Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 56 tuổi (Luận án tiến sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THANH PHƯƠNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án
là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra
trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và việt nam về tự nhận thức 9
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và việt nam về tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 21
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 32
2.1 Nhận thức 32
2.2 Tự nhận thức bản thân 36
2.3 Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 41
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 53
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 63
3.1 Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 63
3.2 Tổ chức nghiên cứu 67
3.3 Các phương pháp nghiên cứu 68
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI 91
4.1 Thực trạng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 91
4.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 121
4.2 Kết quả thực nghiệm tác động nhằm nâng cao tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu
Bảng 4.2 Kết quả tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và đánh
giá của giáo viên, phụ huynh về trẻ………
Bảng 4.3 Sự khác biệt về kết quả tự nhận thức bản thân của trẻ và đánh
giá của giáo viên, phụ huynh về trẻ theo giới tính và khu vực………
Bảng 4.4 Kết quả tự nhận thức về đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi
Bảng 4.5 Kết quả tự nhận thức về đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi………
Bảng 4.6 Kết quả tự nhận thức về đặc điểm xã hội và mối quan hệ của trẻ
với mọi người xung quanh
Bảng 4.7 Sự khác biệt về mức độ tự nhận thức về đặc điểm xã hội và mối
quan hệ với mọi người xung quanh của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các
trường mầm non……… ………… …
Bảng 4.8 Kết quả chung về cách ứng xử của cha mẹ trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi
Bảng 4.9 Tương quan giữa cách ứng xử của cha mẹ đối với các khía cạnh
tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi………
Bảng 4.10 Mức độ dự báo của cách ứng xử của cha mẹ đến tự nhận thức
bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi………
Bảng 4.11: Mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trước
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang Biểu đồ 4.1 Kết quả tự nhận thức bản thân của trẻ và đánh giá của giáo
viên và phụ huynh về trẻ ……… …… … …
Biểu đồ 4.1 Kết quả tự nhận thức bản thân của bé T.Đ và đánh giá của mẹ
so bé so với kết quả chung toàn mẫu………
Biểu đồ 4.3 Cách ứng xử của mẹ T.Đ so với kết quả chung toàn mẫu…
Sơ đồ 4.1 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện tự nhận thức bản thân
của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi……… …… ………
Sơ đồ 4.2 Mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng với tự nhận thức
bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi………
Đồ thị 3.1 Sự phân bố điểm tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Sự phát triển của xã hội đòi hỏi những yêu cầu đặt ra đối với mỗi quốc gia về nguồn nhân lực Vì vậy, tự nhận thức đúng đắn về bản thân càng trở nên quan trọng, bởi có hiểu đúng về bản thân, đánh giá đúng mình mới có thể thành công trong mọi hoạt động, giống như Tôn Tử đã từng nói: Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng Tự nhận thức về bản thân một cách đúng đắn, khách quan sẽ giúp
cá nhân thành công và hạnh phúc hơn trong cuộc sống, tránh được những sai lầm không đáng có do sự ảo tưởng hay sự tự ti về bản thân mang đến [31] Mặt khác, tự nhận thức bản thân đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, điều khiển hành
vi của mỗi người [38] Nó quyết định thái độ của cá nhân đối với bản thân, đối với người khác và đối với thế giới xung quanh Quá trình tự nhận thức bản thân được gắn liền với sự phát triển nhân cách ở mỗi người
1.2 Hiện nay, giáo dục mầm non được đổi mới theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, mọi hoạt động chăm sóc - giáo dục đều xuất phát từ nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ, luôn tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm và phát huy năng lực của bản thân Ngay từ lứa tuổi mầm non, trẻ em đã có nhu cầu nhận thức, tìm hiểu khám phá sự vật, hiện tượng xung quanh, trẻ sớm có hứng thú nhận thức đối với chính mình Đây có thể được coi là bước ngoặt đầu tiên trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ Tự nhận thức bản thân giúp trẻ nhận ra mình là một chủ thể riêng biệt, và cũng giúp trẻ khám phá cơ thể mình, phát hiện ra những cảm xúc, nhu cầu,
sở thích, khả năng của mình và nhận ra sự khác biệt của mình trong các mối quan
hệ với mọi người xung quanh Chính vì vậy, những hoạt động của trẻ ở lứa tuổi này
sẽ giúp trẻ kết nối tích cực với thân thể mình và với xã hội như một tổng thể Điều
đó, sẽ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập với tập thể, với xã hội và hình thành ở trẻ sự
tự tin vào chính mình
1.3 Tự nhận thức bản thân xuất hiện khá sớm ở trẻ mầm non, ngay từ cuối tuổi ấu nhi (24 - 36 tháng) [69; Tr.180] khi trẻ biết tách mình ra khỏi mọi người xung quanh để nhận ra chính mình, biết mình có một sức mạnh và một thẩm quyền
Trang 82
nào đó trong cuộc sống Tuy nhiên, ở độ tuổi này tự nhận thức bản thân của trẻ còn hết sức mờ nhạt Khi bước sang tuổi mẫu giáo (3-4 tuổi), đứa trẻ cũng chưa hiểu biết gì mấy về bản thân mình và những phẩm chất của mình [69] nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo (trẻ 5-6 tuổi) trẻ đã có những hiểu biết nhất định về bản thân mình khá toàn diện từ đặc điểm thân thể đến cảm xúc, tính cách, phẩm chất, khả năng của mình cũng như xác định được vị trí, cách ứng xử của mình với mọi người xung quanh theo chuẩn mực trong xã hội Mặt khác, trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cũng là độ tuổi cuối cho giai đoạn mẫu giáo, là lứa tuổi có đầy đủ những điều kiện để chuẩn bị vào lớp Một Trong điều kiện chăm sóc và giáo dục tại trường mầm non trẻ hoàn toàn
có thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ở tất cả
các lĩnh vực về thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm kĩ năng xã hội và thẩm mĩ
do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành [8]
1.3 Tự nhận thức bản thân và các vấn đề liên quan đến nội dung này cũng đã được một số tác giả trên thế giới quan tâm Tuy vậy, các nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này còn chưa nhiều Những công trình hiện có mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tự nhận thức bản thân trong mối quan hệ với tự ý thức, tự đánh giá như
S Franz (1979), V.V Xtolin (1985), Nguyễn Quang Uẩn (2007)[93]; [102]; [70], hoặc xem xét tự nhận thức bản thân như một kĩ năng sống cốt lõi trong công trình nghiên cứu cấp Bộ của tác giả Nguyễn Thanh Bình (2007); Nguyễn Công Khanh (2013) [4], [38] mà chưa đi sâu mô tả các mức độ biểu hiện tự nhận thức bản thân ở trẻ em lứa tuổi mầm non cũng như chưa làm rõ mối quan hệ của nó với sự phát triển
của trẻ
1.4 Việc nghiên cứu làm rõ mức độ và các biểu hiện tự nhận thức bản thân của trẻ về mặt thể chất, tâm lý, xã hội và mối quan hệ của trẻ với mọi người xung quanh cũng như đối sánh cùng với đánh giá của giáo viên và phụ huynh sẽ cho những kết quả xác thực để từ đó giúp gia đình phối hợp với giáo viên mầm non có phương pháp giáo dục trẻ phát triển toàn diện, giúp trẻ tích cực trải nghiệm, khám phá bản thân để có thể tự nhận thức mình, tự thay đổi, tự điều chỉnh thái độ, hành vi với chính bản thân trẻ và với mọi người xung quanh Điều này sẽ mang lại những
Trang 93
giá trị khoa học cả về mặt lý luận và thực tiễn trong bối cảnh đổi mới giáo dục của Việt Nam hiện nay
Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu: “Tự nhận thức bản thân của
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng đến tự nhận thức bản thân của trẻ
- Đề xuất và thực nghiệm tính hiệu quả một số biện pháp nâng cao tự nhận
thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi về nội dung và khách thể nghiên cứu:
- Về nội dung nghiên cứu:
Tự nhận thức là một vấn đề rất rộng, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi về 3 mặt: Tự nhận thức về đặc điểm thể chất của bản thân; Tự nhận
Trang 10- Về khách thể nghiên cứu gồm 690 người, trong đó có:
273 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 8 trường mầm non thuộc tỉnh Phú Thọ
273 phụ huynh của trẻ được điều tra
128 giáo viên mầm non và cán bộ quản lý trường mầm non
16 chuyên gia tâm lý giáo dục
b Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
Tiến hành khảo sát mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non trong địa bàn tỉnh Phú Thọ gồm hai khu vực thành thị và nông thôn, cụ thể:
Các trường mầm non khu vực thành thị: tại Thành phố Việt Trì: Mầm non Gia Cẩm, Hòa Phong; tại Thị xã Phú Thọ: Mầm non Hùng Vương; Phong Châu
Các trường mầm non khu vực nông thôn: Huyện Lâm Thao: Mầm non Thạch Sơn; Kinh Kệ; Huyện Tam Nông: Mầm non Cổ Tiết, Hiền Quan
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên ba phương pháp tiếp cận sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu xem xét tự nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong mối quan hệ biện chứng, tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các hoạt động: học tập, vui chơi, giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày của trẻ và các yếu tố ảnh hưởng từ bản thân trẻ, gia đình và trường lớp mẫu giáo, tác động đồng bộ đến tự nhận thức bản thân của trẻ
- Phương pháp tiếp cận phát triển: Sự hình thành và phát triển của mỗi cá nhân trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn phát triển sẽ có những cấu trúc tâm lý đặc trưng
Trang 115
riêng và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động Nghiên cứu TNTBT của trẻ được xem xét các hiện tượng tâm lý trong sự nảy sinh, biến đổi và phát triển của nó Cần thấy được sự phát triển của trẻ trong quá khứ, hiện tại và tương lai, đồng thời cũng phải thất được tính ổn định của nó trong một thời điểm nhất định, trong những điều kiện nhất định
- Phương pháp tiếp cận hoạt động: Hoạt động và sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân có mối quan hệ khăng khít với nhau Đặc biệt đối với trẻ em, hoạt động
là điều kiện để trẻ phát triển toàn diện Nghiên cứu tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phải được tiến hành trên cơ sở các hoạt động cụ thể của trẻ như: hoạt động giao tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, các hoạt động ăn ngủ, vệ sinh, các hoạt động tự phục vụ bản thân
4.2 Giả thuyết khoa học
Có nhiều biểu hiện về TNTBT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi được tìm thấy, song kết quả nghiên cứu cho thấy chúng được biểu hiện tập trung ở ba mặt, đó là: TNT
về đặc điểm thể chất của bản thân; TNT về các đặc điểm tâm lý (cảm xúc, nhu cầu, khả năng) của bản thân; TNT về đặc điểm xã hội và mối quan hệ của trẻ với mọi người xung quanh, trong đó TNT về đặc điểm tâm lý của bản thân là thấp hơn cả; Kết quả TNTBT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đạt mức trung bình, vẫn có xu hướng cao hơn so với đánh giá của cha mẹ và giáo viên về trẻ
Có sự khác biệt về mức độ tự nhận thức bản thân giữa trẻ nam và trẻ nữ; giữa trẻ khu vực có điều kiện môi trường sống khác nhau;
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi với các mức độ khác nhau như: tính tích cực của trẻ; Khả năng nhận thức của trẻ; ảnh hưởng của cha mẹ; giáo viên mầm non; môi trường nơi trẻ sinh sống Trong đó, cách ứng xử của cha mẹ có tác động mạnh nhất
Có thể làm thay đổi tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nếu tác động lên một hay nhiều yếu tố trên Đặc biệt, nếu điều chỉnh cách ứng xử của cha mẹ một cách phù hợp thì sẽ nâng cao TNTBT của trẻ
Trang 126
4.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp xử lý số liệu bằng toán học thống kê
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Về lý luận
- Góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lý luận về tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi vào tâm lý học xã hội, tâm lý học sư phạm như: tự nhận thức;
tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi;
- Xác định được các chỉ báo cơ bản về sự phát triển tự nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở ba khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội
- Dựa trên các chỉ báo được xác định, luận án đã dịch thuật, chuyển nghĩa
và xây dựng bộ công cụ bằng tranh vẽ để đánh giá mức độ TNTBT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
5.2 Về thực tiễn
- Luận án đã xác định được mức độ và biểu hiện tự nhận thức bản thân của trẻ
MG 5-6 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ở cả khu vực thành thị và nông thôn Trong
đó, TNT về đặc điểm thể chất có mức độ cao nhất và TNT về đặc điểm tâm lý của trẻ có mức độ thấp nhất
- Luận án đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tính tích cực, khả năng nhận thức của trẻ và các yếu tố từ cha mẹ, cô giáo, môi trường sống có những tác động nhất định đến TNTBT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, trong đó sự tác động từ phía cách ứng xử của cha mẹ là mạnh nhất
Chính cách ứng xử của cha mẹ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến TNTBT của trẻ
Vì vậy, cha mẹ muốn con tự tin hơn, nhận thức tốt hơn, phát huy tối đa tiềm năng
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về lý luận
- Luận án hệ thống hóa các tri thức liên quan đến tự nhận thức bản thân và
bổ sung nguồn tài liệu cho nghiên cứu, đào tạo về chăm sóc, giáo dục và phát triển nhân cách cho trẻ em lứa tuổi mầm non
- Kết quả nghiên cứu của luận án giúp các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở khoa học để xác định các nội dung tự nhận thức bản thân và tiêu chí đánh giá tự nhận thức bản thân
- Dựa trên kết quả nghiên cứu của luận án, các nhà giáo dục sẽ có cơ sở khoa học để xây dựng các biện pháp chăm sóc giáo dục hiệu quả nhằm nâng cao
tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
6.2 Về thực tiễn
- Luận án đã nghiên cứu và làm rõ mức độ biểu hiện TNTBT của trẻ MG 5-6 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ về các mặt: TNT về đặc điểm thể chất của bản thân; TNT về đặc điểm tâm lý của bản thân; TNT về đặc điểm xã hội và mối quan hệ của trẻ với những người xung quanh
- Luận án cũng đã chỉ ra thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động từ phía cha mẹ, giáo viên, môi trường sống và khả năng nhận thức, tính tích cực của trẻ đến TNTBT của trẻ MG 5-6 tuổi Từ đó, chỉ ra sự cần thiết phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trên cơ sở tôn trọng trẻ và phát huy tối đa tiềm năng của trẻ
- Kết quả nghiên cứu thực trạng dựa trên sự kết hợp của các phương pháp định lượng và định tính đã đưa ra cái nhìn chính xác, toàn diện về kết quả TNTBT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Trên cơ sở đó, các phụ huynh, giáo viên mầm non và cán
Trang 147 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình của tác giả
đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án được trình bày trong bốn chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Trang 159
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
VỀ TỰ NHẬN THỨC
Tự nhận thức là một hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm đông đảo của nhiều tác giả Từ những nghiên cứu về tự nhận thức có thể khái quát thành các hướng nghiên cứu cơ bản về vấn đề này như sau:
1.1.1 Hướng thứ nhất: Nghiên cứu tự nhận thức trong mối quan hệ với cái tôi
Trong Tâm lý học nhân cách, “cái tôi” được nghiên cứu như một thành phần quan trọng của nhân cách Để hình thành một con người như một chỉnh thể trọn vẹn có
cá tính, giúp cá nhân phân biệt với những người khác nhờ “cái tôi” của mình, vì vậy quá trình hình thành nhân cách bao gồm cả việc hình thành hình ảnh “cái tôi” tương đối bền vững, tức là một quan niệm toàn vẹn về bản thân mình Vấn đề tự nhận thức trong mối quan hệ với “cái tôi” được thể hiện rất rõ trong nghiên cứu của các nhà phân tâm học, mà nổi bật ở đây phải kể đến các kết quả nghiên cứu của S Freud
Đối với nhân cách, lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud có ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng khắp trên toàn bộ sự phát triển về mọi mặt xã hội trong thế kỷ
XX S.Freud đã xây dựng nên quan điểm được hệ thống đầu tiên về bản chất tâm lý của loài người, tạo thành những công cụ và phương tiện cho việc khám phá nhân cách và hành vi Theo Freud, nhân cách của con người khi hình thành thì gồm có ba ngôi: “cái ấy”, “cái tôi” và “cái siêu tôi” “Cái ấy” bao gồm tất cả các xung lực bản năng thôi thúc đứa bé đòi hỏi được thỏa mãn để tìm khoái cảm; hoạt động của “cái ấy” hoàn toàn vô thức, chạy theo khoái cảm, không cần biết đến thực tế hay xã hội Ngay từ lúc mới sinh ra em bé được cha mẹ đáp ứng mọi nhu cầu, nhưng dần dần
em bé phải tuân theo một số ràng buộc Mâu thuẫn giữa em bé và thực tế dần dần tạo nên “cái tôi”, em bé cảm nhận về bản chất của mình đối lập với các đồ vật và những người khác, hay chính là bắt đầu cảm nhận được thực tế Đây chính là nguồn gốc của “cái tôi”, sau này chính là ý thức của con người, biết suy nghĩ và hành động theo đòi hỏi của thực tế chứ không phải chạy theo dục vọng của bản thân Lúc này, những cấm đoán và mệnh lệnh, yêu cầu và sự khuyên bảo của người lớn dần dần
Trang 1610
được nhập tâm và cũng biến thành vô thức chi phối hành vi của đứa trẻ, “cái siêu tôi” xuất hiện Khi đó, không còn là những mệnh lệnh của bố mẹ nữa mà trở thành những quy tắc trừu tượng ẩn náu trong vô thức, giống “như là xuất phát tự đáy lòng của trẻ” Cái “siêu tôi” xuất hiện và đảm nhiệm chức năng kiểm soát cái tôi, ra lệnh cho cái “tôi” [72; tr.10]
Ngoài ra, S Freud cũng đã chỉ ra rằng, bản ngã tiếp tục hoàn thiện phần chức năng của nó bằng cách làm đáp ứng và thỏa mãn những nhu cầu bản năng Chức năng thực sự của bản ngã phụ thuộc vào sự tiếp xúc và tương tác của cá nhân với thế giới bên ngoài, chức năng này được mở rộng dần Như vậy, theo quan điểm của Freud thì khi đứa trẻ cảm nhận được về mình là lúc đứa trẻ đã bước đầu nhận ra mình, nhận ra sự khác biệt của mình đối với mọi thứ xung quanh
Tiếp tục phát triển quan điểm của S Freud, trong quan điểm về ý thức bản ngã, nhà phân tâm học Hartmann đã khẳng định, bản ngã đáp ứng nhiều chức năng hiện thực khách quan khác nhau như sự thay đổi của thế giới xung quanh và nhận thức tri giác Tiếp đó, gồm cả nhận thức về thế giới bên ngoài và nhận thức về bản thân và tri thức, sự hiểu biết về bản thân Bản ngã “điều khiển tư tưởng, ngôn ngữ, khả năng hiểu biết sự vật, trí nhớ, bản chất của tính cách và hoạt động cá nhân Thêm vào đó, bản ngã chịu trách nhiệm vận hành cơ chế bảo vệ và thực hiện chức năng tổng hợp năng động, liên quan đến sự điều phối và hòa hợp chức năng nhân cách tổng thể của cá nhân” [dẫn theo 3; tr 139] Ông dùng khái niệm “cá tính” để
đề cập đến quan điểm về thế giới nội tâm Theo ông, cá tính phản ánh những nét tính cách của cá nhân và cũng điều khiển cả những chức năng quan trọng khác như suy nghĩ, kí ức và nhận thức Đây cũng có thể được coi là một trong những khía cạnh TNTBT
Cùng đứng trên quan điểm tâm lý học nhân văn, nhưng Abraham Maslow lại nhìn nhận tự nhận thức bản thân gắn với nhu cầu của mỗi cá nhân Nghiên cứu của Abraham Maslow về các động cơ của con người và sự nỗ lực phấn đấu để đạt được
sự thể hiện đầy đủ tiềm năng bản thân Ông đã xây dựng hệ thống thứ bậc của nhu cầu Ở tầng đáy của thứ bậc nhu cầu này là các nhu cầu về sinh lý, tầng kế tiếp là nhu cầu an toàn, đây là hai loại nhu cầu được thể hiện rõ ở đối tượng là trẻ em Khi các nhu cầu được thỏa mãn, cá nhân tìm đến thỏa mãn các nhu cầu có thứ bậc cao
Trang 1711
hơn Tuy nhiên, các nhu cầu phát triển bản thân sẽ bị yếu hơn và dễ bị áp đảo nếu các nhu cầu cơ bản, thứ yếu không được thỏa mãn Ở đỉnh của hệ thống thứ bậc nhu cầu là nhu cầu tự thể hiện đầy đủ tiềm năng của bản thân, tiêu biểu cho sự nhận thức
và việc thực hiện các khả năng đặc biệt nhất của con người [dẫn theo 3;tr.307] Nghiên cứu về tự nhận thức trong mối quan hệ với “cái tôi” cũng được Hall
và Lindzey quan tâm Theo các tác giả, “cái tôi” được hiểu theo hai nghĩa khác
nhau Thứ nhất, “cái tôi” được coi như một khách thể, lúc này “cái tôi” như một
thực thể hay là một đối tượng trong lĩnh vực kinh nghiệm Đó chính là quá trình cá nhân tự nhận thức về chính bản thân mình, bao hàm mọi sự phân tích và tổng hợp của cá nhân đó về cá tính riêng của chính mình Thứ hai, “cái tôi” lúc này được xem như là một quá trình, xem bản thân như là một nhóm các quá trình tâm lý như sự nhận thức, sự chú ý, ý tưởng, kí ức… có thể được bao hàm trong đó, và sự nhận thức bản thân cũng chịu sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Định nghĩa này có nhiều điểm tương đồng với bản ngã của S.Freud [dẫn theo 3; tr.264]
Ngoài ra, tự nhận thức bản thân cũng được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác
Nhìn chung, các nghiên cứu theo hướng này các tác giả nước ngoài đều chỉ
ra mối liên quan giữa “cái tôi” với tự nhận thức ở mỗi cá nhân, sự ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hình thành tự nhận thức của mỗi người TNTBT cũng có thể được hiểu là sự hiểu biết của cá nhân về cái tôi của mình, nó bao hàm nhiều khía cạnh: cái tôi vật chất, cái tôi xã hội, cái tôi tâm hồn hoặc cái tôi tốt, cái tôi xấu Mặc
dù tiếp cận từ những hướng khác nhau, song các kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đều chỉ ra khá nhiều điểm tương đồng giữa “cái tôi” và TNTBT ở mỗi cá nhân
Kế thừa và phát triển hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã khẳng định một lần nữa về mối quan hệ giữa TNTBT với “cái tôi” trong các công trình nghiên cứu của mình, cụ thể là:
Tác giả Dương Thị Diệu Hoa và cộng sự, trong nghiên cứu về sự phát triển tâm lí của trẻ em đã nhận định: “Dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân
Trang 1812
cách là sự xuất hiện của tự ý thức, còn được gọi là “cái tôi” hay ý thức bản ngã, tức
là tự nhận thức về bản thân mình [19; tr.103] Theo nhóm tác giả trẻ tự nhận thức bản thân liên quan đến bốn sự kiện sau:
Thứ nhất, trẻ tự nhận ra hình dáng bên ngoài và các bộ phận của bản thân Thứ hai, trẻ nhận ra và kiểm soát được cảm xúc của mình
Thứ ba, hình thành cái tôi ban đầu về bản thân
Thứ tư, tự đánh giá được hành vi của bản thân
Ngoài ra, các tác giả còn nghiên cứu khả năng tự đánh giá bản thân của lứa tuổi thanh niên liên quan đến “cái tôi” của chúng với các câu hỏi: Tôi là ai? Tôi là người như thế nào? Tôi có những năng lực vượt trội nào? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi phải làm gì để cho bản thân tôi cũng như mọi người xung quanh được tốt hơn? [19; tr.203] Như vậy, nhu cầu tự nhận thức bản thân ở mỗi lứa tuổi
là một trong những vấn đề cần được giải quyết và quan tâm Mặc dù đã có những
mô tả về tự nhận thức bản thân ở các lứa tuổi khác nhau, song nhóm tác giả cũng chưa khái quát được đặc điểm hình thành và phát triển tự nhận thức trong quá trình hoàn thiện nhân cách của cá nhân
Dưới góc độ của tâm lý học khác biệt, nhóm tác giả Ngô Công Hoàn, Trương Thị Khánh Hà cho rằng “tự ý thức là khả năng nhận biết được những điểm khác biệt của bản thân trong so sánh với những người xung quanh” Đồng thời, cũng xác định rằng tự nhận thức “cái tôi” bản thân được hình thành sớm trong quá trình phát triển
cá thể, “vào khoảng 3 tuổi trẻ đã nhận biết được tên gọi của mình, biết mình là gái hay trai, theo đó cố gắng hành động phù hợp với vị trí xã hội là con,cháu, là em hoặc là con trai hay con gái “Cái tôi” bản thân sau này chính là chủ nhân của mọi hành vi hoạt động cá nhân Trong mọi trường hợp “cái tôi” bản thân giữ vai trò điều khiển, điều chỉnh hành vi hoạt động cá nhân [26; tr.203]
Như vậy, ở hướng nghiên cứu này, TNTBT được hiểu là sự hiểu biết của cá nhân về cái tôi của mình, nó bao hàm nhiều khía cạnh: cái tôi vật chất, cái tôi xã hội, cái tôi tâm hồn hoặc cái tôi tốt, cái tôi xấu Mặc dù tiếp cận từ những hướng khác nhau, song các kết quả nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra mối quan hệ giữa TNTBT với “cái tôi”, chúng có mối liên quan chặt chẽ và có nhiều điểm tương đồng
Trang 19Trước hết, theo I.S Kon khi xem xét các nội dung của tự ý thức trong một cấu trúc tầng bậc, cũng đã nhận định “Tự ý thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao
gồm: Thứ nhất, ý thức về tính đồng nhất của mình; Thứ hai, ý thức về cái tôi của bản thân mình như là cơ sở của tính tích cực hoạt động; Thứ ba, ý thức về những
thuộc tính và phẩm chất tâm lí của mình và thứ tư là hệ thống xác định những ý kiến tự đánh giá về mặt đạo đức xã hội” [49; tr.9] Như vậy trong kết quả quả nghiên cứu này, cấu trúc tự ý thức có liên quan khá nhiều đến nội dung TNTBT, khi mỗi cá nhân nhận thức chính mình thì sẽ xuất hiện tự ý thức ở cá nhân đó
Tác giả S Franz (1979) khi nghiên cứu về tự ý thức cho rằng “Tự ý thức là ý thức về chính bản thân mình, là sự trở nên có ý thức đối với những hiểu biết về bản thân, sự trở nên có ý thức về những cảm xúc riêng của bản thân” [93; tr.43] Như vậy, theo quan điểm của tác giả S Franz cũng đã cho thấy, TNT chính là những hiểu biết về các thông tin liên quan đến bản thân, ở đó bao gồm việc con người hiểu biết được bản thân mình (hiểu biết về khả năng, năng lực và những phẩm chất của bản thân) Cá nhân không chỉ hiểu biết về các hiện tượng tâm lý đang có ở mình mà còn ý thức được cả những hiểu biết ấy Khi con người nhận thức được bản thân mình, con người thường tỏ thái độ (vui, buồn, hài lòng hay không hài lòng… với bản thân) và con người còn ý thức được cả những xúc cảm riêng ấy S Franz khẳng định: Tự nhận thức là quá trình phong phú và phức tạp [dẫn theo 39; tr 32]
Kết quả nghiên cứu của A.G Xpirkin cũng đã chỉ ra nội dung phản ánh của tự
ý thức, nó bao gồm tất cả những đặc điểm, những thuộc tính về cơ thể, về tâm lí và nhân cách của bản thân chủ thể “Tự ý thức là sự tự giác của con người về hành động cũng như kết quả hành động của bản thân mình, về tư tưởng, tình cảm, bộ mặt
Trang 20và mối quan hệ giữa tự nhận thức với tự ý thức trong bản thân mỗi cá nhân
Nhìn chung ở hướng nghiên cứu này, các tác giả nước ngoài đều khẳng định
tự nhận thức bản thân như là một thành phần cơ bản của tự ý thức Đặc biệt, đã chỉ
ra mối quan hệ chặt chẽ giữa tự nhận thức với tự ý thức trong quá trình hình thành
và phát triển nhân cách của mỗi người
Kế thừa quan điểm nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, nhiều tác giả Việt Nam đã đồng tình hoặc phát triển hướng nghiên cứu này trong các công trình nghiên cứu nghiên cứu của mình [15], [23], [27], [63], [70] Con người không chỉ ý thức về các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh mà cao hơn nữa con người còn có khả năng tự ý thức, tức là có khả năng tự nhận thức về bản thân mình, tự xác định được thái độ đối với bản thân và biết tự điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình cũng như biết tự hoàn thiện chính mình theo hướng tích cực nhất Trong quá trình mỗi các nhân tham gia các hoạt động, giao tiếp trong xã hội sẽ hình thành ý thức về bản thân mình (ý thức bản ngã - tự ý thức) dựa trên cơ sở so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã hội mỗi cá nhân sẽ tự nhận thức, tự học hỏi và hoàn thiện mình
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành đã chỉ ra rằng, khả năng tự ý thức là một trong các thuộc tính cơ bản của ý thức Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, tự ý thức bắt đầu từ khi trẻ bước vào tuổi mẫu giáo
Trang 21Luận án đủ ở file: Luận án full