PHẦN 1: TÓM TẮT BÀI BÁO I/ TỔNG QUAN - Mục đích: Nghiên cứu trong bài báo nhằm mục đích điều tra tác động của các khả năng tổ chức trong việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử..
Trang 1KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
BÀI TẬP NHÓM Môn: QUẢN LÝ HỆ KINH DOANH ĐIỆN TỬ
Đề tài số 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRIỂN KHAI THÀNH CÔNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐIỆN TỬ
Trần Thị Chúc Giang 1670413 Huỳnh Đức Thiện 1670446 Nguyễn Thị Phương Dung 1670411
Tp.Hồ Chí Minh Tháng 04 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: TÓM TẮT BÀI BÁO 1
I Tổng quan 1
II Giới thiệu 2
III Nghiên cứu lý thuyết 4
IV Khung khái niệm 6
V Phương pháp nghiên cứu 9
VI Kết quả 13
VII Kết luận 14
PHẦN 2: LIÊN HỆ LÝ THUYẾT 18
I Cơ chế thương mại điện tử 18
II Nền tảng và công cụ của thương mại điện tử 21
PHẦN 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 23
3.1 Sự sẵn có về đào tạo 23
3.2 Mức độ tri thức 24
3.3 Chia sẻ tri thức 25
3.4 Quy mô công ty 26
PHẦN 4: BÀI DỊCH 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 3PHẦN 1: TÓM TẮT BÀI BÁO
I/ TỔNG QUAN
- Mục đích: Nghiên cứu trong bài báo nhằm mục đích điều tra tác động của các
khả năng tổ chức trong việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử Cụ thể hơn, nghiên cứu đề xuất khung khái niệm ba chiều, bao gồm "khả năng học tập tổ chức",
"khả năng quản lý kiến thức" và "sự sẵn sàng về tổ chức"
- Thiết kế / phương pháp / cách tiếp cận: Khung khái niệm được đề xuất đã được
thử nghiệm trên một mẫu của các công ty Hy Lạp (213 công ty) với sự tham gia trực tuyến Độ tin cậy và tính hợp lệ của bản câu hỏi mới phát triển đã được kiểm tra kỹ lưỡng Dữ liệu thực nghiệm được phân tích bằng kỹ thuật "Mô hình Lập phương Cấu trúc"
- Phát hiện: Kết quả của nghiên cứu cho thấy "mức độ" kiến thức "đào tạo sẵn
có" và "chia sẻ kiến thức" là những yếu tố quan trọng nhất để thực hiện thành công kinh doanh điện tử Hơn nữa, "quy mô công ty" dường như là một yếu tố quyết định quan trọng Mặt khác, "kiến thức chuyên môn kỹ thuật" và "ứng dụng kiến thức" không
có tác động đáng kể đến việc thực hiện kinh doanh điện tử
- Các hạn chế: Một hạn chế bắt nguồn từ phương pháp thực hiện là sử dụng thang
đo tự báo cáo để đo các cấu trúc của mô hình được đề xuất Hơn nữa 'bài báo này thiếu phương pháp tiếp cận theo chiều dọc' vì nó là cắt ngang và cung cấp một bức tranh tĩnh
về việc thực hiện kinh doanh điện tử
- Những ý nghĩa thực tiễn: Báo cáo đưa ra một nỗ lực phân tích để chỉ ra các lĩnh
vực mà các công ty nên nhấn mạnh để thực hiện thành công kinh doanh điện tử, và do
đó thu được lợi ích tiềm năng của nó Một số gợi ý thực tế được đưa ra trong phần cuối của bài báo
- Tính độc đáo / giá trị - Bài báo đề xuất một khung khái niệm nâng cao nhằm
kiểm tra các vấn đề quan trọng liên quan đến việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử, do đó cung cấp kết quả có giá trị cho người ra quyết định và các nhà nghiên
Trang 4cứu Hơn nữa, kết quả của nghiên cứu có thể được khái quát hóa ở các nước phát triển khác có nền kinh tế đang phải đối mặt với những thách thức tương tự như Hy Lạp (ví
dụ như Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Ai Len, v.v.)
II/ GIỚI THIỆU
Sự phát triển của công nghệ đã mang lại những thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh doanh Cụ thể:
Internet đã trở thành một kênh phân phối quan trọng cho hàng hoá và dịch vụ (Babbar và cộng sự, 2008, DeYoung et al., 2007 Mainetti et al., 2012)
Thương mại điện tử được định nghĩa là thủ tục tiến hành các Tác động kinh doanh ảnh hưởng đến thông qua việc sử dụng Internet và công nghệ trên máy vi tính (Dubelaar và cộng sự, 2005, e-business Hertwig, 2012)
Kinh doanh điện tử cải thiện hiệu quả triển khai hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của các tổ chức (Ash và Burn, 2003; Bordonaba-Juste và cộng sự, 2012a)
Tuy nhiên, việc thành lập và thực hiện thành công kinh doanh điện tử là vấn đề thách thức Do đó:
Người ta phải xem xét nghiêm túc các vấn đề như lập chiến lược và hợp tác với các đối tác tham gia vào hoạt động kinh doanh điện tử (Sauer và Willcocks, 2003; Lee và cộng sự, 2003)
Vấn đề bảo mật liên quan đến truy cập dữ liệu phải được quan tâm, vì trao đổi
dữ liệu giữa các đối tác kinh doanh điện tử (Davidson, 2001)
Tạo ra kiến thức và sự hài lòng của khách hàng là những vấn đề quan trọng cho quá trình triển khai kinh doanh điện tử (Huang etal., 2008, Lai etal., 2012, Yeh etal., 2012)
Trang 5Nghiên cứu này khảo sát vai trò của một số "khả năng tổ chức" trong việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử Theo Lee và cộng sự (2007), năng lực tổ chức được hình thành bởi "khả năng học tập tổ chức" và "khả năng quản lý kiến thức"
Thứ nhất bao gồm "đào tạo sẵn có", "chuyên môn kỹ thuật" và "trình độ tri thức"
Thứ hai bao gồm "tích lũy kiến thức", "ứng dụng tri thức" và "chia sẻ tri thức"
Thứ ba bao gồm các yếu tố tổ chức quan trọng khác được kết hợp trong mô hình nghiên cứu (quy mô công ty, kiến thức của Giám đốc điều hành)
Kỹ thuật mô hình phương trình cấu trúc (SEM) đã được sử dụng để kiểm tra giả thuyết của nghiên cứu
Khung khái niệm được đề xuất đã được thử nghiệm trên một mẫu của các công
ty Hy Lạp từ các thành phần kinh tế khác nhau Tiêu chí duy nhất để tham gia vào nghiên cứu thực nghiệm là sự tham gia trực tuyến của công ty mẫu (sử dụng thực tiễn kinh doanh điện tử)
Một số đặc điểm của nền kinh tế Hy Lạp làm cho cuộc điều tra của nó có giá trị đối với độc giả quốc tế:
Hy Lạp là một quốc gia chưa hoàn toàn có khả năng triển khai thực tiễn kinh doanh điện tử
Hy Lạp là một quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, đang phải đối mặt với các vấn đề tài chính và kinh tế nghiêm trọng Do đó, các công ty Hy Lạp bị buộc phải sử dụng kinh doanh điện tử như một công cụ để giảm chi phí
Không có nhiều nghiên cứu áp dụng khung khái niệm như vậy đã được tiến hành ở Hy Lạp
Cuối cùng, như là một bước tiếp theo, các nghiên cứu tương tự khác có thể được tiến hành ở châu Âu hoặc các quốc gia khác, do đó có thể so sánh các kết quả
Trang 6III/ NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
Khả năng cạnh tranh về kinh doanh điện tử liên quan chặt chẽ đến năng lực và các quyết định quản lý (Harbone và Johne, 2003) Do đó: Lãnh đạo đã được giới thiệu như là một thành phần thiết yếu của việc triển khai thành công kinh doanh điện tử (Horner-Long và Schoenberg, 2002) Các nhà quản lý có trách nhiệm hành động chính xác, ra các quyết định chiến lược và thành công trong việc tạo ra các khách hàng trung thành (Aragon-Correa và cộng sự, 2007);…
Hợp tác kinh doanh điện tử và tương tác với các đối tác và các công ty khác là yếu tố quyết định việc thực hiện thành công trong môi trường thị trường có tính cạnh tranh cao (Bhakoo và Chan, 2011; Lee etal., 2003; Wiengarten etal., 2012)
Hợp tác trực tuyến giữa các doanh nghiệp điện tử là một yếu tố chính giúp các công ty đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng, và do đó đóng góp vào việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ chất lượng cao (Kervenoael và cộng sự, 2009; Harris, 2008)
Một yếu tố quan trọng khác trong việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử
là đặc điểm và hành vi của nhân viên (Lai và Ong, 2010; Nelson, 1996) Do đó, một công ty điện tử cần tập trung vào đào tạo nhân viên để đánh giá đúng mức và nâng cao năng suất của nhân viên, và do đó ảnh hưởng đến quy trình và hoạt động sản xuất kinh doanh điện tử (Lee và cộng sự, 2007) Theo Pfeffer (1994), Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong việc thực hiện hiệu quả kinh doanh điện tử
Theo Baker và Sinkula (2005), một kinh doanh điện tử phải được định hướng thị trường để thành công trong việc tạo ra và duy trì một lợi thế cạnh tranh Định hướng thị trường thực sự gắn liền với hành vi của khách hàng (Kohli và Jaworski, 1990) Những thay đổi liên tục xảy ra trong các lĩnh vực xã hội và tài chính nói chung tác động đến hành vi của khách hàng đáng kể Một hệ thống hiểu và dự đoán những thay đổi này là một thành phần thành công của kinh doanh điện tử (Dennis và cộng sự,
2009 Dittmar and Drury, 2000, Kacen and Lee, 2002, Rook, 1987)
Trang 7An ninh đang được công nhận là một yếu tố quan trọng để thực hiện thành công kinh doanh điện tử Sự mở rộng mạnh mẽ của việc chia sẻ thông tin qua các kênh điện
tử đã làm cho các khách hàng trực tuyến hoài nghi về các vấn đề bảo mật đối với sự riêng tư về dữ liệu của họ (Bhakoo và Chan, 2011; Davidson, 2001) Sự tự tin của khách hàng khi sử dụng các kênh trực tuyến là yếu tố quyết định góp phần thực hiện thành công kinh doanh điện tử (Kervenoael và cộng sự, 2009)
Đổi mới đã được giới thiệu như một yếu tố quan trọng để thực hiện thành công kinh doanh điện tử và sức mạnh cạnh tranh của nó (Hamel, 2001, Christensen, 1997, Tseng và cộng sự, 2007, Bello và cộng sự, 2004) Đặc biệt, đổi mới bao gồm các sáng chế mà một doanh nghiệp điện tử có thể tạo ra, R & D và khả năng phát triển có hiệu quả các thủ tục sản xuất Khả năng kinh doanh điện tử của sáng tạo là một yếu tố căn bản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo của nó (Lai et al., 2012; Laitinen,
2002, Chang, 2001)
Theo Hsu và Fang (2009), cơ sở để tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho kinh doanh điện tử có liên quan chặt chẽ với vốn trí tuệ Vốn tri thức bao gồm tất cả các đặc điểm xác định cấu trúc của một kinh doanh điện tử, như năng lực, điều kiện làm việc, công nghệ và quy trình Vốn trí tuệ, khi liên quan đến năng lực tổ chức, góp phần tạo ra một lợi thế cạnh tranh (Harris, 2008, Tsai etal., 2011)
Công nghệ rất quan trọng cho phép một kinh doanh điện tử để đạt được mục tiêu của nó (Onetti etal., 2012, Day, 1999, Lee và Kim, 2009) Việc giới thiệu các hệ thống công nghệ mới và tiên tiến ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động kinh doanh điện tử, cơ cấu nội bộ và quá trình quản lý thông tin (Borges etal., 2009)
Tuy nhiên, do sự cạnh tranh hiện tại của thị trường trực tuyến, kinh doanh điện
tử buộc phải sáng tạo và linh hoạt để đáp ứng với môi trường điện tử liên tục thay đổi
và không ổn định Do đó, việc hoạch định chiến lược được coi là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của một hoạt động kinh doanh điện tử hiệu quả (Onetti et al., 2012; Sauer and Willcocks, 2003, Yeh etal., 2012)
Trang 8Việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử có tác động đáng kể tới hoạt động của công ty về các thị trường hạ lưu (nhà cung cấp), hoạt động nội bộ (hợp tác liên tổ chức) và mua sắm thượng nguồn (khách hàng) (Zhu, 2004) Do đó, yếu tố này đã được chọn là yếu tố phụ thuộc của nghiên cứu này
Khung khái niệm được đề xuất của nghiên cứu
IV/ KHUNG KHÁI NIỆM
Mô hình nghiên cứu (Khung khái niệm) của nghiên cứu này dựa trên lý thuyết
về năng lực tổ chức và sự sẵn sàng về mặt tổ chức Mô hình được tạo ra đã khảo sát tám yếu tố độc lập được phân loại trong ba loại chính như sau:
1 Khả năng học tập của tổ chức
Khái niệm: Khả năng học tập của tổ chức được định nghĩa là quá trình mà một
tổ chức có được kiến thức mới về môi trường, mục tiêu và các quá trình của nó (Schulz, 2006)
Tác dụng: học tập tổ chức dẫn đến việc thực hiện tốt hơn các hoạt động kinh doanh điện tử, đạt được thông qua việc sử dụng tối ưu kiến thức
Trang 91.1 Sự sẵn có về đào tạo và triển khai kinh doanh điện tử
Sự phát triển liên tục và nhanh chóng của Internet, và công nghệ nói chung, buộc nhân viên phải được giáo dục liên tục và có được kiến thức mới liên quan đến các nhiệm vụ hoạt động của họ (Park và Wentling, 2007) Vì vậy, nhân viên đào tạo nhiều hơn nhận được, thành công hơn kinh doanh điện tử được sử dụng
Đào tạo phải bao gồm việc nâng cao kỹ năng cần thiết để tương tác với môi trường kinh doanh điện tử Các kỹ năng này bao gồm việc sử dụng phần cứng và phần mềm có sẵn của tổ chức (ví dụ: Internet, hệ thống thông tin, e-mail .) (Lin,
2008, Zhao và cộng sự, 2008)
H1 Sự sẵn có của đào tạo dẫn đến việc triển khai thành công kinh doanh điện tử
1.2 Chuyên môn kỹ thuật và triển khai kinh doanh điện tử
Chuyên môn kỹ thuật trong một môi trường kinh doanh điện tử được định nghĩa
là mức độ năng lực kỹ thuật mà các nhân viên chuyên môn sở hữu
Ngày nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp điện tử sử dụng các chuyên gia và đầu tư nghiên cứu để thu thập và giải thích thông tin liên quan đến nhu cầu và hành
vi của khách hàng (Helms et al., 2008) Thực tiễn này cho phép một doanh nghiệp điện tử trở nên linh hoạt hơn và tương tác hiệu quả với khách hàng của mình (Helms
và cộng sự, 2008)
H2 Kỹ thuật chuyên môn dẫn đến việc triển khai thành công kinh doanh điện tử
1.3 Mức độ tri thức và triển khai kinh doanh điện tử
Mức độ kiến thức được định nghĩa là tổng hợp các khả năng điện tử kỹ thuật và thủ tục vốn có trong một tổ chức
Các khả năng tích hợp này bao gồm các kỹ năng Internet và truyền thông, kỹ năng truyền bá kinh doanh điện tử, bí quyết kinh doanh điện tử, hợp tác với các đơn
vị kinh doanh điện tử khác (nhà cung cấp và / hoặc khách hàng)
H3 Mức độ kiến thức dẫn đến việc triển khai thành công doanh nghiệp điện tử
Trang 102 Năng lực quản lý tri thức
Quản lý tri thức là một yếu tố quan trọng để tạo ra một lợi thế cạnh tranh, đó là kết quả mong muốn của một công ty điện tử thành công
Chia sẻ tương tác và chia sẻ kiến thức giữa các đối tác kinh doanh điện tử là một yếu tố thúc đẩy quá trình học tập lẫn nhau về kinh nghiệm của họ, và do đó là một tài sản rất quan trọng cho mọi công ty
2.1 Tích lũy kiến thức và triển khai kinh doanh điện tử
Sự tích lũy kiến thức được công nhận là sự thu thập và phân phối tri thức hiện
có cho bối cảnh tổ chức
Tri thức tích lũy phải có giá trị và có liên quan đến hoạt động kinh doanh điện tử
có tác động tích cực đến tổ chức
H4 Sự tích lũy tri thức dẫn đến việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử
2.2 Áp dụng kiến thức và thực hiện kinh doanh điện tử
Ứng dụng kiến thức là thủ tục thông qua đó tri thức tích lũy được sử dụng có hiệu quả trong bối cảnh của một tổ chức
Một tổ chức tăng cường ứng dụng kiến thức tổ chức có nhiều khả năng thực hiện thành công kinh doanh điện tử thành công
H5 Ứng dụng tri thức dẫn đến việc triển khai thành công kinh doanh điện tử
2.3 Chia sẻ kiến thức và thực hiện kinh doanh điện tử
Chia sẻ kiến thức có thể được định nghĩa là sự hợp tác giữa các đơn vị kinh doanh điện tử và các thực thể theo cách tăng năng suất và lợi nhuận
Thông tin phải được liên tục có sẵn cho tất cả các thực thể kinh doanh điện tử để phục vụ nhu cầu tổ chức, và do đó góp phần vào việc thực hiện thành công và có lợi nhuận kinh doanh điện tử
H6 Chia sẻ kiến thức dẫn đến việc triển khai thành công kinh doanh điện tử
Trang 113 Sự sẵn sàng về mặt tổ chức Theo Kwon and Zmud (1987)
Việc thực hiện Hệ thống Thông tin (IS) chỉ có thể thành công khi có đủ nguồn lực và được quản lý một cách khôn ngoan Các nguồn lực này bao gồm số lượng nhân viên đủ, đủ kinh phí, kỹ năng kỹ thuật đầy đủ, vv Chang (2009) định nghĩa sự sẵn sàng về mặt tổ chức như sự sẵn có của tài chính và nhân lực
3.1 Quy mô công ty
Kích thước doanh nghiệp đã được đề xuất như là một yếu tố có tác động đáng kể đến việc thực hiện các thực tiễn kinh doanh điện tử Densmore (1998) báo cáo các lý do khác nhau để giải thích sự ưu việt của các công ty lớn trong quá trình triển khai kinh doanh điện tử:
Họ có nhiều nguồn lực hơn;
Họ có thể dễ dàng đạt được tính kinh tế về quy mô và phạm vi;
Họ có thể chấp nhận và chịu rủi ro của một sự thất bại; và
Họ có quyền thương lượng lớn hơn
H7 Quy mô công ty lớn hơn dẫn đến việc triển khai thành công kinh doanh điện
tử
3.2 Kiến thức của CEO
Giám đốc điều hành có thể có ảnh hưởng đến việc triển khai kinh doanh điện tử, kiến thức của CEO về thái độ của IT và CEO về đổi mới Họ kết luận rằng các đặc tính của Giám đốc điều hành thực sự có ảnh hưởng đến việc triển khai kinh doanh điện tử
H8 Các kỹ năng CNTT của SEO nâng cao dẫn đến việc triển khai thành công kinh doanh điện tử
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Mẫu nghiên cứu
Trang 12Sử dụng một bảng câu hỏi mới được phát triển về một mẫu của các công ty Hy Lạp có sự tham gia trực tuyến Các công ty được chọn ngẫu nhiên từ một thư mục do Phòng Thương mại Hy Lạp cung cấp Bảng câu hỏi đã được gửi đến các nhà quản lý IS của các công ty này vì mối quan hệ của họ với chủ đề và kiến thức sâu rộng của họ về các quy trình kinh doanh điện tử Hơn nữa, việc lựa chọn các nhà điều hành IS như là những người trả lời chính đảm bảo hiệu lực của kết quả
Bảng câu hỏi được gửi bằng e-mail tới 820 tổ chức Một lời nhắc nhở đã được gửi đến hai tuần sau đó với những người không trả lời trước E-mail ban đầu bao gồm một lá thư giới thiệu rộng rãi giải thích các mục tiêu của nghiên cứu và xác nhận tính bảo mật dữ liệu Mẫu cuối cùng gồm 213 công ty (tỷ lệ trả lời là 26 %) Các công ty của mẫu cuối cùng hoạt động trong các ngành công nghiệp khác nhau Sự khác biệt này
đã giúp tránh được sự thiên lệch đơn Phần lớn (27,3%) các công ty thuộc nhóm này thuộc ngành "Điện tử" (ngành), 16,5% thuộc về "Tin học" và 14,9% đối với ngành
"Thực phẩm" Hơn nữa, 23,1% các công ty sử dụng ít hơn 100 nhân viên, 37,8% các công ty trong mẫu sử dụng 101- 250 nhân viên, trong khi 39,1% sử dụng hơn 250 nhân viên Theo đó, kết quả cho thấy rằng doanh thu hàng năm của 32,6% các công ty trong mẫu là từ 10.000.000 đến 50.000.000, trong khi loại thứ hai lớn hơn (29.2%) bao gồm các công ty có doanh thu hàng năm từ 1.000.000 đến 10.000.000
4.2 Phương pháp đo lường
Bảng câu hỏi dựa trên các câu hỏi đã được các nhà nghiên cứu trước đây sử dụng (Bradford và Florin, 2003, Gold và cộng sự, 2001, Bozbura, 2004, Jeon và cộng
sự, 2006 Lee và cộng sự, 2000, Lee et al, 2007) Tất cả các câu hỏi được dịch sang tiếng Hy Lạp và sau đó trở lại tiếng Anh bởi người khác, do đó phát hiện và cải thiện kết quả của bất kỳ sự khác biệt là có thể Một thang đo Likert 5 điểm đã được sử dụng
để đo tất cả các yếu tố (1 "không đồng ý mạnh" đến 5 "đồng ý mạnh mẽ"), ngoại trừ yếu tố "quy mô công ty", được đo bằng việc sử dụng hai câu hỏi (số nhân viên và doanh thu cho năm tài chính vừa qua)
Trang 13Việc đo lường yếu tố phụ thuộc duy nhất của nghiên cứu này (việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử) bao gồm ba khía cạnh: (1) tác động đến kinh doanh; (2) tác động đến hiệu quả nội bộ; (3) tác động đến sự phối hợp (Lee và cộng sự, 2007)
4.3 Độ tin cậy và tính hợp lệ
Dụng cụ đo được sử dụng trong nghiên cứu này đã được kiểm tra về cả nội dung
và độ bền của nó Thử nghiệm tính hợp lệ nội dung bao gồm:
• Tham vấn với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này;
• Tham khảo ý kiến của các học viên có kinh nghiệm;
• Thử nghiệm thí điểm bảng hỏi
Việc kiểm soát tính hiệu lực của cấu trúc được tiến hành theo hai bước Mỗi trong bảy nhân tố nghiên cứu được đánh giá về tính không đơn giản (sử dụng phân tích các yếu tố giải thích với phương pháp phân tích thành phần chính) và độ tin cậy (sử dụng thống kê "Cronbach alpha") của nó và cho sự phù hợp với mô hình nghiên cứu được đề xuất
Tất cả các bài kiểm tra kết luận rằng các quy mô được sử dụng là hợp lệ và đáng tin cậy (xem bảng dưới đây cho kết quả chính) Đối với phân tích thống kê thích hợp, các biện pháp sau được kiểm tra (Hair và cộng sự., 1995):
• Để xác định sự phù hợp của việc phân tích nhân tố, các biện pháp sau được kiểm tra: "Bài kiểm tra Sphericity của Bartlett" (có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05) và bài kiểm tra thống kê "Kaiser-Meyer-Olkin" (có giá trị trên 0,8 là đạt yêu cầu, trong khi giá trị trên 0,6 được chấp nhận)
• Để xác định số lượng các yếu tố khai thác, tiêu chí "eigenvalue" đã được sử dụng Các yếu tố có "eigenvalue" trên một đã được chọn
• Để kiểm tra ý nghĩa của các vật phẩm, các yếu tố của chúng đã được kiểm tra Với
cỡ mẫu hơn 150 quan sát, tải trọng trên 0,45 được coi là đáng kể
Trang 14• Để kiểm tra độ tin cậy của các yếu tố, biện pháp "Cronbach alpha" đã được sử dụng Các giá trị lớn hơn 0.7 được coi là hợp lệ
Hơn nữa, đánh giá sự phù hợp của mỗi yếu tố nghiên cứu với mô hình được đề xuất đã được tiến hành sử dụng phân tích nhân tố xác nhận (CFA) Tất cả các xét nghiệm đều tiến hành các kết quả khả quan (xem bảng 3 ở trên cho kết quả chính) Cụ thể hơn, các biện pháp sau đã được kiểm tra (Schumacker và Lomax, 2010):
Hơn nữa, CFA cấp hai được tiến hành theo ba khía cạnh (ảnh hưởng đến kinh doanh, ảnh hưởng đến hiệu quả nội bộ và tác động đến sự phối hợp) đo lường yếu tố
Trang 15phụ thuộc duy nhất của nghiên cứu này (thực hiện thành công kinh doanh điện tử) Tất
cả các biện pháp thống kê trích từ phân tích này đều ở mức thỏa đáng
Đối với việc kiểm soát mô hình đo lường, độ quan trọng của hệ số tải trọng, CR
và VE được ước tính Kết quả cho thấy rằng tất cả các tải trọng đáng kể ở mức ƿ < 0,05 Ngoài ra, CR và VE đo lường cho tất cả các cấu trúc đã được thỏa mãn
Bảng IV minh họa tất cả các mối quan hệ giữa các yếu tố nghiên cứu, vì chúng
đã được xác định bởi các giả thuyết của nghiên cứu Một giả thuyết được chấp nhận
khi nó có giá trị t dưới -1,96 hoặc lớn hơn +1,96 Cuối cùng, hệ số tương quan (hiệu
ứng) lấy giá trị từ -1 đến 1, với 1 hoặc -1 cho biết sự tương quan hoàn hảo (tích cực hoặc tiêu cực) Một giá trị tương quan gần với 0 cho thấy không có mối liên hệ giữa các yếu tố nghiên cứu Trong nghiên cứu này, hệ số tương quan của các hướng đi quan trọng hoàn toàn thỏa mãn
Tóm lại, bốn giả thuyết được hỗ trợ bởi dữ liệu thực nghiệm, trong khi bốn giả thuyết đã bị loại bỏ Có vẻ như các yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự thành công của việc triển khai kinh doanh điện tử là “mức độ tri thức” (tác động = 0,86),
“quy mô doanh nghiệp” (0,65), “đào tạo sẵn có” (0,55) và “chia sẻ tri thức” (0,34) (Hình 2) Mặt khác, mặc dù có sự hỗ trợ về mặt lý thuyết, “chuyên môn kỹ thuật”, “tích lũy tri thức”, “ứng dụng tri thức” và “tri thức của CEO” không có liên quan về mặt thống kê với việc triển khai thành công kinh doanh điện tử
Trang 16VII/ KẾT LUẬN
Nghiên cứu này đã phát triển một mô hình kiểm tra khả năng của tổ chức góp phần thực hiện thành công kinh doanh điện tử Mô hình nghiên cứu dựa trên tổng hợp các nghiên cứu trước đây và kết quả phân tích thống kê cho thấy “mức độ tri thức”, “sự sẵn có của đào tạo” và “chia sẻ tri thức” là những yếu tố quan trọng nhất cho việc triển khai thành công kinh doanh điện tử Hơn nữa, vai trò của “quy mô công ty” được nhấn mạnh bởi các dữ liệu thực nghiệm Phát hiện này về mặt kỹ thuật có nghĩa là khi số nhân viên tăng lên, công ty có khả năng áp dụng tốt hơn các công nghệ sáng tạo, chẳng hạn như kinh doanh điện tử Từ quan điểm quản lý, điều này cho thấy rằng các nhà
Trang 17quản lý nên hỗ trợ nỗ lực để tăng trưởng và tối đa hóa lợi nhuận cùng với việc thông qua và triển khai kinh doanh điện tử
Nghiên cứu điều tra khả năng tổ chức sử dụng hai chiều (“khả năng học tập của
tổ chức” và “khả năng quản lý tri thức”), được đo bằng ba yếu tố phụ Phân tích thực nghiệm cho thấy giữa hai chiều này, “khả năng học tập tổ chức” dường như là quan trọng nhất đối với các công ty triển khai kinh doanh điện tử Cụ thể hơn, “mức độ tri thức” và “sự sẵn có của đào tạo” đã có tác động đáng kể đến việc thực hiện thành công kinh doanh điện tử, trong khi “chuyên môn kỹ thuật” lại không thành công
Do đó, có thể kết luận rằng một tổ chức cung cấp cho nhân viên của họ sự đào tạo đã làm tăng khả năng thực hiện thành công các quy trình kinh doanh điện tử Hơn nữa, một tổ chức với những nhân viên có tri thức quen thuộc với công nghệ hỗ trợ kinh doanh điện tử có nhiều khả năng cạnh tranh thành công trong môi trường trực tuyến Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, cho thấy rằng nhân viên phải được đào tạo liên tục để có được kiến thức và do đó có khả năng hoàn thành thành công nhiệm vụ của họ và đóng góp vào hiệu quả kinh doanh điện tử (Gibbs và Kraemer, 2004; Lee và cộng sự, 2007, Park và Wentling, 2007) Do đó, mức độ đào tạo thích hợp và mức độ tri thức về kinh doanh điện tử là hoàn toàn cần thiết để thực hiện thành công kinh doanh điện tử
Mặt khác, các kết quả liên quan đến chiều của “khả năng quản lý tri thức” cho thấy chỉ có “chia sẻ kiến thức” mới có tác động đáng kể đến việc triển khai thành công kinh doanh điện tử, trong khi “sự tích lũy tri thức” và “ứng dụng tri thức” thì không
“Chia sẻ tri thức” cho phép một doanh nghiệp điện tử thành công trong việc quản lý các quy trình tổ chức bên trong và bên ngoài và, do đó, có tác động tích cực đến việc phát triển các giải pháp hiệu quả mới về thực tiễn kinh doanh điện tử Do đó “chia sẻ kiến thức” là một khả năng quan trọng giúp nhân viên sử dụng hiệu quả tri thức, tổ chức tri thức và cải thiện sự tương tác và mối quan hệ chuỗi cung ứng giữa các đối tác
Sử dụng “chia sẻ kiến thức” như một phương tiện chuyển đổi, các tổ chức nên cải cách
Trang 18cơ cấu của họ, để cho phép phổ biến thông tin một cách tự do giữa các phòng ban và đối tác kinh doanh
6.1 Thảo luận
Các yếu tố của việc học tập tổ chức (đào tạo sẵn có và trình độ tri thức) và quản
lý tri thức (chia sẻ tri thức) là phần rất quan trọng đối với việc thực hiện thành công các nguyên tắc kinh doanh điện tử
Các nhà quản lý nên nhớ rằng tập trung vào công nghệ không phải là yếu tố thành công quan trọng duy nhất cho việc triển khai kinh doanh điện tử Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng yếu tố con người (vốn con người) có vai trò trung tâm trong việc chuyển đổi thành công một công ty thành một tổ chức kỹ thuật số hiện đại
Các nhà quản lý phải hiểu đầy đủ rằng một công ty điện tử thành công là, trước hết, là một tổ chức học tập Nhân viên trong một tổ chức như vậy nên được đào tạo liên tục, để họ có thể có thêm kiến thức và kỹ năng kỹ thuật Phát triển nhân viên không chỉ được theo đuổi bằng các hình thức truyền thống (ví dụ như chuyên đề nghiên cứu) mà còn phải có các hình thức khác cải thiện đáng kể sự hợp tác giữa các tổ chức và nâng cao tri thức tổ chức (ví dụ: hội thảo, các nhóm tập trung, v.v.)
Kết quả thực nghiệm làm nổi bật tầm quan trọng của việc chia sẻ tri thức trong quá trình triển khai kinh doanh điện tử Các nhà quản lý nên xây dựng cơ sở hạ tầng quản lý tri thức chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu quả khối văn phòng (hợp tác nội bộ và chia sẻ tri thức) và tăng cường phối hợp với các đối tác kinh doanh (hợp tác bên ngoài
Trang 19• Các tổ chức nên cung cấp sự đào tạo phong phú liên quan đến thực tiễn kinh doanh điện tử
(2) Quản lý tri thức
• Các tổ chức nên có một hệ thống khen thưởng tiêu chuẩn cho việc chia sẻ tri thức;
• Các tổ chức nên thiết kế các quy trình để tạo điều kiện chia sẻ tri thức giữa các ranh giới chức năng và giữa các đối tác kinh doanh
6.2 Các hạn chế và nghiên cứu trong tương lai
Giới hạn đầu tiên là việc sử dụng thang đo tự báo cáo để đo các cấu trúc của khung khái niệm đề xuất Câu trả lời tự khai có thể bị phóng đại hoặc người trả lời có thể quá xấu hổ (hoặc hoài nghi) để tiết lộ thông tin nhất định và cũng có thể quên những chi tiết cần thiết Mặc dù có những bất lợi này, việc sử dụng các thang đo tự báo cáo đã được bảo vệ mạnh mẽ bởi các tài liệu, vì nó là phương pháp duy nhất có sẵn cho một số loại nghiên cứu nhất định (John và Robins, 1994, McDonald, 2008, Paulhus và Vazire, 2007)
Nghiên cứu này cung cấp một bức tranh tĩnh về triển khai kinh doanh điện tử tại
Hy Lạp, thiếu một cách tiếp cận theo chiều dọc và quốc tế Sẽ là thú vị khi xem xét khung khái niệm được đề xuất trong các giai đoạn và các quốc gia khác nhau để tiếp tục xác nhận các phát hiện của nó So sánh giữa các nước châu Âu khác nhau sẽ là một hướng đi thú vị cho nghiên cứu trong tương lai, vì cách tiếp cận này sẽ có thể phát hiện
sự khác biệt giữa các quốc gia với các thực tế kinh tế và văn hoá khác nhau (ví dụ: các nước phía Bắc và các nước phía Nam) Cuối cùng, một nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm nhiều yếu tố tổ chức trong mô hình nghiên cứu của nó, vì nghiên cứu này chỉ khảo sát năng lực học tập và các yếu tố về năng lực tri thức
Trang 20PHẦN 2: LIÊN HỆ LÝ THUYẾT
Sau khi tìm hiểu về nội dung của case study này, tôi thấy case study này liên quan đến chương 2: Thương mại điện tử - cơ chế, nền tảng và công cụ
I/ CƠ CHẾ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Hoạt động thương mại điện tử và cơ chế hỗ trợ
Trang 212 Quy trình mua hàng trực tuyến
Trang 224 Cơ chế mua sắm của khách hàng: Webstores, Malls và Portals
Webstores (Cửa hàng trên mạng): Microsites
Malls (Trung tâm mua sắm điện tử)
Portals (Cổng thông tin Web): Cổng thương mại (công cộng) và Cổng công ty (tư nhân) Cách hoạt động của portals:
Trang 23II/ NỀN TẢNG VÀ CÔNG CỤ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Thế giới ảo/ Cộng đồng ảo
Cộng đồng ảo là một cộng đồng tương tác diễn ra trên mạng máy tính, chủ yếu
là Internet Cộng đồng ảo song song với cộng đồng vật lý điển hình, chẳng hạn như vùng lân cận, câu lạc bộ hoặc hiệp hội, nhưng mọi người không đáp ứng mặt đối mặt Thay vào đó, họ gặp trực tuyến Cộng đồng ảo cung cấp một số cách để các thành viên tương tác, cộng tác và thương mại
2 Thực tế tăng cường (Augmented Reality-AR):
"Sao chép, quan điểm của một môi trường vật lý, thực tế mà các yếu tố được tăng cường (hoặc bổ sung) bằng máy tính tạo ra cảm giác đầu vào chẳng hạn như âm thanh, video, đồ họa hoặc dữ liệu GPS” Sự sắp xếp như vậy giúp mọi người nâng cao nhận thức giác quan về thực tại Bạn có thể xem lớp vi tính hóa thông qua ứng dụng trên thiết bị di động như điện thoại thông minh, webcam hoặc kính 3D (bao gồm cả TV 3D) Google đã phát triển kính Augmented Reality (AR) gọi là 'Google Glass' (xem Chương 6 và Bilton 2012) Đối với cách AR hoạt động, xem Bonsor (2001) Bonsor cũng giải thích mối quan hệ của AR với thực tế ảo
3 Crowdsourcing: một nền tảng cho trí thông minh tập thể trong thương mại điện tử và
thương mại xã hội
Các yếu tố của Crowdsourcing
Trang 24Một quá trình Crowdsourcing điển hình:
Lợi ích của Crowdsourcing:
Các vấn đề có thể được phân tích hoặc giải quyết với chi phí ít so sánh
Các giải pháp có thể đạt được nhanh chóng vì nhiều người cùng làm việc trong
dự án nghiên cứu cần thiết
Crowdsourcing có thể khai thác vào thế giới ý tưởng toàn cầu Khách hàng có
xu hướng trung thành hơn nếu họ tham gia vào dự án giải quyết vấn đề của công ty
Trang 25PHẦN 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Shopee là nền tảng thương mại điện tử khu vực Đông Nam Á, có trụ sở chính tại Singapore, ra đời vào tháng 7 năm 2015 Tính đến tháng 9/2017, trang web có hơn 40 triệu lượt tải ứng dụng, tổng giá trị hàng hóa 3 tỷ USD
Theo thông tin từ website TechinAsia, Gross Merchandise Volume (GMV - giá trị các sản phẩm được bán ra, con số dùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng đối với các doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến) của Shopee tính đến tháng 2/2016 là 345 triệu USD, tương đương hơn 28 triệu USD/tháng, tăng gấp 6 lần so với thời điểm ra mắt, Garena
đã được định giá hơn 3,7 tỷ USD và là doanh nghiệp khởi nghiệp có giá trị nhất Đông Nam Á khi có giá trị gấp đôi Grab, doanh nghiệp nổi lên nhờ ứng dụng gọi taxi, vốn chỉ được định giá khoảng 1,8 tỷ USD Với tốc độ tăng trưởng về người sử dụng và đơn hàng hơn 20%/tháng, Việt Nam được đánh giá là một trong các thị trường trọng điểm của Shopee
Sau một năm kinh doanh tại thị trường Việt Nam, Shopee đã đạt được những kết quả vượt kỳ vọng với năm triệu lượt tải ứng dụng di động, số đơn hàng tăng gấp năm lần và lượng người bán hàng gấp ba lần Những con số này cho thấy thị trường Việt Nam rất có tiềm năng và có vẻ cách tiếp cận thị trường của Shopee là phù hợp
Từ kết quả của nghiên cứu thực nghiệm, biết rằng các yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự thành công của việc triển khai kinh doanh điện tử là “mức độ tri thức”, “quy mô doanh nghiệp”, “đào tạo sẵn có” và “chia sẻ tri thức” Với thành công hiện có, Shopee có hội đủ các yếu tố này không?
3.1 Sự sẵn có về đào tạo
Phát triển nguồn nhân lực là một trong những chiến lược quan trọng trong phát triển bền vững Shopee hiện tại đang nỗ lực tổ chức nhiều chương trình đào tạo dành cho các cấp bậc và đội nhóm khác nhau nhằm đảm bảo mọi nhân viên đều có cơ hội được phát triển như nhau Thêm vào đó, Shopee đã xây dựng một chương trình Quản
Trang 26trị viên tập sự để đào tạo và phát triển các ứng viên tiềm năng từ những bước đầu tiên Đồng thời, hướng tới mục tiêu trở thành một trong những “Nhà tuyển dụng được yêu thích nhất” của thế hệ tài năng trẻ
Đơn cử là vào chiều ngày 10/4/2018 tại phòng 702, khu giảng đường Việt Úc, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Trung tâm hỗ trợ sinh viên CSS phối hợp cùng CLB Truyền thông MCC đã tổ chức thành công chương trình: “Hội thảo tuyển dụng - Global leaders program 2018” đến từ Shopee Tham gia buổi hội thảo, sinh viên đã được chia sẻ những thông tin thiết thực xung quanh chương trình “Global leaders program” Chương trình “Nhà lãnh đạo toàn cầu - Global leaders program” là chương trình tuyển dụng đặc biệt của Shopee nhằm tìm kiếm những nhân tài quan tâm, muốn thử sức trong lĩnh vực thương mại điện tử và mong muốn trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu trong tương lai Chương trình được Shopee tổ chức lần đầu tiên tại Việt Nam Khi được nhận tham gia chương trình, ứng viên sẽ có cơ hội làm việc tại Shopee trong 2 năm với 4 lần luân chuyển phòng ban trong các phòng ban: Operations, Business Development, Business Intelligence, Marketing, Human Resources Đặc biệt, sau 18 tháng làm việc tại Việt Nam, ứng viên sẽ được chuyển tiếp sang làm tại trụ sở chính của Shopee tại Singapore Trong hai năm làm việc ứng viên sẽ được đào tạo, hướng dẫn và huấn luyện chuyên sâu theo tiêu chuẩn quốc tế từ các lãnh đạo của Shopee
3.2 Mức độ tri thức
Chủ đầu tư của Shopee là Garena (Singapore), nhà cung cấp nền tảng Internet lớn tại khu vực Đông Nam Á, được thành lập hồi năm 2009 Ban đầu là doanh nghiệp cung cấp game trực tuyến, Garena chuyển dần sang doanh nghiệp internet bằng cách
mở thêm mảng thương mại điện tử và thanh toán trực tuyến đồng thời đẩy mạnh sự hiện diện ở Đông Nam Á, Đài Loan và Hồng Kông Với vốn tri thức sẵn có về mảng internet của Garena, Shopee có lợi thế cạnh tranh rất lớn khi phát triển thành doanh nghiệp thương mại điện tử
Là sàn giao dịch điện tử đến sau, Shopee khi ra mắt phải đối đầu với không ít khó khăn đến từ các đối thủ cạnh tranh Một trong những khác biệt quan trọng giúp
Trang 27Shopee có thể tạo lợi thế cạnh tranh là hiểu về thị trường và thị hiếu người tiêu dùng Người mua hàng luôn muốn tương tác với người bán để hiểu rõ sản phẩm hơn Đơn cử khi mua mỹ phẩm, người mua thường muốn trao đổi nhiều với người bán xem sản phẩm đó có hợp với làn da của mình hay không, đó là màu đỏ hay hồng? Khi muốn có sản phẩm bạn sẽ đặt ra rất nhiều câu hỏi Và Shopee đáp ứng người mua những nhu cầu đó, cho phép người mua và người bán có thể trao đổi trực tiếp với nhau Một yếu tố quan trọng nữa là việc thanh toán Không giống với thị trường khác, người Việt chuộng thanh toán khi nhận hàng Nhờ hiểu rõ thói quen người dùng, Shopee làm việc với bên vận chuyển để đảm bảo khách hàng sẽ được phục vụ theo đúng yêu cầu và sở thích của
họ
Theo ông Trần Tuấn Anh, Giám đốc Vận hành kiêm Tài chính của Công ty TNHH Shopee, có hai yếu tố giúp Shopee tạm thời có các thành quả tốt như hiện nay Đầu tiên là ưu tiên tập trung phát triển trên các thiết bị di động Theo đó, việc đăng và bán hàng trên nền tảng này cũng được cải tiến để đơn giản và dễ chia sẻ hơn Mặt khác, giới trẻ ngày nay tiếp cận internet, thương mại điện tử chủ yếu bằng thiết bị di động, nhất là các vùng ngoại thành nên chiến lược của Shopee giúp doanh nghiệp này tiếp cận được cả khách hàng ở các tỉnh Ông Tuấn Anh cho biết hiện đơn hàng của Shopee
ở tỉnh và thành phố là ngang nhau
Điểm thứ hai là hỗ trợ các dịch vụ cần thiết Trong 15 tháng thử nghiệm, Shopee giảm 50% giá vận chuyển trong và ngoại thành Bên cạnh đó là đảm bảo thanh toán cho người mua bằng cách chỉ thanh toán cho người bán khi hàng hóa đúng như yêu cầu
3.3 Chia sẻ tri thức
Shopee luôn chủ động trong việc chia sẻ tri thức của mình đến các đối tác, chính
là các chủ shop Một trong số đó là chương trình “Lớp học bán hàng” – “Shopee University” được bắt đầu từ năm 2016 Đây là hoạt động định kỳ của Shopee nhằm đào tạo và chia sẻ các kiến thức, kỹ năng bán hàng từ cơ bản đến nâng cao cho tất cả các chủ shop Đồng thời, mỗi người bán đều được cấp riêng một tài khoản trên hệ thống