L ị ch s ử nghiên cứ u v ấn đề
Nghiên cứu về tác giả Tản Đà đã thu hút nhiều ý kiến đánh giá trái chiều, bao gồm cả nhận xét tích cực và tiêu cực Sự đa dạng trong quan điểm này được thể hiện rõ nét trong cuốn sách "Tản Đà - về tác gia và tác phẩm" của tác giả.
Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Đức Mậu, NXB Giáo Dục, 2003
Tản Đà đã để lại dấu ấn sâu sắc trên văn đàn với tác phẩm "Khối tình con", tạo nên một trào lưu văn học mới được nhiều người ủng hộ, nhờ vào "giọng mới, ý lạ" như Phạm Quỳnh đã nhận xét Tuy nhiên, khi "Giấc mộng con" ra mắt, Phạm Quỳnh đã chỉ trích mạnh mẽ, cho rằng tác phẩm này không chỉ vô ích mà còn có thể gây hại cho đất nước, đồng thời cảnh báo về những tác động tiêu cực của nó.
“cái vạ hư văn từ trước tới nay đã gây ra cái gương vong quốc rồi đó” (Nam
Cũng như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc không cho Giấc mộng con là văn chương, theo ông văn chương phải là “vỏ bọc tư tưởng” ( Nam Phong, số 17)
Tư tưởng cá nhân của Tản Đà, đặc biệt là trong tác phẩm Giấc mộng con, đã vượt qua ranh giới và có phần thái quá so với quan niệm của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Ngọc Điều này lý giải vì sao trong tuyển tập Đào nương ca, những ý tưởng này được thể hiện rõ nét.
Nguyễn Văn Ngọc không tuyển hát nói của Tản Đà, mặc dù hát nói của Tản Đà được nhiều người đương thời thích và tuyển vào sách của họ
Khi Thơ mới ra đời và khẳng định vị thế, Tản Đà trở thành đối tượng bị phê phán về sự lạc hậu Nhóm Tự lực văn đoàn, qua báo Ngày nay, đã chỉ trích Tản Đà một cách châm biếm Đặc biệt, vào năm 1936, Lưu Trọng Lư đã có những lời lẽ khinh miệt đối với tác phẩm của ông, thể hiện qua câu nói “Nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò” trên báo Ngày nay.
Sau khi Tản Đà qua đời vào năm 1939, ông đã được công nhận và đánh giá cao hơn Trước đó, các nhà thơ mới xem ông như một phần của quá khứ, nhưng giờ đây, những đóng góp của Tản Đà cho thơ văn hiện đại đã được khẳng định rõ ràng.
Xuân Diệu đã nhận định rằng Tản Đà là “người mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”, thể hiện sự dám mạo hiểm với cái tôi và cho phép trái tim, linh hồn sống cuộc đời riêng Các tác giả như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan và Khái Hưng đã khắc họa chân dung Tản Đà với những nét cá tính ngang tàng, phóng túng và tài hoa Đến năm 1939, Tản Đà đã được công nhận và ghi nhận trên nhiều phương diện.
Năm 1942, Hoài Thanh, Hoài Chân và Vũ Ngọc Phan đã nhận định rằng Tản Đà là một nhân vật đặc biệt, mang dấu ấn của hai thế kỷ và đã khởi đầu cho một cuộc cách mạng văn học mới mẻ.
Cùng năm đó, Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) đã đưa
Tản Đà được đưa vào chương trình dạy văn trong trường học, thể hiện sự công nhận tài năng của ông Dương Quảng Hàm nhấn mạnh những yếu tố nổi bật như giọng điệu nhẹ nhàng, tinh thần Việt Nam thuần túy và tính cách ngông cuồng đặc trưng của Tản Đà.
Năm 1957, nhóm Lê Quý Đôn trong tác phẩm "Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam" đã nhận định rằng thơ văn Tản Đà phản ánh tâm trạng chung của thời đại khi cách mạng Việt Nam lắng dịu Tản Đà được xem là một tài năng bị chế độ thực dân phong kiến áp bức và bị những ngòi bút tay sai của nó chèn ép.
Cũng trong năm 1957, trong Thơ Tản Đà chọn lọc, Nguyễn Hữu Đang xếp Tản Đà gần với Nguyễn Đình Chiểu, qua các cuộc tranh luận những năm 60,79.
Năm 1974, trong giáo trình (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-
1930) được biên soạn và giảng dạy tại Đại học Tổng hợp, in- rô- nê - ô năm
Năm 1977, Tản Đà được phân loại là nhà nho tài tử, nổi bật với việc kết hợp văn học bác học và văn chương bình dân Ông đã cách tân văn học cổ điển, góp phần hiện đại hóa nền văn học Việt Nam.
Năm 1975, Nguyễn Khắc Xương đã chứng minh chủnghĩa yêu nước của Tản Đà và xếp Tản Đà vào bộ phận văn học yêu nước cùng Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, Nguyễn Thông và Nguyễn Thiện Kê đều nhấn mạnh rằng lòng yêu nước là tiêu chuẩn tối thượng để đánh giá giá trị văn học Do đó, những tác phẩm mang tâm trạng sầu cảm và mộng mị của Tản Đà thường bị xem nhẹ và thành kiến.
Năm 1963, Tầm Dương đã viết bài "Một hiện tượng văn học phức tạp" và đến năm 1964, ông hoàn thiện ý tưởng này trong một công trình nghiên cứu sâu sắc về Tản Đà Công trình này hướng tới việc phân tích một cách toàn diện những mâu thuẫn trong tác phẩm của Tản Đà, đồng thời khảo sát tư tưởng và lý giải các cơ sở xã hội liên quan đến những mâu thuẫn đó trong thơ văn của ông.
Năm 1974, giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
Giáo trình năm 1977 do Trần Đình Hượu biên soạn tại Đại học Tổng hợp đã đặt Tản Đà vào bối cảnh giao thời Đông - Tây, giải quyết các vấn đề về yêu nước, giai cấp, tư tưởng và cải lương Tuy nhiên, vào cuối thập niên 70 và đầu 80, Tản Đà ít được nhắc đến trên báo chí Đến năm 1983, Xuân Diệu trong cuốn "Thơ Tản Đà" đã tiếp tục khẳng định giá trị của tác giả này.
Tản Đà đưa cái tôi cá nhân vào trong văn học
Từ điển văn học [1] tập II xuất bản 1984, Nguyễn Huệ Chi khẳng định
Tản Đà là một hiện tượng độc đáo, đột xuất, là cây bút phóng khoáng, một nhà thơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổđiển và Thơ mới
Năm 1988, kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tản Đà, khoa văn Đại học
Tổng hợp hội thảo khoa học đã khẳng định thêm vị trí cũng như đóng góp của Tản Đà.
Năm 1989, hội nghị Khoa học về Tản Đà do viện Văn học tổ chức tại Hà
Nội đã mở rộng sựquan tâm nhiều mặt về Tản Đà.
Năm 1997, Trần Ngọc Vương đã viết một bài nghiên cứu sâu sắc về Tản Đà trong cuốn "Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung", với tiêu đề "Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong tư tưởng và trong sáng tác của Tản Đà" Mặc dù bài viết được công bố vào năm 1997, nhưng thực tế đã hoàn thành từ năm 1976 dưới sự hướng dẫn của thầy Trần Đình Hượu.
Tản Đà đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều, nhưng tất cả đều công nhận những đóng góp quan trọng của ông trong tiến trình văn học dân tộc và khẳng định vị trí của thi sĩ Tản Đà trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu các tác phẩm thơ của Tản Đà để phân tích những biểu tượng chủ đạo, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp và nghệ thuật độc đáo trong sáng tác của ông Những biểu tượng này không chỉ thể hiện tâm hồn và tình cảm của Tản Đà đối với con người mà còn khắc họa cảnh sắc tươi đẹp của quê hương, non sông, và dân tộc Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc và các trường phổ thông trong việc tìm hiểu, phân tích, và cảm thụ thơ Tản Đà.
Chúng tôi tập trung nghiên cứu "Biểu tượng trong thơ Tản Đà" để khám phá những đặc trưng và cách thể hiện của các biểu tượng, đồng thời tìm hiểu những ý nghĩa sâu sắc và giá trị tiềm ẩn bên trong từng biểu tượng.
Trên cơ sở đó, một lần nữa khẳng định những đóng góp của ông trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc.
Đối tượng nghiên cứ u, ph ạm vi nghiên cứ u
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là "Biểu tượng trong thơ Tản Đà" Chúng tôi sẽ tập trung vào phân tích một số biểu tượng tiêu biểu có ý nghĩa phổ quát, thường xuất hiện và phổ biến trong các tác phẩm của Tản Đà, từ đó làm nổi bật giá trị đích thực của những tác phẩm này Luận văn sẽ nghiên cứu biểu tượng trong thơ Tản Đà dưới cả hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật.
4.2 Ph ạm vi nghiên cứ u
Đề tài luận văn “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” tập trung vào phân tích các sáng tác thơ của Tản Đà, với trọng tâm là 304 bài thơ được tuyển chọn trong tác phẩm Thơ Tản Đà (2012), Nxb Văn học.
Phương pháp nghiên cứ u
Để giải quyết vấn đề của đềtài nêu ra, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đóng góp củ a lu ận văn
Luận văn hướng đến những đóng góp ý nghĩa:
Tiếp cận các tác phẩm thơ Tản Đà qua khía cạnh biểu tượng giúp phân tích và khám phá những giá trị tiềm ẩn mà các biểu tượng này mang lại Qua đó, khẳng định vai trò và những đóng góp quan trọng của Tản Đà trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam.
C ấu trúc củ a lu ận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Những biểu tượng tiêu biểu trong thơ Tản Đà
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Tản Đà
THƠ TẢN ĐÀ VÀ M Ộ T S Ố V ẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN
Bi ểu tượng và khái niệm có liên quan
1.1.1 Bi ểu tượ ng (Symbol)
Biểu tượng là một khái niệm quan trọng đã được nghiên cứu rộng rãi trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam, nơi nhiều nhà nghiên cứu đã khám phá và định nghĩa về nó.
Trong tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ “symbol” được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng…
Theo Từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê, biểu tượng được định nghĩa là hình ảnh tượng trưng, phản ánh nhận thức vượt lên trên cảm giác Biểu tượng là hình ảnh của sự vật mà chúng ta vẫn giữ lại trong tâm trí sau khi tác động của sự vật lên các giác quan đã kết thúc.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi định nghĩa biểu tượng là khái niệm phản ánh một giai đoạn, một hình thức cao hơn của cảm giác, giúp chúng ta lưu giữ hình ảnh của sự vật trong tâm trí ngay cả khi sự tác động của chúng lên giác quan đã kết thúc.
Theo Jean Chevalier trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu chỉ là một quy ước tùy tiện, trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt không có sự liên kết chặt chẽ Ngược lại, biểu tượng thể hiện sự đồng chất giữa hai thành phần này, mang lại một lực năng động tổ chức.
Biểu tượng là hình ảnh phản ánh sự vật và hiện tượng xung quanh, được hình thành từ cảm giác và tri giác đã có trước đó, lưu giữ trong ý thức hoặc tạo ra từ những hình ảnh đã tồn tại Tuy nhiên, biểu tượng không hoàn toàn phản ánh thực tế, vì nó được xây dựng lại sau khi đã trải qua quá trình tri giác Đồng thời, những hình ảnh này cũng không chỉ là kết quả chủ quan từ hoạt động tâm trí của cá nhân.
Biểu tượng không chỉ đơn thuần là hình ảnh; nó cần mang một ý nghĩa sâu sắc và vượt lên trên bề mặt Những hình ảnh này có khả năng khơi gợi giá trị tiềm ẩn mà không phải ai cũng nhận ra ngay lập tức Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần khám phá sâu hơn để cảm nhận được những tầng nghĩa phong phú mà biểu tượng mang lại.
Biểu tượng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, phản ánh quá trình tích lũy kinh nghiệm và hiểu biết của con người từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành Những hình ảnh quen thuộc mà chúng ta gặp hàng ngày thường mang ý nghĩa sâu xa, tùy thuộc vào cách cảm nhận của mỗi người, tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng Các nhà văn thường sử dụng những hình ảnh này trong tác phẩm của họ để truyền tải những suy tư sâu sắc về cuộc sống và con người Khi độc giả tiếp xúc với những hình ảnh này, họ sẽ nhận ra ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm, giúp tác phẩm trở nên sống động và bền vững theo thời gian Bên cạnh đó, trong một thời điểm và xã hội nhất định, có những hình ảnh được cộng đồng công nhận và chứa đựng ý nghĩa sâu sắc, từ đó trở thành biểu tượng chung của cộng đồng đó.
Hoa sen là biểu tượng của sự thanh xuân và tinh khiết đối với người Việt, thể hiện khả năng thích nghi và vươn lên giữa khó khăn Trong khi đó, hoa anh đào ở Nhật Bản đại diện cho cái đẹp và sức sống mãnh liệt, dù mong manh nhưng vẫn kiên cường nở rộ Điều này cho thấy biểu tượng cộng đồng cần được xã hội công nhận và mang ý nghĩa sâu sắc cho cả cộng đồng Qua thời gian và những biến cố lịch sử, những biểu tượng này vẫn giữ vững giá trị và ý nghĩa, khẳng định sự tồn tại bền bỉ của chúng.
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đang khám phá và đưa ra các định nghĩa khác nhau về biểu tượng, dựa trên các cơ sở và quan điểm riêng Tuy nhiên, trong những định nghĩa này, vẫn tồn tại những đặc điểm chung về biểu tượng.
Biểu tượng là hiện tượng chủ quan phản ánh cách chúng ta cảm nhận các hiện tượng khách quan đã được tri giác trước đó Nó không chỉ kích thích mà còn gợi mở, giúp chúng ta vượt qua bề ngoài để khám phá ý nghĩa sâu xa và thiêng liêng, hướng tới cõi siêu thực.
1.1.2 Bi ểu tượ ng văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn, bao gồm cả khía cạnh vật chất như nhà cửa, đồ đạc, phương tiện và quần áo, lẫn khía cạnh phi vật chất như ngôn ngữ, tư tưởng và giá trị Nó thể hiện những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Văn hóa được định nghĩa bởi G.S Đinh Gia Khánh là một hệ thống hữu cơ bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
Theo Từđiển tiếng Việt của Hồng Mây - Ngọc Sương - Minh Mẫn: “Văn hóa là những điều hiểu biết, kiến thức có trình độ cao, biết cách cư xử” [34, tr.341]
Văn hóa là tổng thể các yếu tố trong đời sống con người, bao gồm cả khía cạnh tinh thần và vật chất.
Biểu tượng văn hóa là những yếu tố mang ý nghĩa cụ thể mà cộng đồng nhận biết, bao gồm vật chất và phi vật chất như âm thanh, đồ vật, hành động, ký tự và ngôn ngữ Chúng hiện diện trong đời sống xã hội thông qua phong tục, tập quán, lễ hội, và các tín hiệu dân gian như Cây Nêu của người Cor hay nhà Gươl của người Cơ Tu Ngoài ra, biểu tượng văn hóa còn được khai thác trong lĩnh vực tâm linh và nghệ thuật truyền thống, ví dụ như biểu tượng Âm - Dương trong sự sống.
- chết, trong hôn nhân, trong mỗi quốc gia, dân tộc; Biểu tượng chùa Một Cột, biểu tượng long, ly, quy, phụng…
Áo dài là trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam, tồn tại qua nhiều thời kỳ lịch sử và được xem là biểu tượng văn hóa đặc trưng Đây là trang phục chuẩn mực cho các dịp lễ lớn, lễ cưới, Tết, tốt nghiệp và các cuộc thi quan trọng Áo dài không chỉ tôn lên vẻ đẹp hình thể của phụ nữ Việt Nam mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc, trở thành sản phẩm văn hóa vật thể không thể thiếu trong hình ảnh duyên dáng của người phụ nữ Việt.
Tác giả T ản Đà
1.2.1 Nhà nho tài tử s ố ng trong th ờ i hi ện đạ i
Tản Đà, tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), là một trong những nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch và nhà báo nổi bật nhất của văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20 Biệt hiệu của ông được ghép từ núi Tản và sông Đà, thể hiện sự kết hợp độc đáo giữa thiên nhiên và văn hóa Tản Đà không chỉ là một biểu tượng văn học độc nhất mà còn là một tài năng sáng tác dồi dào, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.
Tản Đà, sinh ra trong một gia đình truyền thống khoa bảng, có cha là Nguyễn Danh Kế, một cử nhân và quan Ngự sử triều Nguyễn Mẹ của ông, Lưu Thị Hiền, nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm, là một đào hát tài hoa ở Hàng Thao, Nam Định, nổi bật với giọng hát hay và khả năng làm thơ Nôm xuất sắc.
Về sau ông Kế lấy bà vềlàm vợ lẽ khi ông làm Phú Xuân Trường
Biến cố bắt đầu khi Tản Đà mới 3 tuổi, khi cha mất và mẹ bỏ đi, sau đó chị ruột cũng theo nghề mẹ Những sự kiện này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn Tản Đà, khiến ông hấp thu nền nho giáo từ nhỏ Cuộc đời ông trở thành những vết trượt dài đầy đau khổ và đắng cay trong trường đời và tình đời.
Năm 1913, sau khi người anh cả nuôi mất, Tản Đà trở về Vĩnh Phú và bắt đầu làm báo cho “Đông Dương tạp chí” Tại đây, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm và cuốn sách nổi bật, tạo nên tiếng vang lớn trong văn học.
Tản Đà sinh ra trong thời kỳ xã hội loạn lạc, khi đất nước bị chiếm đóng và nhân dân phải chịu đựng khổ cực Thực dân Pháp đã tiến hành cai trị Việt Nam trên mọi phương diện, từ kinh tế đến văn hóa, dẫn đến hàng triệu linh hồn Việt bị chà đạp Trong lĩnh vực văn hóa, chúng áp đặt học thuật phương Tây, làm mai một nền văn hóa truyền thống của dân tộc Mặc dù Tản Đà đã hấp thu nền nho học Đông phương từ nhỏ, nhưng sự phổ biến của chữ quốc ngữ trong xã hội đã ảnh hưởng đến ông Là một nhà nho phong kiến quý tộc, Tản Đà sống trong hoàn cảnh đặc biệt của một thời kỳ quá độ, tạo nên những mâu thuẫn nội tâm sâu sắc trong con người ông.
Trong bối cảnh hiện nay, Tản Đà nhận thức rõ ràng rằng không thể tiếp tục theo đuổi lối văn chương cũ kỹ Ông, giống như nhiều trí thức thời kỳ giao thoa, hiểu rằng để chống lại thực dân Pháp, trước hết cần phải học hỏi từ họ, và điều quan trọng nhất là chữ quốc ngữ Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi một nhà nho như Tản Đà, quen thuộc với văn chương truyền thống, lại dễ dàng tiếp cận và hòa nhập với những tri thức mới từ văn hóa phương Tây và chữ quốc ngữ.
Tản Đà là nhà thơ tiên phong trong việc áp dụng thơ mới tại Việt Nam, phù hợp với bối cảnh thời đại Tuy nhiên, ông cũng nhanh chóng quay về với các giá trị truyền thống, tích cực phục hưng Khổng học và nhấn mạnh lễ giáo phong kiến Ngoài thơ, Tản Đà còn có tài năng viết văn xuôi sắc sảo và nhuần nhuyễn, phản ánh nhiều vấn đề xã hội đương thời qua lối viết nghệ thuật, hấp dẫn và sáng tạo.
Trong lĩnh vực thơ ca, các tác phẩm của Xuân Diệu thể hiện bản sắc riêng biệt và độc đáo, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai khác Ông đã khẳng định điều này qua những câu thơ của mình, tạo nên dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc.
Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mởđầu cho thơ Việt Nam hiện đại”, (báo Ngày
Tản Đà, với số báo ra ngày 17/6/1939, đã thể hiện nhiều tư tưởng cách tân và sự sáng tạo mạnh mẽ trong thơ ca Ông dũng cảm vượt ra ngoài khuôn khổ truyền thống, hướng tới một phong cách riêng biệt trong các sáng tác của mình.
Tản Đà thể hiện một phong cách văn chương ngông cuồng, tự do, với sự kiêu hãnh và phá cách, nhằm thoát khỏi những quy tắc và định kiến chặt chẽ của xã hội.
Tản Đà là một nhà nho không theo lối mòn truyền thống, mà là một nhà nho tài tử, hoạt động trong bối cảnh xã hội tư sản.
Tản Đà, một nhà nho sống trong thời hiện đại, đã thể hiện tư tưởng cách tân trong thơ ca nhưng vẫn giữ vững những giá trị truyền thống của Nho giáo Mặc dù thơ ông có sự đổi mới, nhưng không vượt ra ngoài giới hạn của một nhà nho chân chính Ông không đủ can đảm để viết về những cảm xúc mãnh liệt như Xuân Diệu, điều này phản ánh cả ngưỡng của bản thân và của những người mang nặng lý tưởng đạo lý Nho giáo Những giới hạn về nội dung thể hiện đã giữ Tản Đà lại trong khuôn khổ của truyền thống.
Trong thời kỳ đó, các nhà nho thường tuân theo những quy chuẩn nghiêm ngặt, ít ai dám vượt qua khuôn khổ để thể hiện phong cách cá nhân Tuy nhiên, Tản Đà đã mạnh dạn phá vỡ những quy tắc cũ, tạo nên giọng thơ phóng túng và độc đáo Ông đã mang vào tác phẩm cái tôi cá nhân, dù chưa phải là một nhà thơ mới như thế hệ sau, nhưng đã để lại dấu ấn lớn cho văn học Việt Nam hiện đại.
1.2.2 T ản Đà - Nhà nho lãng mạ n gi ữ a hai th ế k ỷ
Tản Đà xuất hiện trong nền văn chương vào thời điểm giao thoa giữa cũ và mới, thể hiện bản thân qua thơ văn như một cách tự bộc lộ Dù có thể không hài lòng với danh phận của mình, ông lại tự hào về tài năng và phong cách sáng tác độc đáo: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất” và “Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng”.
Tản Đà vốn mang một cốt cách lãng mạn Tính chất lãng mạn trong thơ
Tản Đà mang đậm dấu ấn của buổi giao thời đầy biến động, rối ren và phức tạp
Tản Đà, một nhà văn thành thị, mang hình ảnh của nhà văn tiểu tư sản chưa hoàn toàn “tư sản hóa”, vẫn còn ảnh hưởng phong cách của nhà nho Trong bối cảnh xã hội loạn lạc, nhiều nhà văn tư sản lãng mạn đã xa rời thực tại, thể hiện tư tưởng lãng mạn tiêu cực và trốn tránh trách nhiệm Tuy nhiên, Tản Đà lại có cái nhìn lãng mạn khác biệt, không giống như các nhà nho xưa Ông không chỉ là một nhà nho gặp thời với cuộc sống bất hạnh và con đường công danh dang dở, mà còn không sống cuộc đời ẩn dật Điều này được thể hiện rõ ràng trong tác phẩm Giấc mộng con I, II và Giấc mộng lớn.
Khái quát về biểu tượng trong thơ Tản Đà
Tản Đà, nhà nho tài tử, sống trong thời kỳ chuyển mình từ văn học trung đại sang hiện đại, thể hiện cái tôi cá nhân mạnh mẽ trong thơ ca Ẩn sau vẻ ngông nghênh là tâm hồn yêu nước, nặng tình với quê hương, thiên nhiên và con người Những bài thơ của ông không chỉ phản ánh cái ngông của một đấng quân tử mà còn tôn vinh vẻ đẹp dân tộc, thường xuyên nhắc đến quê hương Qua ngòi bút của Tản Đà, hình ảnh thiên nhiên và đất nước trở nên gần gũi, đồng thời chứa đựng tình yêu nước sâu sắc và nỗi buồn của một nhà nho yêu nước trong bối cảnh đất nước lâm nguy Những hình ảnh đó đã trở thành những biểu tượng nổi bật trong thơ ông.
Nhà thơ yêu thích chủ nghĩa ‘xê dịch’ đã để lại dấu ấn khắp mọi miền tổ quốc, với nhiều địa danh gắn liền với lịch sử dân tộc Thơ ông thường khắc họa thiên nhiên, cảnh đẹp và con người, thể hiện nỗi niềm tâm trạng sâu sắc Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam lam lũ, hy sinh vì chồng con trở thành biểu tượng đẹp cho sự chịu thương chịu khó Các hình ảnh như con cò, con thuyền, hoa sen và dòng sông xuất hiện nhiều lần trong thơ Tản Đà, phản ánh đặc trưng nông thôn Việt Nam, làm phong phú thêm tâm hồn độc giả và củng cố tình yêu nước.
Trong thơ Tản Đà, có nhiều biểu tượng được lặp lại với tần suất cao Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy một số biểu tượng nổi bật và tiêu biểu thường xuất hiện trong tác phẩm của ông.
Tản Đà là một nhà thơ nổi bật với nhiều tác phẩm không chỉ xoay quanh tình yêu và người phụ nữ, mà còn đặc biệt chú trọng đến đề tài quê hương, đất nước và non sông Những bài thơ của ông thường thể hiện tình yêu sâu sắc đối với quê hương và khát vọng gắn bó với đất nước.
Biểu tượng đất trong thơ Tản Đà thể hiện tình yêu thương bao la và hiền hòa của đất mẹ, nơi mà các thực thể vươn lên, lan tỏa sức sống và trải nghiệm mọi cung bậc cảm xúc của cuộc sống Khi không còn tồn tại trên cõi đời, chúng sẽ trở về lòng đất mẹ, nơi luôn dang tay đón nhận Biểu tượng này không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn có những biến thể riêng, tạo nên sự sinh động và hấp dẫn trong việc khám phá và nghiên cứu.
Trong thơ Tản Đà, biểu tượng Trời nổi bật, thể hiện cái tôi cá nhân kiêu ngạo và phản ánh xã hội coi văn chương như hàng hóa Biểu tượng này gợi lên nỗi thương cảm cho những trí thức nghèo trong thời kỳ giao thoa, khi họ phải chấp nhận văn chương không còn được trân trọng như một tác phẩm nghệ thuật.
Biểu tượng Nước trong tác phẩm của Tản Đà không chỉ đại diện cho nguồn sống mà còn thể hiện sức sống dồi dào và không bao giờ cạn kiệt Đồng thời, biểu tượng Dư đồ phản ánh cảnh nước mất nhà tan và sự thờ ơ của thế hệ trẻ, những người chỉ mải mê theo đuổi thú vui mà quên đi trách nhiệm của mình Những tâm tư này được Tản Đà thể hiện rõ nét qua các bài thơ đầy cảm xúc của ông.
Các biểu tượng như Trời, Đất, Nước và Dư đồ mang ý nghĩa văn hóa và lịch sử sâu sắc, phản ánh giá trị dân tộc Qua khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi đã chọn lọc những biểu tượng tiêu biểu nhất để phân tích và làm rõ tầm quan trọng của chúng trong văn hóa dân tộc.
Những biểu tượng trong tác phẩm của Tản Đà thể hiện sâu sắc tình cảm của nhà thơ đối với quê hương, đất nước, đồng thời mang những ý nghĩa sâu xa khác.
Trong chương I, chúng tôi đã thảo luận về các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, đặc biệt là khái niệm biểu tượng, biểu tượng văn hóa và biểu tượng văn học Điều này giúp chúng tôi dễ dàng khai thác những biểu tượng đặc trưng trong thơ Tản Đà Đồng thời, chúng tôi cũng đã giới thiệu về tác giả Tản Đà, một nhà nho tài tử lãng mạn giữa hai thế kỷ Những vấn đề nghiên cứu trong chương I sẽ là nền tảng cho việc phân tích sâu hơn ở chương II của đề tài.
NH Ữ NG BI ỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG THƠ
Biểu tượng Nước
2.1 1 Ý nghĩa gố c c ủ a bi ểu tượ ng
Theo Jean Chevalier trong từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, nước mang ý nghĩa tượng trưng chủ yếu qua ba chủ đề: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy và trung tâm tái sinh Những chủ đề này không chỉ phổ biến trong các truyền thuyết cổ xưa mà còn tạo nên những tổ hợp đa dạng và chặt chẽ.
Nước là biểu tượng của tiềm năng vô hạn, chứa đựng cả cơ hội phát triển lẫn nguy cơ tan biến Khi đắm mình trong nước, ta có thể rút ra sức mạnh từ nguồn cội, từ kho dự trữ tiềm năng vô tận, tạo ra bước lùi tạm thời để chuẩn bị cho sự tiến lên, tái thống hợp và tái sinh.
Trong kinh Vệ Đà ca ngợi những dòng nước mang lại sự sống, sức mạnh và sự thanh khiết về mặt tinh thần cũng như về mặt thể xác:
Hỡi những Dòng nước hồi sức cho đời, hãy mang lại cho chúng tôi sức mạnh, sự cao cả, niềm vui, cảnh mộng!
…Hỡi những Dòng nước, nữ chúa của những điều kỳ diệu, là những vị nữ nhiếp chính của mọi giống nòi!
Hỡi những Dòng nước, xin hãy ban cho tôi phương thuốc hoàn hảo để trở thành tấm áo giáp bảo vệ, giúp tôi có thể nhìn thấy ánh sáng mặt trời lâu dài!
Hỡi những dòng nước, xin hãy cuốn đi mọi tội lỗi, dù lớn hay nhỏ, mà tôi đã gây ra cho người khác, cũng như những lời thề nguyện dối trá mà tôi đã thốt ra.
Trong các nền văn hóa khác nhau, tồn tại nhiều biến thể về các chủ đề chính, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về các tầm cỡ và sắc thái trong ý nghĩa tượng trưng của nước, trên một cơ sở gần như đồng nhất.
Nước ở châu Á được coi là một thực thể quan trọng, là nguồn gốc của sự sống và có vai trò tái sinh cả về thể xác lẫn tinh thần Nó tượng trưng cho khả năng sinh sôi, sự thanh khiết, trí tuệ, tính khoan dung và các giá trị đạo đức.
Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hòa tan; nhưng chất lỏng thuần nhất, nó có khuynh hướng liên kết và đông tụ
Người Trung Hoa gọi nước là wouki (Vô cực), biểu thị cho trạng thái hỗn mang nguyên thủy không có đỉnh Nước đại diện cho mọi khả năng của Bản Thể, được chia thành Nước thượng đẳng (trên trời) liên quan đến khả năng phi hình và Nước hạ đẳng (dưới đất) tương ứng với khả năng hữu hình.
Nước không chỉ là nguồn gốc và phương tiện duy trì sự sống mà còn được coi là biểu tượng của sự phì nhiêu và khả năng sinh sản dồi dào Người dân miền núi Nam Việt Nam tin rằng nước từ trời mang lại mùa màng bội thu và rất coi trọng chức năng tái sinh của nó Đối với họ, nước không chỉ là một loại thực phẩm thiết yếu mà còn là vị thuốc quý giá, mang lại sự trường sinh bất tử.
Nước còn có công dụng là công cụ thanh tẩy theo nghi lễ, từ trong đạo
Tại Nhật Bản, các nghi lễ liên quan đến thầy phù thủy thường có sự hiện diện của các hoạt động tắm rửa Tương tự, ở Ấn Độ và khắp Đông Nam Á, lễ tắm cho các tượng thánh và tín đồ diễn ra đặc biệt vào dịp năm mới, mang ý nghĩa tái sinh và thanh tẩy.
Nước, thuộc về âm, đối lập với lửa, tượng trưng cho phương Bắc và cái lạnh của mùa đông chí Nó liên quan đến thận, mang màu đen và được biểu thị qua quẻ khảm, tượng trưng cho vực thẳm của biển.
Trong truyền thống Do Thái và Kitô giáo, nước biểu trưng cho khởi đầu của cuộc sáng tạo thế giới Chữ cái tiếng Hê-bơ-rơ liên kết với nước thể hiện tính cảm xúc, tượng trưng cho người mẹ và tử cung Là nguồn gốc của mọi sự vật, nước không chỉ đại diện cho sự sống mà còn mang ý nghĩa siêu nhiên, được coi như một hình thức của thần thánh.
Nước đã có tính năng thanh tẩy lại còn có thêm một năng lực cứu sinh
Việc dìm xuống nước không chỉ mang ý nghĩa tái sinh mà còn biểu trưng cho sự chết và sự sống Nước có khả năng xóa bỏ mọi lịch sử, khôi phục con người trong một trạng thái mới Hành động dìm mình trong nước giống như việc Chúa Kitô xuống mộ; sau khi hạ xuống dưới lòng đất, Ngài đã phục sinh.
Nước là biểu tượng cho sự tái sinh: nước rửa tội rõ ràng dẫn dắt tới một lần sinh mới
Nước thường được coi là nguồn năng lượng chữa lành và có giá trị thiêng liêng, dẫn đến việc các nơi thờ cúng thường tập trung quanh các nguồn nước Dù Giáo Hội Kitô giáo đã nhiều lần phản đối việc thờ bái các nguồn nước, lòng sùng tín trong dân gian vẫn giữ vững sự tôn trọng đối với giá trị tâm linh của nước Tuy nhiên, những tín ngưỡng đa thần và sự quay trở lại với mê tín dị đoan đang đe dọa làm suy yếu sự thiêng liêng của nước, khiến cho cái ma thuật trở thành mối nguy cho tâm hồn con người.
Nước có thể tàn phá và nhấn chìm, gây hại cho những cánh đồng đang ra hoa, thể hiện sức mạnh tàn khốc của nó Trong khi nước trừng phạt những kẻ có tội, nó lại trở thành nguồn sống cho những người chính trực Giống như lửa, nước cũng có thể là phương tiện thử thách, nơi mà những vật bị ném xuống tự phán xét số phận của mình mà không cần phân xử.
Nước mưa và nước biển tượng trưng cho đối cực giữa cao và thấp, với nước mưa thanh khiết đại diện cho sự sống và nước biển mặn mang lại lời nguyền Các dòng sông có thể mang đến lợi ích hoặc trở thành nơi ẩn náu cho quái vật, trong khi những dòng nước cuộn sóng biểu thị cho cái ác và sự hỗn độn.
Những dòng nước lặng mang ý nghĩa về sự bình yên và trật tự Trong folklore
Bi ểu tượ ng Gi ờ i (Tr ờ i)
2.2.1 Ý nghĩa gố c c ủ a bi ểu tượ ng
Trời là biểu tượng gần như phổ quát, thể hiện niềm tin vào một Sinh Linh thần thánh, người sáng tạo ra vũ trụ và đảm bảo sự phì nhiêu của đất qua những cơn mưa Những Sinh Linh này có tài tiên tri và trí tuệ vô biên, đặt ra các luật lệ đạo đức và nghi lễ cho bộ tộc trong thời gian ngắn khi họ xuống cõi trần Họ giám sát việc tuân thủ những luật lệ này, và những ai vi phạm sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc.
Trời là biểu tượng cho sự thiêng liêng của vũ trụ, thể hiện qua sự vận động tuần hoàn và quy củ của các thiên thể Nó gợi ý về những trật tự siêu đẳng và vô hình trong thế giới vật thể, bao gồm trật tự siêu tại của thánh thần và trật tự nội tại của con người.
Bầu trời thường được biểu thị qua nhiều hình ảnh như quả chuông, cốc có chân đặt ngược, mái nhà hình bát úp, cái lọng, dù hay ô che nắng, con chim bồ câu, ô che mưa xoay quanh trục, và trái tim con người.
Trời là biểu tượng cho uy lực tối cao đối với con người, thể hiện qua chữ "thiên" trong Hán ngữ, biểu thị sự bao la không thể dò được Đây là thiên quyển của vũ trụ, nơi chứa đựng ánh sáng và bí mật của số mệnh Trời cũng là nơi cư ngụ của các thần linh, thể hiện sức mạnh thánh thần, đồng thời là cõi Cực Lạc, chỗ ở của các thánh nhân.
Trong nhiều tôn giáo như Phật giáo và Hồi giáo, cũng như trong tác phẩm của Dante và văn hóa Trung Hoa, khái niệm về các tầng trời thể hiện một hệ thống thứ bậc tinh thần được sắp xếp từ thấp đến cao Những thiên cung này không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn phản ánh cách mà con người nhận thức về thế giới tâm linh.
Trời và Đất là kết quả của sự phân cực đầu tiên, với Trời đại diện cho bản nguyên dương, chủ động, trong khi Đất là bản nguyên âm, thụ động Trời luôn hoạt động và thể hiện uy lực tối cao, như được nhắc đến trong Kinh Dịch qua lục hào Càn Tuy nhiên, Trời không phải là nguyên lý tối thượng mà chỉ là cực chính diện, biểu hiện cho nguyên lý đó; theo Trang Tử, Trời là công cụ của Đạo, và Đạo được xem là Đỉnh Trời (thiên cực).
Tác động của Trời và Đất tạo ra sự sống cho muôn loài Sự kết hợp giữa Trời và Đất được ví như một cuộc giao phối, sản phẩm của nó là con người, biểu trưng cho sự kết hợp này Theo thuyết luyện đan nội, con người còn được xem là biểu tượng của sự bất tử Huyền thoại về mối quan hệ giữa Trời và Đất hiện diện từ châu Á đến châu Mỹ, và lan tỏa qua các nền văn minh như Hy Lạp và Ai Cập.
Cập và châu Phi đen là những biểu tượng của con người thực thụ, được Kinh Dịch mô tả là ngang bằng với Trời và Đất Điều này nhấn mạnh rằng con người không đối lập với Đất, mà hòa quyện và đồng điệu với vũ trụ.
Trời được xem như chân nhân và đế vương đích thực, với chữ "vương" trong từ ghép này thể hiện rõ vai trò môi giới Điều này cũng được đề cập trong tác phẩm "Tấm biển ngọc lục bảo bí hiểm," nơi Ngài từ Đất lên Trời rồi từ Trời xuống Đất.
Thuật luyện đan Trung Hoa, như chúng tôi đã nhận xét, chuyển bầu trời vào bên trong vũ trụ vi mô con người
Trái ngược với truyền thống Trung Hoa, trong văn hóa Ai Cập cổ đại, trời được coi là bản nguyên âm tính và là nguồn gốc của mọi sự hiển lộ, thể hiện qua hình tượng nữ thần Nout với thân hình uốn cong như mái vòm Một bức chạm nổi từ triều đại pharaon thứ XXX khắc hình Nout nghiêng mình, tay tì xuống đất ở phía Đông và chân ở phía Tây, phía sau là bản đồ thế giới với âm phủ và ánh sáng mặt trời Nout, với hình dáng bán nguyệt, bao trùm vũ trụ và được tôn vinh là mẹ của các thần linh và loài người Hình ảnh của nàng xuất hiện trên nhiều quách, trong đó có một chỉ thảo thư tại Louvre mô tả Nout như một người mẹ dịu hiền, luôn che chở và bảo vệ người quá cố trong cõi yên bình, đảm bảo sức khỏe và sự sống cho họ.
Trong truyền thống Thánh Kinh, Trời được xem như đồng nhất với Thượng Đế, dẫn đến việc các sử gia và nhà tiên tri thường kiêng sử dụng tên Thượng Đế một cách có hệ thống Do đó, từ "Trời" đã trở thành một thuật ngữ phổ biến thay thế cho "Chúa Trời" trong thời đại Ba Tư.
Trong Kinh Tân Ước, cụm từ "nước thiên đàng" xuất hiện chủ yếu trong sách Phúc Âm của Matthieu, phản ánh mối quan tâm của người Do Thái bằng cách thay thế tên gọi đáng sợ bằng một ẩn dụ phù hợp.
Trong sách Khải Huyền, trời được mô tả là nơi cư ngụ của Thượng Đế, thể hiện sự phân biệt rõ ràng giữa Đấng Tạo Hóa và các vật thụ tạo của Ngài.
Trời tham gia vào hệ thống quan hệ giữa Thượng Đế và con người, và sau cuộc hóa thân cứu rỗi của Kitô, toàn bộ hệ thống này đã thay đổi, dẫn đến khái niệm về một bầu trời mới Tác giả sách Khải Huyền đã thấy "một trời mới và một đất mới," biểu trưng cho sự đổi mới hoàn toàn của thế giới và mở đầu kỷ nguyên cứu thế Những quan hệ giữa thế giới thụ tạo và Thượng Đế được cải hóa một cách triệt để.
Vào khoảng gần 1000 năm sau Công Nguyên, người Mêhico tin rằng có chín tầng trời và chín hạ giới, được thể hiện qua kiến trúc tôn giáo của họ với chín tầng kim tự tháp.
Người Algonquin quan niệm có mười hai cung trời, mỗi cung có một thần Manitou lớn, thần sáng thế có quyền lực tối cao
Bi ểu tượng Đấ t
2.3.1 Ý nghĩa g ố c c ủ a bi ểu tượ ng
Biểu tượng Đất trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới thể hiện ý nghĩa gốc là sự đối lập với Trời, tượng trưng cho nguyên thụ động so với nguyên chủ động Đất được xem như biểu tượng của nữ tính, trong khi Trời đại diện cho nam tính, phản ánh mối quan hệ giữa bóng tối và ánh sáng.
Trong Kinh Dịch, đất được tượng trưng bởi quẻ k’ouen (khôn), thể hiện tính thụ động hoàn hảo và khả năng tiếp nhận từ nguyên lý chủ động k’ien (càn) Đất không chỉ là nơi mọi người sinh ra mà còn tượng trưng cho người mẹ, thể hiện sự phục tùng nguyên lý của Trời Những đức tính tích cực của đất bao gồm sự dịu dàng, kiên định, yên tĩnh và bền bỉ, cùng với tính khiêm nhường Đất cũng phản ánh chức năng của người mẹ, cung cấp và lấy lại sự sống, qua đó đồng hóa đất mẹ với lòng mẹ.
Trong đạo Vệ Đà, đất được xem là biểu tượng của người mẹ, là nguồn gốc của sự sống và hiện hữu, đồng thời bảo vệ con người khỏi các sức mạnh hủy diệt Trong nghi thức tang lễ của tôn giáo này, người ta thường đọc những bài thơ khi đặt bình chứa tro hỏa thiêu của người đã khuất xuống huyệt.
Hãy nằm xuống Đất là Mẹ của người!
Nơi tọa lạc mênh mông ấy chứa chan ân huệ
Ai biết dâng hiến, với họĐất êm như len,
Cầu Đất canh giữ người khỏi sa ngã vào cõi Hư vô!
Hỡi Đất Mẹ, hãy xây cho con người này một mái vòm, đừng đè bẹp Hãy tiếp nhận, hãy tiếp đón sinh linh này, hỡi Đất!
Hãy lấy vạt áo của mình chởche cho nó,
Như mẹ hiền che chở đứa con yêu!
Một số bộ lạc ở châu Phi có phong tục ăn đất, thể hiện sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên Thầy tế thần thường nếm đất, trong khi phụ nữ mang thai nuốt đất như một phần của nghi lễ Họ tin rằng lửa, biểu tượng của sự sống, cũng xuất phát từ đất Quan niệm về sự hôn phối thiêng liêng giữa đất, trời và con người là điều cốt lõi trong văn hóa của họ.
Người Dogon hình dung đất như một người phụ nữ nằm ngửa, với bộ phận sinh dục tượng trưng cho tổ kiến và âm vật là tổ mối, biểu trưng cho sức sản sinh và tái sinh Đất không chỉ sinh ra mọi sinh vật mà còn nuôi dưỡng chúng, đồng thời tiếp nhận lại những gì chúng mang đến Tương tự, người Maya coi hình đất là hình tượng nữ thần trăng, biểu trưng cho các chu trình sinh sản Nữ thần này, vừa là trăng vừa là đất, giữ vai trò chủ tể trong việc sinh đẻ và là nguồn gốc của mọi sự vật, khởi đầu cho sự hình thành thế giới.
Người Nhật Bản tin rằng đất được nâng bởi một con cá lớn, trong khi Ấn Độ cho rằng đó là một con rùa, và người thổ dân châu Mỹ lại cho là một con rắn Ở Ai Cập, đất được coi là do một con bọ hung nâng đỡ, còn ở Đông Nam Á là một con voi Những trận động đất được giải thích là do những chuyển động bất ngờ của các sinh vật này, phản ánh các giai đoạn tiến hóa Đối với người Do Thái và Kitô hữu, Đất thánh thường được ám chỉ đến Palestine, nhưng tên gọi này còn tương ứng với nhiều truyền thuyết khác, như Đất của các bậc Thánh hay Đất Bất Tử Tất cả những tên gọi này đều chỉ những trung tâm tinh thần, tương ứng với Trung tâm thế giới trong mỗi huyền thoại, phản ánh Trung tâm nguyên thủy hoặc Thiên đường trên thế gian.
Nghi lễ mai táng tượng trưng thường bao gồm các hành động như dìm xuống nước, có ý nghĩa rửa tội, chữa bệnh, và tăng cường sức mạnh Những nghi thức này thể hiện khái niệm tái sinh qua việc tiếp xúc với các lực lượng của đất, cho thấy sự chuyển đổi từ một hình thức sống sang một hình thức khác.
Nước là nguồn gốc của mọi vật, tồn tại trước khi vũ trụ hình thành, trong khi đất tạo ra các hình thức sống Nước biểu thị khối lượng chưa phân hóa, còn đất thể hiện những mầm sống riêng biệt Các chu kỳ của nước kéo dài hơn so với chu kỳ của đất trong tiến trình tiến hóa của vũ trụ.
Ruộng đất và người phụ nữ thường được liên kết chặt chẽ trong văn học, với hình ảnh luống cày, gieo hạt, và hành động sinh sản Công việc đồng áng và sự sinh sản của phụ nữ thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa con người và đất đai Ở một số tín ngưỡng tại châu Phi và châu Á, phụ nữ vô sinh có thể làm cằn cỗi đất đai, dẫn đến việc chồng họ có thể rời bỏ Ngược lại, phụ nữ mang thai được coi là nguồn sống, khi họ gieo hạt trên đất, mùa màng sẽ trở nên phong phú hơn.
Đất khởi thủy luôn mang trong mình tính chất thiêng liêng, là nơi mà con người tìm về để tái sinh tinh thần Khi một nhóm người muốn trở về với quê cha đất tổ, không gian thiêng liêng này vẫn giữ được hiệu lực nhờ vào sự hiển linh đã từng hiện hữu.
Đất, với vai trò thiêng liêng như một người mẹ, đảm bảo cho các lời thề trong đời sống xã hội Nếu lời thề là mối ràng buộc cốt yếu của cộng đồng, thì đất chính là mẹ và vú nuôi của toàn xã hội.
Trong văn hóa của mỗi quốc gia và dân tộc, ý nghĩa của Đất không giống nhau Đối với một số dân tộc, Đất biểu trưng cho tình yêu thiêng liêng và sự che chở của mẹ đất đối với con cái, trong khi với những dân tộc khác, nó lại mang đến niềm vui, hạnh phúc, hoặc đôi khi là nỗi buồn và cô đơn Do đó, biểu tượng Đất mang tính đa nghĩa và chứa đựng nhiều hàm ý sâu sắc khác nhau.
Tản Đà, ý nghĩa của biểu tượng Đất được hiểu theo cách nào, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, phân tích ý nghĩa biểu tượng Đất ngay sau đây.
2.3.2 Ý nghĩa bi ểu tượng Đấ t trong thơ Tản Đà
Qua khảo sát 304 bài thơ của Tản Đà, biểu tượng Đất xuất hiện 46 lần, tuy không nhiều như các biểu tượng khác nhưng lại mang ý nghĩa quan trọng, góp phần làm sâu sắc thêm ý nghĩa của tác phẩm.
Biểu tượng Đất trong thơ ca có nhiều biến thể, thể hiện sự sinh động và tâm trạng của thi sĩ Đất mẹ, với lòng bao dung và vị tha, nuôi dưỡng mọi sinh vật và đưa chúng trở về khi qua đời, thể hiện quy luật tự nhiên Trong thơ Tản Đà, biểu tượng Đất không chỉ giữ nguyên ý nghĩa ban đầu mà còn chuyển hóa thành các hình ảnh khác như con đường và núi.
Địa Mẫu, hay còn gọi là Đất Mẹ, là biểu tượng của nguồn cội và sự che chở trong tâm thức dân tộc Đây là nơi đã sinh ra, nuôi dưỡng và bao bọc con người, thể hiện tình yêu thương vô bờ bến Dù ở bất kỳ đâu, mỗi người luôn cảm nhận được sự hiện diện và vòng tay rộng lớn của Đất Mẹ Cuối cùng, khi kết thúc cuộc đời, chúng ta lại trở về với lòng đất, nơi bắt nguồn của sự sống.
Ngoài xa trơ một đống đất đỏ
Hang hốc đùn lên đám cỏgà.
Người nằm dưới mả, ai ai đó
Biết có quê đây hay vùng xa?
Biểu tượng Dư đồ (Địa đồ)
2.4.1 Ý nghĩa g ố c c ủ a bi ểu tượ ng Dư đồ (Địa đồ )
Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới không có nói đến biểu tượng
Biểu tượng Dư đồ và Địa đồ mang ý nghĩa quan trọng trong khảo sát và phân tích Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của chúng, chúng tôi đã tham khảo từ điển tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ nội dung của các thuật ngữ này.
Trong thơ Tản Đà, việc sử dụng từ "Dư đồ" và "Địa đồ" thể hiện sự phong phú trong ngôn ngữ và cảm xúc của nhà thơ Hai từ này không hoàn toàn giống nhau; "Dư đồ" thường mang ý nghĩa về sự dư thừa, dư dả, trong khi "Địa đồ" lại chỉ đến không gian, địa lý Sự khác biệt này giúp làm nổi bật những cảm xúc và hình ảnh mà Tản Đà muốn truyền tải trong tác phẩm của mình.
Muốn hiểu được, chúng ta phải đi tìm hiểu ý nghĩa của từ Dư, Địa trong từ điển Tiếng Việt [42]
Dư có nhiều nghĩa phong phú, bao gồm: 1 Dư là đất, xe, kiệu chở người và quần chúng; 2 Dư cũng chỉ những gì còn lại trong không gian và tâm trí sau khi một sự kiện đã qua, như dư âm hay dư vị; 3 Dư còn ám chỉ đất đã khai khẩn trong hai năm; 4 Địa dư thể hiện sự rộng lớn của đất, chứa đựng vạn vật; 5 Dư cũng có nghĩa là số đông, liên quan đến dư luận; 6 Dư thể hiện cung vượt cầu, như trong trường hợp nông dân có thóc thừa; 7 Dư biểu thị sự nhàn rỗi, như trong câu “trà dư tửu hậy”; 8 Cuối cùng, dư cũng chỉ số lẻ, như số dư, và trong tiếng Hán Việt, “Dư nguyệt” nghĩa là tháng tư âm lịch.
Chữ "Đồ" có nhiều nghĩa phong phú: 1 Là hình ảnh trong tranh vẽ hoặc địa đồ thể hiện hình mặt đất; 2 Diễn tả ý định hoặc mong muốn làm một việc gì đó; 3 Có nghĩa là lấp, xóa đi, hoặc bôi màu lên hình vẽ; 4 Được dùng để chỉ hành động mổ, giết (như trong từ đồ tể); 5 Thể hiện bè lũ, nhóm người (đồ đảng); 6 Liên quan đến tội khổ sai, bị làm nhục, một trong năm danh tội xưa; 7 Chỉ đường lối, con đường thăng tiến trong sự nghiệp (sĩ đồ, hoạn đồ); 8 Cũng được dùng để chỉ lúa nếp (đồ xôi); 9 Cuối cùng, "đồ" còn có nghĩa là vật dụng.
Chữ "Địa" có nhiều nghĩa khác nhau, bao gồm: 1 Đất nói chung; 2 Ngôi vị mà người tu hành đạt tới, như thập địa trong Phật pháp; 3 Chất nền của một bức tranh, nơi mà màu sắc được tô lên; 4 Khu đất cụ thể; 5 Chỗ mà ý chí con người có thể đạt tới, hay còn gọi là tâm địa; 6 Hành động tán tỉnh để vòi tiền từ một người nào đó, được gọi là bắt địa.
Giá trị của kho bản đồ cổ không chỉ là biểu tượng của truyền thống xây dựng và bảo vệ tổ quốc của dân tộc ta, mà còn phản ánh cách gọi của người xưa về “bản đồ” là “dư đồ” Chữ “dư” trong Đại Nam nhất thống dư đồ được viết theo kiểu TRIỆN, một lối viết cổ xưa, thể hiện hình ảnh hai đôi bàn tay nâng đỡ một cỗ xe hai bánh.
"Dư" không chỉ là một vật chở như chiếc xe, mà còn biểu thị cho sự chuyển dịch và phát triển khi xe lăn đi Đồng thời, từ này cũng mang ý nghĩa bảo vệ và kiến tạo, với hình ảnh bốn bàn tay đỡ bốn góc xe "Dư đồ" là bản đồ đất nước, chứa đựng tất cả những nội dung ý nghĩa đó.
Dư đồ là bản vẽ thể hiện những vùng đất đã được khai thác, trong khi Địa đồ là bản vẽ mô tả các vùng đất rộng lớn với đầy đủ thông tin Theo nghĩa từ điển, Dư đồ và Địa đồ trong thơ Tản Đà có thể được hiểu là bản đồ, biểu tượng cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
2.4.2 Ý nghĩa biểu tượng Dư đồ ( Địa đồ ) trong thơ Tản Đà
Dư đồ (Địa Đồ) hay Bản đồ, mặc dù không được nhắc đến nhiều như các biểu tượng khác trong thơ Tản Đà, nhưng lại mang một sức ảnh hưởng lớn và ý nghĩa quan trọng.
Mặc dù chỉ xuất hiện 11 lần trong tập Thơ Tản Đà, biểu tượng Dư đồ đã thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm và suy nghĩ của nhà thơ Vì vậy, chúng tôi quyết định khảo sát ý nghĩa của biểu tượng này trong thơ Tản Đà để khám phá giá trị lớn lao mà nó mang lại.
Bản đồ trong thơ Tản Đà, thường được gọi là Dư đồ hay Địa đồ, là hình ảnh thu nhỏ và chính xác về một khu vực hoặc toàn bộ Trái Đất, thể hiện sự hiểu biết của ông cha ta từ ngàn xưa về đất nước với hình ảnh sông, núi, đất đai và biển đảo Bản đồ không chỉ là công cụ định vị mà còn tượng trưng cho một quốc gia, dân tộc; việc trao bản đồ cho vua nước khác đồng nghĩa với việc dâng lãnh thổ và trở thành chư hầu Trong thơ Tản Đà, hình ảnh bản đồ phản ánh thăng trầm của lịch sử dân tộc, khắc họa những biến động và giá trị văn hóa của đất nước.
Nọ bức dư đồ thử đứng coi Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẽ Sao đến bây giờrách tảtơi. Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi.
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi
Bài thơ thể hiện nỗi lòng sâu sắc của tác giả về giang sơn đất nước, nhấn mạnh sự tôn trọng và trân trọng những gì cha ông đã xây dựng Qua đó, tác giả khơi gợi ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ và gìn giữ quê hương, đồng thời thể hiện sự tiếc nuối trước tình trạng chia rẽ hiện tại Câu kết "Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi" mang thông điệp hy vọng và quyết tâm khôi phục độc lập, thống nhất cho đất nước.
Trước nguy cơ xâm lăng đất nước, Tản Đà đã sáng tác bài thơ đầu tiên thể hiện tâm trạng của mình Bài thơ này được in lần đầu trong tập thơ "Còn chơi" vào năm 1921 và sau đó được tuyển chọn vào tập thơ mang tên Tản Đà.
Tháng 2 năm 1882, thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm thành Hà Nội, quân triều đình Việt Nam phải chịu thất bại dưới sự kìm kẹp của thực dân Pháp Mất thành, tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết Thực dân Pháp tạm thời chiếm giữ miền Bắc và bắt đầu chính sách cai trị Chúng chia Việt Nam thành 3 kỳ: Bắc Kỳ - Trung Kỳ - Nam Kỳ Trung Kỳ giao cho chính phủNam Triều - Vua nhà Nguyễn cai trị Trung Kỳ là xứ Bảo Hộ nhưng thực chất Pháp vẫn giám sát và chi phối Bắc Kỳ thì Pháp đặt một viên toàn quyền để cai trị Nam Kỳ bị Pháp chiếm trọn và thành thuộc địa, dưới sự cai trị của Toàn quyền Đông Dương
Sau Hòa Ước Quý Mùi (1883) Việt Nam bị phân chia thành nhiều mảnh
Tản Đà, một sĩ phu yêu nước, đã thể hiện nỗi đau và sự xót xa trước vận mệnh đất nước, đặc biệt là sự bất lực của triều đình Huế và sự thờ ơ của thế hệ người Việt đối với sự hưng vong của dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ mà tổ tiên đã gây dựng và truyền lại.
Tản Đà đã băn khoăn, xót xa và thao thức:
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ tách tả tơi