Vấn đề liên quan đến đại diện được nhắc đến trong một số đề tài, bài viết, riêng lẻ đánh giá trước đó như: “Phương thức giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng trong hoạt động kinh
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO THỊ MAI HIÊN
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN
HỆ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO THỊ MAI HIÊN
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN
HỆ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
Hà Nội – 2017
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu đó.Luận văn này chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Cao Thị Mai Hiên
Trang 44
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 7
CHƯƠNG 1 12
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN HỆ KINH DOANH 12
1.1 Khái niệm,đặc điểm đại diện và đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 12
1.1.1 Khái niệm chung về “Đại diện” 12
1.1.2 Cơ sở của quy định về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh ……… 20
1.1.3 Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 21
1.2 Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về quan hệ đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 24
1.2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 24
1.2.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 31
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN HỆ KINH DOANH Ở VIỆT NAM 31
2.1 Thực trạng đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 31
2.1.1 Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự 31
2.1.2 Đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự 42
Trang 55
2.1.3 Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 462.2 Thực trạng đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh 472.2.1 Căn cứ pháp lý của việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh 472.2.2 Quyền và nghĩa vụ của việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 502.3 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng về vấn đề đại diện trong quan hệ kinh doanh 52KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57CHƯƠNG 3 58NHU CẦU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN HỆ KINH DOANH 583.1 Nhu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 583.1.1 Nhu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 583.1.2 Định hướng hoàn thiện và bảo đảm việc thực thi các quy định của pháp luật pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 653.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cũng như bảo đảm cho việc thực thi các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh 68KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78KẾT LUẬN 79DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 66
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình GDDS : Giao dịch Dân sự
MỞ ĐẦU
Trang 77
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại diện là một chế định quan trọng nhằm hỗ trợ việc thực hiện các quan
hệ pháp luật nói chung của các chủ thể Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam đại diện là một chế định được quy định trong Bộ luật Dân sự
2005 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 lần đầu tiên quy định mới về vấn đề đại diện của vợ chồng đó là đại diện của vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Xuất phát từ quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền và lợi ích của gia đình mà vợ chồng có quyền đại diện cho nhau theo pháp luật hoặc theo
ủy quyền Việc vợ, chồng đại diện cho nhau trong các giao dịch dân sự phục vụ cho sinh hoạt của gia đình hay liên quan đến hoạt động kinh doanh ngày càng nhiều
Hiện nay các quan hệ kinh doanh ngày càng đa dạng và phức tạp Vợ, chồng có quyền tự do kinh doanh, trong đó có cả việc sử dụng tài sản riêng và tài sản chung vào các giao dịch này Chính vì thế việc đặt ra vấn đề đại diện trong quan hệ kinh doanh đáp ứng nhu cầu phát triển trong xã hội hiện đại, đảm bảo được quyền, lợi ích của các bên trong giao lưu dân sự
Nghiên cứu vấn đề đại diện giữa vợ và chồng, đặc biệt là đại diện giữa vợ
và chồng trong quan hệ kinh doanh là cần thiết nhằm đảm bảo việc thực hiện chức năng của gia đình, đảm bảo lợi ích của vợ chồng trong các giao dịch dân sự
và trách nhiệm liên đới (trách nhiệm bồi thường thiệt hại) trong quan hệ kinh doanh
Trong quá trình hội nhập, khi mà nhu cầu về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh xuất hiện ngày càng nhiều, tuy nhiên các quy định của pháp luật về vấn đề này còn chưa thực sự cụ thể và rõ ràng Ngoài ra các công trình nghiên cứu về đại diện giữa vợ và chồng nói chung, đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh trong giới khoa học pháp lý vẫn còn ít Do đó,
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chế định đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh là một vấn
đề mới được cụ thể hóa trong quy định của pháp luật, cụ thể là Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Do đó mà chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến vấn
đề này từ khi quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành
Vấn đề liên quan đến đại diện được nhắc đến trong một số đề tài, bài viết, riêng lẻ đánh giá trước đó như: “Phương thức giải quyết tranh chấp về tài sản của
vợ chồng trong hoạt động kinh doanh”, Đề tài khoa học cấp trường: Tài sản của
vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, do Nguyễn Phương Lan chủ nhiệm (2008), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – nhìn
từ góc độ luật so sánh” của PGS.TS Ngô Huy Cương, Tạp chí nhà nước và pháp luật (04/2009), Luận văn thạc sĩ “Pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ hợp đồng” của Đỗ Hoàng Yến (2012), Luận văn thạc sĩ “Đại diện giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” của Nguyễn Thị Hạnh (2012)
Với tính chất là một vấn đề mới và trong thực tiễn cuộc sống cũng phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến này, nên việc nghiên cứu một cách hệ thống
Trang 99
quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh là cần thiết và phù hợp
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh Phân tích và làm rõ những vấn
đề về lý luận và thực tiễn của đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh để từ đó làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật, cũng như đưa ra một số định hướng, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh nhằm bảo đảm quyền lợi cho các bên trong quan hệ hôn nhân cũng như các chủ thể khác trong giao dịch với vợ, chồng
- Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện những mục đích trên, luận văn còn có những nhiệm vụ sau: + Nghiên cứu để làm rõ vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
+ Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về đại diện của vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu, nhược điểm khi áp dụng pháp luật
+ Đề xuất đưa ra những định hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh để tăng cường hiệu quả của quy định pháp luật trong thực tiễn áp dụng
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Những vấn đề lý luận chung về đại diện theo quy định của pháp luật dân sự;
Trang 10nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các quan điểm của Đảng, Nhà nước về pháp luật, hôn nhân và gia đình
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê, logic v.v
6 Tính mới và đóng góp của đề tài
Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh Là vấn đề mới được cụ thể hóa trong luật nên hiện nay chỉ dừng lại ở việc có những bài viết, bài giảng riêng lẻ đánh giá về nó
Luận văn cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề mà thực tế trong cuộc sống đang xảy ra, đánh giá cặn cẽ tác động của luật định đối với vấn đề này trong cuộc sống để từ đó đưa ra hướng đề xuất phù hợp Chính vì vậy mục tiêu mà luận văn hướng đến là làm tài liệu tham khảo cho hoạt động áp dựng thực tiễn cũng như tài liệu nghiên cứu khoa học về sau
Trang 1111
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đại diện giữa vợ chồng
Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Chương 3: Nhu cầu, định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Trang 1212
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG
TRONG QUAN HỆ KINH DOANH 1.1 Khái niệm,đặc điểm đại diện và đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ
kinh doanh
1.1.1 Khái niệm chung về “Đại diện”
Đại diện là một chế định pháp lý theo đó người đại diện độc lập thực hiện
sự thể hiện ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý trực tiếp đối với người được đại diện Xét từ góc độ lý luận thì người thực hiện các hành vi pháp lý đồng thời là người tiếp nhận kết quả của các hành vi đó Có thể thấy đại diện là một chế định pháp luật thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch dân sự (GDDS) của các chủ thể
Theo cách diễn giải tại cuốn Từ điển tiếng Việt thì đại diện là sự “thay mặt (cho cá nhân, tập thể)” [35, tr.279]
Từ điển Luật học giải thích đại diện là “việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [36, tr225]
Với các cách hiểu này có thể thấy chủ thể tham gia giao dịch gồm có người đại diện, người được đại diện và một bên thứ ba khi người đại diện thay mặt người được đại diện giao dịch vớibên thứ ba Cả ba bên đều có thể là cá nhân, tổ chức Như vậy mối quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện
là sự thỏa thuận tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật Các giao dịch
mà người đại diện thay mặt người được đại diện thực hiện với Bên thứ ba sẽ tạo
ra quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện
Trong xã hội La Mã, người chủ trong gia đình được quyền sở hữu mọi thứ
do những người trong gia đình có được từ các nguồn khác nhau hoặc do nô lệ tạo
Trang 13sự tự do ý chí của các bên, theo đó phải tuân thủ những cam kết mà mình đã đƣa
Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 cũng đã quy định về đại diện nhƣ sau: “Ủy quyền hay ủy nhiệm là hành vi mà theo đó một người trao cho người khác quyền làm một việc gì đó cho người ủy quyền bằng tên của người ủy quyền
Hợp đồng không được tạo lập khi không có sự chấp thuận của người được ủy quyền.” [4, Điều 1984]
Ở Việt Nam, chế định đại diện đƣợc quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và cụ thể nhất là trong Bộ luật Dân sự 2005
Từ những quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và các văn bản khác có thể
rút ra đƣợc khái niệm về đại diện là: Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) thay mặt người khác (sau đây được gọi là người được đại diện) thực hiện một số giao dịch dân sự nhất định vì lợi ích hợp pháp trong phạm vi được người đại diện cho phép
Trang 1414
Đặc điểm của quan hệ đại diện
Đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự, vì thế ngoài các đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự thì đại diện còn có những đặc điểm riêng:
- Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại: Đó là quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài [18, tr.142]
Quan hệ bên trong là quan hệ được hình thành giữa người được đại diện và người đại diện theo quy định của pháp luật (đại diện theo pháp luật) hoặc theo hợp đồng (đại diện theo ủy quyền) Người đại diện là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhân danh chủ thể trong việc thực hiện các giao dịch pháp luật cho phép hoặc theo nội dung được ủy quyền Người được đại diện có thể là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu ủy quyền cho một cá nhân khác thay mình thực hiện một công việc, một giao dịch dân sự nào đó
Ví dụ: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện xác lập, thực hiện Như vậy quan hệ đại diện ở đây được xác lập theo quy định của pháp luật chứ không phải dựa trên sự thỏa thuận của các bên
Quan hệ bên ngoài là quan hệ được xác lập giữa người được đại diện và người thứ ba Quan hệ bên trong là tiền đề, là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài
- Người đại diện nhân danh người được đại diện thực hiện các giao dịch dân
sự với bên thứ ba
Ở đây người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba nhân danh người được đại diện chứ không nhân danh bản thân mình, vì vậy các quyền và nghĩa vụ
do người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện Người đại diện có thể được hưởng những lợi
Trang 1515
ích nhất định từ người được đại diện khi thực hiện hành vi đại diện với người thứ
ba, chứ không được hưởng bất kỳ lợi ích nào từ người thứ ba
Trong giao dịch do người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập thực hiện phát sinh với người thứ ba chứ không phải người được đại diện là người trực tiếp xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba Trường hợp người đại diện thực hiện việc đại diện vượt quá thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, chủ thể của giao dịch dân sự đó
sẽ thay đổi Người đại diện sẽ trở thành một bên đại diện và chịu trách nhiệm đối với hậu quả pháp lý của giao dịch đó
- Người đại diện được chủ động trong việc xác lập giao dịch dân sự với bên thứ ba trong phạm vi đại diện nhằm đảm bảo quyền lợi cao nhất cho người được đại diện
Phạm vi đại diện mà người đại diện thực hiện trong quá trình giao dịch với bên thứ ba áp dụng theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên
- Trong quan hệ đại diện, người được đại diện trực tiếp thu nhận các kết quả pháp lý do hoạt động của người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện mang lại
Phạm vi đại diện được hiểu là hành động thực hiện với tư cách một người khác mà được sự đồng ý của họ
Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện, điều này có nghĩa là quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa người được đại diện và người thứ ba, chứ không phải giữa người trực tiếp tiến hành xác lập giao dịch dân sự - người đại diện với người thứ ba
Trang 1616
Trong trường hợp người đại diện thực hiện giao dịchvượt quá phạm vi đại diện thì người được đại diện sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với phạm vi vượt quá đó trừ trường hợp người được đại diện đồng ý
Nguyên tắc của quan hệ đại diện
- Dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do của công dân theo Hiến pháp Công dân có quyền và lợi ích dù không thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan tới mình và được thực hiện thông qua người đại diện Đại diện bảo đảm cho quyền của công dân không bị gián đoạn khi mà họ có nhu cầu giao dịch nhưng vì những lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể tự mình thực hiện giao dịch được
- Dựa trên nguyên tắc tự do giao kết của các chủ thể trong xã hội Công dân
có quyền làm những việc mà pháp luật không cấm Vì vậy mà trong khuôn khổ quy định của pháp luật, các cá nhân có quyền thay mặt nhau thực hiện những công việc theo thỏa thuận Người đại diệnnhân danh người được đại diện trong giao dịch, nhưng cũng có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong phạm vi đại diện đó
Ý nghĩa của quan hệ đại diện
Trong đời sống hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và các mối giao lưu dân sự, quan hệ đại diện được xác lập ngày càng nhiều Bởi vậy chế định đại diện có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn quan hệ pháp luật dân sự
- Hiện nay có rất nhiều cá nhân rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân
sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nhưng vẫn có nhu cầu về các giao dịch tối thiểu để phục vụ sinh hoạt của mình cũng như thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đối với bên thứ ba Những hạn chế đó cản trở và họ không thể tự mình thực hiện các giao dịch Chế định đặt
ra vấn đề giám hộ, đại diện giúp đỡ rất lớn cho những người không đủ khả năng
Trang 17- Kinh tế, xã hội ngày càng phát triển thì đại diện ngày càng được biết đến như là một dịch vụ trong nền kinh tế tri thức Những người có đủ năng lực, trình
độ chuyên môn sẽ thực hiện cáccông việc mà người có nhu cầu mong muốn thông qua hợp đồng ủy quyền Ví dụ như ông A có tranh chấp đối với ông B và ông A kiện ông B ra tòa Vì lý do sức khỏe mà ông A không muốn trực tiếp tham gia vào vụ kiện này mà muốn ủy quyền cho một người khác thay mặt mình giải quyết các công việc liên quan đến nội dung của vụ kiện Ông A đã thuê ông C – Luật sư của Văn phòng luật sư Z để thay mặt và nhân danh mình thực hiện tất cảcác thủ tục với cơ quan có thẩm quyền cũng như giải quyết tất cả các vấn đề về
vụ kiện
Đây là một nhu cầu thực tế và thiết yếu hiện nay khi mà có nhiều giao dịch dân sự người có nhu cầu không thể tự mình thực hiện được và phù hợp trong nền kinh tế thị trường ngày nay
Chế định đại diện là một chế định quan trọng và có ý nghĩa lớn không chỉ trong khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa quan trọng trong các giao dịch dân sự hàng ngày, liên quan đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ đề cập tới vấn đề đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh mà không đề cập đến các vấn đề đại diện khác như đại diện hành chính, ngoại giao
Bộ luật Dân sự 2015 và những điểm mới về đại diện
Trang 1818
BLDS 2005 sau 10 năm thi hành, đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trước yêu cầu thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng và yêu cầu về công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 thì BLDS 2005 hiện hành đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, nổi bật là:
Một là những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, đặc biệt Hiến pháp 2013 quy định Nhà nước phải có cơ chế pháp lý để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân về dân sự Tuy nhiên, một số quy định của BLDS hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu này như quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, nghĩa vụ, hợp đồng,…còn bất hợp lý, thiếu tính khả thi
Hai là nhiều quy định của BLDS còn chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Những hạn chế, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực và hiệu quả của BLDS nói riêng, pháp luật dân sự nói chung; chưa thực sự tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân sự của người dân
Thực hiện thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn 2011 – 2020 và yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ
Trang 1919
10 Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 - sau đây gọi tắt là BLDS 2015), với 06 phần, 27 Chương, 689 điều (giảm 88 điều so với BLDS 2005) Phạm vi sửa đổi Bộ luật dân sự là sửa đổi căn bản, toàn diện, trong đó quy định về đại diện cũng được sửa đổi phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập Những điểm mới về đại diện trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 gồm:
Một là: Quy định rõ ràng bên đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân
Nếu như BLDS 2005 quy định bên đại diện chỉ là cá nhân thì trong BLDS 2015
đã mở rộng đối tượng được là người đại diện có thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự
Hai là: Pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật Đây là
quy định mới lần đầu tiên đượcđưa vào BLDS Quy định này phù hợp với Luật Doanh nghiệp 2014, đảm bảo sự hài hòa giữa quy định của luật chung cũng như luật chuyên ngành
Ba là: Theo BLDS 2005, người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình là
Chủ hộ, của tổ hợp tác là Tổ trưởng Tuy nhiên đến nay, BLDS2015 đã không còn ghi nhận tư cách người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình, tổ hợp tác, thay vào đó các thành viên trong hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có
tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân đó
Thứ tư: Bổ sung quy định về thời hạn đại diện
BLDS 2015 bổ sung thêm quy định về việc xác định thời hạn đại diện trong trường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo văn bản ủy quyền; quyết định của cơ quan có thẩm quyền; điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy
Trang 2020
định của pháp luật Cụ thể: Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân
sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó; Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện
1.1.2 Cơ sở của quy định về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Có thể thấy quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh bị ảnh hưởng bởi yếu tố: Sự bình đẳng của các bên đối với tài sản khi đưa vào giao dịch dân sự và nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế thị trường Pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ phong kiến, vấn đề vợ chồng đại diện cho nhau trong quan hệ kinh doanh đối với tài sản không được ghi nhận Hệ tư tưởng Nho giáo còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị, tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp xã hội với quan điểm “trọng nam khinh nữ” Trong gia đình người đàn ông có quyền lực tuyệt đối còn người phụ nữ không có quyền tự quyết định những công việc liên quan đến tài sản của gia đình Do vậy mà vấn đề đại diện không được ghi nhận, mà được xem là một điều đương nhiên Sở dĩ như vậy bởi theo quan niệm người đàn ông là trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định mọi vấn đề và người phụ nữ có nghĩa vụ phải tuân theo mà không cóquyền góp ý Bên cạnh đó, người chồng cũng nắm kinh tế gia đình Khi thực hiện bất kỳ một giao dịch nào, người chồng không cần hỏi ý kiến người vợ nhưng vẫn có quyền dùng tài sản chung để thanh toán cho giao dịch đó Thực tế không xuất hiện quan
hệ đại diện nhưng lại xuất hiện trách nhiệm liên đới dù đôi khi giao dịch mà người chồng xác lập người vợ không được biết Như vậy, có thể thấy sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng bởi giao dịch được thực hiện từ một phía
Trong khi đó, theo quy định của pháp luật hiện hành về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh cho thấy sự bình đẳng của vợ chồng trong quan hệ gia đình cũng như trong quan hệ đối với tài sản chung và tài sản riêng Vợ chồng có
Trang 21và bảo đảm tài sản mình sử dụng để kinh doanh đạt hiệu quả, mang lại nguồn lợi kinh tế cho gia đình
1.1.3 Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Khái niệm đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Quyền đại diện giữa vợ chồng được quy định trong phần nghĩa vụ của vợ
và chồng về việc quản lý tài sản chung và riêng trong BLDS Ngoài ra Luật HN
& GĐ cũng quy định về việc vợ chồng được đại diện cho nhau trong các giao dịch dân sự thông qua đại diện
Cơ sở của hôn nhân là tình yêu giữa nam và nữ Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình no ấm bình đẳng tiến bộ hạnh phúc bền vững Để hôn nhân đạt được mục đích đó thì điều cơ bản là hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương, chung thủy, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Sự quý trọng chăm sóc giúp
đỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi cách xử sự và thái độ của họ với nhau Cơ sở lâu dài của hôn nhân là sự bình đẳng của vợ chồng Quyền bình đẳng đó được thể hiện ở việc vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản của bản thân vợ chồng và của mỗi thành viên trong gia đình, liên quan đến đời sống chung của gia đình Vợ chồng cùng nhau thực hiện các chứng năng của gia đình để đảm bảo cho việc thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu về vật chất và tinh thần Vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổn phận, trong đó có những bổn phẩn ảnh hưởng đến quyền hạn của vợ, chồng trong việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản Suy cho cùng, tất cả tài sản của
Trang 2222
vợ, chồng, dù là tài sản riêng của mỗi người hay tài sản chung thì đều được khai thác, sử dụng trước hết nhằm bảo đảm sự phát triển chung của gia đình, sau đó mới phục vụ mục đích cá nhân của chủ sở hữu
Mỗi cá nhân đều có những mối quan hệ riêng, mang tính chất cá nhân tồn tại bên cạnh những mối quan hệ chung của vợ chồng với nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên vợ chồng vẫn luôn có mối quan tâm hàng đầu liên quan đó là phát triển kinh tế gia đình Nó là thước đo cho sự ổn định và giữ gìn gia đình của
vợ chồng Theo truyền thống của người phương Đông thì người đàn ông sẽ gánh vác việc lo kinh tế của gia đình, còn người vợ thì chăm sóc, quản lý chi tiêu trong gia đình Hai công việc được đánh giá là ngang bằng nhau Đối với các giao dịch liên quan đến việc duy trì sinh hoạt hàng ngày trong gia đình thì thường là một người sẽ đại diện cho người còn lại để thực hiện
Tuy nhiên đối với những giao dịch liên quan đến những tài sản lớn hoặc những giao dịch trong quan hệ kinh doanh thì phải được xác lập dựa trên sự đồng ý của cả vợ và chồng, khi ấy thì vợ hoặc chồng sẽ đại diện cho người còn lại tham gia vào giao dịch với bên thứ ba đó Việc đại diện được thực hiện thông dựa theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền
Đối với quan hệ kinh doanh là những giao dịch quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến tài sản của vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba Nó còn là uy tín, danh dự của các bên khi thực hiện việc kinh doanh Đại diện nhưng phù hợp với quy định của pháp luật cũng như cân bằng được lợi ích giữa kinh tế và gia đình mới là mục tiêu cao nhất của vợ chồng kinh doanh chung dù bằng tài sản riêng hay tài sản chung
Lần đầu tiên Luật HN & GĐ 2014 đã quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh Xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội cũng như hội nhập nền kinh tế thị trường, một số quy định trong Luật HN & GĐ 2000
Trang 23chồng trong quan hệ kinh doanh như sau:
Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh là việc một bên vợ hoặc chồng nhân danh người còn lại thực hiện các giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng dựa theo quy định của pháp luật hoặc sự thỏa thuận của vợ chồng vì lợi ích chung
Đặc điểm của đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
- Chủ thể trong quan hệ đại diện:
So với quan hệ đại diện chung, chủ thể của đại diện giữa vợ chồng không
có nhiều điểm khác biệt Vợ chồng đại diện cho nhau trong các giao dịch liên quan đến tài sản chung thì tư cách chủ thể đôi khi lại dễ dàng được xác định Vì ngoài mối quan hệ liên quan đến tài sản, vợ chồng có mối quan hệ đặc biệt là quan hệ nhân thân đã được xác lập nhờ sự kiện kết hôn Xác định chủ thể đại diện quan trọng khi xác lập giao dịch với bên thứ ba vì nó sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Vợ hoặc chồng đại diện cho người còn lại thực hiện các giao dịch liên quan đến kinh doanh sẽ định đoạt toàn bộ những nội dung có liên quan và người còn lại sẽ phải có trách nhiệm liên đới đối với quyết định của người đại diện giao kết
- Ý chí của chủ thể trong quan hệ đại diện:
Nếu như quan hệ đại diện chung thì người được đại diện được thực hiện theo quy định của pháp luật thì việc lựa chọn người đại diện theo ủy quyền phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Trang 2424
Trong quan hệ kinh doanh, vợ chồng thường thể hiện ý chí chung trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan Vợ hoặc chồng đại diện thực hiện giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh sẽ phải có trách nhiệm hết mình thực hiện giao dịch nhằm mang lại lợi ích cao nhất Vì trong khối tài sản sử dụng để kinh doanh thì có một phần tài sản của họ Không ai muốn quyền lợi của mình bị ảnh hưởng Do vậy mà ý chí trong quan hệ đại diện của vợ chồng vừaquyền lợi , vừa
là trách nhiệm của người đại diện
- Phạm vi đại diện:
Theo quy định của pháp luật thì người đại diện được thực hiện các giao dịch trong phạm vi đại diện, nhân danh người được đại diện thực hiện trách nhiệm của mình Đại diện được thông qua sự xác lập của cơ quan có thẩm quyền hoặc hợp đồng ủy quyền mà hai bên ký kết Nó đảm bảo phạm vi đai diện không
bị vượt quá nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được đại diện Tuy nhiên đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh chỉ có giá trị trong những quan hệ kinh doanh đòi hỏi phải phù hợp quy định của pháp luật về hình thức Đại diện của vợ hoặc chồng là đại diện cho trách nhiệm của người còn lại cũng như thực hiện tốt nghĩa vụ của mình có trong quan hệ kinh doanh đó
Khi vợ hoặc chồng đại diện cho người còn lại thông qua văn bản thỏa thuận theo yêu cầu của bên thứ ba hoặc quy định của luật chuyên ngành thì tính pháp lý sẽ cao hơn, bảo đảm sự tin tưởng với bên thứ ba
1.2 Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về quan hệ đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
1.2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về hôn nhân và gia đình chiếm một vị trí quan trọng Tuy nhiên trong cổ luật Việt Nam những quy định liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng như việc sử dụng tài sản đó như thế nào
Trang 2525
trong quan hệ hàng ngày lại hầu như không được quy định Ví dụ như Quốc triều hình luật ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) và Hoàng Việt luật lệ ban hành dưới triều Nguyễn (1892) [8, tr.50]
Vấn đề được đặt lên hàng đầu trong quan hệ hôn nhân đó là vấn đề tình cảm, tình nghĩa vợ chồng, cha mẹ và các con theo thuyết Khổng giáo, đề cao truyền thống gia đình, lợi ích chung lên trên hết Do đó tài sản vợ chồng có được tạo thành một khối thống nhất, người chồng có quyền ký kết bất kỳ hợp đồng nào liên quan đến tài sản của gia đình và đều đương nhiên được coi là có hiệu lực Quan hệ đại diện hầu như không được đặt ra trong thời kỳ này Quyền sở hữu tập trung vào tay người chồng và không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản
Trước năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệ hôn nhân thời kỳ này được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật trong một số bộ luật dân sự được áp dụng cho từng khu vực của Việt Nam đó là Bộ dân luật Bắc
Kỳ năm 1931, Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 và Bộ dân luật giản yếu năm 1883
Pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp Nhào nặn
tư duy pháp lý cổ xưa với các tư tưởng của luật học phương Tây, xây dựng những quan niệm về tài sản trong các quy tắc được diễn đạt bằng các thuật ngữ vay mượn từ luật của Pháp như tài sản chung, tài sản riêng, quản lý tài sản….Quan niệm về làm luật thời kỳ đó cũng thừa nhận cho vợ chồng có quyền xây dựng các quan hệ tài sản theo thỏa thuận, miễn là các thỏa thuận của vợ chồng liên quan đến tài sản không có tác dụng tước đi quyền đứng đầu gia đình của người chồng và không trái với thuần phong mỹ tục Tuy nhiên việc thỏa thuận hầu như không được các cặp vợ chồng ở nước ta thời kỳ đó quan tâm, mọi quyền quyết định liên quan đến tài sản vẫn thuộc về người chồng
Trang 2626
Cần lưu ý rằng các quan hệ liên quan đến quan hệ tài sản giữa vợ chồng được chi phối bằng những quy tắc pháp lý xây dựng theo kiểu Pháp trong các hệ thống pháp lý của Bắc Kỳ và Trung Kỳ Còn ở Nam Kỳ, cho đến khi chấm dứt chế độ thuộc địa vẫn chưa có một hệ thống quy tắc chi phối các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng ; trong trường hợp có tranh chấp, các toà án giải quyết yêu cầu của đương sự dựa vào Bộ luật Gia Long, tục lệ và án lệ
Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều dự liệu trong việc quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình:
Theo quy định tại Điều 100, Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98, Điều
109 Dân luật Trung kỳ thì đối với những nhu cầu chung của gia đình, vợ hoặc chồng có quyền đại diện cho gia đình để tham gia giao dịch đó
Tại Điều 109 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 107 Dân luật Trung Kỳ thì khi vợ
và chồng muốn định đoạt tài sản chung đều phải có sự thỏa thuận của hai bên
Tuy nhiên theo quy định tại đoạn 2 Điều 109 Dân luật Bắc kỳ và đoạn 2 Điều 107 dân luật Trung Kỳ thì người chồng có quyền định đoạt tài sản chung
mà không cần hỏi ý kiến vợ, miễn là việc định đoạt tài sản đó phục vụ cho lợi ích của gia đình
Như vậy có thể thấy người vợ chỉ có quyền đại diện cho người chồng thực hiện các giao dịch để phục vụ nhu cầu trong gia đình, còn đối với những tài sản chung của vợ chồng thì người chồng là chủ gia đình và có quyền tự định đoạt mà không cần hỏi ý kiến của người vợ Đây là điều bất công bằng đối với người vợ, tồn tại trong suốt xã hội và pháp luật của Nhà nước thực dân phong kiến
1.2.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay
Giai đoạn đất nước ta từ 1945 – 1954
Sau cách mạng tháng Tám 1945 thành công, vì điều kiện đất nước còn thù trong giặc ngoài, Nhà nước chưa ban hành được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
Trang 2727
Vì vậy mà các quy định về hôn nhân và gia đình trong giai đoạn 1945 – 1950 vẫn được điều chỉnh bởi Dân luật Bắc Kỳ, Dân luật Trung Kỳ và Dân luật giản yếu Nam Kỳ
Từ năm 1950 do nhu cầu phải xóa bỏ ảnh hưởng của pháp luật phong kiến trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong chế độ hôn nhân và gia đình Ngày 22/5/1950 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ban hành sắc lệnh số 97/SL về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật Sắc lệnh 97/SL quy
định “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình”[6, Điều 5]
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 cũng quy định:
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [24, Điều 9]
Đây là lần đầu tiên quyền gia trưởng của người đàn ông trong gia đình bị phá bỏ, nam nữ bình đẳng về mọi mặt trong đời sống xã hội
Mặc dù không có quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng, quyền định đoạt của vợ chồng cũng quy định về đại diện giữa vợ và chồng nhưng Sắc lệnh 97/SL
đã góp phần quan trọng nhằm hạn chế và xóa bỏ những quy định lạc hậu của chế
độ hôn nhân và gia đình thực dân, phong kiến, mở ra nền tảng pháp chế mới dân chủ và tiến bộ hơn
Giai đoạn đất nước từ năm 1954 – 1975
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, theo Hiệp định Giơ – ne – vơ, đất nước ta được chia thành hai miền Miền Bắc được giải phóng, bắt đầu thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã thế chân thực dân Pháp nhằm mục đích chia cắt đất nước lâu dài
Trong kỳ họp Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật Hôn nhân
và gia đình (ngày 29/12/1959) và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/01/1960 Mặc dù Luật hôn nhân và gia đình 1959 không dự liệu về chế độ tài sản cũng
như việc định đoạt của vợ chồng nhưng tại Điều 15 đã quy định “Vợ và chồng
Trang 2828
đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước
và sau khi cưới”[25, Điều 15] Quy định này dự liệu chế độ tài sản cộng động
toàn sản về việc chỉ thừa nhận khối tài sản chung của hai vợ chồng chứ không đồng ý tài sản riêng của vợ, chồng
Mặc dù quan hệ đại diện giữa vợ chồng không được đặt ra nhưng thông qua quy định về quyền của người vợ trong quan hệ gia đình có thể thấy được vị trí pháp lý của người phụ nữ trong gia đình
Giai đoạn đất nước từ 1975 đến nay
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Quốc hội
đã quyết định đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quốc hội cũng thống nhất việc thực hiện pháp luật trên phạm vi cả nước, trong đó có Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần thì Luật Hôn nhân và gia đình 1959 đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc
Và trong kỳ họp Quốc hội khóa VII, Luật Hôn nhân và gia đình mới đã
được thông qua (1986) Theo luật Hôn nhân và gia đình 1986 thì “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thỏa thuận của vợ, chồng” [26, Điều 15] Như vậy quyền bình
đẳng giữa vợ chồng được quy định rõ đối với tài sản chung Mặc dù quan hệ đại diện vẫn chưa được đặt ra, nhưng quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình
Trang 2929
chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả
vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn bản
2.Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật của người đó”[28, Điều 24]
Có thể thấy Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã có sự đổi mới về cả kỹ thuật lập pháp và nội dung cụ thể, khẳng định vị trí, vai trò của người vợ ngang bằng với chồng trong mọi giao dịch và không bị bó hẹp quyền con người, quyền công dân đặc biệt là quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong quan hệ gia đình cũng như trong xã hội tạo ra hành lang pháp lý góp phần thiết lập và bảo đảm sự an toàn cho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên gia đình cũng như các giao dịch giữa các thành viên trong gia đình với các chủ thể khác ngoài
xã hội Tuy nhiên Luật Hôn nhân và gia đình 2000 vẫn chưa quy định về đại diện của vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh mặc dù thời gian đó đã xuất hiện nhiều giao dịch của vợ chồng liên quan đến tài sản chung cũng như sử dụng tài sản chung, tài sản riêng để kinh doanh
Năm 2014 Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên đã cụ thể hóa vấn đề đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh thành quy định của pháp luật Đây là quy định phù hợp với sự phát triển chung của xã hội cũng như phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, tránh trường hợp tạo lập quan hệ đại diện nhưng không phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 3030
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của Luận văn đã đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận về đại diện, đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh Ở chương này, tác giả làm rõ các khái niệm đại diện, đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, chỉ ra các đặc điểm, yếu tố hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh Làm rõ lịch sử pháp luật Việt Nam về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh Đây
là cơ sở để đánh giá về thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực thi các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về đại diện giữa giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh trong mối quan hệ với các ngành luật khác
Trang 3131
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN HỆ KINH DOANH Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
2.1.1 Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự
Điều kiện để xác lập đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng khi một bên
bị mất năng lực hành vi dân sự
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” [29, Điều 17]
Năng lực hành vi dân sự cùng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân tạo thành thuộc tính đầy đủ của năng lực chủ thể của cá nhân Đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, cá nhân có quyền thực hiện những hành vi
mà pháp luật không cấm
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, năng lực hành vi dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định
Việc quy định năng lực hành vi dân sự này dựa vào sự phát triển về độ tuổi và theo ý chí cũng như quan niệm của Nhà nước nhằm đảm bảo cho cá nhân khi có
đủ năng lực hành vi dân sự ở từng giai đoạn khác nhau sẽ tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình
Ví dụ: Ở Việt Nam quy định về độ tuổi được kết hôn theo Luật Hôn nhân
và gia đình hiện hành đối với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên
Trang 3232
Thứ hai, Mức độ năng lực hành vi dân sự được xác định theo độ tuổi Vì
vậy, ở mỗi độ tuổi khác nhau, cá nhân có những quyền năng khác nhau và khi đến một độ tuổi nhất định (tùy từng quốc gia) thì họ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nghĩa là cá nhân được thực hiện đầy đủ các hành vi mà pháp luật không cấm
Việc quy định này không phải nhằm mục đích phân biệt quyền lợi của mỗi
cá nhân mà nó phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên về thể chất cũng như tâm sinh lý của mỗi người
Ví dụ như trẻ em dưới 6 tuổi không thể tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa như một người đủ 18 tuổi được
Thứ ba, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đạt đến
một độ tuổi nhất định và có thể bị mất hoặc bị hạn chế khi cá nhân còn sống [18, tr.66]
Nếu như năng lực pháp luật dân sự của mỗi cá nhân có từ khi sinh ra thì năng lực hành vi dân sự lại có từ khi cá nhân đạt một độ tuổi nhất định Tuy nhiên trong quá trình sống họ có thể bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự Nếu có căn cứ để khẳng định cá nhân không tự nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì những người có liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tuyên bố người đó bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự
Khi bị mất năng lực hành vi dân sự thì các quyền năng thực hiện hành vi
mà pháp luật cho phép bị gián đoạn và được thực hiện thông qua một người khác
Để xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự cần thỏa mãn đủ các điều kiện sau:
- Theo quy định tại điều 22 BLDS 2005 thì người bị mất năng lực hành vi dân sự được hiểu là bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể
Trang 33- Sau khi xem xét hồ sơ, Tòa án sẽ đưa ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của một cá nhân Trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Như vậy sau khi tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự thì tình trạng pháp lý của họ sẽ giống như một người chưa đủ sáu tuổi
Đối với trường hợp vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án thì người còn lại sẽ đương nhiên trở thành đại diện nếu đáp ứng đủ các điều kiện được quy định của BLDS 2005 (Điều 60 và Điều 62)
và luật HN & GĐ 2014 (Khoản 3 Điều 2)
Theo quy định tại BLDS 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 đối với điều kiện cá nhân được làm giám hộ (Điều 49) tách ra so với quy định tại Điều
60 BLDS 2005
Để trở thành giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự thì trong trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015 thì vợ hoặc chồng sẽ trở thành người đại diện đương nhiên của người còn lại khi thỏa mãn điều kiện của cá nhân làm người giám hộ
Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực” [34, khoản 2 Điều 48]
Trang 3434
Như vậy BLDS 2015 đã có những điểm mới về việc lựa chọn người giám
hộ là cá nhân Đây là quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi của người được giám hộ dựa trên những giấy tờ pháp lý rõ ràng, tránh tình trạng mặc định áp dụng giám hộ đương nhiên khi người được giám hộ tại thời điểm mà có đầy đủ năng lực hành vi dân sự lựa chọn người giám hộ khác
Quyền và nghĩa vụ đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự
Sau khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ “thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” [31, Khoản 1 Điều 19]
Với tư cách là người giám hộ thì vợ hoặc chồng sẽ là người đại diện đương nhiên cho người còn lại bị mất năng lực hành vi dân sự
Ngoài các nghĩa vụ về chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ (khoản 1 điều 67 BLDS 2005) thì người giám hộ còn có nghĩa vụ
“Quản lý tài sản của người được giám hộ”; “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ” [29, khoản 3 Điều 67]
Như vậy ở đây có thể thấy phạm vi đại diện trong quy định của BLDS
2005 và Luật HN &GĐ 2014 là thống nhất về quyền và nghĩa vụ
Với tư cách là người giám hộ đương nhiên nên ngoài quyền và nghĩa vụ đối với các vấn đề khác thì vấn đề liên quan đến tài sản chung và tài sản riêng cũng thuộc trách nhiệm của người đại diện
Luật HN & GĐ 2014 quy định: “1 Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác
Trang 35Khi nhắc đến quan hệ kinh doanh là nhắc đến việc xác lập một mối quan
hệ mà ở đó các bên (ít nhất là hai bên) sử dụng tài sản hợp pháp để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Với việc loại trừ khoản 2 thì có thể hiểu rằng khoản 1 Điều 25 Luật HN &
GĐ xác định trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung ở đây là bằng tài sản riêng, còn khoản 2 là xác định vợ, chồng kinh doanh chung bằng tài sản chung Là một quy định mới lần đầu tiên được đưa vào trong chế định luật HN& GĐ nên vẫn còn những vấn đề chưa làm rõ được bản chất Quy định lại không đòi hỏi việc kinh doanh đó được xác lập dưới hình thức gì Vô hình chung được hiểu rằng dù giao dịch đó được thực hiện bằng hành động, lời nói hoặc bằng văn bản đều được chấp thuận
Sở hữu chung của vợ chồng đã được BLDS cũng như luật HN & GĐ quy định Theo đó thì sở hữu chung gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất BLDS 2005 quy định sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất Đến BLDS 2015 được quy định cụ thể hơn sở hữu chung của vợ chồng là
sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Đặc điểm của chế độ sở hữu chung vợ chồng là sự bình đẳng hoàn toàn đối với tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân, không phụ thuộc vào việc ai trực tiếp làm ra tài sản đó Việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung mà pháp luật
Trang 36đó vào kinh doanh bằng việc ủy quyền cho người còn lại đứng ra giao dịch hoặc tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Đây đều là những quy địnhphù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho cả vợ và chồng Tuy nhiên việc lựa chọn chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân cũng dễ gặp phải những bất cập nhất định Xã hội dù có văn minh, phát triển như thế nào, cho dù quan niệm về xã hội, kinh tế có đạt tầm cao văn minh như thế nào thì gia đình và quan
hệ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng vẫn cần được củng cố và giữ gìn những giá trị mang tính đặc thù của nó, không nên phá vỡ, đó là sự hi sinh vì nhau và cùng chung lưng đấu cật trong việc xây dựng, quản lý và định đoạt tài sản chung, củng cố và nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, mà vợ chồng luôn luôn cố gắng để tạo nên sự bền chặt, gắn kết
Hiện nay có rất nhiều quan hệ kinh doanh vợ chồng có thể cùng nhau thực hiện từ việc góp vốn kinh doanh nhỏ, góp vốn vào các doanh nghiệp để hưởng lợi tức, hoặc trực tiếp thành lập doanh nghiệp… Mỗi loại hình lại có những quan hệ pháp luật chuyên ngành điều chỉnh khác nhau Do đó không chỉ dựa vào quy định tại Luật HN&GĐ để áp đặt được lên các luật chuyên ngành khác
Tuy nhiên các quy định về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh cũng phải dựa trên nguồn cơ bản là BLDS và Luật HN & GĐ để từ đó
Trang 3737
triển khai, áp dụng cho các luật chuyên ngành khác Từ quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 thì có thể xác định những trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Vợ chồng sử dụng tài sản riêng của mình để kinh doanh chung
nhưng việc kinh doanh đó không có văn bản xác nhận thì khi một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, người còn lại đương nhiên trở thành người giám hộ Như vậy việc xác định tài sản riêng của người được giám hộ sẽ như thế nào nếu không bất cứ tài liệu gì chứng minh giá trị tài sản góp vốn của các bên
Khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ thay mặt người quản lý và giải quyết các công việc phát sinh liên quan đến quan
hệ kinh doanh chung đó
Trong thực tiễn có rất ít trường hợp vợ chồng trước khi kinh doanh chung lập văn bản thỏa thuận về việc vợ hoặc chồng sẽ đại diện cho người còn lại khi xảy ra sự kiện ngoài ý muốn xảy ra Do đó khi xảy ra sự kiện (mất năng lực hành
vi dân sự) thì đương nhiên quyền giám hộ được giao cho người còn lại Tuy nhiên giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh này sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người giám hộ Luật cũng chưa dự liệu đối với trường hợp người đại diện lợi dụng quyền của mình để tẩu tán tài sản của người được giám hộ khi
mà cơ chế giám sát việc giám hộ theo quy định của BLDS còn lỏng lẻo
Thứ hai: Theo khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 trong trường hợp vợ
hoặc chồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì người còn lại vẫn có quyền đại diện thực hiện các giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh chung đó Đây là một quy định mà còn có nhiều điểm chưa hợp lý Người còn lại đương nhiên được đại diện thực hiện các giao dịch với bên thứ ba trong khi người vợ hoặc chồng vẫn còn đầy đủ năng lực hành vi dân sự mà không cần bất cứ văn bản ủy quyền nào Vậy trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập giao dịch với bên thứ ba
Trang 3838
mà xảy ra hậu quả đối với bên thứ ba thì trách nhiệm thuộc về aikhi người còn lại không biết đến giao dịch này mặc dù luật cho phép Bên thứ ba trong trường hợp này nếu ngay tình thì sẽ được giải quyết như thế nào Vấn đề này hiện còn đang bỏ ngỏ và nếu xảy ra sẽ khó giải quyết cho bên thứ ba khi Luật HN&GĐ
2014 quy định vợ, chồng được đại diện cho nhau
Luật HN & GĐ 2014 có quy định về việc đại diện giữa vợ và chồng trong
trường hợp : “Vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi” [31, Khoản 2 Điều 26]
Như vậy có thể thấy điều khoản này mâu thuẫn với khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ về việc vợ chồng được đại diện cho nhau trong quan hệ kinh doanh
Thứ ba, Trong trường hợp vợ chồng sử dụng tài sản để kinh doanh chung
bằng việc góp vốn vào các doanh nghiệp và chỉ một người đứng tên đại diện để thực hiện các quyền năng có được từ việc góp vốn hoặc thành lập pháp nhân mới thì sẽ xảy ra nhiều quan hệ pháp lý mà Luật HN & GĐ 2014 chưa dự liệu được
Vợ chồng dùng tài sản của mình để góp vốn vào doanh nghiệp và trở thành
cổ đông trong công ty cổ phần, thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, thành viên hợp danh của công ty Hợp danh Tài sản dùng để góp vốn trở thành tài sản của Công ty Cái mà vợ chồng có là phần quyền năng đối với phần vốn góp đó Các quyền đó bao gồm quyền được quản lý Công ty, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức cũngnhư chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp khi Công
ty phá sản,… Ở mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những quy định khác nhau
Do đó khi một thành viên của công ty rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì quy định áp dụng đối với từng trường hợp cũng sẽ khác nhau
Trang 3939
Đối với công ty cổ phần, trong Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định
về đại diện trong trường hợp cổ đông bị mất năng lực hành vi dân sự mà chỉ có
quy định là: “Trong trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo
di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó là cổ đông của công ty” [32, Khoản
3 Điều 126]
Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định: “Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của Công ty” [32, Khoản 5 Điều 13]
Như vậy đối với trường hợp vợ hoặc chồng nắm giữ cổ phần trong công ty
và không phải là thành viên của hội đồng quản trị thì có thể căn cứ vào BLDS2005 và Luật HN& GĐ 2014 để xác định giám hộ đương nhiên quản lý phần quyền đối với số cổ phần đó
Tuy nhiên trong trường hợp vợ hoặc chồng là người đại diện theo pháp luật của công ty Cổ phần mà bị mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của Luật Doanh nghiệp Hội đồng quản trị có quyền cử người khác làm đại diện theo pháp luật Như vậy người vợ hoặc chồng còn lại sẽ có quyền và nghĩa vụ gì đối với công ty mà trước khi bị mất năng lực hành vi dân sự vợ hoặc chồng đang
là người đại diện theo pháp luật ngoài việc được hưởng cổ tức theo số cổ phần nắm giữ
Đối với Công ty TNHH hai thành viên, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty (khoản 6 Điều 13 Luật Doanh
Trang 4040
nghiệp 2014) Nếu công ty TNHH hai thành viên chỉ có hai thành viên là vợ và chồng thì khi một người bị mất năng lực hành vi dân sự người còn lại đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật của Công ty đồng thời là người giám hộ đương nhiên của người bị mất năng lực hành vi dân sự để điều hành và quản lý Công ty
Đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên khi người đại diện theo pháp luật bị mất năng lực hành vi dân sự thì Hội đồng thành viên sẽ cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của Công ty
Đối với thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự quyền và nghĩa vụ của người đó được thực hiện thông qua người đại diện (khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp 2014)
Như vậy có thể thấy vợ hoặc chồng khi thực hiện việc đại diện cho người còn lại bị mất năng lực hành vi dân sự trong quan hệ kinh doanh chỉ có trách nhiệm quản lý phần quyền phát sinh từ phần vốn góp chứ không có quyền quản
lý công ty nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự trước đó là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Đối với Công ty TNHH MTV và Doanh nghiệp tư nhân: Có nhiều trường hợp vợ chồng cùng góp vốn riêng của mình và cho một người đứng tên để thành lập loại hình doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV hoặc Doanh nghiệp tư nhân Trong trường hợp này khi người đại diện theo pháp luật bị mất năng lực hành vi dân sự thì vợ hoặc chồng đương nhiên trở thành người giám hộ Họ sẽ thay mặt ngườibị mất năng lực hành vi dân sự quản lý, giải quyết các công việc phát sinh liên quan đến quan hệ kinh doanh này
Đối với Công ty Hợp danh: Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định về trường hợp thành viên Hợp danh bị mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ giải quyết