1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, Tản Đà được mệnh danh là nhà nho tài tử trong thời hiện đại với nhiều sáng tác ở các thể loại khác nhau, những sáng tác của ông
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NHUNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Điệp
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Điệp đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo, giúp đỡ em rất nhiều trong qua trình làm luận văn tốt nghiệp
Em cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng, Khoa Sau Đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái nguyên cùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp, các anh chị em trong lớp Văn học Việt Nam CH K22 đã giúp đỡ, khích
lệ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Do năng lực bản thân còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Thị Nhung
Trang 5M ỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
M Ở ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 THƠ TẢN ĐÀ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN TÀI 1
1.1 Biểu tượng và khái niệm có liên quan 1
1.1.1 Biểu tượng (Symbol) 1
1.1.2 Biểu tượng văn hóa 3
1.1.3 Biểu tượng văn học 4
1.2 Tác giả Tản Đà 6
1.2.1 Nhà nho tài tử sống trong thời hiện đại 6
1.2.2 Tản Đà - Nhà nho lãng mạn giữa hai thế kỷ 9
1.3 Khái quát về biểu tượng trong thơ Tản Đà 11
Tiểu kết chương 1 14
Chương 2 NHỮNG BIỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG THƠ T ẢN ĐÀ 15
2.1 Biểu tượng Nước 15
Trang 62.1.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 15
2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng Nước trong thơ Tản Đà 19
2.2 Biểu tượng Giời (Trời) 25
2.2.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 25
2.2.2 Ý nghĩa biểu tượng Giời (Trời) trong thơ Tản Đà 30
2.3 Biểu tượng Đất 41
2.3.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 41
2.3.2 Ý nghĩa biểu tượng Đất trong thơ Tản Đà 44
2.4 Biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) 52
2.4.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) 52
2.4.2 Ý nghĩa biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) trong thơ Tản Đà 53
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ 64
3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 64
3.1.1 Ngôn ngữ có tính giản dị, trong sáng, tự nhiên 64
3.1.2 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình 67
3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật 73
3.2.1 Thời gian mang tính biểu tượng 74
3.2.2 Không gian mang ý nghĩa biểu tượng 80
Tiểu kết chương 3 84
K ẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học luôn hướng con người tới những chân trời mới, khám phá
những chặng đường mới của cuộc sống cũng như thế giới nội tâm khuất lấp trong mỗi con người Trong hành trình khám phá và chinh phục đó, ta bắt gặp
những biểu tượng xuyên suốt tạo nên tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ tác phẩm
của từng nhà thơ Và thông qua những biểu tượng đó ta tìm thấy được những giá trị, những vẻ đẹp tiềm ẩn của non sông, đất nước, con người
1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, Tản Đà được
mệnh danh là nhà nho tài tử trong thời hiện đại với nhiều sáng tác ở các thể loại khác nhau, những sáng tác của ông đều đem lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Thơ ông viết về những điều bình dị, đời thường nhất trong cuộc
sống bằng tất cả sự trải nghiệm của chính cuộc đời mình thông qua những biểu tượng với nhiều tầng ý nghĩa nghệ thuật
1.3 Được xem là một cây bút xông xáo, nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực,
Tản Đà đã để lại cho hậu thế một số lượng tác phẩm đáng kể về thơ ca, văn chương, tiểu thuyết, dịch thuật…Thơ, văn của ông luôn có một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhiều tâm sự, suy nghĩ của mình ẩn giấu trong từng câu chữ Chính
vì vậy nó luôn có sức thu hút đối với bạn đọc Nhiều tác phẩm mang tính thời
sự nóng bỏng, gắn liền với vận mệnh của dân tộc mình, do đó thơ văn Tản Đà luôn chiếm một vị trí quan trọng trên văn đàn văn học Việt Nam.Bởi vậy, cho đến nay vẫn còn rất nhiều công trình nghiên cứu vẫn đang tiếp tục khám phá tìm hiểu những tác phẩm văn chương của Tản Đà
1.4 Là một người tài hoa, cá tính độc đáo với một cái tôi mới mẻ, Tản
Đà đã thồi một luồng gió mới mẻ vào nên văn chương đương thời Tuy nó không mạnh mẽ, cuồng nhiệt như Xuân Diệu,như các nhà Thơ mới, nhưng cũng đủ để cho giới nhà văn, nhà thơ đương thời phải bàn tán, xôn xao Có rất
Trang 8nhiều giới nghiên cứu về nhà thi sĩ Tản Đà, nhưng chưa có một ai nghiên cứu
về những biểu tượng đặc sắc trong thơ Tản Đà, từ đó đánh giá vị trí, vai trò của
nó trong sự nghiệp thơ ca của thi sĩ Qua những biểu tượng trong các sáng tác thơ Tản Đà, ta hiểu được những giá trị tiềm ẩn, ý nghĩa nhân văn sau từng biểu tượng cũng như những quan niệm, tư tưởng mà nhà thơ muốn gửi gắm trong
đó Từ đó có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí những sáng tác của
Tản Đà trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Để hiểu rõ một cách sâu
sắc hơn các tác phẩm văn học cũng như có thể đóng góp một phần tri thức vào việc nghiên cứu, giảng dạy, tìm hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường, chúng
tôi mạnh dạn tìm hiểu: “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” để tìm ra những giá trị
tiềm ẩn, khuất sâu trong từng biểu tượng đó
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi nghiên cứu về tác giải Tản Đà, đã có rất nhiều ý kiến đánh giá, bình
luận trái chiều về ông, trong đó có cả mặt tích cực và tiêu cực Điều đó được
thể hiện rất rõ trong cuốn Tản Đà - về tác gia và tác phẩm [11] của tác giả
Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Đức Mậu, NXB Giáo Dục, 2003
Tản Đà xuất hiện trên văn đàn với Khối tình con đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ: “Dựng ra một cái văn phái mới”, “Quốc dân nhiều người cổ võ” vì “có
giọng mới, ý lạ” như lời công nhận và ca ngợi của Phạm Quỳnh Khi Giấc
những không có ích mà còn có hại”, “là đánh thuốc độc cho cả nước”, và răn đe
“cái vạ hư văn từ trước tới nay đã gây ra cái gương vong quốc rồi đó” (Nam
Cũng như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc không cho Giấc mộng con là
văn chương, theo ông văn chương phải là “vỏ bọc tư tưởng” (Nam Phong, số 17)
Tư tưởng cá nhân hay cái tôi cá nhân của Tản Đà, cụ thể là Giấc mộng
con đã vượt ngưỡng, đã thái quá đối với quan niệm của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Ngọc Chính vì lý do đó, nên trong tuyển tập Đào nương ca,
Trang 9Nguyễn Văn Ngọc không tuyển hát nói của Tản Đà, mặc dù hát nói của Tản Đà được nhiều người đương thời thích và tuyển vào sách của họ
Khi Thơ mới xuất hiện và được khẳng định, thì Tản Đà được đưa ra làm
đối tượng phê phán về sự cổ lỗ, báo Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn đưa
Tản Đà ra giễu Năm 1936, Lưu Trọng Lư đã khinh mạn “Nàng thơ ấm Hiếu
mũi thò lò” trên báo Ngày nay
Tuy nhiên, đến năm 1939 sau khi Tản Đà qua đời, ông lại được đề cao Nếu như trước đây các nhà Thơ mới xếp Tản Đà vào quá khứ thì giờ đây Tản
Đà được khẳng định những đóng góp với thơ văn hiện đại
Xuân Diệu đã đánh giá Tản Đà là “người mở đầu cho thơ Việt Nam hiện
đại, dám có một cái tôi, dám cho trái tim và linh hồn được có quyền sống cái đời riêng của chúng” Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Khái Hưng đã viết chân dung Tản Đà ở những nét cá tính ngang tàng, phóng túng, tài hoa, dị thường Như vậy, đến năm 1939, Tản Đà đã được quan tâm, khẳng định trên nhiều mặt
Năm 1942, Hoài Thanh, Hoài Chân (Thi nhân Việt Nam) và Vũ Ngọc
Phan (Nhà văn hiện đại) đã đánh giá “Tản Đà là người của hai thế kỷ, đã dạo
Cùng năm đó, Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) đã đưa
Tản Đà vào chương trình dạy văn ở trong nhà trường - một biểu hiện đánh giá cao tài năng của Tản Đà Dương Quảng Hàm cũng nhấn mạnh các yếu tố đã được nhiều người nói đến như giọng điệu nhẹ nhàng, Việt Nam thuần túy, tính ngông ở Tản Đà
Năm 1957, nhóm Lê Quý Đôn trong (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam)
nhận định “Thơ văn Tản Đà phản ánh tâm trạng chung của thời đại những năm
cách mạng Việt Nam dịu xuống Tản Đà là một tài năng bị chế độ thực dân phong
Trang 10Cũng trong năm 1957, trong Thơ Tản Đà chọn lọc, Nguyễn Hữu
Đang xếp Tản Đà gần với Nguyễn Đình Chiểu, qua các cuộc tranh luận
những năm 60,79
Năm 1974, trong giáo trình (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
1977 đã xếp Tản Đà vào mẫu loại nhà nho tài tử…Tản Đà kết hợp văn học bác
học với văn chương bình dân, cách tân văn học cũ để hiện đại hóa văn học
Năm 1975, Nguyễn Khắc Xương đã chứng minh chủ nghĩa yêu nước của Tản Đà và xếp Tản Đà vào bộ phận văn học yêu nước cùng Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, Nguyễn Thông, Nguyễn Thiện Kê Chỉ có lòng yêu nước là tiêu chuẩn bao trùm cao nhất để khẳng định giá trị văn học, vì vậy những sầu cảm
mộng mị, ngông cuồng ở Tản Đà đã bị thành kiến
Năm 1963, Tầm Dương viết bài Một hiện tượng văn học phức tạp và
năm 1964, toàn bộ ý tưởng trong bài này được hoàn chỉnh trong một công trình
công phu, công trình hướng tới một cách nhìn toàn diện Tản Đà khối mâu
mâu thuẫn của nó trong thơ văn Tản Đà
Năm 1974, giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
[24] được biên soạn và giảng dạy ở Đại học Tổng hợp, in rô nê ô năm 1977 Trong giáo trình này tác giả Trần Đình Hượu đặt Tản Đà vào giao đoạn giao
thời Đông - Tây, giải quyết lại các vấn đề yêu nước, giai cấp, tư tưởng, cải lương…đã đặt ra trước đó
Đến những năm cuối 70, đầu 80, Tản Đà không được bàn trên báo chí
Năm 1983, Xuân Diệu trong cuốn Thơ Tản Đà [5] tiếp tục khẳng định
Tản Đà đưa cái tôi cá nhân vào trong văn học
Tản Đà là một hiện tượng độc đáo, đột xuất, là cây bút phóng khoáng, một nhà thơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổ điển và Thơ mới
Trang 11Năm 1988, kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tản Đà, khoa văn Đại học
Tổng hợp hội thảo khoa học đã khẳng định thêm vị trí cũng như đóng góp
của Tản Đà
Năm 1989, hội nghị Khoa học về Tản Đà do viện Văn học tổ chức tại Hà
Nội đã mở rộng sự quan tâm nhiều mặt về Tản Đà
Năm 1997, Trần Ngọc Vương trong cuốn Văn học Việt Nam dòng riêng
nhan đề Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong tư tưởng và trong sáng tác
thành từ năm 1976, dưới sự hướng dẫn khoa học của vị ân sư Trần Đình Hượu
Như vậy có thể thấy rất nhiều ý kiến trái chiều về Tản Đà nhưng cuối cùng họ đều đi đến khẳng định, công nhận những đóng góp của Tản Đà trong tiến trình văn học dân tộc, và vị trí của thi sĩ Tản Đà trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Những công trình nghiên cứu về Tản Đà chủ yếu ở phương diện thi pháp, phong cách, cá tính Theo sự thống kê của Nguyễn Ái Học trong luận án Tiến sĩ Thi pháp thơ Tản Đà [19] cho đến nay đã có hơn 300 công trình nghiên cứu, giới thiệu, phê bình, bình luận ở các cấp về cuộc đời, thơ văn Tản Đà Và
hiện tại vẫn còn có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khoa học vẫn tiếp tục nghiên
cứu về Tản Đà Như vậy có thể thấy được, thơ Tản Đà có một sức sống mãnh
liệt, có sức ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ bạn đọc Nguyễn Ái Học đã chia lịch sử nghiên cứu Tản Đà thành ba hướng chính: thứ nhất là nghiên cứu
Tản Đà với cái Tôi ngông nghênh, cá tính Thứ hai là nghiên cứu thơ Tản Đà theo hướng tìm hiểu tư tưởng, loại hình nhà văn Thứ ba là nghiên cứu thơ Tản
Đà theo hướng phân tích, bình luận, bình giảng các tác phẩm thơ
Là một nhà văn lãng mạn, đa sầu đa cảm Nên khía cạnh này cũng được nhiều nhà phê bình, nghiên cứu hướng đến Xuân Diệu đã từng nhận định:
“Chất lãng mạn thì vạn đại vốn có ở trong gió mây sấm chớp của trời đất, vốn
Trang 12có trong thơ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du…nhưng chủ nghĩa lãng mạn với cái tôi, cái bệnh của thế kỉ…với cái buồn mơ màng, cái cảm xúc chơi vơi của cái tôi…, phải những chục năm đầu của thế kỷ 20 với Tản Đà, mới có” [3, tr.9]
Trong cuốn Tản Đà thơ và đời [67], Nguyễn Khắc Xương đã đi nghiên
cứu tìm hiểu khá kĩ, chi tiết, cụ thể cuộc đời, con người cũng như những thăng
trầm trong sự nghiệp, những mối quan hệ phức tạp
Trong T ản Đà toàn tập [68], Nguyễn Khắc Xương đã nghiên cứu về thơ,
dịch thuật, văn xuôi của Tản Đà Đây là một công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ,
có giá trị lớn vì nó mang ý nghĩa bảo tồn, gìn giữ lại tất cả khối lượng tác phẩm
của ông
Trong cuốn Tản Đà,khối mẫu thuẫn lớn [8], Tầm Dương đã nghiên
cứu chỉ ra những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến cá tính, sự nghiệp của Tản
Đà “Tản Đà là nhà văn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có can đảm sinh sống bằng ngòi bút của mình Tản Đà chính là nhà văn thứ nhất
mà “vợ dại con thơ, sự sinh hoạt trông nhờ ngòi bút”[8, tr.33] Tác giả cũng
khẳng định có nhân tố lãng mạn trong những sáng tác của Tản Đà, bởi nếu không có nhân tố lãng mạn thì có thể những vần thơ của Tản Đà đã không còn đượ bạn đọc yêu mến và tồn tại
Trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại [71] đã giới thiệu, tập hợp những
lời bình, sự nghiệp, giai thoại về Tản Đà Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu khá kĩ càng và sắc nét, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, đa chiều về con người và cuộc đời Tản Đà Sống trong bối cảnh đất nước rối ren,
sự giao thời của cái cũ, mới nên thơ ông cũng bị ảnh hưởng Trong cuốn sách này cũng tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng như: Nguyễn Khắc Xương, Trần Ngọc Vương, Trần Đình Hượu…
Lịch trình tiếp cận Tản Đà tuy mới chỉ là một quãng ngắn, nhưng chắc
chắn đã được tiếp xúc với những vấn đề cơ bản Tản Đà còn là một nhà thơ còn được tiếp tục nghiên cứu và bộ môn lịch sử văn học, lý luận văn học còn tiếp
Trang 13tục được điều chỉnh, phát triển Như vậy có thể thấy rằng, ngoài những công trình nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng trên, còn có rất nhiều bài báo, nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về Tản Đà trên nhiều phương diện, nhiều mặt khác nhau Đó cái tôi cá nhân ngông nghênh, cá tính, phóng khoáng của
Tản Đà; ảnh hưởng của văn học dân gian đến thơ Tản Đà; những cảm hứng chủ đạo trong thơ; thơ thất ngôn của Tản Đà;loại hình ký giả, văn nhân…tất cả đều được các tác giả nghiên cứu tỉ mỉ và khá rõ ràng Tuy nhiên qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng những công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến cuộc đời tác giả với những thăng trầm, phong cách, cá tính ngông nghênh, nghệ thuật thơ ca Tản Đà… chứ chưa ai nghiên cứu sâu, kĩ về những biểu tượng trong thơ Tản Đà từ góc độ nội dung và nghệ thuật
Trên cơ sở những đánh giá, bình luận, nghiên cứu văn học suốt quá trình
qua, chúng tôi tiến hành tìm hiểu “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” với hy vọng
sẽ hé lộ được nhiều vấn đề lý thú chưa được khai thác, và để khẳng định được
những đóng góp cũng như ảnh hưởng của nhà thơ đối với nền văn học Việt Nam hiện đại
3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tiếp cận các tác phẩm thơ của Tản Đà theo hướng phân tích những biểu tượng chủ đạo, tiêu biểu Từ đó bạn đọc sẽ thấy được cái hay, cái đẹp, đặc sắc trong nghệ thuật sáng tác thơ Tản Đà Thông qua
những biểu tượng đó ta thấy được tâm hồn, tình cảm của nhà thơ đối với con người cũng như cảnh sắc tươi đẹp của non sông, quê hương, dân tộc mình Ngoài việc nghiên cứu khoa học cho chính bản thân, hi vọng đề tài sẽ đóng góp
một phần nhỏ làm tư liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc, cho nhà trường phổ thông trong việc đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, cảm thụ thơ Tản Đà
Hướng tới những mục đích trên, chúng tôi đi vào giải quyết những nhiệm
vụ sau:
Trang 14Đi sâu vào nghiên cứu “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” nhằm tìm ra
những đặc trưng, thể hiện của biểu tượng và những ý nghĩa sâu xa, giá trị tiềm
ẩn khuất lấp trong từng biểu tượng đó
Trên cơ sở đó, một lần nữa khẳng định những đóng góp của ông trong
tiến trình phát triển của văn học dân tộc
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là “Biểu tượng trong thơ Tản Đà”
Chúng tôi tập trung vào tìm hiểu một số biểu tượng tiêu biểu trong các tác
phẩm thơ Tản Đà, đó là những biểu tượng có ý nghĩa phổ quát, xuất hiện nhiều
lần và phổ biến trong các tác phẩm từ đó tạo nên những giá trị đích thực cho tác
phẩm Do đó, đối tượng nghiên cứu của luận văn là Biểu tượng trong thơ Tản
Đà trên bình diện nội dung và nghệ thuật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài luận văn “Biểu tượng trong thơ Tản Đà”, do đó đề tài này chúng tôi tập trung chủ yếu vào các sáng tác thơ của Tản Đà, cụ thể là 304 bài thơ trong Thơ Tản Đà (2012), Nxb Văn học [40]
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề của đề tài nêu ra, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn hướng đến những đóng góp ý nghĩa:
Tiếp cận các tác phẩm thơ Tản Đà từ phương diện biểu tượng nhằm phân tích, đưa ra những giá trị tiềm ẩn sau những biểu tượng Từ đó khẳng định được vai những đóng góp của Tản Đà trong tiến trình nền văn học Việt Nam
Trang 157 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Những biểu tượng tiêu biểu trong thơ Tản Đà
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Tản Đà
Trang 16C hương 1 THƠ TẢN ĐÀ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN TÀI
1.1 Bi ểu tượng và khái niệm có liên quan
1.1.1 Bi ểu tượng (Symbol)
Biểu tượng là một khái niệm đã được đưa vào nghiên cứu trên nhiều phương diện ở nhiều nơi trên thế giới Ngay cả Việt Nam, biểu tượng cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra khái niệm
Trong tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ “symbol” được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng…
Theo T ừ điển tiếng Việt (GS Hoàng Phê): “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào các giác quan đã chấm dứt” [42, tr.132]
Theo T ừ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi): “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức cao hơn
Theo T ừ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier): “Biểu tượng
cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái
định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [27, tr.76]
Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được lưu giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng không phải hoàn
Trang 17toàn là thực tế, bởi vì nó xây dựng lại hình ảnh thực tế sau khi đã được tri giác Nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát
từ những hoạt động tâm trí của chủ thể
Tuy nhiên cần hiểu rằng, không phải bất cứ hình ảnh nào cũng là biểu tượng, nó phải cao hơn hình ảnh và mang một ý nghĩa sâu xa, giúp con người khơi gợi ra những giá trị tiềm ẩn mà không phải ai cũng nhận thấy ngay Vì thế,
biểu tượng phải là những hình ảnh chứa đầy ý nghĩa sâu sắc, mà khi đi sâu khám phá nó,ta mới cảm nhận được hết được những tầng nghĩa đó
Biểu tượng luôn gắn liền với cuộc sống, trải qua một quá trình từ khi con người có thể ý thức được đến khi trưởng thành, chúng ta đã tích lũy được cho bản thân mình vốn sống, kinh nghiệm sống và được lưu giữ trong trí nhớ Những hình ảnh của sự vật hiện tượng mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống lại hàm chứa một ý nghĩa sâu xa khác theo cách cảm nhận riêng của mỗi người tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng Những hình ảnh đó được nhà văn đưa vào trong các sáng tác của mình thường xuyên và gửi gắm vào trong đó những ý nghĩa sâu xa của chính bản thân về cuộc đời và con người Khi độc giả tiếp xúc với những hình ảnh quen thuộc đó sẽ nhận ra được dụng ý của nhà thơ, nhà văn gửi gắm trong đó, làm cho những tác phẩm đó có sức sống
và tồn tại cùng thời gian Đó là những biểu tượng mang tính cá nhân được nhà thơ quy định Ngược lại, trong một thời điểm lịch sử nhất định, trong một xã hội nhất định, có những hình ảnh được cả cộng đồng đó thừa nhận và nó mang một dụng ý sâu xa ẩn chứa trong hình ảnh đó, trải qua một thời gian dài nó
vẫn mang ý nghĩa nội hàm nhất định không thay đổi thì nó sẽ trở thành biểu tượng của cả cộng đồng đó
Nếu như với người Việt Nam chúng ta, hoa sen được coi là biểu tượng cho sự thanh xuân, tinh khiết, biết hòa nhập, thích nghi với môi trường, thanh
lọc những chất nhơ bằng thân rễ của chính mình giữa mênh mông nước nổi,
ngai ngái mùi bùn nhưng vẫn vươn lên rạng ngời Thì ở đất nước Nhật Bản,
Trang 18loài hoa anh đào được coi là biểu tượng cho cái đẹp, sức sống mãnh liệt, cho sự khiêm nhường nhẫn nhịn Loài hoa tưởng như mong manh, yếu đuối không thể
trụ nổi trước những cơn gió, bão nhưng vẫn hiên ngang, vẫn vươn lên khoe sắc với đời Như vậy, có thể thấy rằng biểu tượng cộng đồng phải được cả xã hội
đó thừa nhận và mang một ý nghĩa nhất định cho cả cộng đồng đó Trải qua
một thời gian dài với những biến cố, thăng trầm của lịch sử nó vẫn giữ nguyên được những giá trị, ý nghĩa nhất định mà không hề bị chết yểu, vẫn luôn tồn tại cùng thời gian, đó mới được coi là biểu tượng
Hiện nay, biểu tượng vẫn được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra
những định nghĩa khác nhau dựa trên những cơ sở, quan điểm riêng, nhưng trong những định nghĩa đó ta vẫn thấy có những đặc điểm chung về biểu tượng
Biểu tượng chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được tri giác từ trước Nó kích thích, gợi mở, giúp chúng ta vượt qua dáng vẻ bên ngoài để đi tìm ý nghĩa ẩn kín, thiêng liêng và đạt tới cõi siêu thực
1.1.2 Bi ểu tượng văn hóa
Văn hóa là một khái niệm nội hàm mang ý nghĩa rất rộng với nhiều cách hiểu khác nhau bao gồm cả hai khía cạnh vật chất như: nhà cửa, đồ đạc, phương tiện, quần áo…và khía cạnh phi vật chất như ngôn ngữ, tư tưởng, giá
trị…nó mang những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
Theo G.S Đinh Gia Khánh đã nói: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình
và xã hội” [28, tr.4]
Theo T ừ điển tiếng Việt của Hồng Mây - Ngọc Sương - Minh Mẫn: “Văn hóa
là những điều hiểu biết, kiến thức có trình độ cao, biết cách cư xử” [34, tr.341]
Do đó có thể hiểu được văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ
phận trong đời sống con người, không chỉ liên quan đến tinh thần mà còn bao
gồm cả vật chất
Trang 19Như vậy biểu tượng văn hóa là bất cứ cái gì mang một ý nghĩa cụ thể được cộng đồng người nhận biết Từ vật chất, phi vật chất: âm thanh, đồ vật, hành động đến ký tự, ngôn ngữ…đều là biểu tượng văn hóa Biểu tượng văn hóa luôn tồn tại trong đời sống xã hội, nó có khi hiện diện trong các phong tục,
tập quán, lễ hội của con người hay những tìn hiệu dân gian như: Cây Nêu - biểu tượng văn hóa trong các lễ hội của người Cor, nhà Gươl- biểu tượng văn hóa
của người Cơ Tu hoặc có khi chúng lại được khai thác ở những lĩnh vực tâm linh, trong nghệ thuật truyền thống như: Biểu tượng Âm - Dương trong sự sống
- chết, trong hôn nhân, trong mỗi quốc gia, dân tộc; Biểu tượng chùa Một Cột,
biểu tượng long, ly, quy, phụng…
Khi nói đến trang phục của dân tộc Việt Nam, ta có thể nghĩ ngay đến
Áo dài Trải qua nhiều thời, kỳ, nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, nhưng
tà áo dài vẫn tồn tại cùng thời gian Nó được xem là trang phục truyền thống, là biểu tượng của văn hóa dân tộc Việt Nam Áo dài được xem như một trang phục chuẩn mực cho những dịp đặc biệt, trang trọng như những ngày lễ lớn của đất nước, lễ cưới hỏi, ngày tết, ngày tốt nghiệp và cả những cuộc thi quan trọng Áo dài luôn được người phụ nữ Việt Nam coi trọng bởi nó tôn lên vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ, đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc Không chỉ đơn thuần là cái áo - áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục người phụ
nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hóa vật thể truyền thống không thể thiếu cho
vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt
Chung quy lại, biểu tượng chính là một thành tố cơ bản, quan trọng để
tạo nên văn hóa Những biểu tượng mang giá trị vật chất và tinh thần đó đi cùng với sự phát triển của cộng đồng con người và xã hội đã trở thành những
tinh hoa, thành những biểu tượng văn hóa truyền thống để lại những dấu ấn,
những giá trị nhân văn cao cả của cộng đồng con người và dân tộc
1.1.3 Bi ểu tượng văn học
Biểu tượng văn học là các biểu tượng nghệ thuật cấu tạo lại thông qua tín
hiệu ngôn ngữ trong văn học Vì vậy trước hết có thể thấy biểu tượng nghệ
Trang 20thuật trong văn học giúp cho tác giả bộc lộ được những tư tưởng, tình cảm cá nhân, bộc lộ được nội tâm sâu kín trong tâm hồn mình
Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý phân biệt được biểu tượng khác với hình ảnh Hình ảnh có được do chúng ta dùng cảm giác hoặc tri giác sự vật hiện tượng, cho nên hình ảnh là ở thì hiện tại, nó thể hiện trọn vẹn cái chủ thể tri giác được Nhưng khi đi vào các tác phẩm văn học, hình ảnh đó không chỉ được tác giả tri giác mà còn mang thêm những tâm tư, tình cảm, cảm xúc Biểu tượng được hình thành trên cơ sở tri giác và cảm giác được lưu giữ lại trong ý thức, do đó biểu tượng cao hơn cảm giác Xét trong toàn bộ tác phẩm văn học,
biểu tượng đó phải là những hình ảnh mang sức gợi lớn, được lặp đi lặp lại nhiều lần
Biểu tượng văn học thường có sự cộng hưởng bởi các yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội của dân tộc Ngay từ trong văn học dân gian, đã có rất nhiều biểu tượng mang giá trị văn hóa sâu sắc, ý nghĩa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam Hình ảnh “dải yếm” của người phụ nữ Việt Nam đã trở thành một
biểu tượng cho vẻ đẹp của người thiếu nữ, là cầu nối gặp gỡ, tình tự giao duyên
và biểu thị một tình yêu thủy chung son sắt… Đến những tác phẩm văn học về sau, các tác giả cũng sử dụng những biểu tượng nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân để tăng giá trị và chiều sâu cho tác phẩm của mình Nó giúp cho tác phẩm
có sức hút, ấn tượng vừa mang một vẻ đẹp thẩm mỹ vừa giúp người đọc đạt được sự khoái cảm của trí tuệ Điều đó tạo nên sức hấp dẫn, mới lạ cho văn chương nghệ thuật
Hay một biểu tượng hay được nhắc đến trong các tác phẩm, đó là
“cây tre”
Trong thơ Nguyễn Duy, “cây tre” là biểu tượng cho tâm hồn, khí phách, dân tộc Việt Nam Cây tre còn là biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất, anh dũng… Nó xuất hiện khá nhiều trong những tác phẩm văn học, từ những câu truyện truyền thuyết, cổ tích cho đến những tác phẩm văn chương hiện đại
Trang 21“Biểu tượng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực "phi lý" đồng
thời lại là phương tiện để khái quát về một giá trị, một ý nghĩa nào đó của hiện thực Điều đó nói lên biểu tượng khi thì tách xa, khi thì xích lại gần với hình tượng nghệ thuật, nhiều khi nó lại có những nét và những thuộc tính của hình tượng nghệ thuật Và, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, hình tượng nghệ thuật sẽ trở thành biểu tượng
Biểu tượng không chỉ biểu thị một sự việc nó đã hoàn thành, mà còn biểu thị cái đang phát triển Nó không chỉ biểu thị mặt bảo thủ, mà còn biểu thị mặt năng động của cuộc sống
Ví dụ: "ngọn đuốc" tượng trưng cho sự khai sáng, tiến bộ; "cờ đỏ" tượng
trưng cho cách mạng Trong các tác phẩm nghệ thuật có giá trị và nổi tiếng, chúng ta thường hay gặp những biểu tượng biểu thị cho sự tiến bộ, phản kháng
sự lạc hậu hoặc mang ý nghĩa khẳng định công lý và chủ nghĩa nhân đạo, trong
đó tập trung những tình cảm và ước vọng cao
1.2 Tác giả Tản Đà
1.2.1 Nhà nho tài tử sống trong thời hiện đại
Tản Đà là biệt hiệu tên ghép của núi Tản và sông Đà, tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà báo “có
một không hai” trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20 Tản Đà nổi lên như một
biểu tượng vừa độc đáo, vừa khác biệt, vừa dồi dào năng lực sáng tác
Tản Đà sinh ra trong một gia đình truyền thống khoa bảng, cha là Nguyễn Danh Kế, thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh Mẹ là Lưu Thị Hiền, có nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm, là một đào hát tài hoa ở Hàng Thao, Nam Định Bà là người hát hay, có tài làm thơ Nôm
Về sau ông Kế lấy bà về làm vợ lẽ khi ông làm Phú Xuân Trường
Biến cố, sóng gió bắt đầu xuất hiện khi Tản Đà lên 3 tuổi thì cha mất, mẹ
bỏ đi Về sau chị ruột cũng theo nghề mẹ… Tất cả những sự kiện đó đã để lại
dấu ấn khó phai trong tâm hồn Tản Đà, hấp thu nền nho giáo từ nhỏ và rồi từ
Trang 22đây, cuộc đời ông là những vết trượt dài đầy đau khổ và đắng cay trong trường đời và tình đời
Năm 1913, người anh cả nuôi của Tản Đà mất, ông về Vĩnh Phú làm báo, công tác cho “Đông Dương tạp chí” Cũng từ đây ông cho ra đời nhiều tác
phẩm, nhiều cuốn sách hay, gây được nhiều tiếng vang lớn
Tản Đà sinh ra trong thời kì xã hội loạn lạc, đất nước bị chiếm đóng, nhân dân khổ cực lầm than, triều đình phong kiến bất lực Thực dân Pháp sau khi tiến hành càn quét, xâm lược chúng bắt đầu tiến hành công cuộc cai trị đất nước trên tất cả mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Hàng triệu linh hồn Việt bị chà đạp, bị nhốt chặt trong guồng máy cai trị của chúng Trên lĩnh vực văn hóa, chúng tiến hành đem học thuật phương Tây gieo rắc, phổ
biến vào toàn thể đồng bào, dân tộc Việt để phục vụ cho việc cai trị cũng như củng cố thế đứng vững chắc, đồng thời làm mai một đi nền văn hóa truyền thốn
của dân tộc Việt Nam ta Hồn thể của Tản Đà đã thầm nhuần, hấp thu nền nho
học Đông phương từ nhỏ, nhưng trong thời kì loạn lạc, giao tranh chữ quốc ngữ ngày càng được phổ biến trong xã hội Ra đời và lớn lên là một nhà nho phong kiến quý tộc nối đời khoa bảng, là sinh đệ tử của Khổng - Mạnh, Tản Đà là một nhà nho đích thực Nhà nho ấy lại sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, một thời
kỳ quá độ của xã hội Việt Nam Đó là một tấm thảm kịch của Tản Đà, là nguồn
gốc của những mâu thuẫn nội tâm giằng xé trong con người ông
Trong hoàn cảnh hiện tại, Tản Đà cực kỳ nhạy bén, ông cho rằng không thể cứ mãi theo đuổi lối văn chương kiểu “chi, hồ, giả, dã” được Tản Đà cũng như những tri thức buổi giao thời hiểu sâu sắc rằng, muốn đánh đuổi Pháp, trước hết phải học Pháp, mà cái cần học đầu tiên là chữ quốc ngữ Do đó, không có gì ngạc nhiên khi một nhà nho theo lối học cử nghiệp, vốn quen thuộc với văn, sách, thơ, phú, thơ luật Đường…như Tản Đà lại có thể dễ dàng hòa
nhập với những tri thức mới mẻ của nên văn hóa phương Tây và chữ quốc ngữ
Tản Đà là người đầu tiên trong Việt Nam sử dụng hình thức thơ mới thích hợp
Trang 23với nội dung của thời đại Thế nhưng, ông cũng đã vội lùi bước về vị trí của giai cấp mình, nhiệt thành chấn hưng Khổng học, đề cao lễ giáo phong kiến Ông viết văn xuôi rất hay, sắc sảo, nhuần nhuyễn Văn xuôi Tản Đà đã đề cập nhiều vấn đề của xã hội đương đại bằng một lối văn giàu tính nghệ thuật, hấp
dẫn, sáng tạo, mới mẻ có bản lĩnh
Trong lĩnh vực thơ ca cũng vậy, các sáng tác của ông mang lại bản sắc riêng, độc đáo, không lẫn vào đâu được Chính Xuân Diệu cũng đã từng viết “
Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”, (báo Ngày
nhiều tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn vượt qua ngoài khuôn khổ sáo cũ Trong các sáng tác của mình, Tản Đà luôn hướng theo một phong cách riêng
“Chẳng lề chẳng lối cũng văn chương” Tản Đà luôn trong một tư thế ngông nghênh, kiêu ngạo, phá phách muốn thoát khỏi những định luật, định kiến gò
bó, khuôn sáo của xã hội
“Tản Đà là một nhà nho, nhưng không phải loại nhà nho chính thống
hành đạo, ẩn dật Ông là nhà nho tài tử, nhà nho tài tử sống trong môi trường khác, xã hội tư sản” [11, tr.439]
Là một nhà nho sống trong thời hiện đại, có những tư tưởng cách tân trong thơ ca của mình, thế nhưng ông vẫn giữ được những tư tưởng của một nhà nho Thơ ông có sự cách tân nhưng chưa đi quá giới hạn của mình, bởi cho
dù là nhà nho sống trong thời hiện đại, nhưng cốt lõi ông vẫn là một nhà nho
chân chính “Là nhà nho, cho dẫu là nhà nho tài tử, Tản Đà thật không đủ can
đảm để sống và viết về những cảm giác mạnh như Xuân Diệu Đó không chỉ là cái ngưỡng của ông, đó cũng là cái ngưỡng của tất cả những người “nặng cân” đạo lý nho giáo như ông Trước hết là và chủ yếu là những giới hạn về nội dung thể hiện đã giữ Tản Đà lại Để rồi bị “xâu” vào chuỗi của những
“con cóc Nghè” [11, tr.489]
Trang 24Rõ ràng trong thời điểm đó, các nhà nho thường viết theo những chuẩn mực, quy phạm đã định sẵn, chứ ít ai dám vượt qua mọi khuôn khổ, rào cản để thể hiện một phong cách riêng mình Chính cái sự mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ ấy đã tạo nên một giọng phóng túng riêng trong phong cách thơ
của Tản Đà.Tản Đà đã đem vào trong các tác phẩm của mình một cái tôi cá nhân với một phong cách độc đáo, tuy chưa phải một nhà thơ mới như các nhà thơ mới lớp sau ông, nhưng đã tạo nên một dấu ấn lớn cho nền văn học Việt Nam hiện đại
1.2.2 T ản Đà - Nhà nho lãng mạn giữa hai thế kỷ
Tản Đà đến với văn chương ở thời buổi cũ mới giao nhau Tản Đà làm thơ, viết văn như cho chính mình, thể hiện bản thân mình Ông có thể bất đắc chí về danh phận, nhưng lại đắc ý về tài năng: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất”,
và đắc ý về phong cách làm thơ: “ Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng”
Tản Đà vốn mang một cốt cách lãng mạn Tính chất lãng mạn trong thơ
Tản Đà mang đậm dấu ấn của buổi giao thời đầy biến động, rối ren và phức tạp
Là một nhà văn thành thị, Tản Đà rất gần gũi với hình ảnh nhà văn tiểu tư sản nhưng chưa được “tư sản hóa” Ở trong hình ảnh nhà văn trí thức tiểu tư sản vẫn còn mang phong cách của một nhà nho Trong thời buổi cũ mới giao tranh,
xã hội loạn lạc nhiều nhà văn tư sản lãng mạn đã quay lưng với cuộc sống, xa
rời thực tại, không còn màng đến những biến động trong xã hội Đó chính là
những tư tưởng lãng mạn tiêu cực, trốn tránh trách nhiệm, biểu lộ sự bế tắc của
cá nhân Còn với Tản Đà, dường như cái lãng mạn có phần khác với các nhà nho thời xưa Đã đành, ông cũng không phải là nhà nho gặp thời, cuộc sống bất
hạnh, nghèo khổ, con đường công danh dang dở, đường tình duyên lận đận… Nhưng ông không ngồi thở than cùng mây, núi, trăng, hoa, gió, không sống một cuộc đời ẩn dật Điều đó được thể hiện rất rõ trong Giấc mộng con I,II, Giấc
Trang 25Dù có chán chường với cuộc sống hiện tại, nhưng ông cũng không bao
giờ tỏ thái độ chán đời mà luôn có thái độ ham sống: “Ai đã đâu hay tớ chán
đời/ Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi” (Còn chơi)
Tuy nhiên, sâu thẳm trong nội tâm của ông cũng có hai mâu thuẫn giằng
xé, một mặt là muốn gánh vác trách nhiệm với đời, mặt khác lại chán chường
muốn rời đi Trong con người Tản Đà nhiều ước mộng, lắm khát khao cháy
bỏng luôn thôi thúc ông bước đi, nhưng đôi khi lại “tỉnh mộng” bởi trách nhiệm
của nhà nho trước thời cuộc Hai trạng thái đó luôn song hành với nhau trong chính một con người, tuy nhiên cái trách nhiệm với cuộc đời luôn chiến thắng Chính vì vậy mà dù có tư tưởng lãng mạn nhưng lại không thoát ly với thực tại
Dù có phiêu du, xê dịch đi khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ hay bay lên trời tâm sự cùng với các vị tiên, thánh nhân hay mỹ nhân, có chăng cũng chỉ là để tìm cách giải thoát cho tâm hồn của mình Phải “mộng” thì mới tỉnh để nhìn
nhận hiện thực, cuộc sống một cách sâu sắc, đúng đắn Thế nên khó có thể nói
rằng Tản Đà đi vào cõi mộng để thoát ly thực tại hay để bày tỏ tâm sự gắn bó
với cuộc đời, đất nước
Nếu thoát lý và lãng mạn là biểu tượng của một cơn khủng hoảng tinh thần lớn, là những dấu hiệu đổ vỡ của cả một quốc gia liên hệ với mọi tầng lớp đến nhiều thế hệ, thì đến thế kỷ này, người Việt mới thực thấu đáo ngán ngẩm trong nỗi buồn sầu đi sâu trong sự lãng mạn và thoát ly Tản Đà đã hình dung đầy đủ cho hồn lãng mạn và sự thoát ly sâu sắc này Trong những giấc mộng kia, ông gặp nào Khổng Tử, nào Giêsu, nào Thích Ca, nào Lư Thoa, nào Voltaire, nào Hàn Thuyên, nào Nguyễn Trãi, nào Đoàn Thị Điểm… cốt ý để giãi bày tư tưởng của ông, những ý tưởng mà ông cho là hạng người trần gian
hạ giới không sao cảm thông và thưởng thức được… “Kế tục Tản Đà, những nhà thơ lãng mạn lớp sau như Thế Lữ cũng đã đi vào cái cảnh giới thần tiên, nghe lại cái “tiếng sáo Thiên Thai”, và dõi tìm theo những vẻ đẹp thoáng qua, hay Xuân Diệu, Huy Cận đã vẽ lại một thời xưa hoa lá thơm tho, chim kêu suối
Trang 26chảy tháng năm lờ lững trong Gởi hương cho gió, Lửa thiêng…”[11, tr 336]
Tuy là một nhà thơ lãng mạn nhưng ông không hề quay lưng với thực tại Điều này khác với những nhà nho “lãng mạn thuần túy” Khi chán nản với cuộc sống hiện tại, các nhà nho không gặp thời thường rũ bỏ trách nhiệm hoàn toàn, thoát ly khỏi thực tại bế tắc Nhưng với một tinh thần trách nhiệm, Tản Đà luôn quan tâm đến những vấn đề của xã hội, những kiếp đời lao khổ, nhìn cuộc đời
với đôi mắt đầy chân thực Qua đó thể hiện cả tình yêu quê hương đất nước, dân tộc mình Đẹp nhất, giàu hình ảnh nhất, và biểu trưng cho sự lãng mạn của Tản Đà là các bài thơ Tống biệt, Thề non nước Trong nghề thơ có ba điều khó
nhất: Tả cái vô hình, tả cái bất động, tả cái tối mù; thì Tản Đà làm được: Tả cái
vô hình trong bài Tống biệt, và cái bất động với bài Thề non nước, đây là một
trong hai bài thơ hay nhất của Tản Đà, biểu lộ tài năng của một thi sĩ lãng mạn
mà không xa rời cuộc sống
1.3 Khái quát về biểu tượng trong thơ Tản Đà
Tản Đà là một nhà nho tài tử sống trong một xã hội mà văn học đang chuyển hóa từ mô hình văn học trung đại sang hiện đại, thế nên ta bắt gặp trong thơ ông một cái ngông nghênh ngạo nghễ của một cái tôi cá nhân Nhưng ta lại vẫn thấy ẩn sau trong cái ngông đó là một tâm hồn yêu nước, nặng tình nặng nghĩa sâu sắc với non sông, thiên nhiên, đất nước, con người Chính vì lẽ đó, bên cạnh những bài thơ bộc lộ cái ngông của một đấng quân tử trước thời buổi giao thoa giữa cái cũ và cái mới, ta vẫn thấy được vẻ đẹp của quê hương, của dân tộc mình, và nó được nhắc đi nhắc lại khá nhiều trong những trang thơ của ông Dưới ngòi bút đó không chỉ gợi lên cho ta những hình ảnh gần gũi của thiên nhiên, của đất nước mà sau những hình ảnh đấy ẩn chứa một tình yêu nước sâu sắc và một nỗi buồn vô hạn của một nhà nho yêu nước đương thời đang lâm nguy trong cảnh nước mất nhà tan Vì vậy, những hình ảnh đó đã được nâng lên một mức độ cao hơn, dần trở thành những biểu tượng nổi bật, tiêu biểu trong thơ ông
Trang 27Là một nhà thơ yêu thích chủ nghĩa ‘xê dịch”, khắp mọi miền tổ quốc
hầu như nơi nào cũng in dấu bước chân của ông Vì vậy, trong thơ ông ta thấy
có rất nhiều địa danh gắn với lịch sử của nước nhà Những hình ảnh về thiên nhiên, cảnh đẹp, con người cũng được ông nhắc đến nhiều lần trong thơ với
một nỗi niềm tâm trạng mà khó giãi, tâm sự cùng ai Hình ảnh những người
phụ nữ lam lũ, tảo tần nuôi chồng nuôi con, hi sinh cả nhan sắc, thanh xuân của mình đã trở thành một biểu tượng đẹp cho người phụ nữ Việt Nam chịu thương
chịu khó Hay những hình ảnh con cò, con thuyền, hình ảnh hoa sen, dòng sông được lặp lại với tần suất khá lớn trong thơ Tản Đà là những hình ảnh đặc trưng của nông thôn Việt Nam góp phần làm cho tâm hồn người đọc trở nên phong phú hơn về phong tục tập quán, sinh hoạt của nhiều vùng miền tổ quốc, qua đó củng cố thêm tình yêu nước sâu sắc của độc giả
Trong thơ Tản Đà có rất nhiều biểu tượng được lặp lại với tần suất khá
lớn, tuy nhiên khi đi vào khảo sát chúng tôi nhận thấy có những biểu tượng nổi
bật, tiêu biểu xuất hiện trong thơ
Qua quá trình khảo sát những bài thơ của Tản Đà, bên cạnh những bài thơ nói về đề tài tình yêu, người phụ nữ, về chính bản thân mình thì đa số những bài thơ của ông thường hướng về đề tài non sông, quê hương, đất nước
Những biểu tượng chúng tôi đề cập đến rất gần gũi, quen thuộc nhưng đồng
thời nó cũng được lặp đi lặp lại với tần xuất khá lớn trong thơ và mang một ý nghĩa nhất định
Đất là một biểu tượng được nhắc đến khá nhiều trong thơ Tản Đà, gợi cho ta hiện thân về tình yêu thương bao la, hiền hòa của đất mẹ, tại nơi này,
những thực thể vươn lên để lan tỏa sức sống mãnh liệt, được thể hiện chính mình, được thể hiện cảm xúc, niềm vui và được trải nghiệm cả những buồn đau của cuộc sống hiện thực Để rồi, cuối cùng khi không còn bám trụ lại được trên cõi đời này nữa, nó sẽ vụt tắt, sẽ héo rũ đi, khi đó đất mẹ bao dung, thương yêu
lại dang cánh tay ra để đón nó vào lòng Đất là một biểu tượng rất hay và mang
Trang 28một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, bên cạnh đó biểu tượng này còn có những biến
thể riêng góp phần tạo nên sự sinh động, hấp dẫn khi đi khám phá, nghiên cứu
biểu tượng này
Trong những trang thơ của Tản Đà, khi đi vào phân tích, nghiên cứu, khám phá, chúng ta sẽ thấy được một biểu tượng có sức ảnh hưởng khá lớn là
biểu tượng Trời Nó biểu hiện cho cái ngông nghênh, kiêu ngạo của một cái tôi
cá nhân, vừa phản ánh xã hội đương thời, coi văn chương chỉ là một thứ hàng hóa để mua đi bán lại chứ không hề được trân trọng, nâng niu, để thưởng thức
và cảm thụ nó Thông qua biểu tượng này, ta ngậm ngùi thương cảm cho những thân phận trí thức nghèo giao thời phải chấp nhận thức văn chương hàng hóa
chứ không được coi đó là một tác phẩm nghệ thuật
Bên cạnh đó, nổi bật lên đó là biểu tượng Nước – biểu tượng cho nguồn sống, cho sức sống đang tuôn chảy không bao giờ cạn kiệt Hay đó là biểu tượng Dư đồ, một biểu tượng nói lên cảnh nước mất nhà tan và sự dửng dưng
của những thế hệ thanh niên chỉ biết chạy theo những thú vui của cuộc sống mà quên mất nhiệm vụ chính của mình Tất cả những điều đó được thể hiện rất rõ qua những bài thơ chất chứa đầy tâm sự của Tản Đà
Những biểu tượng trên mang một ý nghĩa sâu xa, mang một giá trị văn hóa và giá trị lịch sử dân tộc Do đó, qua khảo sát, chúng tôi phát hiện, tra cứu
và chọn lọc ra những biểu tượng tiêu biểu nhất để nghiên cứu đó là những biểu
tượng Trời, Đất, Nước, Dư đồ (có mục lục kèm theo)
Những biểu tượng đó góp phần quan trọng trong việc thể hiện tình cảm
của nhà thơ đối với quê hương, đất nước vừa mang ý nghĩa sâu xa khác được
thể hiện trên những trang viết của Tản Đà
Trang 30Chương 2
2.1 Bi ểu tượng Nước
2.1 1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng
Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier ý nghĩa
tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh Ba chủ đề này thường gặp trong những truyền thuyết cổ xưa nhất và hình thành những tổ hợp đa dạng nhất và đồng thời cũng chặt chẽ nhất
Nước là khối vật chất chưa phân hóa, là hình tượng của số lượng vô cùng
lớn của những khả năng diễn biến, chứa đựng cái tiềm tàng, cái phi hình, cái mầm mống của mọi mầm mống, tất cả mọi hứa hẹn về sự phát triển, nhưng cũng chứa đựng mọi mối đe dọa bị tiêu tan Đầm mình trong nước để rồi lại đi
ra mà không tự hòa tan hết vào trong đó, trừ khi do một cái chết tượng trưng,
đó là trở về nguồn cội, tự tiếp nguồn cho mình trong một kho dự trữ tiềm năng rộng mênh mông và lấy ở đó một sức mạnh mới: là một bước thoát lui và tan rã nhất thời, tạo tiền đề cho một bước tiến lên để tái thống hợp và tái sinh
Trong kinh Vệ Đà ca ngợi những dòng nước mang lại sự sống, sức mạnh
và sự thanh khiết về mặt tinh thần cũng như về mặt thể xác:
Hỡi những Dòng nước hồi sức cho đời,
…Hỡi những Dòng nước, nữ chúa của những điều kỳ diệu,
…Hỡi những Dòng nước, hãy ban cho phương thuốc
đầy đủ tính năng toàn vẹn
để trở thành một tấm áo giáp bảo vệ con người tôi,
Trang 31v à nhờ đó tôi được nhìn lâu dài ánh sáng mặt trời!
…Hỡi những Dòng nước, xin hãy cuốn đi
cái điều không hay mà tôi đã gây ra cho ai đó, câu thề nguyện dối trá mà tôi đã thốt ra
(Bản dịch của Jean Varenne, VEDV 137) Trong những nền văn hóa khác nhau, có những biến thể về các chủ đề chính yếu này, giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đi sâu hơn vào những tầm cỡ và những sắc thái trong ý nghĩa tượng trưng của nước, trên một cơ sở gần như đồng nhất
Tại châu Á, nước là một dạng thức thực thể của thế giới, là nguồn gốc sự
sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng sinh sôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh
Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hòa tan; nhưng chất lỏng thuần nhất, nó
có khuynh hướng liên kết và đông tụ
Người Trung Hoa nói nước là wouki (Vô cực) là cái Không có Đỉnh, là
trạng thái hỗn mang không phân định ở thời nguyên thủy Những dạng nước tiêu biểu cho toàn bộ mọi khả năng của Bản Thể, chia tách thành Nước thượng đẳng (trên trời) tương ứng với những khả năng phi hình và Nước hạ đẳng (dưới đất) tương ứng với các khả năng hữu hình
Nước là nguồn gốc và phương tiện chuyển tải sự sống; Về mặt thể chất
và cũng do nước cũng là một thứ trời cho, nước được coi là một biểu tượng phổ
biến về sự phì nhiêu và khả năng sinh sản dồi dào Người dân miền núi ở Nam Việt Nam nói là nước của trời làm ra thóc lúa; họ cũng rất coi trọng chức năng tái sinh của nước, đối với họ, nước là vị thuốc và là đồ uống trường sinh bất tử
Nước còn có công dụng là công cụ thanh tẩy theo nghi lễ, từ trong đạo
Hồi cho tới ở Nhật Bản, cũng như trong các nghi lễ của thầy phù thủy Tại Ấn
Độ và khắp Đông Nam Á, lễ tắm cho các tượng thánh và các tín đồ (đặc biệt là vào dịp năm mới) vừa là việc tẩy uế vừa nhằm tái tạo sự sống
Trang 32Nước thuộc âm, đối lập với lửa Nước tương ứng với phương Bắc, với cái lạnh, với ngày đông chí, với thận, với màu đen, với quẻ khảm (quẻ này là
vực thẳm của biển)
Trong truyền thống Do Thái và Kito giáo, nước trước tiên tượng trưng cho khởi đầu cuộc sáng tạo thế giới Chữ cái tiếng hêbrơ men tượng trưng cho nước cảm tính: đây là người mẹ và tử cung Là nguồn gốc của muôn vật, nước biểu hiện cho cái siêu tại và do đó phải được coi là một dạng thần hiện
Nước đã có tính năng thanh tẩy lại còn có thêm một năng lực cứu sinh
Việc dìm xuống nước có tác dụng tái sinh, làm cho con người ra đời một lần nữa, theo ý nghĩa của nước vừa là sự chết vừa là sự sống Nước xóa hết lịch sử
vì nó khôi phục con người trong một trạng thái mới Việc dìm mình trong nước
ví như việc chọn Chúa Kitô xuống mộ: sau khi bị hạ xuống dưới lòng đất, Chúa
phản đối việc thờ bái các nguồn nước; lòng sùng tín trong dân gian xưa nay vẫn coi trọng giá trị thiêng liêng và thiêng liêng hóa của nước Nhưng những hướng
đi lệch lạc của các tôn giáo đa thần và việc quay trở lại những điều mê tín dị đoan đã luôn đe dọa: Cái ma thuật rình rập cái thiêng liêng để làm cho nó suy thoái trong tâm tưởng của con người
Nhưng nước có thể tàn phá và nhấn chìm, nuốt chửng, những cơn lốc
hủy hoại những cánh đồng nhỏ đang ra hoa Vậy là, nước có thể có thể có một sức mạnh gây tác hại Trong trường hợp đó, nước trừng trị những kẻ có tội, nhưng không thể làm hại những người chính trực, những dòng nước đó hóa
Trang 33thành nước của sự sống Cũng giống như lửa, nước cũng có thể dung làm một phương tiện thử tội Nước không phân xử mà những vật ném xuống nước tự phán xử
Nước mưa - nước biển là biểu tượng của đối tính trên cao và dưới thấp, nước mưa thanh khiết, nước biển mặn Biểu tượng của sự sống: nước thanh khiết có vai trò tạo dựng và thanh tẩy; nước mặn chát mang lại lời nguyền Những dòng sông có thể mang lại lợi ích, hoặc là nơi ẩn náu của những loài quái vật Những dòng nước cuộn sóng mang ý nghĩa của cái ác, sự hỗn độn
Những dòng nước lặng mang ý nghĩa về sự bình yên và trật tự Trong folklore
Do Thái, khi tạo ra thế giới, Chúa Trời đã phân chia ra các dòng nước thượng đẳng và hạ đẳng, chia thành nước dương và nước âm, tượng trưng cho sự yên lành, giống đực và giống cái, như vậy là, có cùng nội dung với hệ biểu trưng phổ biến
Nước mặn chát của đại dương là biểu tượng của nỗi khổ tâm Richard de Saint - Victor sau này nói rằng con người phải đi qua những dòng nước chát đắng, khi đã ý thức được vì cảnh khốn cùng của mình, nỗi cay đắng thánh thiện, đó sẽ hóa thành niềm hoan lạc Nước trong đại dương là Tinh chất thiêng liêng Nước này có đầy khắp trong vũ trụ và các ngọn sóng là những vật được
tạo ra
Vả lại, nước còn tượng trưng cho tính thanh khiết và được dung làm phương tiện tẩy uế Lời nguyện cầu theo nghi thức của đạo Hồi chỉ được coi như thực hiện đúng phép khi người cầu nguyện đã tắm gội sạch sẽ theo nghi
thức, bao gồm nhiều quy tắc tỉ mỉ
Cuối cùng nước tượng trưng cho sự sống: nước hồi sinh mà con người tìm được trong cõi tối tăm có tính năng làm sống lại Trong truyền thuyết thần bí của Đạo Hồi, nhất là ở Iran, luôn luôn nhắc lại chủ đề này Trong những huyền thoại
về Alexandre đi tìm Nguồn nước sống, có người đầu bếp là Andras ra suối rửa
một con cá ướp muối, thấy cá sống lại và Alexandre cũng trở thành bất tử
Trang 34Nước tù đọng, dịch tương của đất từ đó sự sống nảy sinh, cũng được nói đến trong nhiều huyền thoại về công cuộc sáng thế Theo một số truyền thuyết
của người Tuyết ở Trung Á, nước là mẹ của loài ngựa Trong truyền thuyết gốc
vũ trụ của người xứ Babylonie, khởi đầu mọi sự, khi đó còn chưa có trời đất,
mà chỉ có một thứ vật chất chưa phân hóa trải rộng mãi mãi, đó là những vùng đất nguyên sơ…
Cũng như trong những truyền thuyết trên đây, một đỉnh phù sa nhô lên
khỏi mặt nước là hình ảnh thường thấy trong những truyện thần thoại Ai Cập Một đóa hoa sen lớn lên từ những vùng đất nguyên sơ, đó là cái nôi của mặt
trời vào buổi sáng đầu tiên
Từ những biểu tượng cổ xưa coi nước là nguồn thụ tinh cho đất và sinh
ra những cư dân trên mặt đất, chúng ta có thể quay trở lại với những biểu hiện phân tâm học của nước, được coi như là nguồn thụ tinh cho tâm hồn: sông nhỏ, sông lớn, biển là hình tượng của đời người và của những biến động của những ước muốn và cảm xúc
Nước là biểu tượng của những năng lượng vô thức, của những sức mạnh không định hình của tâm hồn, của những động cơ thầm kín và không cảm nhận thấy
Như vậy có thể thấy trong từ điển, nước được quy vào ba phương diện chính: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy và trung tâm tái sinh Mỗi quốc gia,
mỗi khu vực lại có một cách nhìn nhận khác nhau về ý nghĩa của nguồn nước, điều đó được thể hiện rất rõ trong quan điểm, trong phong tục tập quán, trong sinh hoạt, văn hóa của họ Vậy khi đi vào trong thơ ca, liệu ý nghĩa của Nước còn giữ được giá trị nguyên bản của nó không hay lại có cách hiểu, có những ý nghĩa khác, ta sẽ đi tìm hiểu một số bài thơ của Tản Đà
2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng Nước trong thơ Tản Đà
Nước là một trong bốn biểu tượng mà chúng tôi đưa vào khảo sát trong thơ Tản Đà Với tần số xuất hiện 198 lần cho thấy nước chiếm một vị trí khá
Trang 35quan trọng trong thơ ông Tuy nhiên từ ý nghĩa biểu tượng gốc khi đi vào trong thơ nó có sự biến thể như thế nào ta sẽ đi nghiên cứu vào một số bài thơ cụ thể
Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
Đá hỏm hang đen tối tối mò
Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho
(Chơi chùa Hương Tích) Bài thơ hiện lên là hình ảnh chùa Hương Tích như một bức tranh mùa thu thật đẹp và thơ mộng Thời gian cứ trôi đi, xuân đến rồi lại đi không để lại
một chút dấu vết Khách đến thăm cảnh chùa vẫn còn vấn vương cảnh cũ, nơi
đây dòng nước tuôn trong vắt, với những hang đá đen tối tối mò gợi cho khách
vãn cảnh biết bao điều bí ẩn vẫn còn muốn khám phá Dòng nước ở đây như là nguồn sống vẫn tuôn chảy muôn đời, đem lại sức sống cho nơi cảnh chùa yên tịnh này Tuy nhiên trong những câu thơ “Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt”,
“Đá hỏm hang đen tối tối mò” của Tản Đà lại làm cho người ta nhớ đến những câu thơ của Hồ Xuân Hương “Nước trong leo lẻo một dòng thông”, “Xoi ra
một lỗ hỏm hòm hom” Có thể thấy rằng thơ Tản Đà cũng chịu sức ảnh hưởng của thơ Hồ Xuân Hương Mặc dù những câu thơ của Tản Đà có một ý nghĩa sâu xa hơn hay chỉ miêu tả cảnh sắc chùa Hương, nhưng người đọc cũng nhận
thấy được phong cảnh hữu tình của non nước
Hình ảnh thiên nhiên, con đường cũ hiện lên với bao nhiêu kỉ niệm, cảnh vật vật vẫn nguyên vẹn nhưng người xưa nay còn đâu?
Này con đường cũ chỗ này đây
Trang 36C ảnh vật còn nguyên sông với núi
Người như hơi lạ nước cùng mây
Núi cao sông rộng là quê quán
Nước chảy mây bay mấy tháng ngày
Đường đi vô hạn khách đông tây
(Chơi con đường cũ) Hình ảnh con đường cũ, khúc sông, đỉnh núi…tất cả hiện lên gợi cho lòng người biết bao nhiêu cảm xúc bồi hồi, xúc động Thời gian thắm thoắt đưa thoi, sau bao năm quay trở lại đây cảnh vật vẫn như cũ Cảnh vật vẫn như cũ, người vẫn như xưa nhưng con đường đó lại trở nên dài ra, xa hơn với những dòng người xuôi ngược khắp nơi Chỉ có mây vẫn bay, dòng nước là vẫn chảy trôi theo thời gian, vẫn đem lại sức sống cho nơi này…
Ngày xuân uống rượu ngâm thơ là một thú vui tao nhã của thi sĩ Tản Đà,
cuộc sống sẽ nhàm chán biết bao nếu như không có thơ, không có rượu:
Không thơ không rượu sống như thừa
Công danh hai chữ mùi men nhạt
(Ngày xuân thơ rượu)
Cuộc đời của thi sĩ đã là một nỗi niềm bất hạnh, từ gia thế, tình yêu đến
sự nghiệp vẫn còn dang dở Mọi thứ diễn ra đều không suôn sẻ, thuận lợi Có lẽ
tất cả những nỗi niềm đó Tản Đà không biết san sẻ cùng ai, chỉ mượn ngòi bút
và trang giấy để trải niềm tâm sự Công danh, sự nghiệp như một nét mực mờ, mùi men nhạt đầy cay đắng Hình ảnh quê hương, đất nước lại hiện lên trong cơn say của nhà thơ:
Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ
Trang 37Còn thơ còn rượu còn xuân mãi
Còn mãi xuân còn rượu với thơ
(Ngày xuân thơ rượu) Núi Tản sông Đà được biết nhà thơ nhắc đến với một tình yêu quê hương, non sông tha thiết Chính vì thế mà thi sĩ đã lấy bút danh là Tản Đà Dù
có xa quê hương, xa nơi thân thuộc gần gũi nhưng cảnh vật nơi đó vẫn mãi hiện
hữu trong tâm hồn thơ mộng của người thi sĩ Mạch nước sông Đà vẫn chảy
trôi cùng năm tháng, ngàn mây núi Tản vẫn in hình trong đôi mắt lơ mơ Mạch
nước đó như một nguồn sống, một thực thể ngàn năm cứ tuôn trào ra mãi Nay trong dịp uống rượu mùa xuân quê hương lại hiện lên trong những trang thơ
Tản Đà với một nỗi nhớ thương thầm lặng
Hãy cùng ngó qua bóng dáng của Núi Tản sông Đà trong thơ ông thêm:
Con đường vô ngạn khách đông tây,
Nước dợn sông Đà con cá nhảy,
Mây trùm non Tản cái diều bay
(Quê nhà chơi mát cảm hứng) Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ được hiện lên trong thơ ca của ông
rất nhiều lần Thượng Khê là nơi gắn bó với cuộc đời của Tản Đà, vừa là nơi mạch nguồn gợi trong lòng ông biết bao nhiêu cảm xúc Bài thơ Tản Đà viết về quê hương mình, nhưng ẩn sâu trong đó là nói đến nỗi băn khoăn, nỗi cô đơn
của mình Là một con người có hoài bão, có ước mơ lớn, muốn mang trong mình trọng trách gánh vác cuộc đời nhưng đến giờ vẫn chưa làm được gì:
Cao đến ông trời khó với thay!
Có lẽ khi nhìn thấy dòng nước sông Đà chảy trôi bao la vô tận với
những ảnh con cá trên sông một cách tự do, thỏa sức vùng vẫy, cánh diều
Trang 38bay trên đỉnh núi vi vu cùng cơn gió… Chính cái sự bay, nhảy của thiên nhiên ấy đã làm cho cái khối tình chứa đầy tâm sự chất chứa trong lòng bấy lâu nay của nhà thơ bùng lên, muốn thoát ra ngoài Tản Đà nhìn cảnh mà nghĩ đến mình, nghĩ đến cuộc đời thăng trầm của mình chứ đôi khi không
phải là chỉ để vịnh cảnh
Cuộc đời dù có nhiều biến đổi, nhưng những nguồn nước ấy qua năm tháng vẫn chảy trôi như một nguồn sống bất tận:
Rung rinh nước chảy qua (thì) đèo
Đá trơ trơ mãi thì mòn,
…
(Đò đưa) Biểu tượng nước cứ được trở đi trở lại trong thơ Tản Đà như một sự
sống không bao giờ cạn kiệt Cuộc sống vẫn cứ tiếp tục, thời gian vẫn cứ trôi đi mãi Dòng nước này là dòng chảy tự nhiên hay định mệnh đang trôi? Tính chảy trôi của dòng nước đem đến hình dung sắc nét về số phận, cuộc đời con người Mọi thứ theo thời gian có thể thay đổi, nước chảy đá mòn Nhưng khối tình duyên đó dù có thay đổi, có méo mó thì vẫn còn nguyên
vẹn trong trái tim của con người
Biểu tượng nước khi đi vào thơ ca Tản Đà cũng đã có những biến thể, nó vẫn là một dạng của nước nhưng dưới một hình thức khác:
Cùng nong, cùng lá những mong chờ
Cái ruột con tằm bối rối tơ
Thương tình bạn đến cũng buồn như!
Đòi đoạn năm canh bong nguyệt mờ
Trang 39G ớm nỗi không chồng đau đớn lạ
Đố ai đêm vắng dễ mần ngơ
(Cái ruột con tằm, Em ơi, bối rối mà vò tơ) Trong bài thơ là hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm lạnh Hình ảnh
người phụ nữ ấy làm cho ta liên tưởng đến thi sĩ Hồ Xuân Hương Đêm khuya
văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non (Tự tình II) Thời
gian chìm sâu vào trong bóng tối, chỉ có tiếng trống điểm canh nổi bật trong không gian tĩnh mịch ấy Âm thanh dồn dập, gấp gáp ấy như hối thúc vào lòng người Người phụ nữ quá lứa lỡ thì ấy lẻ loi, trơ chọi với một nỗi bẽ bàng buồn
tủi trong không gian rộng lớn mênh mông
Người phụ nữ trong bài thơ Tản Đà cũng trong đêm vắng cô liêu, một mình lẻ bóng Thời gian cứ qua đi chỉ còn lại bóng dáng lẻ loi ấy trong đêm vắng Hình ảnh mưa lạnh ở đây chính là mưa ở trong lòng người Nước mưa biểu hiện cho sự thanh khiết, cho sức sống của vạn vật, cỏ cây hoa lá, cho sức sống trong tâm hồn của con người, nhưng nó lại trở thành lạnh lẽo đến đáng sợ Ruột gan rối bời, bối rối như tơ vò chứng tỏ rằng tâm trạng của người phụ nữ đó đang hoang mang, dao động Hình ảnh đó gợi cho ta một sự thương cảm đến lạ
Cơn mưa như một sự tái sinh cho con người, nó mang lại cho cuộc đời chút dư vị của cuộc sống thêm tươi tắn, đẹp đẽ hơn Nhưng dường như mong một con mưa rào tháng ba trở nên quá khó khăn:
Tháng ba thiên hạ đợi mưa rào
Đợi mãi mưa mà chẳng thấy nao
Văn minh hào nhoáng ếch trông sao
…
(Tháng ba không mưa) Mưa là một biến thể của nước, nó là một vòng tuần hoàn của tự nhiên Nước bốc hơi lên ngưng tụ thành mây, khi tích lũy được cả những điều kiện
Trang 40cần và đủ, mây sẽ lại tạo thành mưa từ trên cao rơi xuống mặt đất Những hạt mưa tinh khiết ấy sẽ chảy về những đầm, hồ, sông, suối, biển tạo thành những
giọt nước trên khắp trái đất này Tuy nhiên, thời tiết không chiều theo lòng người, mong một cơn mưa thanh khiết vào tháng ba quả thật là rất khó Con người cứ trông chờ, đợi mà mãi không có một hạt mưa nào Những hạt mưa đó như nguồn sống của con người, như giải thoát cho con người khỏi những ngột
xã hội đương thời Dù cuộc sống của nhân dân có nghèo khổ, cùng cực nhưng chính quyền vẫn ngoảnh mặt làm ngơ
Trong từ điển nước biểu tượng cho nguồn sống, trung tâm tái sinh và phương tiện thanh tẩy Khi đi vào thơ ca Tản Đà, nước không chỉ mang đúng nghĩa là dòng nước mà có những biến thể riêng của nó Qua khảo sát một số bài thơ của Tản Đà, chúng tôi nhận thấy nước hầu như được coi là nguồn sống của con người, là sự thanh khiết, sự hồi sinh Điều đó góp phần thể hiện những tâm
tư suy nghĩ của tác giả Từ đó chúng tôi đi đến kết luận nước là biểu tượng cho ngu ồn sống
2.2 Bi ểu tượng Giời (Trời)
2.2.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng
Theo T ừ điển biểu tượng văn hóa thế giới [27] thì Trời là một biểu tượng
gần như phổ quát mà qua đó con người thể hiện niềm tin vào một Sinh Linh thần thánh ở trên cao, người sáng tạo ra vũ trụ và bảo đảm cho sự phì nhiêu của đất (bằng những cơn mưa đổ xuống) Những Sinh Linh như thế có tài tiên tri và