè thu và thu đông (60 - 77%).

Nhìn chung sản xuất đậu tương ở Việt Nam chưa có sự cân đối giữa cáckhu vực, nhưng xét trên trung bình cả nước thì đã và đang đạt được nhữngbước tiến đáng kể Vì vậy cần nhận được sự quan tâm, chú trọng hơn nữa đểbiến cây đậu tương thành cây trồng chủ lực trong hệ thống nông nghiệp

* Một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Cũng như các nước sản xuất đậu tương trên thế giới, các yếu tố hạn chếđến sản xuất đậu tương ở Việt nam bao gồm 3 nhóm yếu tố là: Nhóm yếu tốkinh tế - xã hội, nhóm yếu tố sinh học và nhóm yếu tố phi sinh học

Giá bán sản phẩm không ổn định Hệ thống cung ứng giống còn bấtcập Vấn đề thuỷ lợi trong sản xuất đậu đỗ chưa được đáp ứng, do vậy tìnhtrạng thiếu nước vào thời điểm gieo trồng nhưng lại thừa nước vào thời kỳ thuhoạch đã làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm

Do quan niệm của nông dân chưa thực sự coi đậu tương là cây trồngchính nên ở nhiều nơi nhiều vùng không chú ý đến việc lựa chọn đất trồng vàkhông đầu tư đúng mức Do vậy chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có củagiống

Một số cơ quan nghiên cứu gần đây giới thiệu một số giống đậu tươngmới đề nghị đưa ra sản xuất nhưng thực tế số giống được nông dân chấp nhậnđưa vào sản xuất còn ít, chủ yếu người dân vẫn sử dụng giống cũ là chính

Đậu tương là cây trồng bị nhiều loài sâu bệnh hại Tại Việt Nam quanghiên cứu đã phát hiện ra trên 70 loại sâu hại thuộc 34 họ, 8 bộ và 17 loạibệnh Trong đó 12 -13 loại sâu và 4 -5 loại bệnh hại phổ biến ở nhiều vùng.Đối với đậu tương, các loài sâu hại nguy hiểm nhất là giòi đục thân, sâu xanh,sâu đục quả, bọ xít, bọ nhảy, bọ trĩ, nhện

Trang 35

Nhóm các yếu tố phi sinh học ảnh hưởng đến sản xuất đậu tương ởnước ta chủ yếu là đất đai và điều kiện khí hậu bất thuận Cây đậu tương vụĐông, nhiệt độ thấp ở giai đoạn sinh trưởng cuối đã kéo dài thời gian chín,làm giảm khối lượng hạt, thậm chí làm đậu tương không chín được

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

Công tác giống là việc làm quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nótạo ra vật liệu sống quyết định những yếu tố của cây trồng như năng suất, khảnăng chống chịu với ngoại cảnh và dịch hại Do vậy công tác thu thập và chọntạo giống cây trồng nói chung được các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp vàcác nhà khoa học rất quan tâm và đầu tư nghiên cứu Đối với công tác nghiêncứu chọn tạo giống đậu tương nói riêng cũng đòi hỏi nhiều thời gian, công sức

và tiền bạc Từ năm 1962, trường Đại Học Nông Nghiệp I cùng với Viện câycông nghiệp và Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hànhthu thập, nhập nội và chọn tạo giống đậu tương Theo tài liệu tới năm 1999thì nước ta có khoảng

500 mẫu giống chủ yếu được thu thập từ giống địa phương, nhập nội và gây đột biến từ trong nước và nhập nội từ nước ngoài

Nguyễn Danh Đông năm 1983 [8] viết, Viện cây nông nghiệp đã thuthập được 250 mẫu giống và khảo sát phân loại theo thời gian sinh trưởng(TGST) của giống thì chia làm 6 nhóm giống:

- Nhóm I: chín rất sớm gồm các giống có thời gian sinh trưởng dưới 80 ngày

- Nhóm II: chín sớm, có thời gian sinh trưởng 80 – 90 ngày

- Nhóm III: chín trung bình, có thời gian sinh trưởng 90 – 100 ngày

- Nhóm IV: chín trung bình muộn, có thời gian sinh trưởng 100 – 110 ngày

- Nhóm V: chín muộn, có thời gian sinh trưởng 110 – 120 ngày

- Nhóm VI: chín rất muộn, có thời gian sinh trưởng dài trên 120 ngày.Sau những năm đổi mới, nước ta khôi phục lại nền nông nghiệp việcsản xuất nông nghiệp cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm nên công tácgiống đậu tương cũng đạt được những thành tựu đáng kể về chọn tạo và khảonghiệm giống quốc gia để đưa và sản xuất như:

Trang 36

+ VX92: thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày Giống có hoa màu trắng,hạt màu vàng sáng, khối lượng 100 hạt từ 14 – 16g, năng suất trung bình 18 –

22 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha

+ TL57 (ĐT95/VX93): thời gian sinh trưởng 100 – 110 ngày, hoa trắng,hạt vàng, khối lượng 100 hạt 15 – 16g, năng suất đạt 15 – 20 tạ/ha

+ ĐN–42 (ĐH4/VX93): thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày, hoa tím, hạttròn, vàng sáng, khối lượng 100 hạt 13 – 14g, năng suất 14 – 16 tạ/ha

+ AK 06 (chọn từ dòng 55): thời gian sinh trưởng 93 – 95 ngày, hoatím, hạt màu vàng sáng, khối lượng 100 hạt 16 – 18g, năng suất từ 25 – 30 tạ/ha

+ ĐT 2000 (nhập nội từ Đài Loan): thời gian sinh trưởng 100 – 110ngày, là giống thâm canh, hoa tím, cây to cứng, ít đổ, nhiều đốt (18 – 22 đốt),trung bình số quả 3 hạt chiếm tới 30% tổng số quả trên cây, khối lượng 100hạt 17 –

17,5g, năng suất 30 – 35 tạ/ha, trong điều kiện thâmm canh có thể đạt 40 tạ/ha

+ M103 (đột biến từ V70): thời gian sinh trưởng khoảng 85 ngày, hoatím, hạt vàng sáng, khối lượng 100 hạt 18 – 20g, năng suất từ 17 – 20 tạ/ha.Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha Lưu ý đối với giống này nếungắt ngọn ở giai đoạn 5 lá thật sẽ cho năng suất cao hơn

+ DT 84 (đột biến từ dòng lai 8-33): thời gian sinh trưởng 80 – 85 ngày,hoa tím, hạt vàng sáng, khối lượng 100 hạt 18 – 20g, năng suất đạt 15 – 30 tạ/ha

+ ĐT 93 (dòng 821/134 Nhật Bản): thời gian sinh trưởng 80 – 82 ngày,hoa tím, hạt khi chín có màu vàng, có từ 9 – 10 đốt, khối lượng 100 hạt 13 –14g Có thể trồng vụ hè giữa 2 vụ lúa, tiềm năng năng suất 15 – 18 tạ/ha

+ ĐT 12 (nhập nội từ Trung Quốc): là giống cực ngắn ngày hè thu

khoảng

71 ngày, rất thích hợp trong vụ hè giữa 2 vụ lúa Có hoa màu trắng, lá hình timnhọn, hạt vàng, rốn hạt nâu, quả chín có màu nâu xám Vỏ hạt màu vàng sáng,

Trang 38

+ VX 93: Tuyển chọn từ dòng K7002 (tập đoàn của viện cây trồng liênbang Nga-VIR) có nguồn gốc từ Philipines: có hoa màu trắng, thời gian sinhtrưởng 85 – 90 ngày, phân cành khỏe, quả chín có màu nâu Hạt vàng sáng,khối lượng 100 hạt 15 – 16g, năng suất đạt từ 16 – 20 tạ/ha Trong điều kiệnthâm canh đạt 25 tạ/ha Đây là giống có khả năng chịu rét, thích hợp cho vụthu đông ở đồng bằng Bắc bộ, thích hợp cho vụ hè ở các huyện miền núi nhưTrùng Khánh – Cao Bằng.

+ AK05 (chọn từ dòng 2261): Có hoa màu trắng, thời gian sinh trưởng 90– 95 ngày, cây cao 40 – 50 cm, với mật độ 40 – 45 cây/m2, khối lượng 100 hạtđạt từ 13 –15g, năng suất đạt 16 – 23 tạ/ha

+ ĐT 95 (đột biến từ AK04): thời gian sinh trưởng 90 – 97 ngày, cây cao

55 – 65cm, hạt màu váng sáng, rốn hạt màu nâu đen, khối lượng 100 hạt đat từ

15 – 16g, chống đổ trung bình, có khả năng chịu lạnh, năng suất từ 15 – 30 tạ/ha

+ Đ96-02 (ĐT74/ĐT92): thời gian sinh trưởng 95 – 100 ngày, chiều caocây 65cm, có hoa màu tím, lá màu xanh đậm, hạt màu vàng sáng, khốilượng

100 hạt đạt 15 – 18g, chống đổ trung bình, có khả năng chịu lạnh, năng suất đạt từ 15 – 18 tạ/ha

+ ĐT 21 (nhập nội từ Australia): thời gian sinh trưởng từ 95 – 100 ngày,

có hoa màu tím, lá màu xanh đậm, nhiều quả trên cây, tỷ lệ quả 3 hạt cao, hạtmàu vàng, khối lượng 100 hạt đạt từ 20 – 22g, chịu hạn, chống sâu bệnh hạitốt, năng suất 22 – 28 tạ/ha

+ Giống DT 2008 ghi dấu ấn thành công bước đầu trong năm 2008 củacác nhà chọn tạo giống Viện di truyền nông nghiệp về lĩnh vực chọn tạo giốngđậu tương chịu hạn cho các tỉnh phái Bắc, đặc biệt trồng trong vụ đông xuânluôn thiếu nước Đây là kết quả chọn tạo bằng phương pháp lai tạo kết hợp độtbiến phóng xạ từ năm 2002 của đề tài “Chọn tạo giống đậu tương chịu hạn”

mà Viện di truyền nông nghiệp là cơ quan đại diện cho Việt Nám tham gia

Trang 39

phối hợp trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác hạt nhân Châu Á (FMCA) vềchương trình

Trang 40

chọn giống đột biến phóng xạ Giống DT 2008 có nhiều đặc tính như chịu hạn,chịu úng, chịu nóng, chịu lạnh cao và có khả năng kháng một số bệnh chínhthường gặp trên cây đậu tương như: phấn trắng, gỉ sắt, sương mai, đốm nâu do

vi khuẩn DT 2008 trồng chăm sóc bình thường cho năng suất 18 – 30 tạ/ha,trong điều kiện hạn và ngoại cảnh bất thuận vẫn cho năng suất cao hơn cácgiống khác từ 1,5 – 2 lần

1.2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Phú Thọ

Cây đậu tương là cây trồng có phạm vi thích ứng tương đối rộng, sảnphẩm dễ tiêu thụ, thị trường thu mua ổn định Người dân sản xuất cây đậutương từ bao đời nay và nó đã trở thành một trong những cây trồng chínhtrong cơ cấu cây trồng của tỉnh Phú Thọ

Đây là cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở nhiềuvùng trong tỉnh Sản phẩm làm ra có nhiều công dụng: Cung cấp thựcphẩm cho con người; làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; làm thức ăncho gia súc; có chức năng cải tạo đất tốt; thị trường tiêu thụ lớn, ổn định Từnhững đặc điểm trên, cây đậu tương được người dân trong tỉnh đưa vàotrồng từ nhiều năm nay Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, Phú Thọ đã có nhữngchính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển diện tích đậu tương cũng như ứngdụng các loại giống mới vào gieo trồng Do đó, diện tích, năng suất đậu tươngtăng dần theo từng năm và trở thành một trong những loại cây trồng chính

Cùng với sự phát triển cây đậu tương của cả nước, trong những năm gầnđây cơ chế thị trường thực sự đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế ngườinông dân Phú Thọ Người nông dân được tự do lựa chọn cây trồng và tự làmgiàu trên mảnh đất của mình Do vậy, cây đậu tương thực sự giữ vị trí đáng kểtrong cơ cấu cây trồng Trong những năm qua diện tích, năng suất và sảnlượng của Phú Thọ có những chuyển biến đáng kể góp phần ổn định đời sốngkinh tế của đồng bào miền núi Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Phú Thọnhững năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.4

Ngày đăng: 18/03/2019, 12:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thanh Bình, Trần Thị Trường, Trần Đình Long (2006), “Kết quả tuyển chọn giống đậu tương phục vụ sản xuất ở huyện Tuần Giáo-Điện Biên”, Tạp chí NN & PTNT, (6), 55-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quảtuyển chọn giống đậu tương phục vụ sản xuất ở huyện Tuần Giáo-ĐiệnBiên
Tác giả: Trần Thanh Bình, Trần Thị Trường, Trần Đình Long
Năm: 2006
4. Cục Trồng trọt (2006), Kết quả điều tra giống 13 cây trồng chủ lực của cả nước giai đoạn 2003 - 2004, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 139 - 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kết quả điều tra giống 13 cây trồng chủ lực của cảnước giai đoạn 2003 - 2004
Tác giả: Cục Trồng trọt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào (1999), Cây đậu tương, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu tương
Tác giả: Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
6. Luân Thị Đẹp, Trần Văn Điền, Trần Đình Long, (2008), “Nghiên cứu phương thức trồng xen ngô với đậu tương xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn”, Tạp chí KH & CN - Đại học Thái Nguyên, tr. 24 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứuphương thức trồng xen ngô với đậu tương xuân trên đất dốc tại tỉnh BắcKạn”, "Tạp chí KH & CN - Đại học Thái Nguyên
Tác giả: Luân Thị Đẹp, Trần Văn Điền, Trần Đình Long
Năm: 2008
7. Trần Văn Điền (2007) Giáo trình cây đậu tương, Nxb Nông Nghiệp, 100 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây đậu tương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
8. Nguyễn Danh Đông (1983) Kỹ thuật trồng đậu tương, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng đậu tương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
9. DK Wwigham (1976), Kết quả nghiên cứu quốc tế về đậu tương (Biên dịch: Hoàng Văn Đức), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu quốc tế về đậu tương
Tác giả: DK Wwigham
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1976
10. Vũ Tuyên Hoàng, Trần Minh Nam, Từ Bích Thuỷ (1995), “Thành tựu của phương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới”, tập san tổng kết KHKT Nông Lâm Nghiệp, 90-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu củaphương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng, Trần Minh Nam, Từ Bích Thuỷ
Năm: 1995
12. Trần Đình Long (1991) Những nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương, Nxb Nông Nghiệp, 221-222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
13. Trần Đình Long và Nguyễn Thị Thanh Nhàn (1994), “Kết quả khu vực hoá giống đậu tương M103 ở các vùng sinh thái khác nhau”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp 1993, Nxb Nông Nghiệp, 68-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khu vựchoá giống đậu tương M103 ở các vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Trần Đình Long và Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1994
14. Nguyễn Hữu Tâm (2003), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất đậu tương trên đất một vụ lúa ở tỉnh Hà Giang, Luận án tiến sĩ Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ Nông Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Tâm
Năm: 2003
15. Phạm Văn Thiều (2006), Cây đậu tương kỹ thuật trồng và chế biến sản phẩm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu tương kỹ thuật trồng và chế biến sảnphẩm
Tác giả: Phạm Văn Thiều
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
16. Lê Thị Thoa, Trần Thị Trường (2017), “Kết quả nghiên cứu giống và thời vụ đậu tương Hè tại Hưng Hà, Thái Bình” kết quả KH&CN NN Việt Nam, 10 /2017, Tr 1859-1558 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả nghiên cứu giống và thờivụ đậu tương Hè tại Hưng Hà, Thái Bình
Tác giả: Lê Thị Thoa, Trần Thị Trường
Năm: 2017
17. Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương “Quy phạm khảo nghiệm giống đậu tương số 10TCN-399/98” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy phạm khảonghiệm giống đậu tương số 10TCN-399/98
18. Trần Thị Trường (2017), “Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển giống đậu tương ĐT51 trong vụ hè” Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởngphát triển giống đậu tương ĐT51 trong vụ hè”
Tác giả: Trần Thị Trường
Năm: 2017
19. Nguyễn Thị Út (1994), “Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu phẩm chất tập đoàn giống đậu tương nhập nội”, kết quả NCKH Nông nghiệp 1994-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu phẩm chất tậpđoàn giống đậu tương nhập nội
Tác giả: Nguyễn Thị Út
Năm: 1994
20. Đào Thế Vinh, Chu Thị Ngọc Viên, Trần Hồng Uy, Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thi Kim Lệ, Hồ Văn Dũng, Đỗ Ngọc Giao (2004), “Kết quả nghiên cứu chon tạo giống đậu tương ĐVN5”, Tạp chí NN &PTNT,(1), 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kếtquả nghiên cứu chon tạo giống đậu tương ĐVN5”
Tác giả: Đào Thế Vinh, Chu Thị Ngọc Viên, Trần Hồng Uy, Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thi Kim Lệ, Hồ Văn Dũng, Đỗ Ngọc Giao
Năm: 2004
21. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh (2004), “Kết quả khu vực hoá giống đậu tương ngắn ngày DT99”, Tạp chí NN & PTNT, (3), 352-354 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khu vực hoá giốngđậu tương ngắn ngày DT99”
Tác giả: Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh
Năm: 2004
22. Viện Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam (1995), Kinh tế cây có dầu, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế cây códầu
Tác giả: Viện Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
24. Brown D.M (1960), Soybean Ecology. I. Deverlopment-Temperature relationships from controlled enviroment studies, Aggron. J. 493-496 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w