Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi (Luận án tiến sĩ)
Trang 1-
GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO
5 – 6 TUỔI QUA LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2018
Trang 2-
GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO
5 – 6 TUỔI QUA LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI
Chuyên nghành: Lý luận và lịch sử giáo dục học
Mã số: 9140102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thị Hoàng Yến
TS Đào Thị Bình
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được công bố trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đào Thị My
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án “Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi” được hoàn thành tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương, Trường Thực nghiệm Hoa Hồng, các thầy cô giáo và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Nguyễn Thị Hoàng Yến, TS Đào Thị Bình, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của các cán bộ quản
lý, giáo viên mầm non, các cháu mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non: Thực nghiệm Hoa Hồng, Thực hành Hoa Sen, Hoa Thủy Tiên, Mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Đào Thị My
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI QUA LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Nghiên cứu về hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức 8
1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo qua làm quen với văn học thiếu nhi 14
1.2 Các khái niệm công cụ 18
1.2.1 Hành vi 18
1.2.2 Hành vi đạo đức 21
1.2.3 Giáo dục hành vi đạo đức 24
1.2.4 Làm quen với văn học thiếu nhi 25
1.3 Hành vi đạo đức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 27
1.3.1 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 27
1.3.2 Biểu hiện của hành vi đạo đức 31
1.4 Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với các tác phẩm văn học thiếu nhi 32
1.4.1 Văn học thiếu nhi và vai trò của nó trong chương trình giáo dục mầm non đối với việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 32
1.4.2 Một số thể loại và đặc điểm của văn học thiếu nhi 36
Trang 61.4.3 Cơ hội hình thành biểu tượng hành vi đạo đức qua làm
quen với văn học thiếu nhi 39
1.4.4 Giáo dục hành vi đạo đức qua làm quen với văn học thiếu nhi 42
1.4.5 Quá trình hình thành hành vi đạo đức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi 46
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi 50
Kết luận chương 1 53
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI QUA LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI 54
2.1 Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo trong Chương trình Giáo dục mầm non 54
2.1.1 Mục tiêu giáo dục trẻ mẫu giáo trong Chương trình Giáo dục mầm non 54
2.1.2 Nội dung giáo dục hành vi đạo đức trong Chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5 – 6 tuổi 55
2.1.3 Phương pháp giáo dục hành vi đạo đức trong Chương trình giáo dục mầm non 56
2.1.4 Đánh giá kết quả giáo dục hành vi đạo đức trong Chương trình giáo dục mầm non 57
2.2 Khảo sát thực trạng 58
2.2.1 Mục đích khảo sát 58
2.2.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 59
2.2.3 Nội dung khảo sát 59
2.2.4 Phương pháp khảo sát 59
2.2.5 Cách đánh giá 66
Trang 72.3 Thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi 70
2.3.1 Nhận thức của giáo viên sử dụng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi 70 2.3.2 Thực trạng sử dụng thể loại văn học thiếu nhi để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 73 2.3.3 Thực trạng thời điểm tổ chức làm quen với văn học thiếu nhi để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 74
2.5 Đánh giá của giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hành vi đạo đức 85 Kết luận chương 2 90 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI QUA LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI 91 3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức 91
3.1.1 Nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm 91 3.1.2 Nguyên tắc dựa vào và phát huy lợi thế của tác phẩm văn học thiếu nhi 91 3.1.3.Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 91 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 92
3.2 Các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mầm non 5 –
6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi 92
3.2.1 Biện pháp 1: Nêu gương đạo đức qua các nhân vật trong các tác phẩm văn họ thiếu nhi 92 3.2.2 Biện pháp 2: Luyện tập thực hành các hành vi đạo đức qua đóng kịch các tác phẩm văn học thiếu nhi 95
Trang 83.2.3 Biện pháp 3: Trải nghiệm các tình huống đạo đức có trong
tác phẩm văn học thiếu nhi 98
3.2.4 Biện pháp 4: Sử dụng giáo cụ trực quan để các tác phẩm văn học thiếu nhi gần gũi với cuộc sống của trẻ em 101
3.2.5 Biện pháp 5: Tích hợp nội dung các hành vi đạo đức trong các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non 103
3.3 Phối hợp các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi 106
Kết luận chương 3 109
CHƯƠNG 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 111
4.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 111
4.1.1 Mục đích thực nghiệm 111
4.1.2 Địa bàn, phạm vi, thời gian thực nghiệm, đối tượng, phương pháp chọn mẫu thực nghiệm và đối chứng 111
4.1.3 Nội dung thực nghiệm 111
4.1.4 Quy trình thực nghiệm 112
4.1.5.Tiêu chí và đánh giá kết quả thực nghiệm 115
4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 115
4.2.1 Mức độ biểu hiện hành vi đạo đức của trẻ trước thực nghiệm ở nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 115
4.2.2 Mức độ biểu hiện hành vi đạo đức của trẻ nhóm đối chứng sau thực nghiệm 120
4.2.3 Mức độ biểu hiện hành vi đạo đức của trẻ nhóm đối chứng và nhóm trẻ tham gia thực nghiệm sau thực nghiệm 124
4.2.4 Mức độ biểu hiện hành vi đạo đức của nhóm trẻ tham gia thực nghiệm trước và sau thực nghiệm 135
4.2.5 Bình luận về kết quả thực nghiệm 140
Kết luận chương 4 143
Trang 9KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 145
1 Kết luận 145
2 Khuyến nghị 147 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN 160 PHIẾU QUAN SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ BIỂU HIỆN HÀNH VI ĐẠO ĐỨC TRONG KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ TRƯỚC THỰC NGHIỆM CÁC TÁC PHẨM THƠ, TRUYỆN THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP 177
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả kiểm định hệ thống bài tập đo hành vi đạo đức của trẻ
mầm non từ 5-6 tuổi 64
Bảng 2.2: Tương quan giữa các tiêu chí đo/thang đo của hệ thống bài tập tình huống 66
Bảng 2.3: Nhận thức của giáo viên mầm non về tầm quan trọng của làm quen với văn học với GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo từ 5 – 6 tuổi 70
Bảng 2.4: Nội dung GDHVĐĐ qua làm quen với văn học thiếu nhi cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 71
Bảng 2.5: Ý kiến của GV về phương pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi 72
Bảng 2.6: Thể loại văn học thiếu nhi được GV sử dụng GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 73
Bảng 2.7: Thời điểm GV tổ chức làm quen với văn học thiếu nhi để GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 74
Bảng 2.8: Phương thức GDHVĐĐ qua LQVHTN 76
Bảng 2.9: Hành vi lễ độ của trẻ 80
Bảng 2.10 Hành vi giúp đỡ, chia sẻ, nhường nhịn 82
Bảng 2.11: Gọn gàng, ngăn nắp 83
Bảng 2.12: Giữ vệ sinh sạch sẽ: 84
Bảng 2.13: Yêu thiên nhiên và các con vật 85
Bảng 2.14: Yếu tố ảnh hưởng giáo dục hành vi đạo đức 86
Bảng 4.1: Kết quả trước thực nghiệm của nhóm đối chứng 116
và nhóm thực nghiệm 116
Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả trước thực nghiệm của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 119
Bảng 4.3: Kết quả của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm 121
Trang 12Bảng 4.4: Bảng tổng hợp kết quả của nhóm đối chứng trước thực nghiệm
và sau thực nghiệm 123 Bảng 4.5: Kết quả sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 124 Bảng 4.6: Bảng tổng hợp kết quả sau thực nghiệm của nhóm đối chứng
và nhóm thực nghiệm 132 Bảng 4.7: Kết quả của nhóm thực nghiệm trước và sau khi 135 thực nghiệm 135 Bảng 4.8: Tổng hợp biểu hiện hành vi đạo đức trước và sau thực nghiệm nhóm thực nghiệm 138 Bảng 4.9: So sánh biểu hiện hành vi đạo đức sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm theo giới tính 139
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Kết quả trước thực nghiệm của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm (theo điểm trung bình) 118 Biểu đồ 4.2: Kết quả trước thực nghiệm và sau thực nghiệm của nhóm đối chứng (theo điểm trung bình) 122 Biểu đồ 4.3: Kết quả sau thực nghiệm của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm (theo điểm trung bình) 125 Biểu đồ 4.4: Kết quả của nhóm thực nghiệm trước và sau khi thực nghiệm 136
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1 Giá trị đạo đức là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Trước những thách thức không nhỏ do tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, nền tảng đạo đức, lối sống trong xã hội ít nhiều bị xói mòn, có không ít những giá trị bị suy giảm Vì vậy, giáo dục đạo đức, bồi dưỡng nhân cách cho con người đặc biệt là thế hệ trẻ đang được quan tâm hơn bao giờ hết
2 Giáo dục đạo đức phải bắt đầu ngay từ lứa tuổi mầm non, giữ vai trò quan trọng, là nền tảng phát triển nhân cách của trẻ Chương trình giáo dục mầm non 2009 được ban hành theo thông tư 17/2009/ TT – BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã khẳng định rằng: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một…”[7, tr.3] Trong đó, giáo dục hành vi đạo đức giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm trong cuộc sống
3 Trẻ 5 – 6 tuổi là giai đoạn có những bước phát triển mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, ngôn ngữ… cũng như các mặt xúc cảm, tình cảm Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng chuẩn bị những phẩm chất và năng lực cần thiết để bước vào lớp Một Ở giai đoạn này, các mối quan hệ của trẻ được
mở rộng, trẻ rất thích được quan tâm, được tiếp xúc với mọi người, nhất
là các bạn cùng tuổi, thích biểu hiện những hành động tốt, quan tâm giúp
đỡ các bạn xung quanh mình, nhường nhịn các em nhỏ hơn Đó chính là
cơ sở để GDHVĐĐ cho trẻ, là tiền đề cho sự phát triển hài hòa nhân cách sau này
Trang 144 Ở trường mầm non, cho trẻ làm quen với văn học thiếu nhi là một phương tiện hữu hiệu để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ, giúp bồi đắp trong tâm hồn trẻ những tình cảm, tình yêu thương, biết đoàn kết gắn bó, giúp đỡ nhau trong mọi lúc, mọi nơi Đến với văn học, trẻ được sống trong thế giới của riêng mình, một thế giới hấp dẫn mới lạ với những xúc cảm, tình cảm trong sáng, hồn nhiên Văn học không những góp phần mở rộng nhận thức cho trẻ về thế giới môi trường xung quanh, làm cho những hình ảnh của cuộc sống được phản ánh rõ nét, từ đó tư duy của trẻ sẽ được chính xác hoá và gợi lên ở trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức tốt đẹp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè cũng như mọi người xung quanh Những câu chuyện, bài thơ giúp trẻ bắt chước những hành vi tốt, hiểu được nội dung, trẻ tưởng tượng, nhận thức được những việc nên làm, không nên làm, từ đó nuôi dưỡng tình cảm, biết phân biệt những hành động đúng đắn, những hành động dũng cảm, biết bày tỏ thái độ, tình cảm của mình
5 Trong thực tế hiện nay, giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ ngày càng được gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm nhiều hơn Ở trường mầm non, giáo viên đã chú ý sử dụng các tác phẩm văn học làm phương tiện hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho trẻ Các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi rất phong phú về nội dung và hình thức Mỗi tác phẩm khác nhau có những nội dung khác nhau nhưng đều hướng trẻ đến những bài học đạo đức Tuy nhiên, giáo viên còn lúng túng trong quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ qua làm quen với văn học thiếu nhi từ việc lựa chọn các tác phẩm văn học, đến việc định xác định các hành vi đạo đức
để giáo dục trẻ Vì thế, hiệu quả giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Giáo dục hành vi
đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi” làm đề tài nghiên cứu của luận án
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp giáo dục nhằm hình thành các hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục và hình thành hành vi
đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
4 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng hợp lý các biện pháp nêu gương, đóng kịch trải nghiệm các tình huống trong tác phẩm văn học với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học và tích hợp trong các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non thì sẽ giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lí luận của việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
5.2 Thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
5.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
5.4 Tổ chức thực nghiệm các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu:
Các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi được lựa chọn trong nghiên cứu này được lấy từ tuyển tập thơ văn viết cho thiếu nhi
Các nội dung giáo dục hành vi đạo đức từ chương trình giáo dục mầm non
Trang 166.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
6.2.1 Địa bàn và khách thể khảo sát
- Mẫu khảo sát: 290 giáo viên mầm non
- Địa bàn khảo sát: Trường Mầm non Thực hành Hoa Hồng, Trường Mầm non Thực hành Hoa Sen, Trường Mầm non Hoa Thủy Tiên, Trường Mầm non Hoa Hồng thuộc Thành phố Hà Nội, Trường Thực nghiệm Nha Trang, Trường Mầm non Thực hành Thành phố Hồ Chí Minh, một số trường mầm non vùng núi phía Bắc (Tỉnh Điện Biên)
6.2.2 Địa bàn và khách thể thực nghiệm
- Địa bàn thực nghiệm: 80 trẻ (40 trẻ thực nghiệm + 40 trẻ đối chứng) ở
hai lớp mẫu giáo lớn 2A + 2B, Trường Thực nghiệm Hoa Hồng (Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội)
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách tiếp cận
7.1.1 Tiếp cận tích hợp và giáo dục qua trải nghiệm
Việc hình thành hành vi đạo đức cho trẻ qua làm quen với văn học thiếu nhi được giáo viên sử dụng không chỉ thông qua việc kể, đọc cho trẻ nghe những câu chuyện đó mà giáo viên còn sử dụng: tranh, ảnh, video (clip, phim), đặc biệt giáo viên còn tổ chức cho trẻ trực tiếp đóng vai các nhân vật trong chính các câu chuyện mà trẻ được làm quen
7.1.2 Tiếp cận hệ thống: Coi quá trình giáo dục hành vi đạo đức là một
hệ thống gồm các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, đánh giá Các thành tố này tác động lẫn nhau và tác động đến các thành tố
khác
7.1.3 Tiếp cận hoạt động: Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 -
6 tuổi như một quá trình hoạt động thực tiễn Trẻ làm quen với tác phẩm văn học thiếu nhi ở trường mầm non là hình thức hoạt động của trẻ Trong
Trang 17đó trẻ được trải nghiệm, được thể hiện những cử chỉ, lời nói, hành động tốt đẹp, lòng nhân ái, tình yêu thương
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp tổng quan lí luận để tìm hiểu và phân tích lịch sử
- Phương pháp khái quát hóa lí luận để thiết lập khung lí thuyết
hoặc quan niệm khoa học chủ đạo của đề tài
7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát để thu thập dữ liệu về biểu hiện hành vi
đạo đức, về quá trình hoạt động của trẻ, về đặc điểm của trẻ thể hiện trong
hành vi
- Phương pháp điều tra bằng các kĩ thuật bảng hỏi, trao đổi, phỏng
vấn, trắc nghiệm nhằm đánh giá thực trạng giáo dục hành vi đạo đức nói
chung và qua làm quen với văn học thiếu nhi ở trường mầm non nói riêng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục nhằm tìm hiểu và
chọn lọc những bài học có giá trị về giáo dục hành vi đạo đức qua văn học thông qua phân tích hồ sơ giảng dạy, tổng hợp các số liệu thống kê, giao lưu nghề nghiệp, báo cáo sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua văn học thiếu nhi ở trường mầm non nhằm kiểm chứng tính đúng đắn giả thuyết khoa học của đề tài
Trang 187.2.3 Các phương pháp khác
- Phương pháp xử lí số liệu và đánh giá bằng thống kê toán học
trong điều tra thực trạng và tổng kết thực nghiệm khoa học
- Phương pháp chuyên gia để tổng hợp các đánh giá từ nhiều nguồn
về khung lí thuyết, kết quả đánh giá thực trạng, các biện pháp giáo dục và kết quả thực nghiệm khoa học
8 Những luận điểm khoa học cần bảo vệ
8.1 Hành vi đạo đức của trẻ 5 – 6 tuổi được hình thành từ xúc cảm – hành vi (bắt chước) – hành vi có ý thức Do vậy, giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ phải bắt đầu từ việc kích thích hứng thú của trẻ có những hành vi đẹp đến tạo điều kiện cho trẻ thể hiện cảm xúc và tự giác luyện tập hàng ngày, thường xuyên để hình thành hành vi đạo đức có ý thức
8.2 Tác phẩm văn học là phương tiện có ưu thế trong việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mầm non
8.3 Hiện nay các giáo viên mầm non còn hạn chế trong việc vận dụng tối đa các khả năng của văn học thiếu nhi để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mầm non
8.4 Các biện pháp giáo dục nêu gương, luyện tập, trải nghiệm dạy học với sự hỗ trợ các phương tiện qua các tác phẩm văn học và được tích hợp trong các hoạt động ở trường mầm non sẽ đảm bảo cho việc giáo dục
và hình thành các hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi một cách tích cực và bền vững
9 Những đóng góp mới của luận án
Trang 19Đề xuất các biện pháp mang tính kĩ thuật để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mầm non thông qua làm quen với tác phẩm văn học và kết hợp với các hoạt động khác cho trẻ ở trường mầm non
9.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Phát hiện những hạn chế của giáo viên mầm non trong việc vận dụng các khả năng của các tác phẩm văn học vào việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo
Đề xuất các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi để giáo viên mầm non vận dụng có hiệu quả khi tổ chức hoạt động giáo dục
9.3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án:
Hình thành các thói quen và hành vi đạo đức cho trẻ mầm non cần phải được tiến hành và thực hiện thường xuyên đồng nhất lồng ghép trong tất cả các hoạt động ở trường mầm non
Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho CBQL và giáo viên các trường mầm non, sinh viên và cán bộ nghiên cứu ngành GDMN, cha mẹ
có con ở độ tuổi mầm non và những người quan tâm đến giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non
10 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc giáo dục hành vi đạo đức của trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi:
Chương 2: Thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi:
Chương 3: Một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua làm quen với văn học thiếu nhi:
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI QUA LÀM QUEN
VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức
Cũng giống như bất kỳ hành vi tâm lý nào, hành vi đạo đức giúp cho con người thể hiện quan niệm về cái thiện, cái ác, về cái cấm kỵ, cái nghĩa vụ hay trách nhiệm của bản thân đối với cuộc sống Hành vi đạo đức được chấp nhận khi nó phù hợp với các chuẩn mực đạo đức [60]
Trường học là nơi trẻ em được xã hội hóa để chúng đóng vai xã hội trong tương lai Việc giáo dục hành vi đạo đức có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách học sinh Do đó, những nghiên cứu về hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ đã được các nhà giáo dục
quan tâm nghiên cứu
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, các tác giả như Cômenxki, Usinxki, A.X Macarenco, N.K.Crúpxkia, Đ.B Ecônhin, A.N Leônchep đều cho rằng giáo dục đạo đức con người nói chung, hành vi đạo đức nói riêng là cần thiết ngay từ lúc nhỏ và đấy là thời điểm quan trọng nhất để hình thành và phát triển nhân cách trẻ sau này Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng hệ thống trường mẫu giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ cùng với gia đình và xã hội.[5], [11]
Tác giả A.X Macarencô đã chỉ ra rằng: “Quá trình giáo dục không phải xuất phát từ việc lựa chọn các phương tiện giáo dục mà phụ thuộc vào tính mục đích của quá trình giáo dục, chúng ta không những chỉ giáo dục nên những con người giàu óc sáng tạo, những công dân có khả năng tham gia hiệu quả nhất vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, mà phải giáo
Trang 21dục những con người hạnh phúc”…[5, tr.254] Muốn vậy, chúng ta phải giáo dục hành vi, phẩm chất của con người có tinh thần trung thực, ý chí dũng cảm GDHVĐĐ của con người phải bắt đầu ngay từ những năm đầu đời của trẻ nhỏ Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung GDHVĐĐ cho trẻ mầm non đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo bao gồm xây dựng những thói quen hành vi tốt, rèn luyện thói quen hành vi Những thói quen hành vi tốt theo ông là những thói quen giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, thói quen tôn trọng mọi người, thói quen quan tâm đến mọi người [5]
Tác giả J Piaget khi nghiên cứu sự phát triển suy luận đạo đức của trẻ dựa trên hai khía cạnh: Sự tôn trọng các quy chuẩn và sự nhận định về
lẽ phải Ông cho rằng: “Trẻ mầm non hiểu biết rất ít về các quy chuẩn Chúng tự tạo ra các quy chuẩn của bản thân ” Theo đó, ông chia sự phát triển đạo đức của con người thành thời kỳ tiền đạo đức và hai giai đoạn
đạo đức: dị trị và tự trị Giai đoạn đạo đức hiện thực (đạo đức dị trị) giai đoạn này dành cho lứa tuổi mầm non có nghĩa là tất cả các hành vi đạo đức ở trẻ mầm non đều cần có sự kiểm soát của người lớn và khi vi phạm
sẽ bị trừng phạt Đạo đức tự trị dành cho lứa tuổi thiếu niên là hành động được hướng dẫn một cách tự giác bằng nguyên tắc đạo đức [107]
Từ các kết quả nghiên cứu của mình, tác giả Kohlberg (1981) đã phát hiện ra mối liên hệ giữa tư duy của trẻ và những yếu tố tác động đến những ý tưởng về vấn đề đạo đức và sự thay đổi của những ý tưởng đó theo độ tuổi [99] Ở tuổi nhỏ, trẻ em phản ứng với sự kiểm soát, chúng làm việc theo yêu cầu để tránh bị trừng phạt và đạt được sự thỏa mãn cá nhân Trẻ chưa có sự chín muồi nhận thức để đánh giá giá trị đạo đức
Đi sâu hơn về các nghiên cứu giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ, có thể thấy:
Tác giả N.K.Crúpxkia đã chỉ ra rằng GDHVĐĐ cho trẻ cần phải
có cả tác động của quá trình sư phạm và cần phải trải qua thực tiễn để có
Trang 22trải nghiệm Bà cũng cho rằng sử dụng phương pháp đàm thoại nhà sư phạm sẽ giúp trẻ hiểu những thói quen, hành vi văn hoá chuẩn mực theo quy tắc đạo đức từ đó hình thành nhân cách tốt đẹp [11]
Các tác giả Piaget, Uxôva lấy phương pháp sử dụng trò chơi để GDHVĐĐ cho trẻ em, thông qua chơi trẻ học làm người và nhấn mạnh tầm quan trọng của GDHVĐĐ thông qua các hoạt động vui chơi [2]
Các tác giả Daniel Goleman, Rubinstein cho rằng GDHVĐĐ dựa trên xúc cảm, tình cảm của trẻ, bằng tình yêu thương nhà giáo dục sẽ giúp trẻ cảm nhận, hiểu những thói quen hành vi đạo đức [13]
Tác giả Locke rất quan tâm đến GDHVĐĐ của trẻ trong gia đình Ông cho rằng, bố mẹ luôn là tấm gương tốt, thể hiện sự uy nghiêm, kiên quyết mạnh mẽ ngay từ khi còn nhỏ và sẽ nới lỏng dần khi trẻ lớn lên, luôn có thái độ, hành vi nghiêm khắc khi trẻ làm sai và gia đình là cái nôi
để GDHVĐĐ cho trẻ nhỏ [10]
Như vậy, trong lịch sử giáo dục thế giới, các nghiên cứu về hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức đã xuất hiện từ lâu Nhìn chung, các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến nội dung GDHVĐĐ bao gồm giáo dục tình yêu thương con người của trẻ em được với cha mẹ, anh chị em đến bạn bè và mọi người trong xã hội, thái độ hành vi cử chỉ phù hợp, văn minh tốt đẹp phù hợp với chuẩn mực của xã hội; đề cao vai trò dạy học trong GDHVĐĐ, phải đặt trẻ trong mối quan hệ với cộng đồng và tiếp nhận điều chỉnh hành vi đó dưới tác động của nhà sư phạm; đưa ra các phương pháp GDHVĐĐ như: phương pháp nêu gương, phương pháp trải nghiệm, phương pháp đàm thoại, phương pháp sử dụng trò chơi… Những phương pháp này đều mang lại hiệu quả trong quá trình GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo Bên cạnh đó, giáo dục phải được thực hiện dưới nhiều hình thức giáo dục khác nhau ở trường mầm non để hướng tới việc giáo dục những hành vi đạo đức tốt đẹp
Trang 23Ở Việt Nam, vấn đề hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức
cho trẻ đã được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc cạnh khác nhau
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Hữu Dũng, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thu Thuỷ cho rằng GDHVĐĐ cho trẻ rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Luôn phải có sự thống nhất giữa thái độ, mục đích, động cơ, ý muốn bên trong với sự thể hiện hành
vi, hành động bên ngoài Vì vậy GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo cần phải giáo dục những nhận thức, hành vi, thái độ của trẻ [30]
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Trọng cho thấy, giáo dục đạo đức cho trẻ ở lứa tuổi mầm non cần được đưa lên hàng đầu, bởi vì “Đối với lứa tuổi mẫu giáo, giáo dục đạo đức cần được coi là nhiệm vụ trung tâm trong toàn bộ công tác giáo dục trẻ” Tác giả cũng cho rằng, trẻ em sinh
ra, tính cách không phải do bẩm sinh mà có mà được hình thành do ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường sống xung quanh trẻ, đặc biệt là ảnh hưởng bởi sự giáo dục của người lớn mà có Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có những kiến thức về xã hội, cuộc sống Trẻ đã có những nhận thức nhất định, vốn hiểu biết của trẻ được mở rộng hơn Đây chính là thời điểm quan trọng để
GDHVĐĐ Hết tuổi mẫu giáo, trẻ đã đặt xong những nền móng đầu tiên của tính cách Những hành vi, thói quen tốt đẹp ngay từ nhỏ là cơ sở
vững chắc cho hoàn thiện nhân cách trẻ sau này [70,tr.7]
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng, giáo dục cho trẻ những hành
vi đạo đức tốt đẹp nhằm khơi gợi ở trẻ lòng nhân ái, những cử chỉ, thái
độ, hành vi cư xử tốt đẹp là một trong những nhiệm vụ hàng đầu giáo dục toàn diện cho trẻ:“Đây là thời điểm hoàng kim để giáo dục lòng nhân ái
và những phẩm chất đạo đức khác cho trẻ em, đây cũng là thời điểm thuận lợi để xây dựng nền tảng đạo đức cho mỗi người” [69,tr.345]
Trang 24Tác giả Ngô Công Hoàn trong cuốn “Giá trị đạo đức và giáo dục
giá trị đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non” đã đề cao việc giáo dục những
hành vi đạo đức tốt đẹp cho trẻ mầm non và đặc biệt là lứa tuổi mẫu
giáo[26]
Các tác giả: Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái, Đào Thanh Âm,
Nguyễn Thị ÁnhTuyết, Nguyễn Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn
Khắc Viện đều đề cao vai trò của GDHVĐĐ cho trẻ mầm non và coi đây
là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho
trẻ ở lứa tuổi mầm non, đặt nền tảng đạo đức cho hoàn thiện nhân cách
người [46], [75], [74], [77]
Khi nghiên cứu về hành vi đạo đức của con người, tác giả Đặng
Thành Hưng cho rằng, hành vi và hành động đạo đức phải hài hoà thì hiệu
quả giáo dục đạo đức cho con người mới cao Quan điểm này có vai trò
quan trọng trong việc GDHVĐĐ cho trẻ mầm non [19,tr.12]
Tác giả Lê Thị Bừng, Vũ Minh Tuấn nghiên cứu đề xuất
GDHVĐĐ cho trẻ bằng tình yêu thương, bằng cách cho trẻ luyện tập
thường xuyên thể hiện ở một số phương pháp sau [9], [73]:
- Phương pháp luyện tập: Những hành vi đạo đức cần được luyện
tập thường xuyên mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm và đặt ra nhiều tình
huống, các tình huống có trong tác phẩm văn học hoặc các nhân vật trẻ
yêu thích trẻ có thể luyện tập tạo tình huống có vấn đề để giải quyết
- Phương pháp rèn luyện: Tạo mọi điều kiện để trẻ được hoạt động,
có cơ hội trải nghiệm những hành vi tốt và cần lặp đi lặp lại nhiều lần để
tạo thành thói quen đạo đức Những tình huống này trải nghiệm trong
cuộc sống của trẻ hàng ngày Những tình huống đơn giản trẻ dễ chơi và
cần đa dạng phong phú và được nâng dần lên để phát huy tính tích cực
sáng tạo của trẻ
Trang 25- Phương pháp đàm thoại: Trong hoạt động làm quen với văn học
thiếu nhi tổ chức ở lớp, giáo viên thường xuyên tổ chức đàm thoại để trẻ hiểu nội dung giáo dục trong tác phẩm trẻ hiểu hành vi của các nhân vật, hình tượng các nhân vật Hệ thống các câu hỏi trong tác phẩm được giáo viên chuẩn bị trước nhằm giúp trẻ nắm được chuẩn mực hành vi đạo đức hiểu được các hành động, biểu hiện thái độ, cách ứng xử trong tác phẩm,
từ đó nhìn nhận trong cuộc sống hàng ngày diễn ra xung quanh trẻ
- Phương pháp nêu gương: Nêu gương là dùng những tấm gương
tốt điển hình về những hành vi đạo đức trong tác phẩm văn học để giúp trẻ học hỏi, noi theo Phương pháp này rất phổ biến và thường xuyên sử dụng trong hoạt động giáo dục làm quen với tác phẩm văn học Trẻ rất thích yêu quý các nhân vật có hành vi tốt điển hình trong tác phẩm văn học và rất muốn bắt chước những hành động này Những tấm gương tốt của các nhân vật có ảnh hưởng lớn trong việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo trong giai đoạn này
Phương pháp động viên: Thường xuyên động viên khuyến khích,
khen ngợi trẻ những hành vi tốt, hãy phân tích nhẹ nhàng để giúp trẻ hiểu vấn đề mà trẻ chưa nhận thức hết Động viên là một trong những phương pháp có hiệu quả cao, mang lại kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo Giáo viên luôn khen ngợi trẻ, kích thích hưng phấn để trẻ được thường xuyên thể hiện những hành động tốt và trẻ thấy vui vẻ phấn khởi khi đã làm xong những việc tốt
Phương pháp điều chỉnh hành vi: Điều chỉnh kịp thời những hành
vi chưa đúng của trẻ giúp trẻ tránh những hành vi chưa tôt, chưa đúng phân tích, giải thích để trẻ hiểu và không sử dụng những hành vi không phù hợp giúp trẻ nhận thức từ đó điều chỉnh hành vi của bản thân mình Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mầm non nói riêng đều cho rằng cần thiết phải tiến hành ngay từ
Trang 26lứa tuổi mầm non Ở lứa tuổi này, những phẩm chất đạo đức hành vi, thái
độ, tình cảm của trẻ được hình thành và phát triển và nhân cách trẻ được hoàn thiện sau này đều mang đậm dấu ấn tuổi thơ
1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo qua làm quen với văn học thiếu nhi
Văn học thiếu nhi đóng vai trò cùng quan trọng trong việc phát triển tình yêu thương, hành vi, thói quen cử chỉ tốt đẹp ở học sinh Chính
vì thế, trong lịch sử, các nhà giáo dục cũng đã rất quan tâm đến việc giáo dục hình thành nhân cách cho học sinh thông qua các tác phẩm văn học thiếu nhi
Các tác giả P.M.Iacốpsơn, E I Trikhieva, A.V Zaporozet, Vétlugina đã chỉ ra rằng, trẻ mẫu giáo hoàn toàn có thể hiểu được nội dung tác phẩm và tư tưởng tác phẩm cũng như có thể phân biệt được những hình ảnh nghệ thuật với hiện thực Thông qua văn học thiếu nhi, trẻ làm quen với những hành vi đạo đức tốt đẹp, cảm nhận được giá trị của tác phẩm Các công trình nghiên cứu của các tác giả Bungari như S.Avranov, S.Hakedonskia, S.S.Dimitrova, I.Kotova, A.Vladimirova, L.Eordanova đã chứng minh rằng: “Trẻ mẫu giáo lớn có những khả năng trong việc hiểu được nội dung đạo đức chứa đựng trong tác phẩm văn học Trẻ có khả năng tiếp thu và diễn đạt khi kể lại tư tưởng đạo đức chủ yếu của tác phẩm đó và biết thể hiện thành hình tượng nghệ thuật” [1]
Tác giả A.V.Daparogiet cho rằng: “Trong số những phương pháp tạo ra ý niệm đạo đức, thì văn học nghệ thuật chiếm một vị trí đặc biệt Cần đọc cho trẻ nghe những tác phẩm dễ hiểu, trong đó nổi lên nội dung đạo đức – thái độ tốt đối với con người, khiêm tốn, lao động hòa thuận, dũng cảm” Như vậy có thể nói rằng tác phẩm văn học có ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo [4, tr.34]
Trang 27Một số tác giả cũng nghiên cứu GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo qua văn học thiếu nhi như M.X.Boguliupxkia,V.V.Sepsennko trong cuốn: “ Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ” Tác phẩm văn học có ngôn ngữ nghệ thuật có ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển của trẻ mầm non [51]
Tác giả A.I.Xôrôkina đề cao vai trò của tác phẩm văn học trong GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo Sử dụng kể chuyện, đọc thơ cho trẻ nghe là truyền thụ tri thức dưới hình thức dễ hiểu hơn đối với các em [1]
Tác giả M.K.Bogoliupxkaia và Septenko cho rằng [51]: Để văn học thiếu nhi trở thành biện pháp hữu hiệu giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo, cần phải thông qua nghệ thuật đọc, kể văn học Các tác giả đã chỉ rõ cần phải đảm bảo các yếu tố về thanh điệu, ngữ điệu, ngắt giọng, nhịp điệu, cường độ của giọng đọc, giọng kể kết hợp với tư thế, nét mặt,
cử chỉ điệu bộ Khi nói cần chú ý đến bộ máy phát âm, hơi thở, cách phát âm… M.K.Bogoliupxkaia và Septenko, K.D.Usinxki[10] đã nhấn mạnh đến kể chuyện dân gian, thơ ca dân gian có tác động mạnh mẽ đến cảm xúc, tình cảm của trẻ giúp trẻ phân biệt đúng, sai; thiện, ác Những câu chuyện hay giúp trẻ cảm nhận ý nghĩa của cuộc sống lao động cần phải làm việc chăm chỉ nỗ lực hết mình trong lao động, sống chính trực, giàu lòng dũng cảm… Bên cạnh đó, đóng kịch là một hình thức giáo dục hiệu quả, đóng kịch giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng và thể hiện các hình tượng nhân vật ra bên ngoài Trẻ sẽ được thực hành, trải nghiệm và thể hiện với nhân vật trẻ thích
Tác giả Blonxki cho rằng nên chọn những tác phẩm văn học thích hợp và có tính giáo dục với trẻ, thích hợp nhất với trẻ là những ghi chép ngắn, những mẩu chuyện [5]
Tác giả Tônxtôi cho rằng, cần chuyển ngôn ngữ của văn học thành ngôn ngữ riêng cho trẻ qua việc trẻ tự sáng tác Có nhiều tác giả cho rằng
Trang 28văn học thiếu nhi góp phần phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo [5]
Tác giả A.M Leusina tiến hành nghiên cứu phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo Bà cho rằng chuyện kể của trẻ của trẻ mẫu giáo là phương tiện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, cung cấp cho trẻ nhiều vốn từ và mở rộng vốn từ, trẻ nói được những câu có nghĩa [10]
Tác giả A.I.Xôrôkina cho rằng trong các giờ học cô giáo thường sử dụng các hình thức kể chuyện với tư cách là phương pháp dạy học Mục đích của kể chuyện là truyền thụ những tri thức này hay tri thức khác dưới hình thức hình tượng và dễ hiểu đối với trẻ em Tài liệu dùng để kể chuyện là các sách báo văn nghệ, là các sự kiện này khác [1]
Như vậy, giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo phải được tiến hành bằng các con đường: Đọc, kể chuyện nghệ thuật, đóng kịch giúp trẻ phát triển khả năng cảm thụ tác phẩm văn học, phát triển trí tưởng tượng sáng tạo, ngôn ngữ mạch lạc Từ đó, trẻ nhận thức được thái độ, tình cảm,
và có những hành vi đúng đắn góp phần hình thành và phát triển nhân cách trẻ
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả cho rằng văn học thiếu nhi có tác
dụng to lớn trong việc phát triển khả năng cảm thụ, trí tưởng tượng sáng tạo, ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, quan tâm đến giá trị của tác phẩm văn học thiếu nhi đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non như: tác giả Trần Thị Trọng, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Ánh Tuyết, Hà Nguyễn Kim Giang, Ngô Công Hoàn, Lã Thị Bắc Lý[70], [64], [18], [25], [53]
Nhấn mạnh đến nhiệm vụ GDHVĐĐ cho trẻ qua thơ, truyện, Nguyễn Thu Thuỷ trong cuốn “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ”
đã khẳng định giá trị của các tác phẩm văn học đối với giáo dục hành vi
Trang 29đạo đức cho trẻ mẫu giáo “Trẻ có đánh giá được hành vi của người khác đúng hay sai thì trẻ mới rút ra được bài học tốt” [64, tr.53]
Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: Những tác phẩm văn học đã góp phần làm giàu tâm hồn trẻ thơ, hình thành những chuẩn mực đạo đức, cũng như định hình một cách sống đầy lòng nhân ái cho trẻ – lứa tuổi mà mỗi ấn tượng một khi đã in vào tâm trí đều sâu đậm và khó phai mờ[29]
Tác giả Lã Thị Bắc Lý cho rằng: Trẻ mầm non có thể cảm nhận hoàn toàn nội dung tác phẩm văn học, mỗi câu chuyện, bài thơ giúp trẻ tưởng tượng ra những hình ảnh, cuộc sống trong xã hội, những hình tượng đẹp, hình tượng xấu trong mỗi tác phẩm văn học giúp trẻ trải nghiệm những xúc cảm, tình cảm khác nhau, trẻ hiểu được những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, đó chính là nhờ sức mạnh của ngôn ngữ văn học Các tác phẩm văn học đã thức dậy trong các em tình cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống mở ra cho các em thế giới của tình cảm, tình yêu thương của con người, trẻ đồng cảm với các nhân vật, xúc động, biết bày
tỏ thái độ của mình trong mỗi câu chuyện, bài thơ trong các tác phẩm văn học Từ đó, khi trải nghiệm vào cuộc sống hàng ngày, trẻ biết đồng cảm, chia sẻ với mọi người xung quanh (ông bà, cha me, anh, chị em…)[53]
Tác giả Lê Thị Ánh Tuyết cũng đã khẳng định rằng: “Bằng cách này hay cách khác, văn học luôn vì con người và hướng con người tới những tình cảm tốt đẹp Văn học thiếu nhi cũng vậy, các sáng tác cho các
em luôn phản ánh những cái tốt, cái đẹp, nhằm giáo dục lòng nhân ái cho các em"[80, tr.50]
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: “Trẻ mầm non rất dễ xúc cảm
và đồng cảm với cảnh ngộ của những người chịu nhiều bất hạnh” Đây chính là thời điểm tốt nhất để giáo dục tình cảm và hành vi đạo đức cho trẻ “Hãy tận dụng mọi cơ hội để cho trẻ biết về những điều thiện, qua
Trang 30những câu chuyện kể, những truyện tranh, những băng hình, …Yêu người tốt, ghét kẻ xấu cũng bắt đầu từ đây.” [69, tr.90]
Một số tác giả khác như: Đào Thanh Âm, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang, cũng khẳng định rằng tác phẩm văn học chính là một trong những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ qua văn học phải được định hướng
cụ thể [3]
Từ việc tổng hợp, đánh giá các công trình nghiên cứu của các tác
giả trong và ngoài nước về vấn đề hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ em, có thể thấy rằng: Các nghiên cứu trong và ngoài
nước đều khẳng định rằng văn học thiếu là phương tiện hiệu quả để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo và phải thông qua con đường phát triển khả năng cảm thụ, phát triển trí tưởng tượng sáng tạo, ngôn ngữ mạch lạc Những yếu tố này góp phần xây dựng biện pháp giáo dục hành
vi đạo đức qua văn học thiếu nhi có hiệu quả để hình thành và phát triển nhân cách toàn diện ở trẻ mầm non
Qua các công trình công bố của các tác giả, các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được quan tâm nghiên cứu dưới cách tiếp cận và những góc độ khác nhau Tuy nhiên hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể nào về các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức qua văn học thiếu nhi cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Vì thế, trong luận án này, nghiên cứu của chúng tôi đề xuất một số các biện pháp cụ thể để thấy hiệu quả của tác phẩm văn học trong quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Hành vi
Khái niệm hành vi được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau
Trang 31Theo Từ điển tiếng Việt: Hành vi là toàn bộ những cách ứng xử của con người tại một thời điểm, hoàn cảnh nhất định, bao gồm các biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động [63]
Dưới góc độ tâm lý học:
Trong luận thuyết của mình, các nhà tâm lý học hành vi mới như E.C Tolman và K.L Hull đã cố gắng phát triển và phong phú thêm khái niệm hành vi Hành vi trong học thuyết này được gọi là hành vi tổng thể
Họ định nghĩa hành vi tổng thể là hành vi có ý định, có mục đích, hành vi
có nhận thức Chủ nghĩa hành vi mới muốn nghiên cứu khâu mà hành vi
cổ điển bỏ qua, tức nghiên cứu xem có cái gì xảy ra giữa S và R Họ cho rằng trong hành vi người, giữa kích thích và phản ứng có các thông số trung gian, đó là ý định, nhận thức, là quá trình tư tưởng hóa Họ nhấn mạnh tính đa tử của hành vi, họ đã đưa biến số trung gian - O (Object) vào giữa S và R để thành công thức: S - O - R nhưng O lại phụ thuộc chủ yếu vào môi trường bên ngoài Cho nên, khái niệm hành vi của các nhà tâm lý học hành vi mới vẫn chỉ nằm ở phạm vi của công thức mà
J.Watson đã đề cập: S → R [24, tr.120]
Theo quan điểm của tâm lý học hoạt động: Hành vi là quá trình nắm lấy các chức năng tâm lý xã hội của bản thân, hành vi là hoạt động nhằm vào bản thân mình đồng thời tham gia vào hoạt động bên ngoài, tác động lên đối tượng bên ngoài hoặc những người khác Cấu trúc hành vi người bao gồm: Kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép Trong các kinh nghiệm ấy bao giờ cũng có sự thống nhất chặt chẽ giữa hình thái ý thức bên trong và hình thái ý thức bên ngoài của hành vi Hành vi của con người được hiểu là các hoạt động biểu hiện ra bên ngoài
có sự thống nhất từ cấu trúc tâm lý bên trong Như vậy, khái niệm hành vi
được hiểu là: Hoạt động biểu hiện bên ngoài của con người được điều chỉnh bởi sự thống nhất chặt chẽ của ý thức và nhận thức (cấu trúc tâm lý
Trang 32bên trong) của nhân cách Những biểu hiện hành động, cử chỉ, động tác, lời nói được điều khiển bởi sự thống nhất chặt chẽ của ý thức và nhận thức con người Ở mỗi một thời điểm, mỗi cá nhân có những cách cư xử, thái độ, cử chỉ khác nhau qua đó thể hiện tính cách, nhu cầu tình cảm, xúc cảm khác nhau Mỗi người sẽ có những phản ứng riêng đối với sự vật hiện tượng diễn ra Tuy vậy có những phản ứng của con người không phải bao giờ cũng phản ánh đúng cấu trúc nhân cách bên trong Ví dụ: Có những người rất hay nói lễ phép, tác phong nhẹ nhàng không hẳn những người ấy có tấm lòng tốt mà đấy chỉ là sự che đậy khéo léo bản chất thật bên trong [55]
Ở góc độ giáo dục học, hành vi của con người là hệ thống các hành
động của một nhân cách có ý thức, trong đó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ của con người với môi trường xã hội Hành vi của con người được hình thành do quá trình giáo dục Ngay từ khi sinh ra, mọi điệu bộ cử chỉ của đứa trẻ được hình thành và phát triển đều có sự tác động của quá trình giáo dục Môi trường gia đình là môi trường đầu tiên trẻ được tiếp xúc mọi hành động, cử chỉ, lời nói, biểu lộ xúc cảm tình cảm của những người xung quanh đều có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ [69]
Như vậy, hành vi được hiểu theo nhiều cách khác nhau Dưới góc
độ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tâm lý học
hoạt động khi cho rằng, hành vi của con người là hành vi có ý thức Tính
có ý thức của hành vi của con người thể hiện ở chỗ: Trước khi thực hiện hành vi, con người có suy nghĩ, con người nhận thức được hoàn cảnh và
sử dụng những kiến thức kinh nghiệm của mình để hình thành nên mô hình tâm lý của hành vi (kế hoạch thực hiện hành vi) Mô hình tâm lý này
sẽ trải dọc hành vi, định hướng, điều khiển hành vi
Trang 33Kế thừa những quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động, chúng
tôi quan niệm về hành vi như sau: Hành vi của con người là hành động bên ngoài, là phản ứng của chủ thể với thế giới xung quanh và với chính mình do tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh Hành vi đặc trưng của con người là hành vi có ý thức
Quan niệm về hành vi như trên không phủ nhận tác động của thế giới xung quanh đối với hành vi Suy cho cùng, mọi yếu tố của thế giới xung quanh muốn phát huy tác dụng đối với hành vi thì không thể theo kiểu kích thích → phản ứng mà phải được phản ánh vào não người, thành những "hình ảnh" tâm lý Kết quả sự tương tác giữa hình ảnh tâm lý này với những hiện tượng tâm lý khác của con người (đã hình thành trước đó
do sự tác động của hiện thực khách quan vào não người) sẽ chi phối hành
vi của con người Tâm lý chi phối hành vi có thể ở mức độ ý thức hoặc mức độ vô thức và như thế, quan niệm trên không bỏ qua vai trò của vô thức thúc đẩy hành vi con người
đó là những chuẩn mực xã hội mà người xưa cần phải tuân theo "Nhân"
là tình yêu thương giữa con người với con người, tình cảm của con cái đối với cha mẹ, biết thông cảm chia sẻ với người khác khi gặp khó khăn, “lễ”,
“nghĩa” là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của nhân
Theo quan điểm triết học cho rằng: Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội là hệ thống những chuẩn mực đạo đức do mỗi cá nhân con người
Trang 34tự giác đặt ra và tự giác chấp hành trong quá trình quan hệ với cá nhân khác và với xã hội khác được gọi là đạo đức [10]
Một số quan điểm khác cho rằng: Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm những quy tắc, chuẩn mực xã hội [10, tr.12]
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm
về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người Đạo đức là một hiện tượng xã hội – là một hình thái ý thức đặc biệt, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống con người của xã hội loài người Trong đời sống của mỗi con người, quy luật xã hội tất yếu đòi hỏi họ phải tự ý thức được ý nghĩa, mục đích, hành vi, hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và nhu cầu trong tương lai Những hành vi, hoạt động đó bao giờ cũng bị chi phối bởi các quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng, với xã hội, cho phép tới một giới hạn nhất định của cộng đồng của dân tộc… Nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất
cả các thành viên, vươn lên một cách tích cực, tự giác, tạo thành động lực phát triển của xã hội Đó chính là những quy tắc, chuẩn mực trong hành
vi, hoạt động, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự giác thực hiện Dựa vào đó, ta
có thể đánh giá được hành vi của người nào là có đạo đức hay không có đạo đức [10]
Đạo đức trong tâm lý học cho rằng: Hệ thống những chuẩn mực được con người tự giác đề ra và tự giác tuân theo trong quá trình quan hệ với người khác và với xã hội được gọi là đạo đức [13] Mối quan hệ đó chính là mối quan
hệ giữa cha mẹ với con cái là mối quan hệ của tình thương yêu, lòng kính trọng, sự biết ơn, lòng hiếu thảo…, mối quan hệ với mọi người xung quanh đó chính là sự chân thành, chia sẻ biết giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, đó chính
là mối quan hệ với anh chị em trong gia đình phải biết yêu thương, nhường nhịn nhau, trung thực thật thà nhân ái…
Trang 35Tóm lại, phạm trù đạo đức rất rộng nhưng trong phạm vi đề tài,
chúng tôi cho rằng: Đạo đức là những quy tắc, quy định, nội quy được thừa nhận rộng rãi trong mối quan hệ của con người với bản thân, người khác, cộng đồng, môi trường, đòi hỏi các cá nhân trong đó nhóm xã hội
đó phải tự giác thực hiện
b Hành vi đạo đức
Trên cơ sở quan niệm về “hành vi” và “đạo đức” đã đề cập ở trên,
chúng tôi cho rằng: Hành vi đạo đức là biểu hiện bên ngoài của những quy tắc, quy định nội quy được coi là chuẩn mực trong các mối quan hệ của con người với bản thân, người khác, cộng đồng và môi trường là hành động tự giác và được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức; thể hiện trong cách ứng xử của con người đối với cuộc sống
Từ cách hiểu đó, cho thấy hành vi đạo đức gồm có 2 thành phần:
- Thành phần bên ngoài là những hành động tác động trực tiếp đến đối tượng (sự vật hiện tượng khách quan), được biểu hiện bằng những vận động, cử chỉ, lời nói, điệu bộ, việc làm, tức là bằng hành động vật chất
- Thành phần bên trong là tâm lý, ý thức của chủ thể, đó là hành
động tinh thần, bao gồm: ý thức đạo đức (sự nhận thức, thấu hiểu của con
người về các chuẩn mực đạo đức, tình cảm và hành vi đạo đức của chính bản thân chủ thể đó và người khác qua đó điều chỉnh hành vi đạo đức của
mình); tình cảm đạo đức (thái độ xúc cảm của chủ thể đối với các hành vi
đạo đức của người khác hay cũng như đối với chính bản thân trong mối
quan hệ với con người, với xã hội); niềm tin đạo đức (thái độ tích cực, có
mục đích của con người vào tính chính nghĩa, tính chân chính của các chuẩn mực đạo đức và sự cần thiết phải tôn trọng các chuẩn mực đó);
động cơ đạo đức (là động lực bên trong do đáp ứng nhu cầu thực hiện
hành động, hành vi đạo đức của chủ thể trong mối quan hệ giữa chủ thể với mọi nngười, với xã hội) [77]
Trang 36Để có được hành vi đạo đức mang tính chuẩn mực đạo đức xã hội, nhất thiết phải có một thành phần bên trong, chủ yếu là động cơ đạo đức thật tốt và được biểu hiện ra bên ngoài thật đẹp bằng cử chỉ, điệu bộ, lời nói, việc làm mang tính chuẩn mực đạo đức Điều đó cũng cho thấy sở dĩ con người khác con vật là vì cuộc sống của con người có hành vi đạo đức, trong đó có cả hành vi bản năng nhưng đã bị chi phối bởi hành vi đạo đức
có ý thức xã hội
Hành vi đạo đức dựa trên ba thành tố cấu thành, đó là: Cấu thành nhận thức, tức là tư duy về việc làm cái gì và làm như thế nào; cấu thành thành tố cảm xúc, nghĩa là xúc cảm về việc cần làm cái gì và đã làm cái gì; cuối cùng là cấu thành thành tố hành động, là đã làm cái gì rồi và sẽ làm cái gì
Trên cơ sở đó, có thể rút ra cấu trúc của hành vi đạo đức được cụ thể hóa như sau:
a) Thành phần bên ngoài: Hành vi đạo đức biểu hiện ra bên ngoài bằng vận động của hành động: cử chỉ, lời nói, điệu bộ
b) Thành phần bên trong: Nhìn nhận vấn đề hành vi theo quan điểm tâm lý học hoạt động đã cho thấy, những biểu hiện bên ngoài của hành vi đạo đức luôn xuất phát từ những yếu tố tâm lý bên trong như động cơ đạo đức và xúc cảm của đạo đức
1.2.3 Giáo dục hành vi đạo đức
a Giáo dục
Khái niệm “Giáo dục” được quan niệm theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp [50]
Theo nghĩa rộng, “Giáo dục” là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân
cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người được giáo dục và người giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
Trang 37Theo nghĩa hẹp, “Giáo dục” (một bộ phận của quá trình giáo dục theo
nghĩa rộng) là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái
độ, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mĩ
Có thể hiểu giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của nhà giáo dục đến người được giáo dục thông qua các hoạt động giáo dục nhằm hình thành ở họ nhận thức, tình cảm và hành vi
b Giáo dục hành vi đạo đức
Như đã đề cập ở trên, hành vi đạo đức được gắn liền với hành động đạo đức cụ thể nào đó và được biểu hiện ra bên ngoài trong mối quan hệ của con người với người khác, với cộng đồng Khi nói đến giáo dục đạo đức, hay sự phát triển đạo đức là nói đến khí cạnh cơ bản nhất chính là giáo dục hành vi đạo đức Chính vì vậy, trong giáo dục đạo đức, việc giúp học sinh rèn luyện các hành vi đạo đức là việc làm hết sức cần thiết, thông qua đó niềm tin, động cơ, ý thức và tình cảm đạo đức được hình thành và phát triển [78]
Trong nghiên cứu này: Giáo dục hành vi đạo đức là quá trình tác động có mục đích có kế hoạch có hệ thống của nhà giáo dục thông qua các hoạt động giáo dục nhằm hình thành các quy tắc chuẩn mực hành vi đạo đức với thế giới bên ngoài nhằm giúp con người hành động tự giác
và được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức; thể hiện trong cách ứng xử của họ đối với cuộc sống
1.2.4 Làm quen với văn học thiếu nhi
a Văn học thiếu nhi
Theo Từ điển tiếng Việt [63], khái niệm văn học thiếu nhi: Là các tác phẩm văn học viết cho trẻ chưa thành niên Các tác phẩm văn học rất
Trang 38đa dạng và phong phú gồm nhiều thể loại khác nhau nhưng trong phạm vi
đề tài chúng tôi chỉ đề cập một số các tác phẩm tiêu biểu ở một số thể loại nhất định có nội dung giáo dục hành vi đạo đức điển hình và những tác phẩm văn học dành cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Văn học thiếu nhi có vị trí quan trọng trong việc giáo dục trẻ mầm non, là hành trang theo con người đi suốt cuộc đời, mở cho mỗi cá nhân trẻ tâm hồn trong sáng, hồn hậu, cung cấp cho trẻ vốn sống, kinh nghiệm,
sự hiểu biết về cuộc sống xung quanh trẻ Ở trường mầm non, việc sử dụng tác phẩm văn học như một phương tiện quan trọng trong mọi hoạt động để góp phần hình thành và phát triển hài hòa nhân cách trẻ mầm non
Theo tác giả Hà Nguyễn Kim Giang cho rằng: “Tác phẩm văn học phải là một câu chuyện, bài thơ hoàn chỉnh về nội dung, hình thức câu từ phải được chau chuốt ngắn gọn giàu hình ảnh nhưng phải gẫn gũi thân quen dễ hiểu, hình ảnh đẹp, khơi gợi tình cảm, trí tưởng tượng và quan trọng phải có mục đích giáo dục”[18, tr.30]
Trong nghiên cứu này, văn học thiếu nhi là các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi dưới sự cảm nhận của tâm hồn trẻ dành tặng cho trẻ thơ và phù hợp với trẻ
b Làm quen với văn học thiếu nhi
Trẻ mầm non có nhu cầu hiểu nội dung tác phẩm văn học một cách ngắn gọn, dễ hiểu, cấu trúc ngôn ngữ đơn giản Trẻ mầm non ở giai đoạn này do những yếu tố về mặt cấu trúc tâm sinh lý nên trẻ chưa thể tự mình hiểu được tác phẩm văn học: trẻ chưa tự đọc hay nói một cách khác là chưa thể dạy văn học cho trẻ được mà việc cảm nhận tác phẩm văn học chủ yếu dựa vào cô giáo Giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt đưa giúp trẻ cảm nhận tác phẩm một cách rõ nét nhất qua việc đọc, kể …trò chuyện cung cấp kiến thức để trẻ hiểu nội dung tác phẩm từ đó giúp trẻ hình dung
Trang 39tưởng tượng rõ nét những nhân vật, bối cảnh trong bài thơ, câu chuyện và đây là mức độ tiếp xúc ban đầu của trẻ với văn học được gọi là Làm quen với tác phẩm văn học – làm quen với văn học thiếu nhi
Làm quen với văn học thiếu nhi là phương tiện rất quan trọng trong việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo, là yếu tố góp phần hình thành, phát triển nhân cách hài hòa của trẻ Văn học mang lại cho trẻ rất nhiều tình cảm, xúc cảm, hình tượng cuộc sống xung quanh, trẻ cảm nhận được nội dung tác phẩm bằng chính xúc cảm của mình trong mỗi câu chuyện, bài thơ, giúp trẻ thêm yêu cuộc sống tốt đẹp diễn ra xung quanh mình và tiền đề phát triển các hành vi thói quen đạo đức tốt đẹp
Chính vì vậy, giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi không thể thiếu việc cho trẻ làm quen với văn học thiếu nhi và là một trong những phương tiện có hiệu quả cao trong giáo dục trẻ
Như vậy, làm quen với văn học thiếu nhi là cho trẻ bước đầu tiếp xúc với tác phẩm văn học qua giọng kể, đọc của người lớn, qua đó trẻ bước đầu hiểu được nội dung và phát triển xúc cảm, tình cảm
1.3 Hành vi đạo đức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
a Đặc điểm tư duy của trẻ 5 – 6 tuổi
Tư duy là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong bộ não con người, nó là phương tiện cơ bản của nhận thức nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động thực tiễn của con người
Cuối tuổi mẫu giáo, bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của kiểu tư duy trực quan hành động, ở trẻ đã xuất hiện tư duy trực quan hình tượng Trẻ đã bắt đầu hình thành các mối liên hệ với các sự vật mà trẻ nghe, nhìn thấy và cảm nhận được Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất quan trọng Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong, chuyển những hành động định hướng bên ngoài vào
Trang 40hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Trẻ nhận thức được nhiều cách biểu hiện, thái độ hành vi của người lớn bằng chính hoạt động tích cực của các giác quan Do đặc điểm tư duy “Vật ngã đồng nhất” trẻ mầm non luôn đồng nhất thế giới xung quanh với chính bản thân mình, do đó tình cảm của trẻ không chỉ được thể hiện với những người thân thích và các nhân vật trong tác phẩm văn học mà nó còn được biểu hiện sâu sắc cả với thế giới cỏ cây, hoa lá và những vật vô tri,vô giác [67], [68]
Với cơ chế nhập tâm, bắt chước, trẻ có được những biểu tượng sinh động về các loại thái độ, biểu cảm, hành vi và xúc cảm của những người xung quanh Nhận thức của trẻ lứa tuổi mầm non thường theo con đường
cụ thể trực quan, cảm tính và luôn gắn liền với những xúc cảm, tình cảm
Cơ chế nhập tâm này chỉ dừng lại ở việc hình thành những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng và được bộc lộ ở xúc cảm hành vi Do sự phát triển vượt bậc của cơ thể với cường độ mạnh đã thúc đẩy các hình thức vận động cơ thể trẻ
b Đặc điểm xúc cảm, tình cảm của trẻ 5 – 6 tuổi
Các nghiên cứu tâm lý học trẻ mầm non cho thấy, đến tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi, trẻ có những bước phát triển vượt bậc về mặt các mặt xúc cảm, tình cảm Giai đoạn này, những xúc cảm của trẻ ổn định hơn và phát triển các loại tình cảm cảm cấp cao Tình cảm chi phối tất cả các mặt trong đời sống tâm lý của trẻ, đặc biệt là đời sống tình cảm của trẻ có sức chuyển biến mạnh mẽ vừa phong phú vừa sâu sắc hơn rất nhiều lứa tuổi trước đó Xúc cảm của trẻ được hình thành trong giao tiếp, giao lưu tình cảm với mọi người xung quanh Vì vậy, trẻ mầm non có nhu cầu giao lưu rất lớn Đây chính là “ Cơ hội vàng” để đưa tác phẩm văn học vào giáo dục toàn diện cho trẻ nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng Bước đầu hình thành và phát triển ở trẻ những tình cảm đạo đức (trẻ thể hiện yêu,