1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca

99 924 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Tác giả Đỗ Thị Nội
Người hướng dẫn GS TSKH Nguyễn Hữu Tề
Trường học Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 902,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca

Trang 1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này

đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Nội

Trang 2

Lời cảm ơn

Tác giả luận văn này xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TSKH Nguyễn Hữu Tề đã tận tình h ớng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện đề tài

ư

Xin trân trọng cảm ơn đến các thày, cô giáo và tập thể cán bộ khoa sau đại học, Khoa Nông học, Bộ môn Cây lương thực trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên trường cao đẳng Nông lâm và bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Nội

Trang 3

Môc lôc

Trang

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t Vi

2.1 Nh÷ng nghiªn cøu c¬ b¶n vÒ c©y lóa 32.2 Yªu cÇu cña c©y lóa víi diÒu kiÖn ngo¹i c¶nh 132.3 Nh÷ng tiÕn bé kÜ tuËt vÒ gièng lóa ë n−íc ta 19

3 VËt liÖu, néi dung vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu 333.1 VËt liÖu nghiªn cøu 333.2 Néi dung nghiªn cøu 333.3 Ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu 33

4.1 §iÒu kiÖn tù nhiªn, kinh tÕ, x· héi tØnh B¾c Giang 424.2 T×nh h×nh s¶n xuÊt lóa mïa tØnh B¾c Giang 47

Trang 4

4.3 KÕt qu¶ kh¶o nghiÖm mét sè gièng lóa ng¾n ngµy trong

vô mïa muén t¹i ViÖt Yen – B¾c Giang

Trang 5

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 6

Danh mục các bảng

Thứ tự Tên bảng và đồ thị TrangBảng 3.1 Các gióng tham gia thí nghiệm 33Bảng 4.1 Các yếu tố khí hậu thời tiết tỉnh Bắc Giang trong

Trang 7

Bảng 4.16 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của

Bảng 4.20 Một số dặc điểm nông học và mức độ nhiễm sâu

bệnh hại của giống DT 122 và VH1

Đồ thị 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các

giống lúa thí nghiệm ở T1

62

Đồ thị 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các

giống lúa thí nghiệm ở T2

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới Tính cả về diện tích và năng suất thì lúa là cây lương thực đứng hàng thứ hai sau lúa mì Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên một nửa khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất 65% dân

số trên thế giới [48] ở Việt Nam, lúa là cây lương thực quan trọng nhất Đã

từ lâu, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta Hàng năm, sản lượng lúa gạo chiếm khoảng 90% tổng sản lượng lương thực trong cả nước

Trong những năm gần đây, các nhà chọn tạo giống nước ta đã nghiên cứu, chọn tạo, nhập nội được các giống lúa ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh, khả năng thích ứng rộng, có thể gieo cấy được nhiều vụ trong năm như Khang dân

18 (KD 18), ĐV 108, IRi 3-52, 79-1, ĐH60…

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc có địa hình tương đối phức tạp, trong một năm có thể gieo cấy nhiều trà lúa khác nhau Diện tích gieo cấy lúa cả năm khoảng 115.000 ha, trong đó diện tích lúa mùa muộn là 13.214 ha (chiếm 20,64%) [42], phần lớn được cấy trên chân

đất trồng đậu tương hè và lúa hè thu với giống chủ lực là Bao thai lùn (BTL) BTL là giống lúa thuần Trung Quốc được nhập vào Việt Nam từ năm 1967 [18], đây là giống cảm quang, thích hợp trong vụ mùa, trong điều kiện miền Bắc Việt Nam, BTL cho năng suất tương đối ổn định Hạn chế cơ bản của giống là năng suất thấp, năng suất bình quân trong vụ mùa muộn chỉ đạt từ 27-30 tạ/ha Trong khi đó, một số địa phương trong tỉnh

Trang 9

Bắc Giang như Hiệp Hoà, Tân Yên, Việt Yên, Lạng Giang đã đưa vào gieo cấy các giống ngắn ngày như Nếp IRi 35-2, 79-1, DT122… đạt năng suất từ 45 - 50 tạ/ha

Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc

điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân canh 3 - 4 vụ/năm của tỉnh Bắc Giang”

1 2 Mục đích yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Góp phần xác định một số giống lúa ngắn ngày gieo cấy thích hợp trong vụ mùa muộn trên đất bạc màu trồng đậu tương hè và lúa hè thu của tỉnh Bắc Giang

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài đã đánh giá được đặc điểm sinh trưởng phát triển của một số giống lúa ngắn ngày trên vùng đất bạc màu Bắc Giang

- Góp phần xác định được một số giống lúa ngắn ngày, khả năng chống chịu tốt, năng suất cao, để bổ sung vào cơ cấu giống vụ mùa muộn trên đất luân canh 3 - 4 vụ/năm của tỉnh Bắc Giang

1.4 Đối tượng nghiên cứu

- Khai thác những số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lúa trong tỉnh có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu

- Sử dụng các giống mới có triển vọng và giống đã được công nhận là giống quốc gia

Trang 10

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Những nghiên cứu cơ bản về cây lúa

2.1.1 Nghiên cứu về nguồn gốc và phân loại cây lúa

* Nguồn gốc cây lúa

Lúa là cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ của Trung Quốc, ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3000- 4000 năm trước Công nguyên ở Trung Quốc, vùng Triết Giang đã xuất hiện cây lúa khoảng 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử khoảng 4000 năm trước

đây[48] ở Việt Nam, cây lúa được coi là cây trồng “bản địa”, nó không phải

là loại cây từ nơi khác đưa vào (Bùi Huy Đáp, 1985 [16]) Việt Nam nằm trong cái nôi lớn sinh ra nghề trồng lúa của loài người, nhiều tác giả khi nghiên cứu về nguồn gốc cây lúa trồng ở nước ngoài và ở trong nước đã xác

định đó là vùng Bán đảo Đông Dương, Miến Điện và Thái Lan [16]

Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa dại, xác định tổ tiên trực tiếp của lúa trồng châu á (Oryza Sativa) vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Một số tác giả như Sampath và Rao (1951), Sampath và Govidaswami (1958) cho rằng O Sativa có nguồn gốc từ lúa dại lâu năm Rufipogon Tác giả Chtterjce (1951) cho rằng O Sativa tiến hoá từ lúa dại hàng năm: O Nivara Theo Sano

và cộng sự (1958), Oka (1998), Mirishima và cộng sự (1992) cho rằng kiểu trung gian giữa O Rufipogon và O Nivara giống với tổ tiên lúa trồng hiện nay hơn cả [56]

Theo các nghiên cứu của Ting (1933), Sampath và Rao (1951) về xuất

xứ của lúa trồng châu á cho rằng O Sativa có nguồn gốc từ Trung Quốc và

ấn Độ Theo kết luận của Chang (1976) thì O Sativa xuất hiện đầu tiên tại Hymalaya, Miến Điện, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc [20] Từ các trung tâm này lúa Indica phát tán lên đến lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử

Trang 11

rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên và từ đó biến thành chủng Japonica, Sinica Lúa Javanica được hình thành ở Indonexia và là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ Indica [20]

Tại Việt Nam, qua các kết quả khảo sát về nguồn gen cây lúa cho thấy

có 5 loại lúa dại mọc ở vùng Tây Bắc, nam Trung bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, đó là các loài: O Granulata, O Nivara, O Officinalis, O Ridleyi, O Rufipogon [20]

* Phân loại lúa trồng

Về phân loại lúa trồng O Sativa cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, trên cơ sở kết quả nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thống nhất xếp lúa trồng châu á (Oryza Sativa) thuộc họ Hoà thảo (Graminae), tộc Oryzae, có bộ thể nhiễm sắc 2n=24 (Nguyễn Văn Hiển, 2000 [20])

Theo quan điểm sinh thái học, Morinaga (1954) chia O Sativa thành 5 kiểu sinh thái là: Aus, Boro, Bulu, Aman và Tjereh Theo quan điểm này loài phụ Japonica gần gũi với nhóm Aus, Bulu

Theo Kato và các cộng sự (1928) thì lúa trồng châu á được chia làm hai loài phụ là Indica và Japonica

Theo Gutchin (1938) chia lúa trồng thành ba loài phụ là Indica, Japonica và Brevis Trong đó Brevis có hạt ngắn dưới 4mm Indica có hạt thon dài, tỷ lệ dài/rộng lớn hơn hoặc bằng 3,1 mm, còn Japonica có hạt to, dày và rộng Tỷ lệ dài/rộng từ 1,5:1-2,9 (Nguyễn Văn Hiển, 2000 [20])

Theo Đinh Dĩnh (1958) chia lúa trồng thành hai nhóm là lúa tiên

và lúa cánh Lúa cánh có nguồn gốc ở Bắc Trung Quốc, Nhật Bản, châu

Âu có hạt bầu, thích hợp ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới Còn lúa tiên có nguồn gốc ở ấn Độ, Nam Trung Quốc, Đông nam châu á [48]. Jennings,

1997 [79] thì cho rằng các giống lúa thuộc loài phụ Indica thường

Trang 12

cao cây, lá nhỏ màu xanh nhạt, bông xoè, hạt dài, vỏ trấu mỏng, chịu phân kém, dễ lốp đổ, năng suất thấp, gạo nở nhiều, cơm khô, thích nghi với vùng nhiệt đới ẩm Trong khi đó, các giống thuộc loài phụ Japonica thường thấp cây, phiến lá to có màu xanh đậm, bông chụm, hạt ngắn, vỏ trấu dày, nhóm giống này thích nghi với điều kiện thâm canh cao, chịu phân tốt, thường cho năng suất cao, nhưng gạo ít nở, cơm dẻo

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học tại viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã thống nhất chia lúa trồng châu á thành

3 kiểu sinh thái địa lý hoặc 3 loại phụ là Indica, Japonica và Javania (Nguyễn Văn Hiển, 2000 [20])

Theo quan điểm canh tác học, cây lúa trồng trải qua quá trình thuần hoá của người nông dân sẽ thích nghi dần với từng vùng sinh thái cụ thể mà nó

được gieo trồng, đồng thời cũng xuất hiện các biến dị do điều kiện canh tác gây nên Từ đó hình thành nên các nhóm lúa đặc trưng cho từng vùng sinh thái nhất định Theo quan điểm này có 4 nhóm chính sau đây (Nguyễn Văn Hiển, 2000 [20]):

- Lúa cạn (Upland rice) được trồng trên đất cao, không giữ nước, cây lúa hoàn toàn sống nhờ vào nước trời

- Lúa có tưới (Irrigated or flooded rice) được trồng trên những cánh

đồng có công trình thuỷ lợi, chủ động về nước trong suốt chu kỳ sống của cây

- Lúa nước sâu (Rainfed louland rice) được canh tác trên những cánh

đồng thấp không có khả năng rút nước khi gặp mưa lớn hoặc lũ Tuy nhiên, thời gian ngập không quá 10 ngày và mức nước không quá 50 cm

- Lúa nổi (Deep water or flooting rice) là loại lúa được gieo trồng trong mùa mưa, khi mưa lớn lúa đã đẻ nhánh, nước dâng cao lúa vươn nhanh khoảng

10 cm/ ngày, để ngoi theo, vươn lên trên mặt nước

Tại Việt Nam tồn tại cả 4 nhóm giống lúa này Nhóm lúa cạn tồn tại nhiều ở vùng núi và trung du Bắc bộ, Trung bộ, Tây Nguyên Lúa có tưới được

Trang 13

canh tác chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Lúa nước sâu gieo trồng phổ biến tại các vùng úng, trũng thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, các thung lũng khó thoát nước thuộc vùng trung du và miền núi phiá Bắc Lúa nổi chỉ còn tồn tại rất ít ở khu vực Đồng Tháp Mười thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long

Ngoài 4 nhóm trên, ở Việt Nam còn có một số giống thích nghi với các tiểu vùng sinh thái chuyên biệt khác như các giống lúa chịu mặn, các giống lúa này được trồng chủ yếu ở vùng duyên hải Bắc, Nam, Trung bộ Các vùng

đó thường xuyên bị nước biển xâm nhập nhưng cũng được nguồn nước ngọt thau rửa nên vẫn có thể canh tác lúa

Lê Huy Bá [2] cho rằng các giống lúa chịu chua phèn, được canh tác chủ yếu ở các vùng đất nhiễm phèn (acid sulphate soid) của đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên…) Đặc trưng của các giống lúa này có khả năng chịu được độc tố Al2(SO4)3,

Fe2(SO4)3 và độ pH thấp (< 5,0)

2.1.2 Nghiên cứu về các tính trạng đặc trưng của cây lúa

Cây lúa là cây trồng đa dạng về kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm riêng mà ta có thể dựa vào đó để nhận biết như: chiều cao cây, kích thước lá, màu sắc thân lá, dạng bông, dạng hạt, màu sắc hạt, thời gian sinh trưởng… (Nguyễn Văn Hiển, 1992) [19] Các nhà chọn tạo và khảo nghiệm giống trước khi chuẩn bị cho bất kỳ một chương trình chọn tạo và khảo nghiệm giống nào cũng cần có những thông tin đầy đủ về các đặc điểm của nguồn vật liệu khởi đầu, của giống Do vậy, việc nghiên cứu đặc

điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu… của các giống lúa đã được tiến hành từ lâu và thu được nhiều kết quả

có ý nghĩa

Trang 14

* Thời gian sinh trưởng

Trong canh tác lúa hiện đại các nhà nông học hết sức quan tâm đến thời gian sinh trưởng của các giống lúa, vì đây là yếu tố có tương quan chặt với năng suất và việc bố trí thời vụ, cơ cấu luân canh của người nông dân trong cả một năm Nghiên cứu về thời gian sinh trưởng của các giống lúa Yosida (1979) [71] cho rằng những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì không thể cho năng suất cao, vì sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế Ngược lại, những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá dài thì cũng cho năng suất thấp vì dễ bị lốp đổ, và chịu nhiều tác động của điều kiện ngoại cảnh bất lợi Trong khi đó, các giống có thời gian trong khoảng 120-135 ngày có khả năng cho năng suất cao hơn nhiều Với giống có thời gian sinh trưởng dài thì lượng chất khô sản xuất ra lớn nhưng tỷ lệ hạt/rơm rạ lại thấp, riêng các giống có thời gian sinh trưởng từ 130-150 ngày, tỷ lệ hạt/rơm rạ

đạt cao nhất (Khush G.S, 1990 [81])

Như vậy, mối quan hệ giữa thời gian sinh trưởng và năng suất hạt trong một ngày đêm được coi là rất quan trọng

Nguyễn Hữu Tề và các cộng sự (1997) [48] cho rằng thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này thay đổi từ 90-180 ngày tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh Các giống ngắn ngày ở nước ta có thời gian sinh trưởng từ 90-120 ngày, giống trung ngày có thời gian sinh trưởng từ 140-160 ngày Các giống lúa chiêm cũ ở miền Bắc do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp thời gian sinh trưởng kéo dài đến 180- 200 ngày ở miền Nam, các giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng dài, thời gian sinh trưởng có thể đến 200-240 ngày, lúa nổi có thể lên đến 270 ngày

Thời gian sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc nhiều vào thời vụ, kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh Trong điều kiện miền Bắc nước ta cùng một giống lúa nếu gieo trồng trong vụ xuân sẽ có thời gian sinh

Trang 15

trưởng dài hơn vụ mùa, trong cùng một vụ nếu gieo cấy sớm hoặc muộn thì thời gian sinh trưởng cũng thay đổi Trong sản xuất hiện nay người nông dân cần có các giống ngắn ngày, không phản ứng với quang chu kỳ để có thể trồng

được nhiều vụ trong năm, nhằm tăng hệ số sử dụng đất, từ đó tăng sản lượng

và tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích

* Khả năng đẻ nhánh

Khả năng đẻ nhánh là một đặc điểm của cây lúa, đặc điểm này có ảnh hưởng đến năng suất lúa Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa được hình thành từ các mắt đốt trên thân, cây lúa đẻ nhánh theo quy luật chung Tuy nhiên, các giống lúa khác nhau, thời gian đẻ nhánh cũng khác nhau Theo Bùi Huy Đáp (1970) [13] khi nghiên cứu về đặc tính đẻ nhánh cho biết: “Nhánh không bao giờ phát triển khi lá tương đương với nó chưa phát triển xong, nhánh không phát triển nữa khi lá bị khô” Khi nghiên cứu về vấn đề này các tác giả Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Văn Hiển và Trần thị Nhàn [27] thì cho biết

“Những giống lúa đẻ sớm, tập trung sẽ cho năng suất cao hơn”

Đinh Văn Lữ (1978) [33] cho rằng những giống lúa đẻ rải rác thì trỗ bông không tập trung, bông không đều, lúa chín không đều, không có lợi cho quá trình thu hoạch và năng suất thấp

Khi theo dõi các tổ hợp lai Nguyễn Văn Hiển (1992) [19] đã có nhận xét: kiểu đẻ nhánh chụm là do gen lặn kiểm tra, kiểu đẻ nhánh xoè là do gen trội kiểm tra Các nhà khoa học tại viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) [75], [76], [77] đều nhất trí cho rằng đẻ nhánh là tính trạng số lượng, tính trạng này

có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các điều kiện ngoại cảnh

* Chiều cao cây lúa

Chiều cao cây lúa là một chỉ tiêu hình thái có liên quan đến nhiều chỉ tiêu khác, đặc biệt là tính chống đổ Các nhà khoa học tại viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) [73] khảng định rằng các

Trang 16

giống lúa lùn có nguồn gốc từ Trung Quốc (Dee-geo-Woo-gen) chúng mang gen lùn, lặn nhưng không ảnh hưởng gì đến chiều dài bông, rất có ý nghĩa trong chọn giống

* Bộ lá lúa và khả năng quang hợp

Bộ lá lúa là một đặc trưng hình thái giúp phân biệt các giống khác nhau với nhau, đồng thời lá lúa còn là cơ quan quang hợp Vì vậy, màu sắc lá, kích thước lá, độ dày của lá, góc độ lá có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh vật học

và năng suất kinh tế

Theo Nguyễn Hữu Tề (1997) [48], trong một phạm vi nhất định, diện tích lá có mối tương quan thuận với lượng quang hợp, vượt quá giới hạn này lượng chất khô thực tế lại giảm vì quá trình hô hấp cũng có tương quan thuận với chỉ số diện tích lá Hệ số diện tích lá phụ thuộc vào giống (hình dạng lá đứng hay xoè), mật độ cấy, lượng phân bón Diện tích lá tăng dần trong quá trình sinh trưởng, tăng mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và đạt tối đa trước lúc trổ bông Các giống lúa thấp cây, lá đứng có thể tăng mật độ cấy để nâng cao hệ số diện tích lá Các giống lúa cao cây, lá xoè nên hạn chế khả năng tăng mật độ vì dễ dẫn tới hiện tượng các lá che khuất lẫn nhau, khi đó không những không tăng được lượng quang hợp (do hô hấp tăng)

mà còn tạo điều kiện cho sâu bệnh gây hại nặng

Nguyễn Văn Hiển (2000) [20] thì cho rằng tính trạng lá đứng thẳng được kiểm tra bởi 1 gen lặn có hệ số di truyền cao, cặp gen này có tác động đa hiệu vừa gây nên tính trạng thân thấp, vừa làm cho bộ lá đứng và cứng

Độ dài lá có quan hệ đa hiệu với các gen xác định chiều cao cây, nhưng lại bị chi phối bởi điều kiện ngoại cảnh [77]

Tính trạng lá đòng dài, đứng di truyền độc lập với gen kiểm tra độ dài thân và độ dài các lá phía dưới [74]

Trang 17

* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

Năng suất lúa được tạo thành bởi 4 yếu tố đó là:

Số hạt/bông bằng hiệu số của số hoa phân hoá trừ đi số hoa bị thoái hoá Yếu tố này phụ thuộc nhiều vào đặc tính giống và điều kiện ngoại cảnh [27] Các giống lúa cải tiến hiện nay đều có số hạt/bông cao

Tỷ lệ hạt chắc là một yếu tố cấu thành năng suất, giống có tỷ lệ hạt chắc cao sẽ cho năng suất cao Tỷ lệ hạt chắc được quyết định trực tiếp bởi ba thời

kỳ là giảm nhiễm, trỗ và chín sữa Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp, tỷ

lệ lép cao là do trong các thời kỳ trên nhiệt độ, độ ẩm không khí thấp hoặc cao quá làm cho hạt phấn mất sức nảy mầm, hoặc trước đó vòi nhuỵ phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn bị hại Do vậy, để có tỷ lệ hạt chắc cao phải bố trí thời vụ gieo cấy sao cho khi lúa làm đòng, trỗ bông và chín gặp

được điều kiện thời tiết thuận lợi [48]

Khối lượng 1000 hạt là 1 trong những yếu tố quan trọng cấu thành năng suất lúa Yếu tố này chủ yếu phụ thuộc vào giống mà ít chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh Giai đoạn từ khi lúa trỗ cho đến khi chín sữa có

ảnh hưởng quyết định đến khối lượng 1000 hạt, nếu trong giai

đoạn này cây lúa gặp điều kiện nhiệt độ thuận lợi, đủ nước, không

bị sâu bệnh gây hại, không đổ ngã, bộ lá lúa, nhất là lá đòng còn xanh thì khối lượng 1000 hạt sẽ cao

Trang 18

Khi nghiên cứu về năng suất cá thể, Vũ Tuyên Hoàng và Luyện Hữu Chỉ [27] cho rằng những giống lúa có bông to, hạt to sẽ cho năng suất cao Còn Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn (1978) khi nghiên cứu về độ thoát cổ bông cho biết những giống lúa có bông trỗ thoát hoàn toàn thường cho tỷ lệ hạt chắc cao hơn và ngược lại

Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất thực chất là mối quan

hệ giữa cá thể và quần thể [36] Mối quan hệ này có 2 mặt, khi số bông tăng lên trong một phạm vi nào đó thì khối lượng bông giảm ít nên năng suất cuối cùng tăng, đó là mối quan hệ thống nhất Nhưng khi số bông tăng quá cao sẽ làm cho khối lượng bông giảm nhiều, lúc đó năng suất sẽ giảm, đó là quan hệ mâu thuẫn Vì thế, trong kỹ thuật trồng trọt cần phải điều tiết mối quan hệ này sao cho có lợi nhất cho năng suất

* Cấu trúc dạng cây và mô hình cây lúa năng suất cao

Jenning (1997) [79] khi tiến hành các thí nghiệm nhằm cải lương giống lúa mì (Tritiumae Stivum L.) đã rất thành công trong việc sử dụng gen lùn để tạo ra các giống lúa mì thấp cây, chống đổ tốt, năng suất cao Kiểu cấu trúc cây này đã được các nhà khoa học nông nghiệp trên toàn thế giới hưởng ứng

và nó đã thực sự tạo ra cuộc cách mạng xanh về giống lúa mì Đó là cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất ở những nước như: Mexico, ấn Độ, các nước Trung

Mĩ, cuộc cách mạng này đặc biệt có ý nghĩa trong việc tăng sản lượng lương thực cho loài người (Swaminathan, 1978 [84])

Nhiều giống cây trồng có những nhược điểm như: thời gian sinh trưởng dài, khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu úng kém, cao cây, dễ đổ, chống chịu sâu bệnh kém… nên khả năng gieo trồng bị hạn chế Trên cơ sở những thành tựu đạt được ở lúa mỳ, vận dụng lý thuyết về dãy biến dị tương đồng của Vavilop (1951), Chang T.T và Jenning (1970) [6] đã tìm kiếm gen lùn ở cây lúa nước Các giống mới như Degeowoogen và Taichung Native 1 của Đài Loan hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đề ra Năm 1966, giống lúa thấp cây

Trang 19

IR8 ra đời cùng nhiều giống khác đã được phát triển nhanh ở nhiều nước và

được mệnh danh là “Người khổng lồ của châu á nhiệt đới” Các giống lúa lùn xứng đáng tạo nên cuộc cách mạng xanh lần thứ hai trên thế giới

Các giống Degeowoogen và Taichung Native 1 chứa gen lùn được nhiều nước trên thế giới sử dụng làm nguồn vật liệu khởi đầu cho các chương trình chọn tạo giống lúa quốc gia Theo Gu M H và Pan X B (1986) [80] trong giai đoạn 1956-1980, trong số 529 giống lúa được chọn tạo và phát triển trong sản xuất ở miền Nam Trung Quốc thì các giống chứa gen lùn của Degeowogen chiếm tới 70% Tình hình tương tự cũng được công bố ở Nhật Bản với gen lùn của giống Taichung Native 1 (Kikuchi F, (1986 [82])

Dựa trên cơ sở những kết quả đã đạt được (Khush, 1990 [81])

đã tổng kết mô hình kiểu cấu trúc cây lúa mới (New Rice Plant Type) có năng suất cao như sau:

8) Chống chịu được nhiều loại sâu bệnh

9) chiều cao cây từ 90-100 cm

10) Tiềm năng năng suất từ 10-13 tấn/ ha

Các kết luận này mang tính chiến lược lâu dài và là mục tiêu trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống lúa những năm qua Việc chọn tạo ra các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, năng suất cao

đã góp phần tích cực nâng cao năng suất và tổng sản lượng lúa ở nhiều nước trong khu vực châu á và trên thế giới

Trang 20

2.2 Yêu cầu của cây lúa với điều kiện ngoại cảnh

Cũng như mọi cây trồng khác, quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh đó là:

2.2.1 Điều kiện khí hậu thời tiết với cây lúa

Khí hậu thời tiết, yếu tố quan trọng nhất của điều kiện sinh thái, có ảnh hưởng lớn nhất và thường xuyên đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa Vì vậy, để nâng cao các chỉ tiêu như: năng suất sinh vật học, hệ số kinh tế, cường độ quang hợp, hiệu suất quang hợp và phát huy tối đa các yếu

tố cấu thành năng suất, làm cho năng suất lúa đạt cao nhất thì giải pháp được các nhà khoa học nông nghiệp lựa chọn là công tác giống và cải tiến các biện pháp kỹ thuật Tuy nhiên, chỉ trong những điều kiện thuận lợi về khí hậu thời tiết thì tiềm năng năng suất của giống cũng như các biện pháp kỹ thuật mới

được phát huy đầy đủ và kết quả là đạt được năng suất cao Theo số liệu của văn phòng thống kê nông nghiệp quốc tế cho biết từ năm 1968-1992, sản lượng lúa và ngô có thể bị giảm tới mức 39% do bão lụt, gió xoáy, 49% do nóng, lạnh, khô hạn và 17% do thời tiết xấu làm xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại lúa Tại hội nghị quốc tế về an ninh, an toàn lương thực, thực phẩm, Swanminathan M.S (1978) [84] đã đưa ra kết luận là trong 3 yếu tố: thời tiết khí hậu, dịch bệnh và kinh tế xã hội thì thời tiết khí hậu là nguyên nhân quan trọng làm cho sản lượng lương thực trên thế giới bị suy giảm nhiều nhất trong thời gian qua Vì vậy, đồng thời với công tác chọn tạo giống và cải tiến các biện pháp kỹ thuật, cần phải biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu, thời tiết để nâng cao hiệu quả của giống và biện pháp kỹ thuật canh tác

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là sự luân giao giữa các hệ thống gió mùa đã tạo nên sự biến động phức tạp với các dạng thời tiết khí hậu khác theo vùng lãnh thổ và theo mùa vụ trong năm

ở các tỉnh miền Bắc, thời tiết trong cả hai vụ diễn biến khá phức tạp, thay đổi bất thường, nhiệt độ giữa các tháng biến động rất lớn, thêm vào

Trang 21

đó các yếu tố khác như ẩm độ, lượng mưa, lượng bức xạ… cũng biến đổi thường xuyên và không theo một quy luật nào Các yếu tố khí hậu thời tiết đó

đều có liên quan mật thiết với nhau nên khi một yếu tố thay đổi có thể kéo theo một chuỗi những thay đổi khác Các yếu tố thời tiết khí hậu cụ thể như nhiệt độ, số giờ nắng, cường độ bức xạ, lượng mưa, bốc thoát hơi nước… thay

đổi thì các đặc điểm của cây trồng như: thời gian sinh trưởng, quang hợp, hô hấp, tích luỹ chất khô, thụ phấn và cả phẩm chất của sản phẩm cũng thay đổi theo Vì vậy, thời vụ gieo cấy lúa là một biện pháp kĩ thuật quan trọng để đạt

được năng suất lúa cao và ổn định

Xét về quan điểm sinh lý thực vật thì các đặc tính sinh lý, sinh hoá cũng như năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cây trồng đều chịu sự tác

động của các yếu tố khí hậu thời tiết

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa những điều kiện thời tiết khí hậu và cây trồng như Mori Shina H (1976) [37]; Mori Shina H; Chung T.T (1976) [38]; Đào Thế Tuấn, Đào thị Lương (1975) [60] Kết quả của những công trình nghiên cứu này là cơ sở khoa học quan trọng cho việc bố trí cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ tại một vùng sản xuất cụ thể

Theo Nguyễn Văn Hoan thì điều kiện thời tiết tối ưu cho lúa vụ mùa trỗ bông là: nhiệt độ trung bình từ 28-30 0c, biên độ nhiệt độ ngày đêm từ 5-60,

ẩm độ không khí 80-85%, mưa rào nhỏ, kết thúc nhanh, phơi màu không gặp mưa, không có bão, không có gió mùa đông bắc [26]

Theo Aso 1931, Noguchi và các tác giả khác cho rằng nhiệt độ tốt nhất cho lúa phơi màu là 30 ± 20c, còn theo Akamine (1912) và Noguchi (1929) thì giới hạn nhiệt độ tối đa lúa phơi màu là 500c, tối thấp là 15 0c (Akamine, 1912 và Terao, 1941 [52]).

Trang 22

* Cơ cấu mùa vụ gieo cấy các giống lúa

Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng là: “thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên kinh tế-xã hội sẵn có” (Đào Thế Tuấn, 1984 [61]) Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng còn là một trong những nội dung của hệ thống canh tác Bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái

Mục tiêu trước mắt của bố trí mùa vụ là cải thiện nâng cao năng suất cây trồng, gia tăng sản lượng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống nhân dân Ngoài ra còn có tác dụng cải tạo đất, đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững

Theo Nguyễn Duy Tính và ctv (1995) [49] thì Việt Nam là nước có lịch

sử phát triển lâu đời, các điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp ổn định với các loại cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới Việt Nam được coi là trung tâm xuất hiện sớm nhất nền nông nghiệp và đặc trưng là nông nghiệp canh tác lúa nước Bên cạnh đó, việc bố trí mùa vụ cây trồng chịu ảnh hưởng lớn của 3 loại yếu tố đó là:

+ Các nhân tố tự nhiên gồm điều kiện về đất đai, địa hình, khí hậu, chế

độ thuỷ văn … đây là những yếu tố có vai trò quan trọng nhất định chi phối

đến cơ cấu mùa vụ của mỗi vùng

+ Các nhân tố kinh tế-xã hội bao gồm cơ sở vật chất, kĩ thuật, nguồn lao

động, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế và kinh nghiệm tập quán của vùng sản xuất Dựa vào tình hình chung thì vốn (giống, vật tư, phân bón…) thuỷ lợi, thị trường được đánh giá là giữ vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng

đến việc chuyển đổi mùa vụ cây trồng

+ Các nhân tố tổ chức sản xuất, kĩ thuật và loại hình tổ chức sản xuất thích hợp sẽ có tác động lớn đến việc chuyển đổi, bố trí mùa vụ cây trồng Tuy vậy, vai trò của kĩ thuật cũng rất lớn Phổ biến và ứng dụng kỹ thuật mới ở

Trang 23

mỗi thời vụ mới là sự đóng góp bước đầu quan trọng làm tăng năng suất cây trồng một cách đáng kể

Một số nghiên cứu về mùa vụ cây trồng trong lịch sử đã ghi nhận:

+ ở Việt Nam đã có lịch sử tăng vụ từ lâu đời: “đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên đã có trồng thêm một vụ đậu tương hoặc một vụ kê sau khi thu hoạch lúa trong cùng một năm ở một số vùng thuộc hạ

và trung của châu thổ sông Hồng” Kim-Xhu-Heo và Han Long (1985) dẫn theo Uỷ ban KHNN (1990) [66]

Sing-Zandstra và các cộng sự (1981) [86] đã cho rằng, ở châu á cuộc cách mạng xanh giữa thế kỉ XX đã phát hiện và sử dụng thành công cơ cấu mùa vụ của các giống lúa nước và lúa mì ngắn ngày, năng suất cao, giúp hình thành các cơ cấu cây trồng tăng vụ, thâm canh trên các loại đất có nước tưới và cả

đất nhờ nước trời

+ ở Việt Nam, Nguyễn Duy Tính và các ctv (1995) [49] đã nhận định rằng: “Ruộng lúa nước là cơ sở văn minh nông nghiệp sông Hồng” Nghề trồng lúa đã chuyển biến theo hướng chung là giống lúa, cơ cấu mùa vụ lúa, tăng vụ, thâm canh Trước đây, ở Việt Nam mỗi năm chỉ trồng 2 vụ lúa chiêm

và lúa mùa Đến đầu thập niên 70, Việt Nam đã thành công trong việc đưa lúa xuân thay lúa chiêm Cơ cấu mùa vụ lúa xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông đã

được áp dụng linh hoạt, mang lại nhiều lợi ích kinh tế rõ ràng cho người nông dân ở nhiều địa phương trong cả nước

2.2.2 Đất đai và cây trồng

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, con người khai thác và

sử dụng đất để phục vụ lợi ích kinh tế của mình Nước và dinh dưỡng khoáng trong đất là những nhân tố chiếm vị trí quan trọng có ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng

Trong điều kiện trồng trọt hiện nay, dinh dưỡng khoáng là nhân tố hạn chế năng suất chứ không phải là ánh sáng và khí cacbonic Vì vậy, qua tổng

Trang 24

kết của nhiều nước trên thế giới cho thấy dinh dưỡng khoáng trong đất là nhân

tố tác động mạnh nhất làm tăng năng suất cây trồng

Theo các nhà bác học ở Đức từ năm 1885 đến 1913, năng suất lúa ở nước này tăng lên, trong đó phân bón bón vào đất đóng góp 50% (Prianit-Snilov, 1952), dẫn theo Đào Thế Tuấn (1970), [59]

Lebedixanev (1960), dẫn theo Đào Thế Tuấn (1970), [59] khi tổng kết màng lưới thí nghiệm phân bón và đất đai ở Liên Xô cho thấy bón phân vào

đất xấu có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng từ 60-70% còn ở đất tốt chỉ

có tác dụng làm tăng năng suất từ 40-50%

Như vậy, muốn sử dụng đất trồng trọt đạt kết quả tốt cần phải hiểu rõ mối quan hệ giữa đất và cây trồng mà trong đó mối quan hệ dinh dưỡng khoáng và cây trồng là quan trọng nhất

Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng có 2 mặt:

1) Nhu cầu về lượng là số lượng chất dinh dưỡng mà cây trồng cần thiết

để tạo thành các mức năng suất nhất định

2) Nhu cầu về chất là các nguyên tố dinh dưỡng khác nhau mà cây trồng cần và đủ trong các thời kỳ sinh trưởng nhất định để đạt năng suất cao (Đào Thế Tuấn, 1970 [59])

Điều kiện đất đai và khí hậu mang tính quyết định để bố trí cơ cấu và hệ thống cây trồng Vì vậy, tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm và thành phần cơ giới của đất để sắp xếp một hoặc một số hệ thống cây trồng phù hợp Ví dụ: đối với đất ngập nước chỉ nên bố trí các loại cây trồng có bộ rễ hoạt động tốt trong điều kiện yếm khí như cây lúa nước, khoai nước, rau muống Ngược lại, trên các loại đất khô hạn, đất dốc thì bố trí trồng các loại cây chịu hạn như cây chè, cây ăn quả

Đất đai cũng như thời tiết là những yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, nhưng cây trồng thì có thể lựa chọn, di thực hoặc được thay đổi bản chất theo những hướng mà con người mong muốn Các chế độ trồng xen,

Trang 25

trồng gối liên tiếp các loại cây trồng khác nhau đã được chú ý nhiều ở hầu hết các nước có ngành nông nghiệp phát triển, nhất là những nước có diện tích canh tác đất nông nghiệp thấp nhưng dân số đông (Bùi Huy Đáp, 1983 [14], [15]), (Đào Thế Tuấn, 1970 [59]), (Nguyễn Thanh Tuyền, 1998 [65]), (Trần Văn Tứ, (1997), (Uỷ Ban KHNN, 1990) [66]

* Sự thích ứng của các giống lúa đối với từng loại đất

Xác định sự thích ứng của các giống lúa đối với từng loại đất trồng trọt

đồng nghĩa với quá trình nghiên cứu dinh dưỡng khoáng của cây lúa trên quan

điểm lấy năng suất kinh tế làm chỉ tiêu cuối cùng Các vấn đề cơ bản về sinh

lý dinh dưỡng khoáng của cây lúa được nghiên cứu nhiều ở Nhật Bản như tác dụng của các nguyên tố dinh dưỡng đến các quá trình sinh lý, sinh hoá của cây trồng, sự phát triển của bộ rễ và cơ chế hút chất khoáng của bộ rễ cây lúa (Yosida S, 1972 [85])

Lượng chất dinh dưỡng mà cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng hút được khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại giống, đất đai, mùa vụ gieo cấy khác nhau Đối với cây lúa, sự thích ứng với từng loại đất trồng trọt là rất rõ rệt, sự thích ứng này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa cây trồng và môi trường sống Năng suất cây trồng và lượng chất dinh dưỡng cây lấy đi từ đất

có mối quan hệ mật thiết với nhau ở các loại đất khác nhau, lượng dinh dưỡng mà cây lúa lấy đi để tạo ra một đơn vị sản phẩm cũng thay đổi Vì vậy, việc bố trí các giống lúa ở các chân đất khác nhau cơ bản căn cứ vào bản chất của giống và cơ cấu mùa vụ của vùng trồng Các giống chịu thâm canh thường

được bố trí trên chân đất vàn, vàn trũng, đất có độ màu mỡ cao Các giống chịu chua mặn được bố trí gieo cấy ở các vùng ven biển nơi hàng năm bị nước mặn xâm nhiễm Ngược lại, ở vùng cao, hạn, không chủ động tưới tiêu cần bố trí các giống lúa chịu hạn Ngoài ra, trên chân đất vàn cao, đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất có độ màu mỡ trung bình có thể bố trí các giống lúa có tính thích ứng rộng và ngắn ngày

Trang 26

2.2.3 Đặc điểm sản xuất luá của tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Hàng năm, sản xuất nông nghiệp đóng góp trên 50% trong cơ cấu GDP, tạo việc làm cho trên 90% người dân ở nông thôn [50] Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân năm trong nông nghiệp là 7,2%, sản lượng lương thực tăng bình quân 5%/năm Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện khí hậu thời tiết và đất đai

- Về điều kiện khí hậu thời tiết của tỉnh Bắc Giang chia thành hai tiểu vùng khí hậu rõ rệt đó là tiểu vùng khí hậu Trung du và tiểu vùng khí hậu miền Núi Nhiệt độ bình quân năm khoảng 230c, độ ẩm trung bình năm khoảng 80%, lượng mưa bình quân năm là 1500 mm, số giờ nắng bình quân năm là 1530 h, đây là vùng ít chịu ảnh hưởng của bão [50]

- Về đất đai tỉnh Bắc Giang có địa hình phức tạp gồm có chân đất cao không chủ động tưới tiêu, một năm chỉ cấy được một vụ lúa cho năng suất không ổn định, chân đất vàn có thể trồng được 3-4 vụ trong năm, trên chân đất này thường áp dụng các công thức luân canh như:

Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa muộn – cây vụ đông

Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa muộn

Lúa xuân - lúa hè thu - lúa mùa muộn

Trên chân đất trũng thường gieo cấy 1-2 vụ lúa/năm Hiện nay Bắc Giang thường gieo cấy 2-3 vụ lúa trong năm Vụ lúa mùa muộn được gieo cấy trên đất trồng đậu tương hè và lúa hè thu (3 - 4 vụ/năm) Đây là trà lúa có diện tích khá nhưng năng suất đạt được còn thấp và chưa ổn định

2.3 Những tiến bộ kỹ thuật về giống lúa ở nước ta

2.3.1 Vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp

Trong sản xuất nông nghiệp, giống đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, sản lượng và hàng hoá của bất kỳ một

Trang 27

loại cây trồng nào (Lê Thị Dự, 1999 [12]) Về mặt di truyền học, sự sắp xếp và tái tổ hợp AND, mã hoá cho quá trình sinh học, quyết định toàn bộ các

đặc tính về giống Đây là quá trình thích nghi, dưới tác động của môi trường sinh học tự nhiên, sinh vật tiến hoá và phát triển theo hướng tiến bộ, theo yêu cầu của con người Hiện nay, với kỹ thuật sinh học phát triển con người ngày càng can thiệp sâu hơn, thúc đẩy nhanh quá trình tiến hoá có lợi cho con người bằng những phương pháp tạo giống như lai hữu tính, xử lý đột biến đặc biệt là

kỹ thuật di truyền đang đóng góp có hiệu quả vào việc cải tiến giống lúa (Trần Minh Tuấn, 1990 [64]) Nghiên cứu vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp cho thấy giống luôn là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất, tăng sản lượng và hạ giá thành sản phẩm (Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Văn Thông, 1995 [35])

2.3.2 Quan điểm về phương hướng chọn tạo giống lúa

Theo Gupta P C và Otoole J C (1976) [81] thì phương hướng chọn tạo giống lúa thay đổi tuỳ theo vùng sinh thái khác nhau nhưng phương hướng chung có thể như sau:

- Có các đặc điểm về chất lượng hạt phong phú

- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông trong điều kiện sinh thái thuận lợi

- Mạ khoẻ, bộ rễ khoẻ, dày đặc, ăn sâu

- Tỷ lệ hạt lép thấp, hạt mẩy đều, chín tập trung

- Phản ứng với quang chu kỳ ở các mức độ khác nhau

Trang 28

- Chịu hạn tốt, có khả năng cạnh chanh được với cỏ dại

- Chống chịu được với bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, bệnh biến màu hạt, chống chịu sâu đục thân, rày nâu

- Chịu được đất nhiều dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm hoặc đất chua Theo T.T chang (1964) [72] thì mục tiêu chung của các nhà chọn tạo giống lúa cạn ở vùng Đông nam á và IRRI là:

- Nâng cao tiềm năng năng suất lúa bằng cách phát triển kiểu hình có chiều cao cây trung bình, đẻ nhánh khá để thay thế các giống cổ truyền cao cây, thân mềm yếu

- Giữ được cơ chế chống hoặc chịu có liên quan đến sự ổn

định về năng suất như: chịu hạn, khả năng phục hồi đẻ nhánh sau mỗi đợt hạn

- Tạo ra những giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để có thể gieo cấy thích hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau

- Đặc tính nhạy cảm với quang chu kỳ có thể là yêu cầu cho một số vùng như vùng Đông bắc Thái Lan

- Giữ được những đặc tính nông học tốt như: bông dài, dinh dưỡng bông cao, hạt không hở vỏ, hàm lượng amyloza thấp đến trung bình

- Nâng cao tính chống chịu sâu bệnh như: đạo ôn, khô vằn, sâu đục thân, rày lưng trắng

- Giữ được hoặc nâng cao tính chống chịu với các yếu tố bất lợi của đất như: thiếu lân, độc tố nhôm, mangan trong đất chua, mặn và thiếu kẽm, sắt trong đất kiềm

Kiểu cây được đặc trưng nhờ cách kết hợp nào đó giữa các tính trạng của lá, thân và bông lúa Các nhà chọn giống cho rằng có thể chia các giống lúa ra thành “kiểu cây nhiều bông” và “kiểu cây bông to”, “kiểu cây nhiều bông” có bông nhỏ hơn “kiểu cây bông to”

Trang 29

Tanaka (1965) [21] thì cho biết trong điều kiện thâm canh, hệ số đồng hoá cao ở cây có tương đối ít lá, lá ngắn, đứng thẳng để giảm tình trạng che cớm lẫn nhau đến mức thấp nhất

Murata (1961) và Tsunoda (1964) cũng đã rút ra những kết luận tương

tự Theo Tanaka, bộ lá có khả năng đồng hoá cao sẽ làm cho cây có phản ứng mạnh với đạm, bộ lá đó là những đặc trưng của giống cải tiến, chúng được trồng ở những nước vùng ôn đới và á nhiệt đới Trong khi đó, nhiều giống lúa nhiệt đới có quá nhiều lá và cao cây, không thể cho năng suất cao ngay cả khi trồng trong điều kiện thâm canh

Dựa vào quan hệ giữa kiểu cây và năng suất, Jennings (1996) [78] đã nhấn mạnh rằng biện pháp chọn giống có thể tiến đến một kiểu cây cải tiến cho vùng nhiệt đới là những giống chín sớm, chống được bệnh đạo ôn, thấp cây, chống đổ, ngoài những giống nhiệt đới tương tự hiện có Mặt khác, ông cũng cho rằng nhờ biện pháp chọn giống, có thể tạo được những giống lúa nhiệt đới có năng suất cao, có phản ứng với đạm và có cả những đặc trưng khác nữa Những tính trạng đặc trưng đặc biệt kết hợp với năng suất lúa cao và phản ứng mạnh với đạm mà thường không thấy ở những giống thương mại trồng ởvùng nhiệt đới đó là:

- Thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng từ 100-125 ngày (từ khi gieo mạ

đến khi chín) và không mẫn cảm với chu kì sáng

- Những đặc trưng dinh dưỡng kể cả mọc khoẻ vừa phải, có số nhánh vừa phải, kết hợp với lá tương đối nhỏ, màu lục sẫm, mọc thẳng đứng

- Thân rạ thấp và cứng để chống được đổ

- Chống được những nòi nấm bệnh đạo ôn đã được phát hiện ra

Từ những nghiên cứu của viện lúa quốc tế cho thấy năng suất giảm khoảng 75% khi lúa đổ trước khi chín 30 ngày hoặc sớm hơn Phần lớn năng suất bị giảm khi đổ sớm là do tỷ lệ hạt lép tăng lên Vì vậy, chọn tạo giống thích nghi với điều kiện cuả từng vùng, thấp cây, thân cứng, chống đổ tốt là

Trang 30

mục tiêu hàng đầu trong chiến lược cải tạo giống củaviện nghiên cứu quốc tế (Nguyễn Xuân Hiển và cộng sự, 1976 [21])

Trước năm 1960, ở ấn Độ người ta đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn tạo giống lúa [21] Kết quả của những công trình đó đã đi tới những hướng chọn giống sau:

- Chọn giống có năng suất cao

- Chọn giống theo khả năng phản ứng mạnh với việc bón nhiều phân

- Chọn giống theo tính chín sớm

- Chọn giống chịu nước sâu và chịu úng

- Chọn giống lúa theo tính chống chịu mặn, chống chịu kiềm của đất

- Chọn giống theo tính chống chịu hạn

- Chọn giống theo tính chống đổ

- Chọn giống lúa không rụng hạt

- Chọn giống lúa để chống lúa dại

- Chọn giống lúa theo tính chống bệnh

Các tiến bộ trong chọn tạo giống ngày nay đang đem lại niềm hi vọng nâng cao phẩm chất dinh dưỡng của hạt gạo Trong năm 2000 khoa học cây lúa chứng kiến một thành tựu quan trọng đó là việc tạo ra giống lúa có khả năng sản xuất và tồn trữ chất β-carotene trong hạt gạo Đứng đầu nhóm nghiên cứu này là giáo sư Ingo Ptrykus thuộc viện nghiên cứu công nghệ liên bang Thuỵ Sĩ và tiến sĩ Peter Beyer thuộc trường đại học Freibury Đức [69]

ở cây lúa, có chứa chất geranyl diphosphate, một tiền chất quan trọng trong việc tổng hợp β-carotene, nhưng cây không thực hiện được do thiếu các enzym cần thiết Các nhà khoa học đã chuyển nạp vào lúa 3 gen để tạo ra enzym bị thiếu này Kết quả là họ thành công trong việc biến đổi giống lúa Taipei 309 thuộc loại hình Japonica trở thành giống lúa đầu tiên tạo được chất β-Carotene trong hạt gạo

Trang 31

Nhóm nghiên cứu của giáo sư Ingo Potrykus và của tiến sĩ F Goto ở Nhật Bản [69] đang tiến hành một cách độc lập để tạo giống lúa có hàm lượng chất sắt trong hạt gạo cao bằng cách chuyển nạp gen tạo ra chất Feritin, là một loại Protein giàu sắt trong cây đậu Gen điều khiển tổng hợp chất này trong cây đậu đã được phân lập và chuyển nạp vào cây lúa, hiệu quả là làm tăng hàm lượng sắt trong gạo lên 3 lần, tạo ra triển vọng cho việc lai tạo các giống lúa giàu sắt trong hạt gạo để khắc phục bệnh thiếu máu

Khi nghiên cứu tương quan giữa chiều cao cây và năng suất, một số nhà chọn giống đã có những nhận xét khác nhau như sau:

Theo Thonơ, (1966) thì tương quan giữa chiều cao cây và hệ số kinh tế

là tương quan nghịch, những giống cao cây thì có hệ số kinh tế thấp và ngược lại những giống thấp cây và trung bình thì có hệ số kinh tế cao nên năng suất của các giống đó cũng cao hơn Ngược lại, Tanaka, 1972 [21] lại cho rằng các giống cao cây cũng có thể có hệ số kinh tế cao nếu bông to

Từ mối tương quan giữa chiều cao cây và hệ số kinh tế (Đinh Văn Lữ,

1978 [33]) đề xuất hướng chọn tạo giống lúa để có hệ số kinh tế cao là:

- Cây cao trung bình

Năng suất hạt và các yếu tố cấu thành năng suất có tương quan thuận với nhau Sự tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh

Trang 32

Theo Vũ Tuyên Hoàng và Luyện Hữu Chỉ [27] cho rằng giống lúa bông

to, hạt to dễ cho năng suất cao Vật liệu chọn giống có năng suất cá thể cao thường cho năng suất cao

Theo Yosida (1979) [71], các giống lúa thấp cây, ngắn ngày là hướng chọn tạo các giống lúa mới trên thế giới, do nó có những ưu điểm sau:

- Các giống chín sớm có tổng tích ôn nhỏ hơn

- Các giống thấp cây có chiều hướng đẻ nhiều nhánh hơn

- Thời gian để phát triển một bông lúa ở giống chín sớm ngắn hơn ngắn hơn các giống chín muộn

- Những giống chín sớm thường có phản ứng với đạm cao, lá đứng thẳng, ngắn, dày, hẹp, xanh đậm

- Những giống lúa chín sớm thường có thân thấp và cứng giúp cây chống đổ tốt

Khi nghiên cứu mối tương quan giữa sức chứa và nguồn ở cây lúa Đào Thế Tuấn [62] đã đưa ra kết luận rằng những giống lúa có năng suất cao phải

có đủ các điều kiện sau:

- Phải có chỉ số diện tích lá cao từ khi trổ để có sức chứa lớn, vì vậy phải có lá đứng thẳng và hẹp

- Phải có hệ số quang hợp sau trổ cao, có thể tạo ra được bông to hạt mẩy nghĩa là có sức chứa cao

Muốn biết giống năng suất cao hay thấp cần xem xét đến đặc tính đẻ nhánh của chúng Giống nào đẻ sớm, đẻ tập trung sẽ cho bông to,

đều bông và năng suất cao Vì vậy, khi chọn giống nên chọn những cây có cổ bông bằng nhau, đều bông Những giống đẻ lai rai thì sẽ chín không đều ảnh hưởng xấu tới năng suất

Theo GS Khush,(2000) [67], hướng tăng năng suất lúa qua con

đường tạo giống “siêu lúa” của IRRI hoặc “siêu lúa lai” của Trung Quốc căn bản dựa vào việc kiến trúc lại dạng hình cây lúa để tối đa hoá hiệu

Trang 33

quả quang hợp Một hướng chọn tạo giống hiện đại hiện nay là dùng công nghệ di truyền để biến đổi cây lúa quang hợp theo con đường C3 thành cây lúa

có khả năng quang hợp theo con đường C4 (như cây ngô)

Theo TS T Herie (2000) [69] thì có thể tăng sức chứa của cây lúa thông qua việc cải thiện dạng hình bông (bông to, nhiều hạt) và nâng cao độ chắc mẩy của hạt Thời điểm cực kỳ quan trọng giúp cho quá trình làm đầy hạt là 10 ngày sau trỗ, đây là thời điểm mà số tế bào phôi nhũ được thiết lập

Để hạt được chắc mẩy cần lượng hydratcacbon nhất định, nhưng mức cung cấp do quang hợp trong thời kỳ này thường không đủ Vì vậy, lượng hydratcacbon tồn trữ trước trỗ 15 ngày cũng rất quan trọng Khả năng quang hợp của các giống lúa ở giai đoạn này ảnh hưởng lớn

đến sự làm tăng độ chắc mẩy của hạt lúa, đây là tiêu chuẩn tin cậy trong chọn giống lúa có năng suất siêu cao

Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang và các ctv [4] cho biết: trong 10 năm từ năm 1982-1992 công tác chọn tạo giống lúa đã tập trung vào cải tiến năng suất và thời gian sinh trưởng, đặc biệt chú trọng chọn giống chín sớm, thời gian sinh trưởng từ 105-110 ngày (chiếm khoảng 65.7%), phần còn lại dành cho mục tiêu chọn giống kháng sâu bệnh và chất lượng gạo tốt Trong những năm tới hướng chọn tạo giống lúa ở đồng bằng sông Cửu Long của viện lúa

đồng bằng sông Cửu Long là nghiên cứu di truyền số lượng để làm nền tảng cho việc xác định phương pháp chọn lọc thích hợp cũng như sử dụng vật liệu lai tạo một cách có hiệu quả nhất

Nguyễn Thị Trâm và Nguyễn Văn Hoan (1994) [54] thì cho rằng một nguyên nhân hạn chế năng suất lúa là do các giống lúa cải tiến đã đạt đến năng suất tới hạn, chọn tạo giống lúa mới với năng suất siêu cao từ 80-100 kg/ ha/ngày hay cao hơn nữa là mục tiêu cần vươn tới của các nhà chọn tạo giống lúa trên thế giới và trong nước Nghiên cứu ứng dụng lúa ưu thế lai là một hướng quan trọng để có thể đạt được mục tiêu trên một cách nhanh chóng

Trang 34

Muốn thực hiện thành công chương trình chọn tạo giống lúa, nhiệm vụ

đầu tiên của các nhà chọn tạo giống là phải xác định được mục tiêu cho từng chương trình cụ thể Theo Nguyễn Văn Hiển thì công tác chọn tạo giống thường nhằm vào các mục tiêu sau đây [20]:

- Giống mới phải có năng suất cao hơn các giống cũ trong cùng điều kiện, mùa vụ, đất đai và chế độ canh tác

- Giống mới phải có chất lượng cao hơn giống cũ, được mọi người ưa chuộng, có giá trị dinh dưỡng cao, chất lượng nấu nướng cao hơn

- Giống mới phải có khả năng chống chịu tốt hơn với các loại sâu bệnh hại chính của từng vùng, từng vụ mà giống đó gieo trồng

- Giống mới phải thích ứng tốt hơn với điều kiện khí hậu, đất đai, tập quán canh tác, hệ thống luân canh của những vùng nhất định

2.3.3 Tình hình nghiên cứu về giống lúa ở nước ta

Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, chọn tạo, thử nghiệm

và đưa vào sản xuất các giống lúa mới đã được đẩy mạnh ở các viện nghiên cứu, các trường đại học nông nghiệp, các trạm trại trong cả nước Theo Ngô Thế Dân thì trong giai đoạn từ năm 1996-2000, các chương trình nghiên cứu, chọn tạo giống cây lương thực đã sử dụng các phương pháp mới như: RAPD marker, PCR marker, STS marker, đánh giá sự đa dạng di truyền, cơ chế sinh

lý, sinh hoá, tính chống chịu sâu bệnh, chất lượng của 29.435 mẫu giống và

sử dụng các phương pháp nuôi cấy hạt phấn, nuôi cấy tế bào xoma, lai xa, đột biến, ưu thế lai, đã có 35 giống lúa được công nhận ở cấp quốc gia, 44 giống tiến bộ kỹ thuật [9]

Trong 20 năm (1968- 1988) viện cây LT-TP đã thu thập được 3.500 mẫu giống lúa địa phương (Vũ Tuyên Hoàng, Trương Văn Kính, Nguyễn Thị Then, 1988) [28] Theo Nguyễn Quốc Tuấn, từ năm 1981 đến nay, viện đã chủ trì đề tài cấp nhà nước 02-01, đề tài cây lương thực cấp nhà nước KN01 (giai

đoạn 1991-1996 và giai đoạn 1996-2000) Bằng các phương pháp truyền thống

Trang 35

và phương pháp hiện đại, viện đã có 26 giống lúa được công nhận ở cấp quốc gia

đó là các giống: 1548, N13, N29, N28, MT6, MT163, MT131, các giống chịu hạn CH3, CH133, CH5 các giống chịu úng C15, C10, U17, U20, các giống chất lượng cao P4, P6 [63]

Viện Bảo vệ thực vật đã thu thập, đánh giá được 688 dòng và giống lúa

có nguồn gốc từ 15 nước khác nhau trên thế giới Kết quả thử nghiệm cho thấy

có 231 dòng, giống phản ứng với rày nâu từ cấp 1 đến cấp 3 Các giống nhập

từ Đài Loan, Trung Quốc, Brazin đều nhiễm từ cấp 7 đến cấp 9 (Nguyễn Công Thuật và ctv, 1995 [51])

Trường đại học Nông nghiệp I cũng thu thập, đánh giá và bảo quản

được 750 mẫu giống lúa, các giống này đều được đánh giá đầy đủ về các mặt như: tiềm năng năng suất, phẩm chất, phản ứng với sâu bệnh, khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi (Nguyễn Thị Trâm và ctv, 1995 [55]), (Nguyễn Văn Hoan, 1991 [22], 1994 [23], [24])

Trong năm 2002-2003 trường đã nghiên cứu, đưa khảo nghiệm, khu vực hoá và đề nghị công nhận một số giống lúa ngắn ngày, khả năng thích ứng rộng, năng suất cao để bổ xung vào cơ cấu giống cho vùng đồng bằng và trung

du Bắc bộ như TH3-3, TN13-5, VL20

Viện Di truyền nông nghiệp đã có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống lúa Nhiều giống được công nhận là giống quốc gia, giống được đưa vào khu vực hoá như DT10, DT33, DT13, A20, DT271, VL901, lúa lai 3 dòng HR1… (Trần Duy Quý, 1998 [47]); ( Bùi Huy Thuỷ, 1998 [53])

Từ năm 1987-1998, viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã tiến hành lai tạo được 2.701 tổ hợp, đã đưa ra sản xuất 55 giống, trong đó có 31 giống được phép khu vực hoá, và 24 giống được công nhận là giống quốc gia (Bùi Chí Bửu, 1998 [5])

Hàng năm, viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), mạng lưới quốc tế về

đánh giá nguồn di truyền trên cây lúa (INGER) đã cung cấp cho chương trình

Trang 36

chọn tạo giống lúa của Việt Nam từ 200-500 giống lúa khác nhau (Lê Văn Dũng, 1996 [11])

Trong số các giống lúa được tạo ra ở nước ta phần lớn là do lai tạo, giống lúa đầu tiên được lai tạo và đưa vào sản xuất là giống lúa ngắn ngày Nông nghiệp 1 của nhà bác học Lương Đình Của (1961), (Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn, 1982 [18]), đã đáp ứng yêu cầu tăng thêm một vụ lúa ở vùng

đồng bằng và trung du Bắc bộ trong những năm đầu thập niên 60 Giống lúa chiêm 424 (Nông nghiệp 75-2) do Phan Hùng Diêu (1978)) [10] tạo ra là giống có khả năng chịu chua, phèn khá đã thay thế các giống lúa chiêm cũ ở nhiều nơi trên miền Bắc Giống lúa VN10 là giống lúa xuân sớm có khả năng chịu chua, chịu rét cho năng suất khá ổn định, giống này đã tồn tại trong suốt

25 năm qua (Trần Như Nguyện, 1979 [40]) Các giống ngắn ngày và cực ngắn như VX83 có thời gian sinh trưởng 80 ngày (Hoàng Văn Phần, Trần Đình Long, 1991 [41]), giống CN4, 79-1 có thời gian sinh trưởng từ 87-90 ngày thích hợp cho phương thức gieo thẳng, đáp ứng yêu cầu tăng vụ (Nguyễn Hữu Nghĩa và ctv, 1995 [39]) Trên đất bạc màu, nghèo dinh dưỡng, đất vàn cao của các tỉnh vùng trung du Bắc bộ có giống ĐH60 (Nguyễn Văn Hoan, 1994 [24]), KD18, ĐV108… (Trương Đích, 1999 [16], giống lúa AC5 (Nguyễn Tấn Hinh, Nguyễn Mạnh Đôn, Huỳnh Yên Nghĩa, Nguyễn Văn Dũng (2003), giống lúa Hương thơm số 1 Lê Vĩnh Thảo, Nguyễn Ngọc Tiến, 2003, giống lúa N99 Lê Vĩnh thảo (2003), giống lúa DR3 Lê Thị Muội, Lê Trần Bình,

2003 Đây là những giống ngắn ngày, năng suất cao, có thể cho phép cấy nhiều vụ trong năm khi điều kiện thời tiết cho phép [1] Tác giả Tạ Minh Sơn

và ctv (1999) [45], [46], [47] vận dụng sự phối hợp giữa kiểu gen chống bệnh bạc lá (Xanthomonas Compestris P.V Oryzae) và các gen quyết định năng suất cao, ngắn ngày đã lai tạo ra các giống X1, X19, X20, X21, X23 được nông dân nhiều địa phương ưa chuộng

Trang 37

Trong giai đoạn từ năm 1991-1995, đề tài KN-O1, cấp nhà nước do giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng làm chủ nhiệm, đã chọn tạo được nhiều giống lúa mới năng suất cao, thích ứng với nhiều vùng thâm canh, khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận như hạn, rét, chua, mặn tốt với sự tham gia của 11 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu trong nước Kết quả của chương trình đã cho ra sản xuất 26 giống cấp quốc gia, 40 giống dòng

được khu vực hoá, 35 giống có triển vọng trong khảo nghiệm (Vũ Tuyên Hoàng, 1995 [29], [30]) ở miền Nam, nhiều giống lúa cũng được đưa vào khảo nghiệm trên nhiều địa bàn khác nhau Theo Nguyễn Quốc Lý (1995) [34], vụ đông xuân năm 1993 mới chỉ có 20 giống tham gia trong màng lưới khảo nghiệm, đến năm 1999 đã có gần 50 giống từ các cơ quan nghiên cứu gửi khảo nghiệm trong màng lưới

Đề tài KN08-1, giai đoạn 1996-2000 do GS Nguyễn Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm với mục tiêu chọn tạo các giống lúa thuần, lúa lai có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt cho các vùng sinh thái khác nhau, nhằm nâng cao năng suất lúa, đảm bảo an ninh lương thực trong nước, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, dần dần chuyển sản xuất lúa sang ngành sản xuất hàng hoá (Nguyễn Hữu Nghĩa, 1995 [39])

Trong năm 2003 cả nước đã có 207 giống lúa được đưa vào khảo nghiệm, trong đó các tỉnh miền Bắc là 130 giống, duyên hải miền Trung

21 giống, các tỉnh miền Nam 56 giống Qua khảo nghiệm, nhiều giống

được đề nghị hội đồng khoa học xét công nhận chính thức như: Hương thơm số 1, Bác ưu 253, Hồng công 1, Khâm dục, AYT77, công nhận tạm thời các giống: VH1, DR3, HT83 Các giống được đánh giá là có triển vọng có thể đưa ra sản xuất thử như: MT14, U34, N201, N202, DB1, HĐB5, HĐB6, VH2, AC5, N99, PD2, TH3-3, QN1, HYT92 và nhiều giống được đánh giá là có những đặc điểm nông học tốt [43]

Trang 38

2.3.4 Những kết quả nghiên cứu, ứng dụng trong công tác giống và tăng vụ trên đất 2 lúa của tỉnh Bắc Giang

* Kết quả nghiên cứu ứng dụng trong công tác giống lúa tỉnh Bắc Giang

Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện có nhiều cơ sở đào tạo, cơ

sở ứng dụng và chuyển giao công nghệ như: trường cao đẳng Nông Lâm, trạm cải tạo đất bạc màu, trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, công ty giống cây trồng, trung tâm KN-KL…

đã tiến hành nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân Các nghiên cứu ứng dụng đã xác định được những giống lúa mới có năng suất cao, thích hợp với điều kiện địa phương như: X21, Xi 23, C70, C71, MT163, DT122, KD18, DV108,VH1, BTST, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838… [68]

Nguyễn Tuyết Minh khi nghiên cứu, khảo nghiệm một số tổ hợp lúa lai nhập nội đã rút ra kết luận: trong các tổ hợp lúa lai nhập nội từ Mĩ, ấn Độ có những tổ hợp có năng suất hơn hẳn đối chứng là BTST, Nhị ưu 838, đó là các tổ hợp SYCR4, SYCRR6, SYCR5, SYCR18, SYCR16, SYCR8

* Tăng vụ trên đất 2 lúa tại tỉnh Bắc Giang

Theo báo cáo tổng kết của trung tâm KN - KL tỉnh Bắc Giang, phòng địa chính huyện Hiệp Hoà, phòng địa chính huyện Việt Yên, huyện Tân Yên khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân đã rút ra kết luận: công thức luân canh 4 vụ trên đất 2 lúa là lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa muộn – cây vụ đông là một trong những công thức luân canh đạt hiệu quả kinh tế cao, cho thu nhập từ 40 – 60 triệu đồng/ha/ năm [58]

Mai Quang Vinh thì cho rằng công thức luân canh 4 vụ trên

đất 2 vụ lúa cho thu nhập cao hơn hệ thống 2 vụ gấp 3 lần, tạo

Trang 39

thêm công ăn việc làm cho người nông dân, đồng thời còn có tác dụng cải tạo đất, giảm nhẹ thiệt hại do sâu bệnh gây nên

Điều kiện để mở rộng diện tích áp dụng công thức luân canh

4 vụ/năm là các giống tham gia trong cơ cấu phải là giống ngắn ngày, với giống lúa thì thời gian sinh trưởng là từ 95 – 100 ngày, cảm ôn, năng suất khá, năng suất đạt từ 4–5 tấn/ha, đó là các giống DT122, Japonica (Nhật Bản) Các giống này có thể cấy muộn sau 15/8, chịu rét, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao [70]

Trang 40

3 Vật liệu, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu được sử dụng trong đề tài gồm các giống có triển vọng và giống đã giống được công nhận là giống quốc gia gồm: (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Các giống tham gia thí nghiệm

Thứ tự Tên giống Nguồn gốc

1 BTL Lúa thuần Trung Quốc

2 VH1 Lúa thuần Trung Quốc

3 DT122 Viện Di truyền nông nghiệp

4 VL20 Trường đại học Nông nghiệp I-Hà Nội

5 IRi35-2 Lúa thuần nhập nội từ IRRI

6 AYT77 Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam

3.2 Nội dung nghiên cứu

1) Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang

2) Tình hình sản xuất lúa vụ mùa của tỉnh Bắc giang

3) Bố trí thí nghiệm khảo nghiệm một số giống lúa ngắn ngày gieo cấy trong vụ mùa muộn tại tỉnh Bắc Giang

4) Xây dựng mô hình sản xuất thử một số giống có triển vọng

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

* Địa điểm và điều kiện thí nghiệm

- Địa điểm thí nghiệm: được tiến hành tại khu thí nghiệm của trường cao đẳng Nông Lâm , huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Ngày đăng: 02/08/2013, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ ánh (2001), Sổ tay kỹ thuật trồng lúa, NXB Nông nghiệp, Hà Néi, tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật trồng lúa
Tác giả: Đỗ ánh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Lê Huy Bá (1982), Những vấn đề về đất phèn Nam bộ, NXB thành phố Hồ Chí Minh, tr. 63, 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về đất phèn Nam bộ
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1982
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004), Quy phạm khảo nghiệm giống lúa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm khảo nghiệm giống lúa
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang và ctv (1995), “Định h−ớng chọn tạo giống lúa cho vùng thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở phân tích di truyền số l−ợng”, Tạp chí KHCN và QLKT, tr 28, 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định h−ớng chọn tạo giống lúa cho vùng thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở phân tích di truyền số l−ợng”, "Tạp chí KHCN và QLKT
Tác giả: Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang và ctv
Năm: 1995
5. Bùi Chí Bửu (1998), “Sản xuất giống lúa có phẩm chất gạo tốt ở đồng bằng sông Cửu Long”, Hội thảo chuyên đề về bệnh vàng lá gân xanh trên cam quýt và lúa gạo phẩm chất tốt, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất giống lúa có phẩm chất gạo tốt ở đồng bằng sông Cửu Long”," Hội thảo chuyên đề về bệnh vàng lá gân xanh trên cam quýt và lúa gạo phẩm chất tốt
Tác giả: Bùi Chí Bửu
Năm: 1998
10. Phan Hùng Diêu (1978), “Chọn tạo giống lúa chiêm 424”(NN75-2), Tạp chí KH Nông nghiệp, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn tạo giống lúa chiêm 424”(NN75-2), "Tạp chí KH Nông nghiệp
Tác giả: Phan Hùng Diêu
Năm: 1978
11. Lê Văn Dũng (1996), Khảo sát và nghiên cứu đặc điểm hình thái, nông học, chỉ tiêu chất l−ợng của một số giống lúa ở vùng đất bạc màu Hà Bắc, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát và nghiên cứu đặc điểm hình thái, nông học, chỉ tiêu chất l−ợng của một số giống lúa ở vùng đất bạc màu Hà Bắc
Tác giả: Lê Văn Dũng
Năm: 1996
12. Lê Thị Dự (1999), Nghiên cứu và khai thác nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống lúa cho vùng thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ KH Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và khai thác nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống lúa cho vùng thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Lê Thị Dự
Năm: 1999
13. Bùi Huy Đáp (1970), Lúa xuân miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Huy Đáp (1970), "Lúa xuân miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1970
14. Bùi Huy Đáp (1978), Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông nam châu á, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Huy Đáp (1978), "Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông nam châu á
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
15. Bùi Huy Đáp (1983), Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1983
16. Bùi Huy Đáp (1985), Văn minh lúa n−ớc và nghề trồng lúa Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh lúa n−ớc và nghề trồng lúa Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
17. Tr−ơng Đích (1993), 138 giống cây trồng mới, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 138 giống cây trồng mới
Tác giả: Tr−ơng Đích
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
18. Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn (1982), Giống lúa miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 102-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống lúa miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1982
19. Nguyễn Văn Hiển (1992), Khảo sát tập đoàn giống lúa đang trồng phổ biến tại Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ KH Nông nghiệp, Tr−ờngĐại học Nông nghiệp I, Hà Nội, tr. 84-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tập đoàn giống lúa đang trồng phổ biến tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Năm: 1992
20. Nguyễn Văn Hiển (2000), Chọn giống cây trồng, NXB Giáo dục, Hà Néi, tr. 31-39, 225-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
21. Nguyễn xuân Hiển, Trần Long, Vũ Huy Trang (1976), Nghiên cứu về lúa ở n−ớc ngoài, NXB KH và KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về lúa ở n−ớc ngoài
Tác giả: Nguyễn xuân Hiển, Trần Long, Vũ Huy Trang
Nhà XB: NXB KH và KT
Năm: 1976
22. Nguyễn Văn Hoan (1991), Giống lúa ngắn ngày ĐH60, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học 35 năm thành lập tr−ờng ĐHNN I Hà Nội, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống lúa ngắn ngày ĐH60
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1991
23. Nguyễn Văn Hoan (1994), Một số nghiên cứu chọn tạo giống lúa bằng ph−ơng pháp lai hữu tính, Luận án phó tiến sĩ KH Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nghiên cứu chọn tạo giống lúa bằng ph−ơng pháp lai hữu tính
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Năm: 1994
24. Nguyễn Văn Hoan (1994), “ĐH60 giống lúa quốc gia mới cho vùng đất khó khăn”, Tạp chí NN và CNTP, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐH60 giống lúa quốc gia mới cho vùng đất khó khăn”, "Tạp chí NN và CNTP
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí nh− sau: - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Sơ đồ b ố trí nh− sau: (Trang 42)
Bảng 4.1 Các yếu tố khí hậu thời tiết tỉnh Bắc Giang trong 5 năm qua  Nhiệt độ ( 0 C) L−ợng m−a (mm) - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.1 Các yếu tố khí hậu thời tiết tỉnh Bắc Giang trong 5 năm qua Nhiệt độ ( 0 C) L−ợng m−a (mm) (Trang 50)
Bảng 4.2 Các yếu tố khí hậu thời tiết tỉnh Bắc Giang năm 2003  Nhiệt độ ( 0 C) L−ợng m−a (mm) - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.2 Các yếu tố khí hậu thời tiết tỉnh Bắc Giang năm 2003 Nhiệt độ ( 0 C) L−ợng m−a (mm) (Trang 51)
Bảng 4.4 Cơ cấu giống lúa tỉnh Bắc Giang  T.T  Tên - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.4 Cơ cấu giống lúa tỉnh Bắc Giang T.T Tên (Trang 56)
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản l−ợng lúa Mùa huyện Tân Yên - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản l−ợng lúa Mùa huyện Tân Yên (Trang 58)
Bảng 4.6  Cơ cấu giống vụ mùa của huyện Tân Yên - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.6 Cơ cấu giống vụ mùa của huyện Tân Yên (Trang 59)
Bảng 4.7. Cơ cấu giống lúa mùa muộn huyện Tân Yên - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.7. Cơ cấu giống lúa mùa muộn huyện Tân Yên (Trang 61)
Bảng 4.9  Thời gian sinh tr−ởng của các giống thí nghiệ  Tên - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.9 Thời gian sinh tr−ởng của các giống thí nghiệ Tên (Trang 65)
Bảng 4.10.  Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.10. Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây (Trang 68)
Đồ thị 4.1: Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây ở T1 - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
th ị 4.1: Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây ở T1 (Trang 69)
Đồ thị 4.2: : Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây ở T2 - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
th ị 4.2: : Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây ở T2 (Trang 69)
Bảng 4.12. Động thái đẻ nhánh của các giống thí nghiệm (nhánh/khóm)  Ngày theo dõi - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.12. Động thái đẻ nhánh của các giống thí nghiệm (nhánh/khóm) Ngày theo dõi (Trang 71)
Đồ thị 4.3: Động thái đẻ nhánh của các giống thí nghiệm  ở T1 - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
th ị 4.3: Động thái đẻ nhánh của các giống thí nghiệm ở T1 (Trang 73)
Bảng 4.13 Tốc độ đẻ nhánh của các giống thí nghiệm (nhánh/ tuần)  Kú theo dâi - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.13 Tốc độ đẻ nhánh của các giống thí nghiệm (nhánh/ tuần) Kú theo dâi (Trang 74)
Bảng 4.14 Mức độ sâu bệnh hại của các giống thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa ngắn ngày trong vụ mùa muộn trên đất luân ca
Bảng 4.14 Mức độ sâu bệnh hại của các giống thí nghiệm (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w