1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, Tản Đà được mệnh danh là nhà nho tài tử trong thời hiện đại với nhiều sáng tác ở các thể loạikhác nhau, những sáng tác của ông đề
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NHUNG
BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NHUNG
BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Điệp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu
cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Thị Nhung
của khoa chuyên môn của người hướng dẫn khoa học
TS Hoàng Điệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Điệp đã trựctiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo, giúp đỡ em rất nhiều trong qua trìnhlàm luận văn tốt nghiệp
Em cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban chứcnăng, Khoa Sau Đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái nguyêncùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè, đồngnghiệp, các anh chị em trong lớp Văn học Việt Nam CH K22 đã giúp đỡ, khích
lệ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Do năng lực bản thân còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 THƠ TẢN ĐÀ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN TÀI 1
1.1 Biểu tượng và khái niệm có liên quan 1
1.1.1 Biểu tượng (Symbol) 1
1.1.2 Biểu tượng văn hóa 3
1.1.3 Biểu tượng văn học 4
1.2 Tác giả Tản Đà 6
1.2.1 Nhà nho tài tử sống trong thời hiện đại 6
1.2.2 Tản Đà - Nhà nho lãng mạn giữa hai thế kỷ 9
1.3 Khái quát về biểu tượng trong thơ Tản Đà 11
Tiểu kết chương 1 14
Chương 2 NHỮNG BIỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG THƠ TẢN ĐÀ 15
2.1 Biểu tượng Nước 15
Trang 62.1.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 15
2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng Nước trong thơ Tản Đà 19
2.2 Biểu tượng Giời (Trời) 25
2.2.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 25
2.2.2 Ý nghĩa biểu tượng Giời (Trời) trong thơ Tản Đà 30
2.3 Biểu tượng Đất 41
2.3.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng 41
2.3.2 Ý nghĩa biểu tượng Đất trong thơ Tản Đà 44
2.4 Biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) 52
2.4.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) 52
2.4.2 Ý nghĩa biểu tượng Dư đồ (Địa đồ) trong thơ Tản Đà 53
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẢN ĐÀ 64
3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 64
3.1.1 Ngôn ngữ có tính giản dị, trong sáng, tự nhiên 64
3.1.2 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình 67
3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật 73
3.2.1 Thời gian mang tính biểu tượng 74
3.2.2 Không gian mang ý nghĩa biểu tượng 80
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học luôn hướng con người tới những chân trời mới, khám phá
những chặng đường mới của cuộc sống cũng như thế giới nội tâm khuất lấptrong mỗi con người Trong hành trình khám phá và chinh phục đó, ta bắt gặpnhững biểu tượng xuyên suốt tạo nên tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ tác phẩmcủa từng nhà thơ Và thông qua những biểu tượng đó ta tìm thấy được nhữnggiá trị, những vẻ đẹp tiềm ẩn của non sông, đất nước, con người
1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, Tản Đà được
mệnh danh là nhà nho tài tử trong thời hiện đại với nhiều sáng tác ở các thể loạikhác nhau, những sáng tác của ông đều đem lại nhiều ấn tượng sâu sắc tronglòng độc giả Thơ ông viết về những điều bình dị, đời thường nhất trong cuộcsống bằng tất cả sự trải nghiệm của chính cuộc đời mình thông qua những biểutượng với nhiều tầng ý nghĩa nghệ thuật
1.3 Được xem là một cây bút xông xáo, nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực,
Tản Đà đã để lại cho hậu thế một số lượng tác phẩm đáng kể về thơ ca, vănchương, tiểu thuyết, dịch thuật…Thơ, văn của ông luôn có một ý nghĩa nhânvăn sâu sắc, nhiều tâm sự, suy nghĩ của mình ẩn giấu trong từng câu chữ Chính
vì vậy nó luôn có sức thu hút đối với bạn đọc Nhiều tác phẩm mang tính thời
sự nóng bỏng, gắn liền với vận mệnh của dân tộc mình, do đó thơ văn Tản Đàluôn chiếm một vị trí quan trọng trên văn đàn văn học Việt Nam.Bởi vậy, chođến nay vẫn còn rất nhiều công trình nghiên cứu vẫn đang tiếp tục khám phátìm hiểu những tác phẩm văn chương của Tản Đà
1.4 Là một người tài hoa, cá tính độc đáo với một cái tôi mới mẻ, Tản Đà
đã thồi một luồng gió mới mẻ vào nên văn chương đương thời Tuy nó khôngmạnh mẽ, cuồng nhiệt như Xuân Diệu,như các nhà Thơ mới, nhưng cũng đủ đểcho giới nhà văn, nhà thơ đương thời phải bàn tán, xôn xao Có rất
Trang 8nhiều giới nghiên cứu về nhà thi sĩ Tản Đà, nhưng chưa có một ai nghiên cứu
về những biểu tượng đặc sắc trong thơ Tản Đà, từ đó đánh giá vị trí, vai trò của
nó trong sự nghiệp thơ ca của thi sĩ Qua những biểu tượng trong các sáng tácthơ Tản Đà, ta hiểu được những giá trị tiềm ẩn, ý nghĩa nhân văn sau từng biểutượng cũng như những quan niệm, tư tưởng mà nhà thơ muốn gửi gắm trong
đó Từ đó có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí những sáng tác củaTản Đà trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Để hiểu rõ một cách sâusắc hơn các tác phẩm văn học cũng như có thể đóng góp một phần tri thức vàoviệc nghiên cứu, giảng dạy, tìm hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường, chúng
tôi mạnh dạn tìm hiểu: “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” để tìm ra những giá trị
tiềm ẩn, khuất sâu trong từng biểu tượng đó
Tản Đà xuất hiện trên văn đàn với Khối tình con đã gây ảnh hưởng mạnh
mẽ: “Dựng ra một cái văn phái mới”, “Quốc dân nhiều người cổ võ” vì “có
giọng mới, ý lạ” như lời công nhận và ca ngợi của Phạm Quỳnh Khi Giấc mộng con xuất hiện trên văn đàn, Phạm Quỳnh đã phê phán nặng nề “Không
những không có ích mà còn có hại”, “là đánh thuốc độc cho cả nước”, và răn đe
“cái vạ hư văn từ trước tới nay đã gây ra cái gương vong quốc rồi đó” (Nam Phong, số 24).
Cũng như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc không cho Giấc mộng con là
văn chương, theo ông văn chương phải là “vỏ bọc tư tưởng” (Nam Phong, số 17).
Tư tưởng cá nhân hay cái tôi cá nhân của Tản Đà, cụ thể là Giấc mộng con đã vượt ngưỡng, đã thái quá đối với quan niệm của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Ngọc Chính vì lý do đó, nên trong tuyển tập Đào nương ca,
Trang 9Nguyễn Văn Ngọc không tuyển hát nói của Tản Đà, mặc dù hát nói của Tản Đàđược nhiều người đương thời thích và tuyển vào sách của họ.
Khi Thơ mới xuất hiện và được khẳng định, thì Tản Đà được đưa ra làm
đối tượng phê phán về sự cổ lỗ, báo Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn đưa Tản Đà ra giễu Năm 1936, Lưu Trọng Lư đã khinh mạn “Nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò” trên báo Ngày nay.
Tuy nhiên, đến năm 1939 sau khi Tản Đà qua đời, ông lại được đề cao.Nếu như trước đây các nhà Thơ mới xếp Tản Đà vào quá khứ thì giờ đây Tản
Đà được khẳng định những đóng góp với thơ văn hiện đại
Xuân Diệu đã đánh giá Tản Đà là “người mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại, dám có một cái tôi, dám cho trái tim và linh hồn được có quyền sống cái đời riêng của chúng” Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công
Hoan, Khái Hưng đã viết chân dung Tản Đà ở những nét cá tính ngang tàng,phóng túng, tài hoa, dị thường Như vậy, đến năm 1939, Tản Đà đã được quantâm, khẳng định trên nhiều mặt
Năm 1942, Hoài Thanh, Hoài Chân (Thi nhân Việt Nam) và Vũ Ngọc
Phan (Nhà văn hiện đại) đã đánh giá “Tản Đà là người của hai thế kỷ, đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” [50].
Cùng năm đó, Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) đã đưaTản Đà vào chương trình dạy văn ở trong nhà trường - một biểu hiện đánh giácao tài năng của Tản Đà Dương Quảng Hàm cũng nhấn mạnh các yếu tố đãđược nhiều người nói đến như giọng điệu nhẹ nhàng, Việt Nam thuần túy, tínhngông ở Tản Đà
Năm 1957, nhóm Lê Quý Đôn trong (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam) nhận định “Thơ văn Tản Đà phản ánh tâm trạng chung của thời đại những năm
cách mạng Việt Nam dịu xuống Tản Đà là một tài năng bị chế độ thực dân phong kiến đè nén, bị những ngòi bút tay sai của nó vùi dập” [11, dẫn theo tr.135].
Trang 10Cũng trong năm 1957, trong Thơ Tản Đà chọn lọc, Nguyễn Hữu Đang
xếp Tản Đà gần với Nguyễn Đình Chiểu, qua các cuộc tranh luận những năm60,79
Năm 1974, trong giáo trình (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1930) được biên soạn và giảng dạy tại Đại học Tổng hợp, in- rô- nê - ô năm
1900-1977 đã xếp Tản Đà vào mẫu loại nhà nho tài tử…Tản Đà kết hợp văn học báchọc với văn chương bình dân, cách tân văn học cũ để hiện đại hóa văn học
Năm 1975, Nguyễn Khắc Xương đã chứng minh chủ nghĩa yêu nước củaTản Đà và xếp Tản Đà vào bộ phận văn học yêu nước cùng Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, Nguyễn Thông, Nguyễn Thiện Kê Chỉ có lòng yêu nước là tiêuchuẩn bao trùm cao nhất để khẳng định giá trị văn học, vì vậy những sầu cảmmộng mị, ngông cuồng ở Tản Đà đã bị thành kiến
Năm 1963, Tầm Dương viết bài Một hiện tượng văn học phức tạp và
năm 1964, toàn bộ ý tưởng trong bài này được hoàn chỉnh trong một công trình
công phu, công trình hướng tới một cách nhìn toàn diện Tản Đà khối mâu thuẫn lớn Tầm Dương nghiên cứu và khảo sát tư tưởng, lý giải cơ sở xã hội và
mâu thuẫn của nó trong thơ văn Tản Đà
Năm 1974, giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
[24] được biên soạn và giảng dạy ở Đại học Tổng hợp, in rô nê ô năm 1977.Trong giáo trình này tác giả Trần Đình Hượu đặt Tản Đà vào giao đoạn giaothời Đông - Tây, giải quyết lại các vấn đề yêu nước, giai cấp, tư tưởng, cảilương…đã đặt ra trước đó
Đến những năm cuối 70, đầu 80, Tản Đà không được bàn trên báo chí
Năm 1983, Xuân Diệu trong cuốn Thơ Tản Đà [5] tiếp tục khẳng định
Tản Đà đưa cái tôi cá nhân vào trong văn học
Từ điển văn học [1] tập II xuất bản 1984, Nguyễn Huệ Chi khẳng định
Tản Đà là một hiện tượng độc đáo, đột xuất, là cây bút phóng khoáng, một nhàthơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổ điển và Thơ mới
Trang 11Năm 1988, kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tản Đà, khoa văn Đại học Tổnghợp hội thảo khoa học đã khẳng định thêm vị trí cũng như đóng góp của TảnĐà.
Năm 1989, hội nghị Khoa học về Tản Đà do viện Văn học tổ chức tại HàNội đã mở rộng sự quan tâm nhiều mặt về Tản Đà
Năm 1997, Trần Ngọc Vương trong cuốn Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung [66] viết về Tản Đà với một số lượng trang khá lớn, với nhan
đề Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong tư tưởng và trong sáng tác của Tản
Đà Mặc dù được công bố năm 1997, nhưng bài viết đã được hoàn thành từ
năm 1976, dưới sự hướng dẫn khoa học của vị ân sư Trần Đình Hượu
Như vậy có thể thấy rất nhiều ý kiến trái chiều về Tản Đà nhưng cuốicùng họ đều đi đến khẳng định, công nhận những đóng góp của Tản Đà trongtiến trình văn học dân tộc, và vị trí của thi sĩ Tản Đà trong nền văn học ViệtNam hiện đại
Những công trình nghiên cứu về Tản Đà chủ yếu ở phương diện thi pháp,phong cách, cá tính Theo sự thống kê của Nguyễn Ái Học trong luận án Tiến sĩ
Thi pháp thơ Tản Đà [19] cho đến nay đã có hơn 300 công trình nghiên cứu,
giới thiệu, phê bình, bình luận ở các cấp về cuộc đời, thơ văn Tản Đà Và hiệntại vẫn còn có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu
về Tản Đà Như vậy có thể thấy được, thơ Tản Đà có một sức sống mãnh liệt,
có sức ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ bạn đọc Nguyễn Ái Học đã chialịch sử nghiên cứu Tản Đà thành ba hướng chính: thứ nhất là nghiên cứu Tản
Đà với cái Tôi ngông nghênh, cá tính Thứ hai là nghiên cứu thơ Tản Đà theohướng tìm hiểu tư tưởng, loại hình nhà văn Thứ ba là nghiên cứu thơ Tản Đàtheo hướng phân tích, bình luận, bình giảng các tác phẩm thơ
Là một nhà văn lãng mạn, đa sầu đa cảm Nên khía cạnh này cũng đượcnhiều nhà phê bình, nghiên cứu hướng đến Xuân Diệu đã từng nhận định:
“Chất lãng mạn thì vạn đại vốn có ở trong gió mây sấm chớp của trời đất, vốn
Trang 12có trong thơ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du…nhưng chủ nghĩa lãng mạn với cáitôi, cái bệnh của thế kỉ…với cái buồn mơ màng, cái cảm xúc chơi vơi của cáitôi…, phải những chục năm đầu của thế kỷ 20 với Tản Đà, mới có” [3, tr.9].
Trong cuốn Tản Đà thơ và đời [67], Nguyễn Khắc Xương đã đi nghiên
cứu tìm hiểu khá kĩ, chi tiết, cụ thể cuộc đời, con người cũng như những thăngtrầm trong sự nghiệp, những mối quan hệ phức tạp
Trong Tản Đà toàn tập [68], Nguyễn Khắc Xương đã nghiên cứu về thơ,
dịch thuật, văn xuôi của Tản Đà Đây là một công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ,
có giá trị lớn vì nó mang ý nghĩa bảo tồn, gìn giữ lại tất cả khối lượng tác phẩmcủa ông
Trong cuốn Tản Đà,khối mẫu thuẫn lớn [8], Tầm Dương đã nghiên cứu
chỉ ra những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến cá tính, sự nghiệp của Tản Đà “Tản
Đà là nhà văn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có can đảm sinh sốngbằng ngòi bút của mình Tản Đà chính là nhà văn thứ nhất mà “vợ dại con thơ,
sự sinh hoạt trông nhờ ngòi bút”[8, tr.33] Tác giả cũng khẳng định có nhân tốlãng mạn trong những sáng tác của Tản Đà, bởi nếu không có nhân tố lãng mạnthì có thể những vần thơ của Tản Đà đã không còn đượ bạn đọc yêu mến và tồntại
Trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại [71] đã giới thiệu, tập hợp những
lời bình, sự nghiệp, giai thoại về Tản Đà Đây có thể coi là một công trìnhnghiên cứu khá kĩ càng và sắc nét, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, đachiều về con người và cuộc đời Tản Đà Sống trong bối cảnh đất nước rối ren,
sự giao thời của cái cũ, mới nên thơ ông cũng bị ảnh hưởng Trong cuốn sáchnày cũng tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng như:Nguyễn Khắc Xương, Trần Ngọc Vương, Trần Đình Hượu…
Lịch trình tiếp cận Tản Đà tuy mới chỉ là một quãng ngắn, nhưng chắcchắn đã được tiếp xúc với những vấn đề cơ bản Tản Đà còn là một nhà thơ cònđược tiếp tục nghiên cứu và bộ môn lịch sử văn học, lý luận văn học còn tiếp
Trang 13tục được điều chỉnh, phát triển Như vậy có thể thấy rằng, ngoài những côngtrình nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng trên, còn có rất nhiều bài báo,nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về Tản Đà trên nhiều phương diện, nhiềumặt khác nhau Đó cái tôi cá nhân ngông nghênh, cá tính, phóng khoáng củaTản Đà; ảnh hưởng của văn học dân gian đến thơ Tản Đà; những cảm hứng chủđạo trong thơ; thơ thất ngôn của Tản Đà;loại hình ký giả, văn nhân…tất cả đềuđược các tác giả nghiên cứu tỉ mỉ và khá rõ ràng Tuy nhiên qua tìm hiểu,chúng tôi nhận thấy rằng những công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến cuộcđời tác giả với những thăng trầm, phong cách, cá tính ngông nghênh, nghệ thuậtthơ ca Tản Đà… chứ chưa ai nghiên cứu sâu, kĩ về những biểu tượng trong thơTản Đà từ góc độ nội dung và nghệ thuật.
Trên cơ sở những đánh giá, bình luận, nghiên cứu văn học suốt quá trình
qua, chúng tôi tiến hành tìm hiểu “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” với hy vọng
sẽ hé lộ được nhiều vấn đề lý thú chưa được khai thác, và để khẳng định đượcnhững đóng góp cũng như ảnh hưởng của nhà thơ đối với nền văn học ViệtNam hiện đại
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tiếp cận các tác phẩm thơ của Tản Đà theohướng phân tích những biểu tượng chủ đạo, tiêu biểu Từ đó bạn đọc sẽ thấyđược cái hay, cái đẹp, đặc sắc trong nghệ thuật sáng tác thơ Tản Đà Thông quanhững biểu tượng đó ta thấy được tâm hồn, tình cảm của nhà thơ đối với conngười cũng như cảnh sắc tươi đẹp của non sông, quê hương, dân tộc mình.Ngoài việc nghiên cứu khoa học cho chính bản thân, hi vọng đề tài sẽ đóng gópmột phần nhỏ làm tư liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc, cho nhà trường phổthông trong việc đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, cảm thụ thơ Tản Đà
Hướng tới những mục đích trên, chúng tôi đi vào giải quyết những nhiệm
vụ sau:
Trang 14Đi sâu vào nghiên cứu “Biểu tượng trong thơ Tản Đà” nhằm tìm ra
những đặc trưng, thể hiện của biểu tượng và những ý nghĩa sâu xa, giá trị tiềm
ẩn khuất lấp trong từng biểu tượng đó
Trên cơ sở đó, một lần nữa khẳng định những đóng góp của ông trongtiến trình phát triển của văn học dân tộc
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là “Biểu tượng trong thơ Tản Đà”.
Chúng tôi tập trung vào tìm hiểu một số biểu tượng tiêu biểu trong các tácphẩm thơ Tản Đà, đó là những biểu tượng có ý nghĩa phổ quát, xuất hiện nhiềulần và phổ biến trong các tác phẩm từ đó tạo nên những giá trị đích thực cho tácphẩm Do đó, đối tượng nghiên cứu của luận văn là Biểu tượng trong thơ Tản
Đà trên bình diện nội dung và nghệ thuật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài luận văn “Biểu tượng trong thơ Tản Đà”, do đó đề tài nàychúng tôi tập trung chủ yếu vào các sáng tác thơ của Tản Đà, cụ thể là 304 bàithơ trong Thơ Tản Đà (2012), Nxb Văn học [40]
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề của đề tài nêu ra, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn hướng đến những đóng góp ý nghĩa:
Tiếp cận các tác phẩm thơ Tản Đà từ phương diện biểu tượng nhằm phântích, đưa ra những giá trị tiềm ẩn sau những biểu tượng Từ đó khẳng định đượcvai những đóng góp của Tản Đà trong tiến trình nền văn học Việt Nam
Trang 157. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Những biểu tượng tiêu biểu trong thơ Tản Đà
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Tản Đà
Trang 16Chương 1 THƠ TẢN ĐÀ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN TÀI
1.1 Biểu tượng và khái niệm có liên quan
1.1.1 Biểu tượng (Symbol)
Biểu tượng là một khái niệm đã được đưa vào nghiên cứu trên nhiềuphương diện ở nhiều nơi trên thế giới Ngay cả Việt Nam, biểu tượng cũng đãđược nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra khái niệm
Trong tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ “symbol” được bắtnguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng…
Theo Từ điển tiếng Việt (GS Hoàng Phê): “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào các giác quan đã chấm dứt” [42, tr.132].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi): “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [15, tr.1].
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier): “Biểu tượng
cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [27, tr.76].
Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thếgiới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ratrước đó, được lưu giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hìnhthành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng không phải hoàn
Trang 17toàn là thực tế, bởi vì nó xây dựng lại hình ảnh thực tế sau khi đã được tri giác.Nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát
từ những hoạt động tâm trí của chủ thể
Tuy nhiên cần hiểu rằng, không phải bất cứ hình ảnh nào cũng là biểutượng, nó phải cao hơn hình ảnh và mang một ý nghĩa sâu xa, giúp con ngườikhơi gợi ra những giá trị tiềm ẩn mà không phải ai cũng nhận thấy ngay Vì thế,biểu tượng phải là những hình ảnh chứa đầy ý nghĩa sâu sắc, mà khi đi sâukhám phá nó,ta mới cảm nhận được hết được những tầng nghĩa đó
Biểu tượng luôn gắn liền với cuộc sống, trải qua một quá trình từ khi conngười có thể ý thức được đến khi trưởng thành, chúng ta đã tích lũy được chobản thân mình vốn sống, kinh nghiệm sống và được lưu giữ trong trí nhớ.Những hình ảnh của sự vật hiện tượng mà chúng ta thường gặp trong cuộc sốnglại hàm chứa một ý nghĩa sâu xa khác theo cách cảm nhận riêng của mỗi ngườitạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng Những hình ảnh đó được nhà văn đưa vàotrong các sáng tác của mình thường xuyên và gửi gắm vào trong đó những ýnghĩa sâu xa của chính bản thân về cuộc đời và con người Khi độc giả tiếp xúcvới những hình ảnh quen thuộc đó sẽ nhận ra được dụng ý của nhà thơ, nhà văngửi gắm trong đó, làm cho những tác phẩm đó có sức sống và tồn tại cùng thờigian Đó là những biểu tượng mang tính cá nhân được nhà thơ quy định Ngượclại, trong một thời điểm lịch sử nhất định, trong một xã hội nhất định, có nhữnghình ảnh được cả cộng đồng đó thừa nhận và nó mang một dụng ý sâu xa ẩnchứa trong hình ảnh đó, trải qua một thời gian dài nó vẫn mang ý nghĩa nội hàmnhất định không thay đổi thì nó sẽ trở thành biểu tượng của cả cộng đồng đó
Nếu như với người Việt Nam chúng ta, hoa sen được coi là biểu tượngcho sự thanh xuân, tinh khiết, biết hòa nhập, thích nghi với môi trường, thanhlọc những chất nhơ bằng thân rễ của chính mình giữa mênh mông nước nổi,ngai ngái mùi bùn nhưng vẫn vươn lên rạng ngời Thì ở đất nước Nhật Bản,
Trang 18loài hoa anh đào được coi là biểu tượng cho cái đẹp, sức sống mãnh liệt, cho sựkhiêm nhường nhẫn nhịn Loài hoa tưởng như mong manh, yếu đuối không thểtrụ nổi trước những cơn gió, bão nhưng vẫn hiên ngang, vẫn vươn lên khoe sắcvới đời Như vậy, có thể thấy rằng biểu tượng cộng đồng phải được cả xã hội
đó thừa nhận và mang một ý nghĩa nhất định cho cả cộng đồng đó Trải quamột thời gian dài với những biến cố, thăng trầm của lịch sử nó vẫn giữ nguyênđược những giá trị, ý nghĩa nhất định mà không hề bị chết yểu, vẫn luôn tồn tạicùng thời gian, đó mới được coi là biểu tượng
Hiện nay, biểu tượng vẫn được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ranhững định nghĩa khác nhau dựa trên những cơ sở, quan điểm riêng, nhưngtrong những định nghĩa đó ta vẫn thấy có những đặc điểm chung về biểu tượng.Biểu tượng chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng kháchquan đã được tri giác từ trước Nó kích thích, gợi mở, giúp chúng ta vượt quadáng vẻ bên ngoài để đi tìm ý nghĩa ẩn kín, thiêng liêng và đạt tới cõi siêu thực
1.1.2 Biểu tượng văn hóa
Văn hóa là một khái niệm nội hàm mang ý nghĩa rất rộng với nhiều cáchhiểu khác nhau bao gồm cả hai khía cạnh vật chất như: nhà cửa, đồ đạc,phương tiện, quần áo…và khía cạnh phi vật chất như ngôn ngữ, tư tưởng, giátrị…nó mang những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
Theo G.S Đinh Gia Khánh đã nói: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội” [28, tr.4].
Theo Từ điển tiếng Việt của Hồng Mây - Ngọc Sương - Minh Mẫn: “Văn hóa
là những điều hiểu biết, kiến thức có trình độ cao, biết cách cư xử” [34, tr.341].
Do đó có thể hiểu được văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộphận trong đời sống con người, không chỉ liên quan đến tinh thần mà còn baogồm cả vật chất
Trang 19Như vậy biểu tượng văn hóa là bất cứ cái gì mang một ý nghĩa cụ thểđược cộng đồng người nhận biết Từ vật chất, phi vật chất: âm thanh, đồ vật,hành động đến ký tự, ngôn ngữ…đều là biểu tượng văn hóa Biểu tượng vănhóa luôn tồn tại trong đời sống xã hội, nó có khi hiện diện trong các phong tục,tập quán, lễ hội của con người hay những tìn hiệu dân gian như: Cây Nêu - biểutượng văn hóa trong các lễ hội của người Cor, nhà Gươl- biểu tượng văn hóacủa người Cơ Tu hoặc có khi chúng lại được khai thác ở những lĩnh vực tâmlinh, trong nghệ thuật truyền thống như: Biểu tượng Âm - Dương trong sự sống
- chết, trong hôn nhân, trong mỗi quốc gia, dân tộc; Biểu tượng chùa Một Cột, biểu tượng long, ly, quy, phụng…
Khi nói đến trang phục của dân tộc Việt Nam, ta có thể nghĩ ngay đến Áodài Trải qua nhiều thời, kỳ, nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, nhưng tà áodài vẫn tồn tại cùng thời gian Nó được xem là trang phục truyền thống, là biểutượng của văn hóa dân tộc Việt Nam Áo dài được xem như một trang phụcchuẩn mực cho những dịp đặc biệt, trang trọng như những ngày lễ lớn của đấtnước, lễ cưới hỏi, ngày tết, ngày tốt nghiệp và cả những cuộc thi quan trọng
Áo dài luôn được người phụ nữ Việt Nam coi trọng bởi nó tôn lên vẻ đẹp hìnhthể của người phụ nữ, đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc Không chỉ đơnthuần là cái áo - áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục người phụ nữViệt, tạo thành sản phẩm văn hóa vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻduyên dáng của người phụ nữ Việt
Chung quy lại, biểu tượng chính là một thành tố cơ bản, quan trọng đểtạo nên văn hóa Những biểu tượng mang giá trị vật chất và tinh thần đó đicùng với sự phát triển của cộng đồng con người và xã hội đã trở thành nhữngtinh hoa, thành những biểu tượng văn hóa truyền thống để lại những dấu ấn,những giá trị nhân văn cao cả của cộng đồng con người và dân tộc
1.1.3 Biểu tượng văn học
Biểu tượng văn học là các biểu tượng nghệ thuật cấu tạo lại thông qua tínhiệu ngôn ngữ trong văn học Vì vậy trước hết có thể thấy biểu tượng nghệ
Trang 20thuật trong văn học giúp cho tác giả bộc lộ được những tư tưởng, tình cảm cánhân, bộc lộ được nội tâm sâu kín trong tâm hồn mình.
Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý phân biệt được biểu tượng khác với hìnhảnh Hình ảnh có được do chúng ta dùng cảm giác hoặc tri giác sự vật hiệntượng, cho nên hình ảnh là ở thì hiện tại, nó thể hiện trọn vẹn cái chủ thể trigiác được Nhưng khi đi vào các tác phẩm văn học, hình ảnh đó không chỉđược tác giả tri giác mà còn mang thêm những tâm tư, tình cảm, cảm xúc Biểutượng được hình thành trên cơ sở tri giác và cảm giác được lưu giữ lại trong ýthức, do đó biểu tượng cao hơn cảm giác Xét trong toàn bộ tác phẩm văn học,biểu tượng đó phải là những hình ảnh mang sức gợi lớn, được lặp đi lặp lạinhiều lần
Biểu tượng văn học thường có sự cộng hưởng bởi các yếu tố lịch sử, vănhóa, xã hội của dân tộc Ngay từ trong văn học dân gian, đã có rất nhiều biểutượng mang giá trị văn hóa sâu sắc, ý nghĩa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộcViệt Nam Hình ảnh “dải yếm” của người phụ nữ Việt Nam đã trở thành mộtbiểu tượng cho vẻ đẹp của người thiếu nữ, là cầu nối gặp gỡ, tình tự giao duyên
và biểu thị một tình yêu thủy chung son sắt… Đến những tác phẩm văn học vềsau, các tác giả cũng sử dụng những biểu tượng nghệ thuật mang đậm dấu ấn cánhân để tăng giá trị và chiều sâu cho tác phẩm của mình Nó giúp cho tác phẩm
có sức hút, ấn tượng vừa mang một vẻ đẹp thẩm mỹ vừa giúp người đọc đạtđược sự khoái cảm của trí tuệ Điều đó tạo nên sức hấp dẫn, mới lạ cho vănchương nghệ thuật
Hay một biểu tượng hay được nhắc đến trong các tác phẩm, đó là “câytre”
Trong thơ Nguyễn Duy, “cây tre” là biểu tượng cho tâm hồn, khí phách,dân tộc Việt Nam Cây tre còn là biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất, anhdũng… Nó xuất hiện khá nhiều trong những tác phẩm văn học, từ những câutruyện truyền thuyết, cổ tích cho đến những tác phẩm văn chương hiện đại
Trang 21“Biểu tượng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực "phi lý" đồng
thời lại là phương tiện để khái quát về một giá trị, một ý nghĩa nào đó của hiệnthực Điều đó nói lên biểu tượng khi thì tách xa, khi thì xích lại gần với hìnhtượng nghệ thuật, nhiều khi nó lại có những nét và những thuộc tính của hìnhtượng nghệ thuật Và, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, hình tượng nghệ thuật sẽ trởthành biểu tượng
Biểu tượng không chỉ biểu thị một sự việc nó đã hoàn thành, mà cònbiểu thị cái đang phát triển Nó không chỉ biểu thị mặt bảo thủ, mà còn biểu thịmặt năng động của cuộc sống
Ví dụ: "ngọn đuốc" tượng trưng cho sự khai sáng, tiến bộ; "cờ đỏ" tượng
trưng cho cách mạng Trong các tác phẩm nghệ thuật có giá trị và nổi tiếng,chúng ta thường hay gặp những biểu tượng biểu thị cho sự tiến bộ, phản kháng
sự lạc hậu hoặc mang ý nghĩa khẳng định công lý và chủ nghĩa nhân đạo, trong
đó tập trung những tình cảm và ước vọng cao
1.2 Tác giả Tản Đà
1.2.1 Nhà nho tài tử sống trong thời hiện đại
Tản Đà là biệt hiệu tên ghép của núi Tản và sông Đà, tên thật là NguyễnKhắc Hiếu (1889-1939), là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà báo “cómột không hai” trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20 Tản Đà nổi lên như mộtbiểu tượng vừa độc đáo, vừa khác biệt, vừa dồi dào năng lực sáng tác
Tản Đà sinh ra trong một gia đình truyền thống khoa bảng, cha làNguyễn Danh Kế, thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sửtrong Kinh Mẹ là Lưu Thị Hiền, có nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm, là một đàohát tài hoa ở Hàng Thao, Nam Định Bà là người hát hay, có tài làm thơ Nôm
Về sau ông Kế lấy bà về làm vợ lẽ khi ông làm Phú Xuân Trường
Biến cố, sóng gió bắt đầu xuất hiện khi Tản Đà lên 3 tuổi thì cha mất, mẹ
bỏ đi Về sau chị ruột cũng theo nghề mẹ… Tất cả những sự kiện đó đã để lạidấu ấn khó phai trong tâm hồn Tản Đà, hấp thu nền nho giáo từ nhỏ và rồi từ
Trang 22đây, cuộc đời ông là những vết trượt dài đầy đau khổ và đắng cay trong trườngđời và tình đời.
Năm 1913, người anh cả nuôi của Tản Đà mất, ông về Vĩnh Phú làm báo,công tác cho “Đông Dương tạp chí” Cũng từ đây ông cho ra đời nhiều tácphẩm, nhiều cuốn sách hay, gây được nhiều tiếng vang lớn
Tản Đà sinh ra trong thời kì xã hội loạn lạc, đất nước bị chiếm đóng,nhân dân khổ cực lầm than, triều đình phong kiến bất lực Thực dân Pháp saukhi tiến hành càn quét, xâm lược chúng bắt đầu tiến hành công cuộc cai trị đấtnước trên tất cả mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Hàng triệulinh hồn Việt bị chà đạp, bị nhốt chặt trong guồng máy cai trị của chúng Trênlĩnh vực văn hóa, chúng tiến hành đem học thuật phương Tây gieo rắc, phổ biếnvào toàn thể đồng bào, dân tộc Việt để phục vụ cho việc cai trị cũng như củng
cố thế đứng vững chắc, đồng thời làm mai một đi nền văn hóa truyền thốn củadân tộc Việt Nam ta Hồn thể của Tản Đà đã thầm nhuần, hấp thu nền nho họcĐông phương từ nhỏ, nhưng trong thời kì loạn lạc, giao tranh chữ quốc ngữngày càng được phổ biến trong xã hội Ra đời và lớn lên là một nhà nho phongkiến quý tộc nối đời khoa bảng, là sinh đệ tử của Khổng - Mạnh, Tản Đà là mộtnhà nho đích thực Nhà nho ấy lại sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, một thời
kỳ quá độ của xã hội Việt Nam Đó là một tấm thảm kịch của Tản Đà, là nguồngốc của những mâu thuẫn nội tâm giằng xé trong con người ông
Trong hoàn cảnh hiện tại, Tản Đà cực kỳ nhạy bén, ông cho rằng khôngthể cứ mãi theo đuổi lối văn chương kiểu “chi, hồ, giả, dã” được Tản Đà cũngnhư những tri thức buổi giao thời hiểu sâu sắc rằng, muốn đánh đuổi Pháp,trước hết phải học Pháp, mà cái cần học đầu tiên là chữ quốc ngữ Do đó,không có gì ngạc nhiên khi một nhà nho theo lối học cử nghiệp, vốn quen thuộcvới văn, sách, thơ, phú, thơ luật Đường…như Tản Đà lại có thể dễ dàng hòanhập với những tri thức mới mẻ của nên văn hóa phương Tây và chữ quốc ngữ.Tản Đà là người đầu tiên trong Việt Nam sử dụng hình thức thơ mới thích hợp
Trang 23với nội dung của thời đại Thế nhưng, ông cũng đã vội lùi bước về vị trí củagiai cấp mình, nhiệt thành chấn hưng Khổng học, đề cao lễ giáo phong kiến.Ông viết văn xuôi rất hay, sắc sảo, nhuần nhuyễn Văn xuôi Tản Đà đã đề cậpnhiều vấn đề của xã hội đương đại bằng một lối văn giàu tính nghệ thuật, hấpdẫn, sáng tạo, mới mẻ có bản lĩnh.
Trong lĩnh vực thơ ca cũng vậy, các sáng tác của ông mang lại bản sắcriêng, độc đáo, không lẫn vào đâu được Chính Xuân Diệu cũng đã từng viết “
Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”, (báo Ngày Nay, số ra 17/6/1939) Trong thơ ông đã có rất nhiều tư tưởng cách tân, nhiều
tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn vượt qua ngoài khuôn khổ sáo cũ Trong các sángtác của mình, Tản Đà luôn hướng theo một phong cách riêng “Chẳng lề chẳnglối cũng văn chương” Tản Đà luôn trong một tư thế ngông nghênh, kiêu ngạo,phá phách muốn thoát khỏi những định luật, định kiến gò bó, khuôn sáo của xãhội
“Tản Đà là một nhà nho, nhưng không phải loại nhà nho chính thống hành đạo, ẩn dật Ông là nhà nho tài tử, nhà nho tài tử sống trong môi trường khác, xã hội tư sản” [11, tr.439].
Là một nhà nho sống trong thời hiện đại, có những tư tưởng cách tântrong thơ ca của mình, thế nhưng ông vẫn giữ được những tư tưởng của mộtnhà nho Thơ ông có sự cách tân nhưng chưa đi quá giới hạn của mình, bởi cho
dù là nhà nho sống trong thời hiện đại, nhưng cốt lõi ông vẫn là một nhà nho
chân chính “Là nhà nho, cho dẫu là nhà nho tài tử, Tản Đà thật không đủ can đảm để sống và viết về những cảm giác mạnh như Xuân Diệu Đó không chỉ là cái ngưỡng của ông, đó cũng là cái ngưỡng của tất cả những người “nặng cân” đạo lý nho giáo như ông Trước hết là và chủ yếu là những giới hạn về nội dung thể hiện đã giữ Tản Đà lại Để rồi bị “xâu” vào chuỗi của những
“con cóc Nghè” [11, tr.489].
Trang 24Rõ ràng trong thời điểm đó, các nhà nho thường viết theo những chuẩnmực, quy phạm đã định sẵn, chứ ít ai dám vượt qua mọi khuôn khổ, rào cản đểthể hiện một phong cách riêng mình Chính cái sự mạnh dạn vượt ra ngoàikhuôn sáo cũ ấy đã tạo nên một giọng phóng túng riêng trong phong cách thơcủa Tản Đà.Tản Đà đã đem vào trong các tác phẩm của mình một cái tôi cánhân với một phong cách độc đáo, tuy chưa phải một nhà thơ mới như các nhàthơ mới lớp sau ông, nhưng đã tạo nên một dấu ấn lớn cho nền văn học ViệtNam hiện đại.
1.2.2 Tản Đà - Nhà nho lãng mạn giữa hai thế kỷ
Tản Đà đến với văn chương ở thời buổi cũ mới giao nhau Tản Đà làmthơ, viết văn như cho chính mình, thể hiện bản thân mình Ông có thể bất đắcchí về danh phận, nhưng lại đắc ý về tài năng: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất”,
và đắc ý về phong cách làm thơ: “ Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng”
Tản Đà vốn mang một cốt cách lãng mạn Tính chất lãng mạn trong thơTản Đà mang đậm dấu ấn của buổi giao thời đầy biến động, rối ren và phức tạp
Là một nhà văn thành thị, Tản Đà rất gần gũi với hình ảnh nhà văn tiểu tư sảnnhưng chưa được “tư sản hóa” Ở trong hình ảnh nhà văn trí thức tiểu tư sảnvẫn còn mang phong cách của một nhà nho Trong thời buổi cũ mới giao tranh,
xã hội loạn lạc nhiều nhà văn tư sản lãng mạn đã quay lưng với cuộc sống, xarời thực tại, không còn màng đến những biến động trong xã hội Đó chính lànhững tư tưởng lãng mạn tiêu cực, trốn tránh trách nhiệm, biểu lộ sự bế tắc của
cá nhân Còn với Tản Đà, dường như cái lãng mạn có phần khác với các nhànho thời xưa Đã đành, ông cũng không phải là nhà nho gặp thời, cuộc sống bấthạnh, nghèo khổ, con đường công danh dang dở, đường tình duyên lận đận…Nhưng ông không ngồi thở than cùng mây, núi, trăng, hoa, gió, không sống một
cuộc đời ẩn dật Điều đó được thể hiện rất rõ trong Giấc mộng con I,II, Giấc mộng lớn…
Trang 25Dù có chán chường với cuộc sống hiện tại, nhưng ông cũng không bao
giờ tỏ thái độ chán đời mà luôn có thái độ ham sống: “Ai đã đâu hay tớ chán đời/ Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi” (Còn chơi).
Tuy nhiên, sâu thẳm trong nội tâm của ông cũng có hai mâu thuẫn giằng
xé, một mặt là muốn gánh vác trách nhiệm với đời, mặt khác lại chán chườngmuốn rời đi Trong con người Tản Đà nhiều ước mộng, lắm khát khao cháybỏng luôn thôi thúc ông bước đi, nhưng đôi khi lại “tỉnh mộng” bởi trách nhiệmcủa nhà nho trước thời cuộc Hai trạng thái đó luôn song hành với nhau trongchính một con người, tuy nhiên cái trách nhiệm với cuộc đời luôn chiến thắng.Chính vì vậy mà dù có tư tưởng lãng mạn nhưng lại không thoát ly với thực tại
Dù có phiêu du, xê dịch đi khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ hay bay lên trờitâm sự cùng với các vị tiên, thánh nhân hay mỹ nhân, có chăng cũng chỉ là đểtìm cách giải thoát cho tâm hồn của mình Phải “mộng” thì mới tỉnh để nhìnnhận hiện thực, cuộc sống một cách sâu sắc, đúng đắn Thế nên khó có thể nóirằng Tản Đà đi vào cõi mộng để thoát ly thực tại hay để bày tỏ tâm sự gắn bóvới cuộc đời, đất nước
Nếu thoát lý và lãng mạn là biểu tượng của một cơn khủng hoảng tinhthần lớn, là những dấu hiệu đổ vỡ của cả một quốc gia liên hệ với mọi tầng lớpđến nhiều thế hệ, thì đến thế kỷ này, người Việt mới thực thấu đáo ngán ngẩmtrong nỗi buồn sầu đi sâu trong sự lãng mạn và thoát ly Tản Đà đã hình dungđầy đủ cho hồn lãng mạn và sự thoát ly sâu sắc này Trong những giấc mộngkia, ông gặp nào Khổng Tử, nào Giêsu, nào Thích Ca, nào Lư Thoa, nàoVoltaire, nào Hàn Thuyên, nào Nguyễn Trãi, nào Đoàn Thị Điểm… cốt ý đểgiãi bày tư tưởng của ông, những ý tưởng mà ông cho là hạng người trần gian
hạ giới không sao cảm thông và thưởng thức được… “Kế tục Tản Đà, nhữngnhà thơ lãng mạn lớp sau như Thế Lữ cũng đã đi vào cái cảnh giới thần tiên,nghe lại cái “tiếng sáo Thiên Thai”, và dõi tìm theo những vẻ đẹp thoáng qua,hay Xuân Diệu, Huy Cận đã vẽ lại một thời xưa hoa lá thơm tho, chim kêu suối
Trang 26chảy tháng năm lờ lững trong Gởi hương cho gió, Lửa thiêng…”[11, tr 336].
Tuy là một nhà thơ lãng mạn nhưng ông không hề quay lưng với thực tại.Điều này khác với những nhà nho “lãng mạn thuần túy” Khi chán nản với cuộcsống hiện tại, các nhà nho không gặp thời thường rũ bỏ trách nhiệm hoàn toàn,thoát ly khỏi thực tại bế tắc Nhưng với một tinh thần trách nhiệm, Tản Đà luônquan tâm đến những vấn đề của xã hội, những kiếp đời lao khổ, nhìn cuộc đờivới đôi mắt đầy chân thực Qua đó thể hiện cả tình yêu quê hương đất nước,dân tộc mình Đẹp nhất, giàu hình ảnh nhất, và biểu trưng cho sự lãng mạn của
Tản Đà là các bài thơ Tống biệt, Thề non nước Trong nghề thơ có ba điều khó
nhất: Tả cái vô hình, tả cái bất động, tả cái tối mù; thì Tản Đà làm được: Tả cái
vô hình trong bài Tống biệt, và cái bất động với bài Thề non nước, đây là một
trong hai bài thơ hay nhất của Tản Đà, biểu lộ tài năng của một thi sĩ lãng mạn
mà không xa rời cuộc sống
1.3 Khái quát về biểu tượng trong thơ Tản Đà
Tản Đà là một nhà nho tài tử sống trong một xã hội mà văn học đangchuyển hóa từ mô hình văn học trung đại sang hiện đại, thế nên ta bắt gặp trongthơ ông một cái ngông nghênh ngạo nghễ của một cái tôi cá nhân Nhưng ta lạivẫn thấy ẩn sau trong cái ngông đó là một tâm hồn yêu nước, nặng tình nặngnghĩa sâu sắc với non sông, thiên nhiên, đất nước, con người Chính vì lẽ đó,bên cạnh những bài thơ bộc lộ cái ngông của một đấng quân tử trước thời buổigiao thoa giữa cái cũ và cái mới, ta vẫn thấy được vẻ đẹp của quê hương, củadân tộc mình, và nó được nhắc đi nhắc lại khá nhiều trong những trang thơ củaông Dưới ngòi bút đó không chỉ gợi lên cho ta những hình ảnh gần gũi củathiên nhiên, của đất nước mà sau những hình ảnh đấy ẩn chứa một tình yêunước sâu sắc và một nỗi buồn vô hạn của một nhà nho yêu nước đương thờiđang lâm nguy trong cảnh nước mất nhà tan Vì vậy, những hình ảnh đó đãđược nâng lên một mức độ cao hơn, dần trở thành những biểu tượng nổi bật,tiêu biểu trong thơ ông
Trang 27Là một nhà thơ yêu thích chủ nghĩa ‘xê dịch”, khắp mọi miền tổ quốchầu như nơi nào cũng in dấu bước chân của ông Vì vậy, trong thơ ông ta thấy
có rất nhiều địa danh gắn với lịch sử của nước nhà Những hình ảnh về thiênnhiên, cảnh đẹp, con người cũng được ông nhắc đến nhiều lần trong thơ vớimột nỗi niềm tâm trạng mà khó giãi, tâm sự cùng ai Hình ảnh những ngườiphụ nữ lam lũ, tảo tần nuôi chồng nuôi con, hi sinh cả nhan sắc, thanh xuân củamình đã trở thành một biểu tượng đẹp cho người phụ nữ Việt Nam chịu thươngchịu khó Hay những hình ảnh con cò, con thuyền, hình ảnh hoa sen, dòngsông được lặp lại với tần suất khá lớn trong thơ Tản Đà là những hình ảnh đặctrưng của nông thôn Việt Nam góp phần làm cho tâm hồn người đọc trở nênphong phú hơn về phong tục tập quán, sinh hoạt của nhiều vùng miền tổ quốc,qua đó củng cố thêm tình yêu nước sâu sắc của độc giả
Trong thơ Tản Đà có rất nhiều biểu tượng được lặp lại với tần suất khálớn, tuy nhiên khi đi vào khảo sát chúng tôi nhận thấy có những biểu tượng nổibật, tiêu biểu xuất hiện trong thơ
Qua quá trình khảo sát những bài thơ của Tản Đà, bên cạnh những bàithơ nói về đề tài tình yêu, người phụ nữ, về chính bản thân mình thì đa sốnhững bài thơ của ông thường hướng về đề tài non sông, quê hương, đất nước.Những biểu tượng chúng tôi đề cập đến rất gần gũi, quen thuộc nhưng đồngthời nó cũng được lặp đi lặp lại với tần xuất khá lớn trong thơ và mang một ýnghĩa nhất định
Đất là một biểu tượng được nhắc đến khá nhiều trong thơ Tản Đà, gợicho ta hiện thân về tình yêu thương bao la, hiền hòa của đất mẹ, tại nơi này,những thực thể vươn lên để lan tỏa sức sống mãnh liệt, được thể hiện chínhmình, được thể hiện cảm xúc, niềm vui và được trải nghiệm cả những buồn đaucủa cuộc sống hiện thực Để rồi, cuối cùng khi không còn bám trụ lại được trêncõi đời này nữa, nó sẽ vụt tắt, sẽ héo rũ đi, khi đó đất mẹ bao dung, thương yêulại dang cánh tay ra để đón nó vào lòng Đất là một biểu tượng rất hay và mang
Trang 28một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, bên cạnh đó biểu tượng này còn có những biếnthể riêng góp phần tạo nên sự sinh động, hấp dẫn khi đi khám phá, nghiên cứubiểu tượng này.
Trong những trang thơ của Tản Đà, khi đi vào phân tích, nghiên cứu,khám phá, chúng ta sẽ thấy được một biểu tượng có sức ảnh hưởng khá lớn làbiểu tượng Trời Nó biểu hiện cho cái ngông nghênh, kiêu ngạo của một cái tôi
cá nhân, vừa phản ánh xã hội đương thời, coi văn chương chỉ là một thứ hànghóa để mua đi bán lại chứ không hề được trân trọng, nâng niu, để thưởng thức
và cảm thụ nó Thông qua biểu tượng này, ta ngậm ngùi thương cảm cho nhữngthân phận trí thức nghèo giao thời phải chấp nhận thức văn chương hàng hóachứ không được coi đó là một tác phẩm nghệ thuật
Bên cạnh đó, nổi bật lên đó là biểu tượng Nước – biểu tượng cho nguồnsống, cho sức sống đang tuôn chảy không bao giờ cạn kiệt Hay đó là biểutượng Dư đồ, một biểu tượng nói lên cảnh nước mất nhà tan và sự dửng dưngcủa những thế hệ thanh niên chỉ biết chạy theo những thú vui của cuộc sống màquên mất nhiệm vụ chính của mình Tất cả những điều đó được thể hiện rất rõqua những bài thơ chất chứa đầy tâm sự của Tản Đà
Những biểu tượng trên mang một ý nghĩa sâu xa, mang một giá trị vănhóa và giá trị lịch sử dân tộc Do đó, qua khảo sát, chúng tôi phát hiện, tra cứu
và chọn lọc ra những biểu tượng tiêu biểu nhất để nghiên cứu đó là những biểu
tượng Trời, Đất, Nước, Dư đồ (có mục lục kèm theo).
Những biểu tượng đó góp phần quan trọng trong việc thể hiện tình cảmcủa nhà thơ đối với quê hương, đất nước vừa mang ý nghĩa sâu xa khác đượcthể hiện trên những trang viết của Tản Đà
Trang 29Tiểu kết chương 1
Trong chương I, chúng tôi đã đề cập đến những vấn đề lý luận liên quanđến đề tài Qua việc mạnh dạn đưa ra những kiến thức về khái niệm biểu tượng,biểu tượng văn hóa, biểu tượng văn học để từ đó dễ dàng đi sâu vào khai thácnhững biểu tượng đặc trưng trong thơ Tản Đà Bên cạnh đó, chúng tôi cũngkhái quát lại vài nét về tác giả Tản Đà với - một nhà nho tài tử, lãng mạn giữahai thế kỷ… Những vấn đề được nghiên cứu ở chương I sẽ là cơ sở để chúngtôi triển khai và tiếp tục phân tích ở chương II của đề tài
Trang 30Chương 2 NHỮNG BIỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG THƠ TẢN ĐÀ
2.1 Biểu tượng Nước
2.1.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng
Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier ý nghĩa
tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống,phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh Ba chủ đề này thường gặp trongnhững truyền thuyết cổ xưa nhất và hình thành những tổ hợp đa dạng nhất vàđồng thời cũng chặt chẽ nhất
Nước là khối vật chất chưa phân hóa, là hình tượng của số lượng vô cùnglớn của những khả năng diễn biến, chứa đựng cái tiềm tàng, cái phi hình, cáimầm mống của mọi mầm mống, tất cả mọi hứa hẹn về sự phát triển, nhưngcũng chứa đựng mọi mối đe dọa bị tiêu tan Đầm mình trong nước để rồi lại đi
ra mà không tự hòa tan hết vào trong đó, trừ khi do một cái chết tượng trưng,
đó là trở về nguồn cội, tự tiếp nguồn cho mình trong một kho dự trữ tiềm năngrộng mênh mông và lấy ở đó một sức mạnh mới: là một bước thoát lui và tan rãnhất thời, tạo tiền đề cho một bước tiến lên để tái thống hợp và tái sinh
Trong kinh Vệ Đà ca ngợi những dòng nước mang lại sự sống, sức mạnh
và sự thanh khiết về mặt tinh thần cũng như về mặt thể xác:
Hỡi những Dòng nước hồi sức cho đời,
hãy mang lại cho chúng tôi sức mạnh,
sự cao cả, niềm vui, cảnh mộng!
…Hỡi những Dòng nước, nữ chúa của những điều kỳ
diệu, là những vị nữ nhiếp chính của mọi giống nòi!
…Hỡi những Dòng nước, hãy ban cho phương
thuốc đầy đủ tính năng toàn vẹn
để trở thành một tấm áo giáp bảo vệ con người tôi,
Trang 31và nhờ đó tôi được nhìn lâu dài ánh sáng mặt trời!
…Hỡi những Dòng nước, xin hãy cuốn đi
cái tội lỗi này, dù lớn hay nhỏ mà tôi đã phạm,
cái điều không hay mà tôi đã gây ra cho ai đó, câu thề nguyện dối trá mà tôi đã thốt ra.
(Bản dịch của Jean Varenne, VEDV 137) Trong những nền văn hóa khác nhau,
có những biến thể về các chủ đề chính yếu này, giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đisâu hơn vào những tầm cỡ và những sắc thái trong ý nghĩa tượng trưng của
nước, trên một cơ sở gần nhưđồng nhất
Tại châu Á, nước là một dạng thức thực thể của thế giới, là nguồn gốc sựsống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng sinhsôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh
Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hòa tan; nhưng chất lỏng thuần nhất, nó
có khuynh hướng liên kết và đông tụ
Người Trung Hoa nói nước là wouki (Vô cực) là cái Không có Đỉnh, làtrạng thái hỗn mang không phân định ở thời nguyên thủy Những dạng nướctiêu biểu cho toàn bộ mọi khả năng của Bản Thể, chia tách thành Nước thượngđẳng (trên trời) tương ứng với những khả năng phi hình và Nước hạ đẳng (dướiđất) tương ứng với các khả năng hữu hình
Nước là nguồn gốc và phương tiện chuyển tải sự sống; Về mặt thể chất
và cũng do nước cũng là một thứ trời cho, nước được coi là một biểu tượng phổbiến về sự phì nhiêu và khả năng sinh sản dồi dào Người dân miền núi ở Nam
Việt Nam nói là nước của trời làm ra thóc lúa; họ cũng rất coi trọng chức năng
tái sinh của nước, đối với họ, nước là vị thuốc và là đồ uống trường sinh bất tử
Nước còn có công dụng là công cụ thanh tẩy theo nghi lễ, từ trong đạoHồi cho tới ở Nhật Bản, cũng như trong các nghi lễ của thầy phù thủy Tại Ấn
Độ và khắp Đông Nam Á, lễ tắm cho các tượng thánh và các tín đồ (đặc biệt làvào dịp năm mới) vừa là việc tẩy uế vừa nhằm tái tạo sự sống
Trang 32Nước thuộc âm, đối lập với lửa Nước tương ứng với phương Bắc, vớicái lạnh, với ngày đông chí, với thận, với màu đen, với quẻ khảm (quẻ này làvực thẳm của biển).
Trong truyền thống Do Thái và Kito giáo, nước trước tiên tượng trưngcho khởi đầu cuộc sáng tạo thế giới Chữ cái tiếng hêbrơ men tượng trưng chonước cảm tính: đây là người mẹ và tử cung Là nguồn gốc của muôn vật, nướcbiểu hiện cho cái siêu tại và do đó phải được coi là một dạng thần hiện
Nước đã có tính năng thanh tẩy lại còn có thêm một năng lực cứu sinh.Việc dìm xuống nước có tác dụng tái sinh, làm cho con người ra đời một lầnnữa, theo ý nghĩa của nước vừa là sự chết vừa là sự sống Nước xóa hết lịch sử
vì nó khôi phục con người trong một trạng thái mới Việc dìm mình trong nước
ví như việc chọn Chúa Kitô xuống mộ: sau khi bị hạ xuống dưới lòng đất, Chúa
đi lệch lạc của các tôn giáo đa thần và việc quay trở lại những điều mê tín dịđoan đã luôn đe dọa: Cái ma thuật rình rập cái thiêng liêng để làm cho nó suythoái trong tâm tưởng của con người
Nhưng nước có thể tàn phá và nhấn chìm, nuốt chửng, những cơn lốchủy hoại những cánh đồng nhỏ đang ra hoa Vậy là, nước có thể có thể có mộtsức mạnh gây tác hại Trong trường hợp đó, nước trừng trị những kẻ có tội,nhưng không thể làm hại những người chính trực, những dòng nước đó hóa
Trang 33thành nước của sự sống Cũng giống như lửa, nước cũng có thể dung làm mộtphương tiện thử tội Nước không phân xử mà những vật ném xuống nước tựphán xử.
Nước mưa - nước biển là biểu tượng của đối tính trên cao và dưới thấp,nước mưa thanh khiết, nước biển mặn Biểu tượng của sự sống: nước thanhkhiết có vai trò tạo dựng và thanh tẩy; nước mặn chát mang lại lời nguyền.Những dòng sông có thể mang lại lợi ích, hoặc là nơi ẩn náu của những loàiquái vật Những dòng nước cuộn sóng mang ý nghĩa của cái ác, sự hỗn độn.Những dòng nước lặng mang ý nghĩa về sự bình yên và trật tự Trong folklore
Do Thái, khi tạo ra thế giới, Chúa Trời đã phân chia ra các dòng nước thượngđẳng và hạ đẳng, chia thành nước dương và nước âm, tượng trưng cho sự yênlành, giống đực và giống cái, như vậy là, có cùng nội dung với hệ biểu trưngphổ biến
Nước mặn chát của đại dương là biểu tượng của nỗi khổ tâm Richard deSaint - Victor sau này nói rằng con người phải đi qua những dòng nước chátđắng, khi đã ý thức được vì cảnh khốn cùng của mình, nỗi cay đắng thánhthiện, đó sẽ hóa thành niềm hoan lạc Nước trong đại dương là Tinh chất thiêngliêng Nước này có đầy khắp trong vũ trụ và các ngọn sóng là những vật đượctạo ra
Vả lại, nước còn tượng trưng cho tính thanh khiết và được dung làmphương tiện tẩy uế Lời nguyện cầu theo nghi thức của đạo Hồi chỉ được coinhư thực hiện đúng phép khi người cầu nguyện đã tắm gội sạch sẽ theo nghithức, bao gồm nhiều quy tắc tỉ mỉ
Cuối cùng nước tượng trưng cho sự sống: nước hồi sinh mà con người tìmđược trong cõi tối tăm có tính năng làm sống lại Trong truyền thuyết thần bí củaĐạo Hồi, nhất là ở Iran, luôn luôn nhắc lại chủ đề này Trong những huyền thoại
về Alexandre đi tìm Nguồn nước sống, có người đầu bếp là Andras ra suối rửa mộtcon cá ướp muối, thấy cá sống lại và Alexandre cũng trở thành bất tử
Trang 34Nước tù đọng, dịch tương của đất từ đó sự sống nảy sinh, cũng được nóiđến trong nhiều huyền thoại về công cuộc sáng thế Theo một số truyền thuyếtcủa người Tuyết ở Trung Á, nước là mẹ của loài ngựa Trong truyền thuyết gốc
vũ trụ của người xứ Babylonie, khởi đầu mọi sự, khi đó còn chưa có trời đất,
mà chỉ có một thứ vật chất chưa phân hóa trải rộng mãi mãi, đó là những vùngđất nguyên sơ…
Cũng như trong những truyền thuyết trên đây, một đỉnh phù sa nhô lênkhỏi mặt nước là hình ảnh thường thấy trong những truyện thần thoại Ai Cập.Một đóa hoa sen lớn lên từ những vùng đất nguyên sơ, đó là cái nôi của mặttrời vào buổi sáng đầu tiên
Từ những biểu tượng cổ xưa coi nước là nguồn thụ tinh cho đất và sinh
ra những cư dân trên mặt đất, chúng ta có thể quay trở lại với những biểu hiệnphân tâm học của nước, được coi như là nguồn thụ tinh cho tâm hồn: sông nhỏ,sông lớn, biển là hình tượng của đời người và của những biến động của nhữngước muốn và cảm xúc
Nước là biểu tượng của những năng lượng vô thức, của những sức mạnhkhông định hình của tâm hồn, của những động cơ thầm kín và không cảm nhậnthấy
Như vậy có thể thấy trong từ điển, nước được quy vào ba phương diệnchính: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy và trung tâm tái sinh Mỗi quốc gia,mỗi khu vực lại có một cách nhìn nhận khác nhau về ý nghĩa của nguồn nước,điều đó được thể hiện rất rõ trong quan điểm, trong phong tục tập quán, trongsinh hoạt, văn hóa của họ Vậy khi đi vào trong thơ ca, liệu ý nghĩa của Nướccòn giữ được giá trị nguyên bản của nó không hay lại có cách hiểu, có những ýnghĩa khác, ta sẽ đi tìm hiểu một số bài thơ của Tản Đà
2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng Nước trong thơ Tản Đà
Nước là một trong bốn biểu tượng mà chúng tôi đưa vào khảo sát trongthơ Tản Đà Với tần số xuất hiện 198 lần cho thấy nước chiếm một vị trí khá
Trang 35quan trọng trong thơ ông Tuy nhiên từ ý nghĩa biểu tượng gốc khi đi vào trong thơ nó có sự biến thể như thế nào ta sẽ đi nghiên cứu vào một số bài thơ cụ thể.
Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
Đá hỏm hang đen tối tối mò
Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối
Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho
(Chơi chùa Hương Tích)Bài thơ hiện lên là hình ảnh chùa Hương Tích như một bức tranh mùathu thật đẹp và thơ mộng Thời gian cứ trôi đi, xuân đến rồi lại đi không để lạimột chút dấu vết Khách đến thăm cảnh chùa vẫn còn vấn vương cảnh cũ, nơi
đây dòng nước tuôn trong vắt, với những hang đá đen tối tối mò gợi cho khách
vãn cảnh biết bao điều bí ẩn vẫn còn muốn khám phá Dòng nước ở đây như lànguồn sống vẫn tuôn chảy muôn đời, đem lại sức sống cho nơi cảnh chùa yêntịnh này Tuy nhiên trong những câu thơ “Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt”,
“Đá hỏm hang đen tối tối mò” của Tản Đà lại làm cho người ta nhớ đến nhữngcâu thơ của Hồ Xuân Hương “Nước trong leo lẻo một dòng thông”, “Xoi ramột lỗ hỏm hòm hom” Có thể thấy rằng thơ Tản Đà cũng chịu sức ảnh hưởngcủa thơ Hồ Xuân Hương Mặc dù những câu thơ của Tản Đà có một ý nghĩasâu xa hơn hay chỉ miêu tả cảnh sắc chùa Hương, nhưng người đọc cũng nhậnthấy được phong cảnh hữu tình của non nước
Hình ảnh thiên nhiên, con đường cũ hiện lên với bao nhiêu kỉ niệm,cảnh vật vật vẫn nguyên vẹn nhưng người xưa nay còn đâu?
Này con đường cũ chỗ này đây
Kìa khúc sông kia đỉnh núi này
Trang 36Cảnh vật còn nguyên sông với núi
Người như hơi lạ nước cùng mây
Núi cao sông rộng là quê quán.
Nước chảy mây bay mấy tháng ngày.
Cảnh cũ người xưa thơ lại cũ
Đường đi vô hạn khách đông tây.
(Chơi con đường cũ)Hình ảnh con đường cũ, khúc sông, đỉnh núi…tất cả hiện lên gợi cholòng người biết bao nhiêu cảm xúc bồi hồi, xúc động Thời gian thắm thoắt đưathoi, sau bao năm quay trở lại đây cảnh vật vẫn như cũ Cảnh vật vẫn như cũ,người vẫn như xưa nhưng con đường đó lại trở nên dài ra, xa hơn với nhữngdòng người xuôi ngược khắp nơi Chỉ có mây vẫn bay, dòng nước là vẫn chảytrôi theo thời gian, vẫn đem lại sức sống cho nơi này…
Ngày xuân uống rượu ngâm thơ là một thú vui tao nhã của thi sĩ Tản Đà,cuộc sống sẽ nhàm chán biết bao nếu như không có thơ, không có rượu:
Trời đất sinh ta rượu với thơ
Không thơ không rượu sống như thừa.
Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ
(Ngày xuân thơ rượu)Cuộc đời của thi sĩ đã là một nỗi niềm bất hạnh, từ gia thế, tình yêu đến
sự nghiệp vẫn còn dang dở Mọi thứ diễn ra đều không suôn sẻ, thuận lợi Có lẽtất cả những nỗi niềm đó Tản Đà không biết san sẻ cùng ai, chỉ mượn ngòi bút
và trang giấy để trải niềm tâm sự Công danh, sự nghiệp như một nét mực mờ,mùi men nhạt đầy cay đắng Hình ảnh quê hương, đất nước lại hiện lên trongcơn say của nhà thơ:
Mạch nước sông Đà tim róc rách
Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ.
Trang 37Còn thơ còn rượu còn xuân mãi
Còn mãi xuân còn rượu với thơ
(Ngày xuân thơ rượu)Núi Tản sông Đà được biết nhà thơ nhắc đến với một tình yêu quêhương, non sông tha thiết Chính vì thế mà thi sĩ đã lấy bút danh là Tản Đà Dù
có xa quê hương, xa nơi thân thuộc gần gũi nhưng cảnh vật nơi đó vẫn mãi hiệnhữu trong tâm hồn thơ mộng của người thi sĩ Mạch nước sông Đà vẫn chảy
trôi cùng năm tháng, ngàn mây núi Tản vẫn in hình trong đôi mắt lơ mơ Mạch
nước đó như một nguồn sống, một thực thể ngàn năm cứ tuôn trào ra mãi Naytrong dịp uống rượu mùa xuân quê hương lại hiện lên trong những trang thơTản Đà với một nỗi nhớ thương thầm lặng
Hãy cùng ngó qua bóng dáng của Núi Tản sông Đà trong thơ ông thêm:
Con đường vô ngạn khách đông tây,
Ta nhớ ai mà đứng mãi đây.
Nước dợn sông Đà con cá nhảy,
Mây trùm non Tản cái diều bay.
(Quê nhà chơi mát cảm hứng)Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ được hiện lên trong thơ ca của ôngrất nhiều lần Thượng Khê là nơi gắn bó với cuộc đời của Tản Đà, vừa là nơimạch nguồn gợi trong lòng ông biết bao nhiêu cảm xúc Bài thơ Tản Đà viết vềquê hương mình, nhưng ẩn sâu trong đó là nói đến nỗi băn khoăn, nỗi cô đơncủa mình Là một con người có hoài bão, có ước mơ lớn, muốn mang trongmình trọng trách gánh vác cuộc đời nhưng đến giờ vẫn chưa làm được gì:
Nặng như quả đất còn quay được,
Cao đến ông trời khó với thay!
Có lẽ khi nhìn thấy dòng nước sông Đà chảy trôi bao la vô tận với nhữngảnh con cá trên sông một cách tự do, thỏa sức vùng vẫy, cánh diều
Trang 38bay trên đỉnh núi vi vu cùng cơn gió… Chính cái sự bay, nhảy của thiên nhiên
ấy đã làm cho cái khối tình chứa đầy tâm sự chất chứa trong lòng bấy lâu naycủa nhà thơ bùng lên, muốn thoát ra ngoài Tản Đà nhìn cảnh mà nghĩ đếnmình, nghĩ đến cuộc đời thăng trầm của mình chứ đôi khi không phải là chỉ đểvịnh cảnh
Cuộc đời dù có nhiều biến đổi, nhưng những nguồn nước ấy qua nămtháng vẫn chảy trôi như một nguồn sống bất tận:
Rung rinh nước chảy qua (thì) đèo
(Thuyền thì ai) thuyền ai một lá, dậm chèo quanh
non Đá trơ trơ mãi thì mòn,
Khối tình bóp bẹp vo tròn lại nguyên
…
(Đò đưa)Biểu tượng nước cứ được trở đi trở lại trong thơ Tản Đà như một sựsống không bao giờ cạn kiệt Cuộc sống vẫn cứ tiếp tục, thời gian vẫn cứ trôi đimãi Dòng nước này là dòng chảy tự nhiên hay định mệnh đang trôi? Tính chảytrôi của dòng nước đem đến hình dung sắc nét về số phận, cuộc đời con người.Mọi thứ theo thời gian có thể thay đổi, nước chảy đá mòn Nhưng khối tìnhduyên đó dù có thay đổi, có méo mó thì vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim củacon người
Biểu tượng nước khi đi vào thơ ca Tản Đà cũng đã có những biến thể, nóvẫn là một dạng của nước nhưng dưới một hình thức khác:
Cùng nong, cùng lá những mong chờ
Cái ruột con tằm bối rối tơ
Trả nợ cho dâu là sự thế
Thương tình bạn đến cũng buồn như!
Bồi hồi chín khúc cơn mưa lạnh
Trang 39Gớm nỗi không chồng đau đớn lạ
Đố ai đêm vắng dễ mần ngơ
(Cái ruột con tằm, Em ơi, bối rối mà vò tơ) Trong bài thơ là hình ảnh người phụ
nữ cô đơn trong đêm lạnh Hình ảnh người phụ nữ ấy làm cho ta liên tưởng đến
thi sĩ Hồ Xuân Hương Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non (Tự tình II) Thời gian chìm sâu vào trong bóng tối, chỉ có
tiếng trống điểm canh nổi bật trong không gian tĩnh mịch ấy Âm thanh dồndập, gấp gáp ấy như hối thúc vào lòng người Người phụ nữ quá lứa lỡ thì ấy lẻ
loi, trơ chọi với một nỗi bẽ bàng buồntủi trong không gian rộng lớn mênh mông
Người phụ nữ trong bài thơ Tản Đà cũng trong đêm vắng cô liêu, mộtmình lẻ bóng Thời gian cứ qua đi chỉ còn lại bóng dáng lẻ loi ấy trong đêm
vắng Hình ảnh mưa lạnh ở đây chính là mưa ở trong lòng người Nước mưa
biểu hiện cho sự thanh khiết, cho sức sống của vạn vật, cỏ cây hoa lá, cho sứcsống trong tâm hồn của con người, nhưng nó lại trở thành lạnh lẽo đến đáng sợ.Ruột gan rối bời, bối rối như tơ vò chứng tỏ rằng tâm trạng của người phụ nữ
đó đang hoang mang, dao động Hình ảnh đó gợi cho ta một sự thương cảm đếnlạ
Cơn mưa như một sự tái sinh cho con người, nó mang lại cho cuộc đờichút dư vị của cuộc sống thêm tươi tắn, đẹp đẽ hơn Nhưng dường như mongmột con mưa rào tháng ba trở nên quá khó khăn:
Tháng ba thiên hạ đợi mưa rào
Đợi mãi mưa mà chẳng thấy nao.
Kinh tế khó khăn trời tiếc nước
Văn minh hào nhoáng ếch trông sao
…
(Tháng ba không mưa)Mưa là một biến thể của nước, nó là một vòng tuần hoàn của tự nhiên.Nước bốc hơi lên ngưng tụ thành mây, khi tích lũy được cả những điều kiện
Trang 40cần và đủ, mây sẽ lại tạo thành mưa từ trên cao rơi xuống mặt đất Những hạtmưa tinh khiết ấy sẽ chảy về những đầm, hồ, sông, suối, biển tạo thành nhữnggiọt nước trên khắp trái đất này Tuy nhiên, thời tiết không chiều theo lòngngười, mong một cơn mưa thanh khiết vào tháng ba quả thật là rất khó Conngười cứ trông chờ, đợi mà mãi không có một hạt mưa nào Những hạt mưa đónhư nguồn sống của con người, như giải thoát cho con người khỏi những ngộtngạt, bức bối.
Trong bài thơ, một mặt tác giả nói đến mưa của thiên nhiên, nhưng mặtkhác Tản Đà cũng có những ngụ ý riêng được trải lòng qua những dòng thơ.Thời buổi kinh tế khó khăn, người dân phải chịu bao nhiêu khốn khó, vật lộnbươn trải với cuộc sống cơm áo gạo tiền Nhưng xã hội đó lại càng đẩy ngườidân đến chỗ khó khăn, bần cùng nhất, cuộc sống cứ mãi vất vả, gian nan…Nước, mưa rào ở đây có lẽ còn mang một ngụ ý, ẩn ý về những chính sách của
xã hội đương thời Dù cuộc sống của nhân dân có nghèo khổ, cùng cực nhưngchính quyền vẫn ngoảnh mặt làm ngơ
Trong từ điển nước biểu tượng cho nguồn sống, trung tâm tái sinh vàphương tiện thanh tẩy Khi đi vào thơ ca Tản Đà, nước không chỉ mang đúngnghĩa là dòng nước mà có những biến thể riêng của nó Qua khảo sát một số bàithơ của Tản Đà, chúng tôi nhận thấy nước hầu như được coi là nguồn sống củacon người, là sự thanh khiết, sự hồi sinh Điều đó góp phần thể hiện những tâm
tư suy nghĩ của tác giả Từ đó chúng tôi đi đến kết luận nước là biểu tượng cho
nguồn sống.
2.2 Biểu tượng Giời (Trời)
2.2.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới [27] thì Trời là một biểu tượng
gần như phổ quát mà qua đó con người thể hiện niềm tin vào một Sinh Linhthần thánh ở trên cao, người sáng tạo ra vũ trụ và bảo đảm cho sự phì nhiêu củađất (bằng những cơn mưa đổ xuống) Những Sinh Linh như thế có tài tiên tri và