TẠ THỊ DUNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRONG VỤ HÈ THU VÀ XUÂN HÈ TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 1TẠ THỊ DUNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRONG VỤ HÈ THU VÀ XUÂN HÈ TẠI HUYỆN
TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TẠ THỊ DUNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRONG VỤ HÈ THU VÀ XUÂN HÈ TẠI HUYỆN
TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU Ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG TRUNG DŨNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố Mọi trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, ngày 16 tháng 9 năm 2015
Tác giả
Tạ Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường đại học Nông lâm Thái
Nguyên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh
trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ hè thu
và xuân hè tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của
bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều tập thể và cá
nhân Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS Dương Trung Dũng, với
cương vị người hướng dẫn khoa học, đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu
và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chi cục thống kê huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, cảm ơn Cục Thống kê và Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Lai Châu trong việc cung cấp tài liệu và thông tin liên quan đến đề tài, bố trí thí nghiệm đồng ruộng Trong quá trình hoàn thành luận văn em cũng nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và cán bộ, nhân viên của khoa Nông Học, Phòng quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nhân dịp này cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quý thầy cô và tập thể Khoa, Phòng đã tạo điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Thường vụ Huyện ủy Tam Đường, cơ quan Hội Nông dân huyện Tam Đường, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình
đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn của mình
Thái nguyên, ngày 16 tháng 9 năm 2015
Tác giả
Tạ Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Giới hạn của đề tài 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 11
1.3 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.3.1 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới 14
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 21
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
Trang 62.4.1 Điều tra điều kiện thời tiết khí hậu của huyện Tam Đường 31
2.4.2 Thí nghiệm đồng ruộng 31
2.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm tại huyện Tam Đường (Vụ hè thu năm 2014 và vụ xuân hè năm 2015) 38
3.1.1 Thời gian sinh trưởng của các giống 38
3.1.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 46
3.2 Một số đặc điểm sinh lý của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 50
3.2.1 Chỉ số diện tích lá 50
3.2.2 Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 52
3.2.3 Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương thí nghiệm vụ hè thu 2014 và xuân hè năm 2015 53
3.3 Tình hình một số sâu hại và khả năng chống đổ của các giống đậu tương thí nghiệm 56
3.3.1 Tình hình một số sâu hại 56
3.3.2 Khả năng chống đổ của các giống đậu tương thí nghiệm 58
3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm 59
3.4.1 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm 59
3.4.2 Năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 73
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AICRPS The All India Coordinated Research Project on soybean
(Dự án phối hợp nghiên cứu đậu tương của ấn độ) AVRDC Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á
FAO Food and Agriculture Ogranization
(Tổ chức nông lương thế giới)
IITA Viện Quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
KNTLVCK Khả năng tích lũy vật chất khô
NRCS National Research Center for Soybean
(Trung tâm nghiên cứu đậu tương của thế giới) NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
RADP Random Amplified Polymorphic DNA
(Đa hình AND nhân bản ngẫu nhiên)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới 8
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam 11
Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm trong vụ hè thu năm 2014 và xuân hè năm 2015 39
Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 46
Bảng 3.3 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm 51
Bảng 3.4 Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu tương thí nghiệm 52
Bảng 3.5 Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương 55
Bảng 3.6 Một số sâu hại chính của các giống đậu tương thí nghiệm 57
Bảng 3.7 Khả năng chống đổ của các giống đậu tương thí nghiệm 59
Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm 61
Bảng 3.9 Năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 63
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ diến biến năng suất lý thuyết vụ hè thu và vụ xuân 64Biểu đồ 3.2 Biểu đồ năng suất thực thu vụ hè thu và vụ xuân 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) còn gọi là cây đậu nành là cây
công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc gia cầm, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, y học và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Ngoài ra đậu tương còn là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây trồng cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [8]
Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hydrat các bon từ 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S quan trọng cho sự sống (Phạm Văn Thiều, 2006) [23] Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit Protein của đậu tương không những có hàm lượng cao mà có đầy đủ và cân đối các amin cơ bản Isolơxin, lơxin, metionin, phenilalanin và axit amin không thay thế lysin, triptophan Chính vì vậy mà đậu tương được coi là nguồn thực phẩm cung cấp protein hoàn chỉnh cho con nguời và cho gia súc Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 - 70%), có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như axit linoleic, axit oleic, axit lonolenoic Ngoài ra trong hạt
đậu tương còn có nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt
là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [23]
Ngoài ra, cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, góp phần tăng năng suất các cây trồng khác Điều này có được là do hoạt động cố định N2
của loài vi khuẩn Rhizobium japonicum cộng sinh trên rễ cây họ đậu Thân lá
đậu tương được dùng làm thức ăn cho gia súc và làm phân xanh cải tạo đất rất
tốt Các nghiên cứu cho thấy, sau một vụ trồng đậu tương đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 - 80 kg N/ha, tương đương 300 - 400 kg đạm Sunphat (Chu Văn Tiệp, 1981) [24]
Trang 11Trong lĩnh vực y học, đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu nành sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch Hạt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột Prôtêin đậu tương dễ tiêu hóa hơn prôtêin thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ
em và người già Ngoài ra, chất lixithin trong đậu tương có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể (Phạm Văn Thiều, 2006) [23]
Với giá trị cao như vậy nên đậu tương hiện là một trong năm cây trồng quan trọng trên thế giới cùng với lúa mỳ, lúa nước, ngô và cao lương
Ở Việt Nam đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái
trong cả nước Trong đó, vùng Trung du miền núi Phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất (69.425 ha) chiếm 37,10% tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,30 tạ/ha (Cục Trồng Trọt, 2006) [5] Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng
đến năng suất đậu tương ở Trung du miền núi thấp như chưa có bộ giống
tốt phù hợp, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa đảm bảo Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và biện pháp kỹ thuật là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương Kết quả điều tra giống năm 2003-
2004 của Cục Trồng Trọt (2006) [5] cho thấy: trung du miền núi Phía Bắc
là một trong ba vùng trồng nhiều giống đậu tương địa phương và ít giống mới nhất (37,5 - 38,4% diện tích trồng giống địa phương)
Lai Châu là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam có diện tích tự nhiên 9.070,19 km2, chiếm khoảng 2,74% tổng diện tích của cả nước [48] Với mục tiêu đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tập trung vào các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao trong đó có cây đậu tương Tuy nhiên, năng suất
đậu tương trong toàn tỉnh còn thấp năm 2008 đạt 9,13 tạ/ha, năm 2009 đạt
9,57 tạ/ha và năm 2010 đạt 16,67 tạ/ha Một trong những nguyên nhân dẫn
đến năng suất thấp là do người dân vẫn dùng giống địa phương, bộ giống đậu tương chưa phong phú
Trang 12Huyện Tam Đường có diện tích tự nhiên 82.843,7 ha, phía đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Tây và Nam giáp huyện Sìn Hồ, phía Bắc giáp huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu Là một huyện kinh tế trọng điểm, huyện cửa ngõ của tỉnh nên sản xuất nông nghiệp rất được huyện quan tâm và chú trọng
đầu tư Cây đậu tương là cây được tỉnh Lai Châu cũng như huyện Tam Đường đưa vào cơ cấu cây trồng tuy nhiên cũng chưa đạt hiệu quả mong
muốn, đặc biệt là năng suất vẫn còn rất thấp Điều này có thể do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là chưa có các giống tốt thích hợp với
điều kiện sinh thái, điều kiện sản xuất ở đây
Xuất phát từ thực tế trên nhằm góp phần xác định được bộ giống đậu tương tốt trên đất một vụ của huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển
và năng suất của một số giống đậu tương trong vụ hè thu và xuân hè tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống
đậu tương trong điều kiện vụ hè thu năm 2014 và xuân hè năm 2015 trên đất
một vụ tại huyện Tam Đường, Lai Châu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 13- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học để các nhà nghiên cứu về nông nghiệp, giáo viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo Đồng thời đây cũng là cơ sở để bổ sung thêm những tài liệu khoa học
về cây đậu tương phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chỉ đạo sản xuất tại Tam Đường nói riêng và tỉnh Lai Châu nói chung
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài đã xác định được các yếu tố hạn chế và triển vọng phát triển sản xuất đậu tương ở huyện Tam Đường
- Giới thiệu giống đậu tương mới năng suất cao đem lại hiệu quả kinh
tế cao hơn, tăng thu nhập cho nông dân sản xuất đậu tương, kích thích phát triển sản xuất đậu tương ở huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
4 Giới hạn của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và khả
năng chống chịu của bẩy giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu năm 2014
và xuân hè năm 2015 tại huyện Tam Đường, Lai Châu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Điều kiện ngoại cảnh có liên quan chặt chẽ tới cây trồng nói chung và
cây đậu tương nói riêng, nó ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển và hoạt động sinh lý, sinh hoá của cây Sự biểu hiện kiểu hình ra bên ngoài chính
là kết quả của sự tác động giữa kiểu gen với môi trường sống
Kiểu gen + môi trường → kiểu hình
Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu sự tác động của môi trường và điều kiện trồng trọt, song mức độ ảnh hưởng của môi trường lên các giống là không giống nhau Trong cùng một điều kiện trồng trọt, một số giống sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao trong khi đó một số giống khác lại sinh trưởng phát triển kém và cho năng suất thấp, thậm chí không tồn tại được hay không cho thu hoạch Sở dĩ như vậy vì chúng có những kiểu gen khác nhau
Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,
có rất nhiều phương pháp để chọn tạo giống cây trồng mới như: gây đột biến, lai hữu tính, phương pháp nhập nội Các giống được tạo ra chưa được phổ biến ra sản xuất ngay được mà cần phải được khảo nghiệm, so sánh, đánh giá
Do vậy công tác khảo nghiệm, so sánh, đánh giá giống là việc làm cần thiết không thể thiếu, đồng thời quyết định sự thành công của công tác chọn tạo giống
Những yếu tố về môi trường có thể bao gồm: Ảnh hưởng của đất, không khí, sinh vật Những điều kiện trong đất ảnh hưởng đến sinh trưởng cây là nước, không khí, cấu trúc đất, nhiệt độ đất, pH, chất độc, muối và thiếu chất khoáng Những yếu tố không khí gồm ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, gió, nồng độ CO2 và khí gây ô nhiễm Những yếu tố sống gồm cạnh tranh với cỏ và những cây trồng cùng giống, loài khác, sâu bệnh và tuyến trùng Tất
Trang 15cả những yếu tố ngoại cảnh này làm giảm năng suất thông qua việc gây ra những rối loạn sinh lý trong cây Trong hạn chế đề tài này chỉ đề cập ảnh hưởng do nhiệt độ, nước, ánh sáng
* Yêu cầu nhiệt độ
Trong quá trình sinh trưởng của đậu tương, nếu nhiệt độ biến động trên hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều, có thể gây thiệt hại đối với cây trồng Khả năng bị thiệt hại do nhiệt độ tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây
Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến nảy mầm và sinh trưởng của cây con, sương mù xuất hiện ảnh hưởng phát triển quả, trong đó nhiệt độ cao vào tháng
6, tháng 7 cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh lý cây Nhiệt độ cao thường kèm với khô hạn và bốc hơi nhiều
Deloyche J.C, (1953) [33], khi nghiên cứu sự nảy mầm của hạt đậu tương thấy rằng biên độ nhiệt độ để có thể nảy mầm là 50C - 400C, nhiệt độ tối ưu cho hạt nảy mầm là 300C
Theo Bùi Huy Đáp, (1961) [9], ở pha đầu (thời kỳ cây con) nhiệt độ có
ảnh hưởng đáng kể đến nhóm đậu tương chín sớm, ít mẫn cảm với quang chu
kỳ nhưng ít ảnh hưởng đến nhóm chín muộn Chiều cao của cây đậu tương tăng trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 17 - 230C, nhưng sự phát triển của rễ thuận lợi ở nhiệt độ 27,2 - 32,20C
Nhìn chung người ta chú ý đến ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự ra hoa, làm quả, phát triển hạt hơn so với ảnh hưởng của quang chu kỳ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của sự tương tác giữa hai yếu tố tới quá trình ra hoa và làm quả Thí nghiệm trên giống Ransom, trồng ở nhiệt độ ngày/đêm là 16/220C và 22/180C cho hoa và quả nhiều hơn ở nhiệt độ 30/260C và 18/140C Ở nhiệt độ 18/140C và 30/260C quả hình thành ít mặc dầu hoa ra rất nhiều, chứng tỏ nhiệt độ cao và thấp đã đẫn đến hoa rụng nhiều,
ở nhiệt độ trung bình, cây có nhiều đốt, hoa và số quả trên đốt Tương tự,
giống cảm quang ra hoa chậm cũng sinh nhiều đốt, cành, tăng số quả và năng suất ( theo Ngô Thế Dân và cs, 1999) [8]
Trang 16* Yêu cầu độ ẩm
Nước có vai trò quan trọng đối với cây đậu tương, nếu thừa nước sẽ gây tổn thương bộ rễ do thiếu không khí, thiếu nước cây bị héo hoặc năng suất giảm Nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, bao gồm cả về mặt sinh
lý, sinh hoá, hình thái và giải phẫu của cây dẫn đến làm giảm năng suất
Tổng lượng mưa cần cho một vụ đậu tương khoảng 370 - 450 mm trong điều kiện không tưới, còn nếu được tưới đầy đủ thì lượng nước tiêu thụ của đậu tương lên đến 670 - 720 mm (Judy W.H và Jackobs J.A, 1979) [37]
* Yêu cầu về ánh sáng:
Toàn bộ năng lượng đi vào cây trồng phụ thuộc một phần vào cường độ quang hợp tối đa trên đơn vị diện tích lá và một phần vào sự hấp thụ bức xạ hoạt tính quang hợp (PAR - Photosynthe - tically active radiation) của toàn bộ diện tích lá Cường độ quang hợp tối đa phụ thuộc vào tuổi và hàm lượng Nitơ ở lá, trạng thái nước, nhiệt độ và nồng độ CO2. Sự hấp thụ bức xạ hoạt tính quang hợp (PAR) bị ảnh hưởng bởi mật độ bức xạ trên tán cây và sự phân bổ của nó trong tán cây Ở điều kiện ngoài đồng ruộng, hầu hết bức xạ
được tiếp nhận bởi những lá nằm ở bề mặt ngoài của tán cây (Ngô Thế Dân
và cộng sự, 1999) [8]
Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, có phản ứng chặt chẽ với độ dài
ngày, cây sẽ ra hoa khi độ dài ngày ngắn hơn trị số giới hạn của giống Các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau, giống chín muộn phản
ứng chặt chẽ với độ dài chiếu sáng hơn giống chín sớm
Khi nghiên cứu phản ứng quang chu kỳ của cây đậu tương biểu hiện trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thì sẽ rút ngắn thời gian từ mọc đến ra hoa và thời gian phân hoá mầm hoa, dẫn tới làm giảm tích luỹ chất khô và giảm số lượng hoa Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thời gian sinh trưởng không bị ảnh hưởng nhưng khối lượng chất khô toàn cây giảm (Nguyễn Văn Luật, 1979) [20]
Trang 17Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, (1996) [21], các giống đậu tương ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm chín sớm, nhóm chín trung bình và nhóm chín muộn, nhóm chín sớm ít phản ứng với độ dài ngày nên ra hoa và chín gần như nhau ở cả 3 thời vụ là vụ xuân, vụ hè và vụ đông
Sự chênh lệch về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữa các vùng trồng, do đó nó phản ứng khá chặt với độ dài chiếu sáng
Sự cố định Nitơ và lượng chất khô cũng như nhiều đặc tính khác lại phụ thuộc vào quang hợp (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996) [21]
1.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là một trong những cây trồng cổ nhất của nhân loại Cách đây 5.000 năm, những người nông dân Trung Quốc đã biết trồng đậu tương
Từ Trung Quốc cây đậu tương đã được mang đi trồng ở nhiều nơi trên thế giới, đến nay đậu tương trở thành một trong những cây lấy dầu và cây làm lương thực thực phẩm quan trọng trên thế giới chỉ đứng sau lúa mỳ, lúa nước
và ngô Do vậy sản xuất đậu tương trên thế giới tăng rất nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 18Số liệu tại bảng trên cho thấy, diện tích trồng đậu tương trên thế giới liên tục tăng qua các năm từ năm 2000-2013, năm 2000 cả thế giới trồng được 74,36 triệu ha thì đến năm 2013 diện tích trồng đậu tương đã tăng lên 111,48 triệu ha, tăng 1,5 lần so với năm 2000 Năng suất đậu tương bình quân chung cả thế giới
từ 2000 - 2013 đạt 21,69-25,79 tạ/ha, năm 2000 đạt thấp nhất là 21,69tạ/ha, năm
2010 đạt cao nhất là 25,79 tạ/ha, năm 2013 năng suất giảm còn 24,75 tạ/ha
Sản lượng đậu tương trên thế giới cũng được tăng lên nhanh chóng cùng với sự tăng lên về diện tích và năng suất Sản lượng đậu tương bình quân chung cả thế giới từ 2000-2013 đạt 161,298 - 276,032 triệu tấn, năm
2000 đạt thấp nhất là 161,298 triệu tấn, tăng dần qua các năm và đạt cao nhất vào năm 2013 đạt 276,032 triệu tấn tăng hơn 1,7 lần so với năm 2000
Đậu tương được trồng phổ biến ở Đông Nam Á, Bắc và Nam Mỹ
Quê hương của đậu tương là Đông Nam Châu Á, nhưng tình hình sản xuất
đậu tương ở Châu Á đứng thứ hai sau Châu Mỹ cả về diện tích, năng suất
và sản lượng
Trên thế giới, sản xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở các nước như:
Mỹ, Braxin, Trung Quốc và Argentina Trước năm 1970, chỉ có các nước Mỹ
và Trung Quốc là hai nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới Tốc độ phát triển đậu tương ở Mỹ nhanh hơn ở Trung Quốc Sản lượng đậu tương của Mỹ trên thế giới tăng từ 60% năm 1960 lên đỉnh cao là 75% năm 1969, trong khi sản lượng đậu tương của Trung Quốc giảm từ 32% xuống 16% trong cùng thời kỳ Hiện nay, Mỹ vẫn là quốc gia sản suất đậu tương đứng đầu thế giới với 45% diện tích và 55% sản lượng Braxin là nước đứng thứ 2 ở châu Mỹ
và cũng đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương Năm
2000, Braxin sản xuất đậu tương chiếm 18,5% về diện tích và 20,1% về sản lượng trên thế giới Năm 2009 diện tích trồng đậu tương của Braxin 21,75 triệu ha, sản lượng đậu tương đạt 57,34 triệu tấn và năm 2010 diện tích là 23,29 triệu ha, sản lượng đạt 68,52 triệu tấn chiếm 26,2% sản lượng đậu tương của thế giới [43]
Trang 19Trung Quốc là nước đứng thứ 4 trên thế giới về sản xuất cây trồng này
Ở Trung Quốc, đậu tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, nơi này có
những điển hình năng suất cao, đạt tới 83,93 tạ/ha đậu tương hạt trên diện tích 0,4 ha và 49,6 tạ/ha trên diện tích 0,14 ha Năm 2000, Trung Quốc sản xuất
đậu tương chiếm 12,5% về diện tích và 9,6% về sản lượng trên thế giới Năm
2009 diện tích trồng đậu tương của Trung Quốc 9,19 triệu ha, sản lượng đậu tương đạt 14,98 triệu tấn và năm 2010 diện tích là 8,52 triệu ha, sản lượng đạt 15,08 triệu tấn chiếm 5,8% sản lượng đậu tương của thế giới [43]
Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 101 nước trồng đậu tương nhưng không phải tất cả đều cung cấp đủ nhu cầu đậu tương trong nước, phần lớn các nước đều phải nhập khẩu đậu tương Châu Á là châu lục có nhiều nước sản xuất đậu tương nhất, nhưng sản lượng cũng chỉ mới đáp ứng được khoảng 1/2 nhu cầu cho các nước ở châu lục này Vì vậy hàng năm các nước Châu Á vẫn phải nhập khẩu khoảng hơn 8 triệu tấn hạt đậu tương, 1,5 triệu tấn dầu, 1,8 triệu tấn sữa đậu nành Trong đó các nước nhập khẩu đậu tương nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc Theo Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) năm
2009 Trung Quốc nhập khẩu 41,1 triệu tấn chiếm khoảng 40,31% trên toàn thế giới Trong thập niên tới, Trung Quốc là nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, sẽ tăng mua đậu tương lên 62% ở mức 90 triệu tấn Năm 2011 Trung Quốc nhập khẩu từ Mỹ 20,6 triệu tấn và dự kiến niên vụ 2011-2012 Trung Quốc sẽ nhập nhập 55,5 triệu tấn [47]
Quốc gia đảm bảo đủ nhu cầu đậu tương trong nước và có để xuất khẩu phải kể đến các nước thuộc Châu Mỹ Đứng đầu và chiếm thị trường xuất khẩu đậu tương chủ yếu của toàn thế giới là Mỹ Theo Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA), năm 2009 Mỹ xuất khẩu 34,43 triệu tấn đậu tương chiếm khoảng 45% lượng đậu tương xuất khẩu trên toàn thế giới, sau đó đến Braxin xuất khẩu trong năm đạt 29,99 triệu tấn chiếm khoảng 35% tổng lượng đậu tương xuất khẩu trên toàn thế giới
Trang 201.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Đậu tương là cây trồng lâu đời ở Việt Nam, nhân dân ta đã biết trồng và
sử dụng đậu tương từ hàng nghìn năm nay Tuy nhiên trước đây việc sản xuất
đậu tương chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc như
Cao Bằng, Lạng Sơn Sau năm 1973 sản xuất đậu tương nước ta mới có bước phát triển đáng kể Diện tích bình quân thời kỳ 1985 - 1993 đạt 106 nghìn ha, tăng gấp 2 lần so với thời kỳ 1975 - 1980, năng suất bình quân tăng từ 500 kg/ha lên 780 - 900 kg/ha (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, (1996) [21]
Theo Ngô Thế Dân và cs, (1999) [8], Phạm văn Thiều (2006) [23] đậu tương được trồng ở nước ta từ rất sớm Tuy nhiên trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 diện tích trồng đậu tương còn ít mới đạt 32.000 ha (1944), năng suất thấp 4,1 tạ/ha Sau khi đất nước thống nhất (1976) diện tích trồng
đậu tương bắt đầu được mở rộng 39.400 ha và năng suất đạt 5,3 tạ/ha Trong
những năm gần đây, cây đậu tương phát triển khá nhanh cả về diện tích lẫn năng suất Tình hình sản xuất đậu tương của nước ta trong những năm gần
đây được trình bày qua bảng 1.2
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 21Số liệu cho thấy diện tích trồng đậu tương của nước ta năm 2000 là 124,10 nghìn ha, tăng dần qua các năm và đạt cao nhất vào năm 2005 là 204,10 nghìn ha, sau đó diện tích trồng đậu tương giảm xuống còn 185,60 nghìn ha vào năm 2006, đến năm 2013 diện tích trồng đậu tương chỉ còn 117,19 nghìn ha Như vậy có thể thấy những năm gần đây diện tích trồng đậu tương giảm đáng kể
Năng suất đậu tương từ năm 2000-2013 đạt từ 12,03-15,01 tạ/ha, tăng liên tục qua các năm đến năm 2005 đạt 14,34 tạ/ha, giảm nhẹ vào năm 2006 rồi tiếp tục tăng và năm 2010 đạt cao nhất là 15,01 tạ/ha, năm 2013 năng suất
đậu tương bình quân cả nước chỉ đạt 14,36 tạ/ha
Sản lượng đậu tương từ năm 2000-2013 đạt từ 149,3-298,6 nghìn tấn Năm 2000 tổng sản lượng đậu tương cả nước là 149,30 nghìn tấn, đến năm
2010 tăng lên đạt sản lượng cao nhất là 298,60 nghìn tấn và năm 2013 tổng sản lượng lại giảm xuống còn đạt 168,3 nghìn tấn
Như vậy, năng suất đậu tương ở Việt Nam cao hơn so với trung bình chung ở châu Á, nhưng lại thấp hơn so với thế giới, năng suất đậu tương ở nước ta mới chỉ đạt khoảng 60% so với trung bình chung toàn thế giới Cho nên, với mục tiêu tăng sản lượng đậu tương trong nước trong những năm tới, giảm nhập khẩu đậu tương, các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu các giống đậu tương cao sản mới để tìm ra giống có năng suất cao, chi phí sản xuất thấp Năm 2011, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt đậu tương là một trong ba cây trồng chuyển gen trên cánh đồng thí nghiệm, trong
đó việc phát triển giống đậu tương Bt rất được quan tâm [46]
Theo số liệu thống kê chính thức của Chính phủ thì đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực
đồng bằng sông Hồng Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả
nước vào từng thời điểm khác nhau nên có cả vụ xuân, vụ hè và vụ đông [46]
Trang 22Đậu tương là cây trồng có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh
thái khác nhau, đối với đất bạc màu và khô hạn thì cây đậu tương cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác Đồng thời nó cũng đóng góp rất lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải tạo đất đai, cải tạo môi trường Theo Ngô Thế Dân và cộng sự, (1999) [8] cả nước đã hình thành 7 vùng sản xuất
đậu tương Trong đó, diện tích trồng đậu tương lớn nhất là vùng trung du
miền núi phía Bắc chiếm 37,10% diện tích gieo trồng cả nước, tiếp theo là vùng đồng bằng sông Hồng với 27,21% Năng suất đậu tương cao nhất nước
ta là vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt bình quân 22,29 tạ/ha vụ Đông xuân
và 29,71 tạ/ha vụ mùa Vùng trung du miền núi phía Bắc nơi có diện tích trồng đậu tương lớn nhất nước ta lại là nơi có năng suất thấp nhất, chỉ đạt trên
10 tạ/ha Theo Lê Quốc Hưng, (2007) [14], nước ta có tiềm năng rất lớn để
mở rộng diện tích trồng đậu tương ở cả 3 vụ, vụ Xuân, Hè, Đông với diện tích
có thể đạt được 1,5 triệu ha, trong đó miền núi phía Bắc khoảng 400 nghìn ha
Theo Nguyễn Chí Bửu và CTV, (2005) [3], cả nước năm 2003 có 78 giống đậu tương được gieo trồng, trong đó có 13 giống chủ lực với diện tích gieo trồng khoảng trên 1.000 ha được phân bố như sau: DT84, bông trắng (>10.000 ha); MTĐ176, 17A (5.000 - 10.000 ha); AK03, ĐT12, Nam Vang,
ĐH4, V74, AK05, VX93 (1.000 - 5.000 ha) Cũng theo các tác giả trên, 7
giống được công nhận chính thức giai đoạn 2001 - 2004 đã được gieo trồng trên diện tích 7.097 ha và làm tăng sản lượng lên 944 tấn, đem lại thu nhập cho sản xuất nông nghiệp là 4,8 tỷ đồng
Theo Cục xúc tiến thương mại nhập khẩu đậu tương trong những năm gần đây tăng là do nhu cầu trong nước về thực phẩm cũng như thức ăn chăn nuôi tăng mạnh Năm 2010 nước ta nhập khẩu hơn 227.000 tấn đậu tương, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch nhập khẩu đậu tương năm
2010 đạt 106 triệu USD, gần bằng mức kỷ lục 107 triệu USD năm 2008
Trang 23Khoảng 78% đậu tương được nhập khẩu từ Hoa Kỳ; 22% còn lại là từ Canada, Trung Quốc, Argentina, Uruguay và một số nước khác [46]
1.3 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới
Ngày nay mục tiêu của các nhà chọn giống là chọn tạo ra những giống
đậu tương mới có năng suất cao, chất lượng tốt, mang các đặc tính chống chịu
tốt và kháng được nhiều loại sâu bệnh hại
Với mục tiêu tạo cơ sở cho việc cải tiến giống đậu tương ở Bắc Mỹ thì Brown-Guedira và cộng sự đã nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa 18 giống tổ tiên chính của quỹ gen ở Bắc Mỹ với 87 giống nhập nội (Pl) Kết quả cho thấy nhóm Pl khác nhau rõ rệt về thời gian sinh trưởng so với nhóm tổ tiên và nhóm Pl có thể có ích cho các nhà chọn giống đậu tương [4]
Mỹ là nước luôn đứng đầu về năng suất, sản lượng đậu tương và cũng
là quốc gia có nhiều thành tựu trong chọn tạo giống đậu tương, kết quả đã tạo ra nhiều giống mới Năm 1893, Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập từ các nước trên thế giới Mục tiêu của công tác chọn tạo giống đậu tương của Mỹ là chọn ra những giống có khả năng thâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H W and Bernard R L.,1976) [36] Năm 2009 các nhà khoa học của Mỹ đã nghiên cứu thành công hệ gen của cây đậu tương Bộ gen có hơn 46.000 gen, trong
đó có 1.110 gen có liên quan đến quá trình tổng hợp lipid Đặc biệt, các nhà
nghiên cứu tìm thấy bằng chứng của hai trường hợp bộ gen trùng lắp riêng biệt, một trong khoảng 59 triệu năm trước và một khoảng 13 triệu năm trước đây, kết quả là một sự chép lại nhân đôi bộ gen với gần 75% các gen hiện diện trong nhiều bản sao Hệ Genome cho phép các nhà nghiên cứu xác
định một gen cung cấp tính kháng với bệnh gỉ sắt đậu tương châu Á [39]
Bên cạnh đó chọn tạo giống đậu tương mới theo hướng năng suất cao, chống
Trang 24chịu sâu bệnh hại cũng được các nhà khoa học tại Mỹ quan tâm Bằng các
kỹ thuật của công nghệ sinh học (chuyển gen, kỹ thuật phân tử, dung hợp tế bào trần, tái tổ hợp…) và đột biến, các nhà khoa học Mỹ đã chọn tạo thành công các giống đậu tương mới có năng suất, chất lượng và chống chịu với
điều kiện bất lợi của môi trường Cụ thể, như giống đậu tương kháng được
với thuốc cỏ Glyphosate Tương tự, tại Úc đã áp dụng kỹ thuật công nghệ tế bào để phân lập được gen chịu hạn thành công
Theo Brown D M (1960) [32], Ấn Độ khi tiến hành khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại trường đại học tổng hợp Pathaga Tổ chức AICRPS (The All India Coordinated Research Project on Soybean) và NRCS (National Research Center for Soybean) đã tập trung nghiên cứu và đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát hiện những giống chống chịu cao với bệnh khảm virus
Theo Kamiya và cs, (1998)[34]: Viện tài nguyên sinh học Nông nghiệp Quốc gia Nhật Bản hiện đang lưu giữ khoảng 6.000 mẫu giống đậu tương khác nhau, trong đó có 2.000 mẫu giống đậu tương nhập từ nước ngoài về phục vụ cho công tác chọn tạo giống Hiện nay, nguồn gen đậu tương được lưu giữ chủ yếu ở 15 nước trên thế giới: Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Pháp, Nigeria, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ và Liên Xô (cũ) với tổng số 45.038 mẫu [18]
Trong những năm gần đây Trung Quốc đã tạo ra nhiều giống đậu tương mới như: giống Trung Chi số 8, năng suất tiềm năng có thể đạt từ 30-45 tạ/ha, thích ứng cho vùng Hồ Bắc Giống Trung Đậu 29 được chọn tạo từ tổ hợp 78-141/merit kết hợp đột biến bằng tác nhân vật lý có tỷ lệ quả 4 hạt cao, tiềm năng năng suất 26-37 tạ/ha Đặc biệt bằng phương pháp đột biến thực nghiệm
đã tạo ra giống Tiefeng 18 do xử lý bằng tia gamma có khả năng chịu được
phèn cao, không đổ, năng suất cao, phẩm chất tốt Giống Heinoum N06, Heinoum N016 xử lý bằng tia gama có hệ rễ tốt, lóng ngắn, nhiều cành, chịu
Trang 25hạn, khả năng thích ứng rộng Đài Loan bắt đầu chương trình chọn tạo giống
đậu tương từ năm 1961 và đã đưa vào sản xuất các giống Kaoshing 3, Tai
nung 3, Tai nung 4 cho năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ quả không bị nứt Đặc biệt giống Tai nung 4 được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác nhau như trạm thí nghiệm Major (Thái Lan), Trường Đại học Philipine [13]
Năm 1973, thí nghiệm quốc tế về đánh giá giống đậu tương thế giới (ISVEX) lần thứ nhất đã tiến hành với qui mô là 90 điểm thí nghiệm được bố trí ở 33 nước đại diện cho các đới môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong phạm vi địa điểm thí nghiệm từ xích đạo đến vĩ tuyến 300 và độ cao dưới 500m, năng suất trung bình và trọng lượng hạt giảm khi vĩ tuyến tăng Tuy vậy, chiều cao cây không đạt mức tối ưu ở tất cả các đới Mức đổ cây giảm khi vĩ tuyến tăng Mức tách quả rụng hạt đều không nặng ở tất cả các đới [11]
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean - Evaluation trial - Aset) giai đoạn 1 đã phân phát được trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 nước Nhiệt Đới
và Á Nhiệt Đới Kết quả đánh giá giống của Aset với các giống đậu tương là
đã đưa vào trong mạng lưới sản xuất được 21 giống ở trên 10 quốc gia [25]
Theo M.F.A.Malik, A.S Qureshi, M.R Khan, M.Ahrat, 2009 khi nghiên cứu về đa dạng di truyền của các mẫu giống đậu tương có nguồn gốc khác nhau (từ 5 nước Pakistan, Mỹ, AVRDC, Nhật Bản và Bắc Triều Tiên) bằng sử dụng chỉ thị RADP, đã kết luận: đa dạng di truyền giữa kiểu gen đỗ tương Pakistan có thể có ích cho các nhà chọn giống lai tạo trong các chương trình chọn giống và mở rộng nền tảng di truyền Dự án hợp tác nghiên cứu giữa Nhật Bản và Trung Quốc về nguồn gen đậu tương từ năm 2001- 2003 đã
đánh giá 3012 cho thấy nguồn gen đậu tương của vùng Đông Bắc Trung Quốc
có sự đa dạng lớn và tiềm năng lớn làm vật liệu chọn tạo giống [22] và khi
đánh giá khả năng chịu úng giai đoạn làm hạt và nhận biết mẫu giống đậu
Trang 26tương bản địa và mẫu giống đậu tương sản xuất ở Châu Á, thì nhóm nghiên cứu ở Đại học Nông nghiệp Nam Ninh, Trung Quốc đã thực hiện trên tổng
350 giống đã được công nhận ở Trung Quốc và 15 nước Châu Á khác cho mục đích chọn giống Kết quả cho thấy mức độ chịu úng của quần thể các giống đậu tương đã được công nhận ở Châu Á tương đương với giống bản địa của Trung Quốc nhưng thấp hơn quần thể đậu tương hoang dại Trung Quốc Bốn giống đậu tương chịu úng tốt đã được sàng lọc và sử dụng để mở rộng nền di truyền trong lai tạo chọn giống chịu úng của Trung Quốc [22]
Theo kết quả nghiên cứu của Desclaux, D, Huynh, T.T và Roumet, P [8] thì thời điểm bị khô hạn của đậu tương có thể nhận biết bằng các đặc tính hình thái Khi nghiên cứu các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn và vô hạn trồng trong điều kiện nhà lưới và thử ở hai mức khô hạn (30 và 50% lượng nước sẵn có) vào giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (V4-R), ra hoa (R1-3), phát triển quả (R3-5) hay đẫy hạt (R5) cho thấy: Độ dài trung bình của lóng là yếu tố nhạy cảm với khô hạn nhất trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và
ra hoa Có sự khác biệt rõ về chiều cao cây ở giống sinh trưởng hữu hạn giữa các giai đoạn bị hạn khác nhau, trong đó chiều cao cây thấp hơn khi bị hạn ở giai đoạn V4-R Số quả trên đơn vị chất khô chịu ảnh hưởng rõ bởi khô hạn trong giai đoạn phát triển quả, hạn vào đầu giai đoạn R5 làm giảm số hạt/quả, còn vào cuối R5 lại làm giảm trọng lượng hạt
Sàng lọc trong nhà lưới và kiểm tra trên đồng ruộng 21 kiểu gen đậu tương có nguồn gốc từ Đông Nam Á về khả năng chịu úng, các nhà nghiên cứu Việt Nam và Mỹ đã chọn ra được ba kiểu gen đậu tương chịu úng là DVN2, Nam Vang và ATF15-1 Các dòng đậu tương này cung cấp nguồn di truyền mới để cải tiến di truyền đậu tương chịu úng
Thái Lan với sự phối hợp giữa MOAC và CGPRT nhằm cải tiến giống
có năng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính (gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn ) đồng thời có khả năng chịu được chất đất mặn, chịu được hạn hán và ngắn ngày (Judy W H and Jackobs J A., 1979) [37]
Trang 27Kết quả nghiên cứu của V.Kumar, A.Rani,L.Goyla, D.Pratap, S.D.Billore, A.Dxit, 2009, sàng lọc 344 dòng đậu tương về khả năng chịu nóng trong điều kiên phòng thí nghiệm bằng kỹ thuật phản ứng với cảm ứng nhiệt (TIR) đã chọn ra được 10 dòng đậu tương chịu nhiệt Các dòng này
được đánh giá khả năng chịu hạn và hình thái rễ dưới điều kiện được điều
khiển Hai dòng PK- 34 và KB- 79 cho triển vọng về chịu hạn có rễ to và dài
Các nhà nghiên cứu tại chi nhánh DuPont thuộc Pioneer Hi-Bred International Inc, nhận thấy sản lượng các giống đậu tương mang thương hiệu Pioneerđ được phát triển nhờ các marker di truyền thích hợp đã giúp sản lượng tăng nhanh gấp 3 lần so với sản lượng trung bình của các giống do Bộ nông nghiệp Mỹ tạo chọn Các giống được phát triển nhờ marker phân tử có sản lượng tăng tới 1,4 tạ/mẫu/một năm trong khi các giống của Pioneer không
được phát triển bởi công cụ marker phân tử chỉ làm tăng sản lượng là 0,5
tạ/mẫu/năm Mặt khác, các dữ liệu về sản lượng đậu tương của USDA cho thấy sản lượng tăng bình quân 0,4 tạ/mẫu/năm Như vậy, các công cụ marker phân tử có tiềm năng to lớn trong việc đẩy nhanh mức tăng sản lượng của đậu tương Họ đang tiến một bước dài trong việc giúp các nhà sản xuất cung cấp
đủ đậu tương làm thực phẩm, nhiên liệu và các ứng dụng khác trong công
nghiệp Chọn giống bằng marker phân tử cho phép các nhà chọn giống tìm kiếm trên các cây trồng các gen có thể làm tăng đáng kể sản lượng và sự ổn
định Chỉ có các cây trồng có các đặc tính mong muốn là được sử dụng để
phát triển các sản phẩm mới [38]
Nghiên cứu của Osvaldo T Hamwaki, Cristiane D.L Hamwaki, Larissa Barbosa de Sousa, Marcela Cristina G Cunha, 2009, về các đặc
điểm chiều cao cây ở các thời kỳ ra hoa, chín, hình thành quả đầu tiên, số
ngày ra hoa, số ngày quả chín, năng suất của các dòng đậu tương lai Hai dòng đậu tương cho năng suất cao nhất, cao hơn đối chứng đang sản xuất thương mại là UFU-518 (4300,3 kg/ha) và dòng UFU-513 (3810,2 kg/ha) và
Trang 28kết quả nghiên cứu của Zhang Haisheng, Wu Julan, Li Xiuzhen, Zhangxinxin, Gou Jianfang, 2009 Viện di truyền và chọn giống cây trồng thuộc Viện hàn lâm khoa học Nông nghiệp Sơn Tây, Trung Quốc đã lai tạo
và chọn lọc ra giống đậu tương Jiny No.30 vừa có năng suất cao và có chất lượng tốt Giống đậu tương này là con Jindou No.19 với giống bố có hàm lượng Protein cao Jindou No.11 Năng suất trung bình hai năm (2001-2002)
ở các khảo nghiệm trong vụ xuân muộn tại một vùng phía bắc Trung Quốc đạt 3,26 tấn/ha tăng 9,8% so với giống đối chứng Kaiyu No.10, và đứng đầu
tiên trong 75 giống ở 83 điểm khảo nghiệm của 9 nhóm trong 4 vùng khảo nghiệm Quốc gia rộng lớn Năng suất cao nhất đã đạt đến 5,34 tấn/ha, tăng 18,2% so với đối chứng tại điểm Akesu ở Tân Cương
Theo kết quả nghiên cứu của S.K.Dhapke, R.S.Nadanwar, S.P Patil, 2009
và Y.M.Ji, C.L.Zhang,J Wu, R.L Chen, H Jao, 2009 cho thấy gây đột biến bằng tia gamma các liều khác nhau với giống đậu tương JS-93-05 thì các nhà khoa học Ấn Độ đã tạo ra nhiều dòng đậu tương Qua sàng lọc các dòng này đã chọn ra được giống triển vọng AMS-39 có năng suất cao nhất 29g/cây, có 155 qủa/cây, có nhiều cành 6 cành/cây và thời gian sinh trưởng ngắn 78 ngày
Theo nghiên cứu của L.Z Wang, R.J.Zhao, X.G.Ye, Y.Q.Fu, Q.S Yan, Q.Li, 2009) Lai tạo giống đậu tương siêu cao sản tại Trung Quốc đã chọn ra
được những giống có năng suất cao như Xindadou No.11 (5956,2kg/ha) tại
Tân Cương 1999, Zhong huang 35 (5577kg/ha) tại Shihezi, Tân Cương 2007, Zhonghuang 13 (4686kg/ha) tại Thiển Tây năm 2005 và (4835 kg/ha) tại Hà Nam năm 1999 Phân tích di truyền cho thấy sự tương quan có ý nghĩa (r = 0,56- 0,71) giữa khối lượng hạt và số quả trên cây với năng suất Các nhà chọn giống đã sử dụng các giống đậu tương có năng suất cao, số quả và số hạt trên cây nhiều và chống đổ tốt để lai tạo giống [22]
Trong những năm gần đây một số nước nông nghiệp tiên tiến đã ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống Đi đầu là Mỹ đã nghiên cứu thành
Trang 29công chuyển gen tạo ra vật liệu chọn giống ở đậu tương Úc đã áp dụng công nghệ tế bào để phân lập được gen chịu hạn thành công Theo Petre M Gresshoff, công nghệ sinh học và kiểu gen chức năng đồng hành với sinh lý học, sinh học và chọn tạo giống để nghiên cứu cải tiến giống đậu tương nhiều hạt, chất lượng hạt cao và giá thành rẻ Trường đại học Qeensland, Úc đã cập nhật các công cụ nghiên cứu gen Nhiều QTLs điều khiển các cặp tính kháng bệnh, cấu trúc rễ, hàm lượng dầu và Protein đã được phát hiện liên kết với phân tử chỉ thị đồng trội cho phép chọn tạo giống thông minh Bản đồ phân tử
đậu tương đã được thiết lập ở tất cả các vị trí của 1110 megabase bộ gen Có
thể thương mại hóa “Affymetrix genechip” để phân tích 37000 gen đậu tương
đồng thời với dịch vụ tại Trung tâm hội đồng nghiên cứu của Úc của Trường
để đo đếm kiểu gen nhanh của các bộ phận cây khác nhau trong các điều kiện
môi trường và giai đoạn phát triển khác nhau Tại Trung tâm này đã thành công trong việc nhân vô tính (cloning) vị trí đầu tiên của bất cứ gen đậu tương nào (Peter M Gresshoff, 2007) [35]
Kết quả nghiên cứu của Y.J.Kang và cộng sự đã xác định được JGI giải phóng các chuỗi gen đậu tương 8x và các chuỗi được khôi phục từ QTL khối lượng hạt chính Gen tương ứng AP2 (APETALA2) được lựa chọn với BLASTing, các chuỗi trên dữ liệu cơ bản của Arabidopris thaliana Kết quả nghiên cứu trước đó của Y.J.Kang, M.Y Kim, Y.H.Lee, S.H.Lee (2009) cũng
đã cho thấy AP2 liên quan điều khiển khối lượng hạt sử dụng các đột biến
AP2 của Arabidorpis thaliana Các gen tương ứng sẽ được tập trung xác định các gen tương ứng điều khiển khối lượng hạt trên đậu tương
Sự kết hợp gen của các loài đậu tương hoang dại với các giống đậu tương thương mại, đã hứu hẹn tạo ra được nhiều giống đậu tương chịu hạn ở mức cao Từ những năm 1980, để tạo ra những giống đậu tương chịu hạn cho vùng đất cát đồi ở Bắc Carolina- Mỹ, Carter và cộng sự đã sử dụng phương pháp lai qui ước lai các giống đậu tương có năng suất cao Từ hàng
Trang 30ngàn tổ hợp lai, đến năm 2000 đã xác định và được công nhận 5 giống tiến
bộ Tại Trung Quốc, bằng các thí nghiệm so sánh truyền thống trong chậu và ngoài đồng kết hợp với phân tích các chỉ số chịu hạn đơn lẻ và chỉ số chịu hạn tổng hợp, đã xác định được 2 giống đậu tương Jinda 74 và Jinda53 có khả năng chịu hạn tốt hơn cả bằng phương pháp gây hạn nhân tạo 1 tháng từ sau khi cây mọc đã xác định được giống đậu tương chịu hạn BRS183 với năng suất 2,38 tấn/ha, cao hơn các giống khác từ 50-60% Đặc biệt có các chỉ tiêu sinh trưởng như khối lượng khô của rễ, chỉ số sinh trưởng cao vượt trội so với các giống khác
Như vậy, các nhà khoa học trên thế giới không chỉ tập trung nghiên cứu phương pháp truyền thống (lai hữu tính) để tạo giống mà còn nghiên cứu các phương pháp hiện đại như: công nghệ sinh học, công nghệ gen nhằm chọn tạo
ra giống có chất lượng cao, giống kháng các bệnh nguy hiểm, giống chống chịu với điều kiện bất thuận (chịu úng, chịu hạn…) Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật như mật độ, thời vụ, phân bón… có tác dụng làm tăng năng suất đậu tương đáng kể Tiềm năng nâng cao năng suất
đậu tương còn rất lớn
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
1.3.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về giống đậu tương
Trong những năm gần đây diện tích sản xuất đậu tương của thế giới và nước ta có xu hướng giảm, trong khi đó nhu cầu về đậu tương ngày càng cao cho nên để tăng sản lượng đậu tương đòi hỏi chúng ta phải đầu tư các biện pháp kỹ thuật, trong đó quan trọng và đầu tiên phải kể đến là công tác giống Nhận thức được điều này nên đã từ lâu ở nước ta công tác chọn tạo giống đậu tương rất được quan tâm chú trọng và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
được đầu tư, từ đó đã góp phần tạo ra được nhiều các giống mới Chọn tạo
giống đậu tương ở nước ta được tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau như: nhập nội, lai hữu tính, tạo giống đột biến, chọn lọc từ các giống địa
Trang 31phương bằng các biện pháp này thì đã có nhiều các giống mới được chọn tạo, khảo nghiệm bổ sung cho sản xuất
* Chọn tạo giống bằng phương pháp nhập nội
Có thể nói nhập nội giống là con đường cải tiến giống nhanh nhất và rẻ tiền nhất Thực tiễn nhập nội cho thấy rằng, nhiều khi cây được nhập vào lại sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ hơn, cho năng suất và chất lượng tốt hơn ở nơi cội nguồn
Do vậy mà chọn tạo giống bằng con đường này rất được các nhà chọn giống chú trọng Theo Tạ Kim Bính và cs, (2004) [1] thì từ 1985 - 2005 thông qua các đề tài đã thu thập, nhập nội trên 5.000 mẫu giống đậu tương Trong
đó đã khảo sát đánh giá trên 4.000 mẫu, các mẫu giống này chủ yếu nhập từ
Viện nghiên cứu cây trồng trên toàn Liên Bang Nga (VIR), một số mẫu nhập
từ Trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Châu Á (AVRDC), Úc, Nhật và Viện cây trồng nhiệt đới Quốc tế (IITA) Các nhà khoa học đã phân lập các dòng giống có tính trạng đặc biệt khác nhau như thời gian sinh trưởng, tính chịu rét, tính chịu hạn, khả năng kháng bệnh gỉ sắt phục vụ cho công tác chọn giống trong nước
Theo Trần Đình Long và cs, (2005) [18] trong giai đoạn từ năm
2001-2005 các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam đã nhập nội khoảng 540 mẫu giống đậu tương (trong đó: Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam: 177 mẫu giống; Viện Di truyền Nông Nghiệp: 19 mẫu giống; Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam: 67 mẫu giống; Trường Đại học Cần Thơ: 277 mẫu giống) từ các nước Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Úc bổ sung vào tập đoàn giống của Việt Nam
Nguyễn Thị Út, (2006) [25] nghiên cứu tập đoàn quỹ gen đậu tương gồm 330 mẫu giống đậu tương thu thập từ Việt Nam và nhập nội, căn cứ vào thời gian sinh trưởng đã phân lập chúng thành 5 nhóm giống Tác giả cũng đã xác định được một số giống có các đặc tính quý làm vật liệu cho công tác chọn tạo giống
Trang 32Cũng theo Trần Đình Long và CTV, (2002) [17], Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, (2005) [18] cho biết: trong giai đoạn 2001-2005 các nhà chọn tạo giống của Việt Nam đã tiến hành khảo sát được 9482 lượt mẫu giống
đậu tương và đã xác định được 83 mẫu giống có các đặc tính quý, trong đó 4
giống có thời gian sinh trưởng dưới 72 ngày; 6 giống có năng suất cá thể cao;
30 dòng kháng bệnh phấn trắng; 25 dòng kháng bệnh gỉ sắt Theo tác giả giai
đoạn này các nhà chọn tạo giống đậu tương của Việt Nam đã thực hiện được
430 tổ hợp lai và xử lý đột biến với 9 mẫu giống đậu tương Kết quả đã phân lập được 1425 dòng đậu tương làm vật liệu phục vụ công tác chọn tạo giống
Theo Trần Đình Long và cs, (2005) [18] và Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn trong vòng 20 năm (từ năm 1985-2005), đã chọn tạo thành công 28 giống mới, trong đó có 8 giống đậu tương được công nhận giống tiến
bộ kỹ thuật thông qua việc tuyển chọn từ tập đoàn giống nhập nội
Kết quả nghiên cứu của nguyễn Thị Văn và CTV, (2003) [26], khi nghiên cứu các giống đậu tương nhập nội từ Úc tại trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội và thu được kết quả: trong 25 mẫu giống thử nghiệm, có CLS1.112 cho năng suất cao Giống 96031411 thuộc loại hình sinh trưởng
vô hạn, có thời gian sinh trưởng dài từ 125 - 135 ngày, phân cành nhiều, cao cây, có thành phần sinh khối lớn, đề nghị thử nghiệm phát triển ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Đặc biệt trong đó các giống có khả năng chịu rét khá như G12120.94252 - 911, 94252 - 1, đây sẽ là nguồn gen quý
để lai tạo ra các giống đậu tương có khả năng chịu rét thích hợp trồng trong
vụ đông và vụ xuân
Giống đậu tương ĐT12 được tuyển chọn từ tập đoàn đậu tương nhập nội từ Trung Quốc năm 1996 do Trung tâm Nghiên cứu Đậu đỗ tiến hành Giống có thời gian sinh trưởng cực ngắn, thuộc loại hình chín sớm, có khả năng chống đổ, nhiễm nhẹ đến trung bình một số bệnh hại chính, năng suất
đạt từ 14 - 23 tạ/ha tuỳ thuộc vào mùa vụ và điều kiện thâm canh [42]
Trang 33Khi thử nghiệm 56 giống bộ EV01, 20 giống bộ PA01 và 90 giống nhập
từ Úc từ năm 1999 đến năm 2002 trong các vụ tại các tỉnh trong cả nước của Trần Đình Long, A.James và Nguyễn Quốc Thắng (1999-2002) [16], cho thấy:
+ Có nhiều giống năng suất cao thích hợp cho vụ xuân tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như 95389, CM60, MSBR22, 94137-3-1-2, MSBR20 năng suất đạt từ 1,9 - 3,5 tấn/ha
+ Một số giống thích hợp cho vụ hè: SJ4, LO-75-1558, năng suất từ 2,2
- 2,8 tấn/ha
+ Một số giống thích hợp cho vụ đông: 95389 Empoga 304 năng suất
đạt từ 1,5 - 2,2 tấn/ha
+ Một số giống thích hợp cho cả 3 vụ: MSBR20, CLS2111, CM60,
95389 năng suất đạt từ 2,5 - 3,5 tấn/ha
+ Một số giống cho Đồng Bằng Sông Cửu Long: 95389, CM60, MSBR20, CLS2111, Emgopa
+ Một số giống cho vùng núi phía Bắc: SJ14, LO-75-1558, 95389 + Một số giống thích hợp cho vùng Đồng Bằng Sông Hồng: 95389,CM60, MSBR20, MSBR22
* Chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính
Lai là một phương pháp cơ bản để tạo ra các vật liệu chọn giống Nhờ lai giống mà người ta có thể phối hợp những đặc tính và tính trạng có lợi của các dòng bố mẹ vào con lai Đậu tương là cây tự thụ phấn nên lai để tạo ra tổ hợp thường thành công với tỷ lệ rất thấp Tuy vậy đã có nhiều giống đậu tương được tao ra bằng phương pháp lai cho năng suất cao Trong giai đoạn
từ 1985-2005 các nhà chọn tạo giống đã lai tạo được 15 giống đậu tương
được công nhận là giống quốc gia đó là: ĐT80, ĐT92, ĐT93,TL.57, Đ96-02,
DN42, DT94, HL2, Đ9804, D140, DT96, DT99, DT90, ĐVN5, ĐT22 (Trần
Đình Long và cộng sự, 2005) [18]
Trang 34Giống đậu tương D140 được lai tạo từ tổ hợp lai DL02 x ĐH4 Giống D140 được đưa vào thí nghiệm so sánh giống chính quy năm 1995 Kết quả cho thấy giống D140 có khả năng thích ứng rộng, có thể gieo trồng ở cả 3 vụ trong năm, thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày, khối lượng 1000 hạt lớn, màu sắc đẹp, chất lượng tốt, cho năng suất cao ở cả 3 vụ nhưng cao nhất là ở vụ xuân và vụ hè, đạt 14,8 - 26,8 tạ/ha (Vũ Đình Chính, 2004) [6]
Khi nghiên cứu các tính trạng trong phép lai hữu tính trên đậu tương,
Vũ Tuyên Hoàng và CTV, (1983) [12] nhận thấy: các tính trạng khác nhau có
hệ số biến dị và di truyền khác nhau Các tính trạng như chiều cao cây, số lá trên thân có hệ số biến dị thấp, hệ số di truyền cao, các tính trạng như số quả chắc/cây và khối lượng hạt/cây thì ngược lại có hệ số biến dị cao và hệ số di truyền thấp Một số tính trạng có hệ số tương quan chặt như số đốt mang quả
r = 0,53; và tương quan rất chặt với năng suất là trọng lượng hạt/cây (r = 0,94) (Trần Đình Long và cộng sự, 2005) [18]
Năm 1996, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam phối hợp cùng Bộ môn Cây công nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã chọn
từ tổ hợp lai (dòng 82x134 Nhật Bản) tạo giống ĐT93, thích hợp cho vụ hè và
đạt năng suất 15 - 18 tạ/ha Hiện nay giống đang được phát triển rộng rãi
trong sản xuất ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ
Nguyễn Tấn Hinh, Nguyễn Văn Lâm và cộng tác viên của Viện Nghiên cứu Cây lương thực và cây thực phẩm đã chọn tạo thành công giống D2101 từ
tổ hợp D95 x D9037 Giống D2101 có thời gian sinh trưởng từ 90 -100 ngày, năng suất đạt 17,4 - 21,8 tạ/ ha, rất thích hợp cho vụ đông nước ta (Nguyễn Tấn Hinh, Nguyễn Văn Lâm, 2006) [15]
Chọn lọc từ tổ hợp lai ĐT2000 x TQ, tác giả Tạ Kim Bính và Nguyễn Thị Xuyến đã chọn được dòng ĐT2006 ĐT2006 có thời gian sinh trưởng ngắn, chiều cao cây thấp và khối lượng 1000 hạt từ 158- 168g Đặc biệt
ĐT2006 có năng suất rất cao từ 3- 6 tấn/ ha, thích hợp trồng cả 3 vụ trong
năm (Tạ Kim Bính, Nguyễn Thị Xuyến, 2006) [1]
Trang 35Bằng phương pháp lai hữu tính, các tác giả Vũ Tuyên Hoàng và CTV (1983) [12] từ tổ hợp lai D95, VX93 đã chọn tạo thành công giống TL57 (A57) và giống D96-02 (tổ hợp lai ĐT74xĐT92) có năng suất cao, khả năng chống rét tốt, thích hợp với điều kiện gieo trồng vụ đông và vụ xuân
Giống ĐT26 là con lai của DT2000 x ĐT12, do Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển Đậu đỗ thuộc Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ năm 2002 Giống ĐT26 có thời gian sinh trưởng trung bình từ 90 - 95 ngày Trong điều kiện thâm canh cao, diện tích hẹp có thể đạt năng suất tới 30 - 32 tạ/ha, có khả năng kháng bệnh gỉ sắt, đốm nâu và khả năng chịu ruồi đục thân, chống đổ khá, thích hợp trồng
vụ xuân, vụ đông có thể nhân hạt vụ hè [45]
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Tài nguyên Thực vật (Viện KHKTNN Việt Nam) sau 4 năm nghiên cứu đã tuyển chọn, lai tạo và sản xuất thành công giống đậu tương cao sản ĐT2006 Giống ĐT2006 được lai tạo và chọn lọc theo phương pháp phả hệ từ dòng lai 1918 ĐT2006 có khả năng kháng bệnh rỉ sắt và phấn trắng cao nên thích hợp cho gieo trồng vụ xuân, xuân muộn, vụ hè và vụ thu đông Năng suất ĐT2006 hơn 4 tấn/ha trên diện rộng, đặc biệt là giống cho năng suất cao nhất ở các vụ hè và hè thu, nếu thâm canh tốt có thể đạt trên 6 tấn/ha [44]
Giống đậu tương DT2001 là sản phẩm của Chương trình giống quốc gia, là con lai đột biến DT84 và DT83 Trong 2 năm 2003 - 2004, DT2001 đã
được tham gia trong tập đoàn khảo nghiệm Quốc gia gồm 23 giống của nhiều
Viện, Trường trong 5 vụ liên tục Kết quả cho thấy giống DT2001 thể hiện năng suất cao hơn giống đối chứng DT84 từ 18,7 - 17,9%, các giống ĐC khác như VX92 - 13,4%, hơn AK03 - 31,3%, hơn ĐT12 - 14,0% [40]
Giống đậu tương ĐT22 được chọn tạo từ dòng đột biến hạt lai của tổ hợp DT95 và ĐT12 Giống đậu tương ĐT22 có thời gian sinh trưởng trung bình 85-90 ngày, năng suất 15-27 tạ/ha Giống có thể trồng được 3 vụ trong
Trang 36năm, giống chịu đất ướt và nhiễm bệnh mức nhẹ đến trung bình đối với một
số bệnh hại chính Phù hợp với cơ cấu:
ĐT22 xuân + Lúa mùa + ĐT22 đông
Lúa xuân + Lúa mùa + ĐT22 đông
Lạc Xuân + ĐT22 hè + Cây vụ đông [41]
* Chọn tạo giống đậu tương bằng phương pháp xử lý đột biến
Đột biến là phương pháp nhanh tạo ra nguồn biến dị, làm xuất hiện
những tính trạng mới chưa từng xuất hiện ở bố mẹ Do vậy, xử lý đột biến
được các nhà chọn tạo giống đậu tương của Việt Nam áp dụng vì có thể sửa
chữa, khắc phục từng mặt và tổng hợp nhiều tính trạng kinh tế và hình thái như thấp cây - cao cây và ngược lại, tăng hoặc giảm thời gian sinh trưởng, tăng số lượng quả, trọng lượng hạt, tặng khối lượng 1000 hạt Khắc phục
được tương quan nghịch giữa năng suất và hàm lượng protein trong hạt Cải
thiện được tổ hợp các đặc tính kinh tế ở các giống địa phương theo hướng có lợi mà vẫn giữ được các đặc tính quý của giống gốc Một trong những người
đầu tiên sử dụng phương pháp này ở Việt Nam để chọn tạo giống đậu tương
là Viện sĩ, Tiến sĩ khoa học Trần Đình Long
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Vinh và Tăng Đức Hùng (2006) [27] về ảnh hưởng của liều lượng xạ gamma lên hình thái, đặc tính nông học, thành phần năng suất giống đậu tương MD7 cho biết: liều lượng xử lý có ảnh hưởng đến tần xuất biến đổi Liều lượng thích hợp để gây
đột biến dị đậu tương từ 7-12Krad Bằng phương pháp lai tạo và xử lý đột
biến, trong vòng 20 năm (1985-2005) viện Di truyền Nông nghiệp đã chọn tạo thành công 4 giống quốc gia và 4 giống khu vực hóa (Mai Quang Vinh và cs, 2005) [28] Bằng phương pháp xử lý đột biến từ năm 1985 - 2005 nước ta đã tạo được 5 giống đậu tương mới đó là: AK06, M103, DT84, DT95, V48 Trong đó, giống M103 là giống đậu tương đầu tiên được tạo ra bằng phương pháp này (Trần Đình Long và Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1994) [19]
Trang 37Giống đậu tương DT84 được tạo ra bằng cách xử lý đột biến bởi tia gamma - Co60 trên dòng lai 8 - 33 (DT80 x ĐH4) Giống DT84 có tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá, khả năng thích ứng rộng, thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng hạt tốt, dễ để giống và hiện nay DT84 đang là giống được trồng phổ biến nhất miền Bắc nước ta (Mai Quang Vinh và Ngô Phương Thịnh, 1996) [29]
* Chọn tạo giống bằng phương pháp dùng công nghệ sinh học
Việc áp dụng công nghệ sinh học vào công tác chọn tạo giống đã được nghiên cứu phổ biến trên thế giới nhưng đối với nước ta thì đây lại là một hướng nghiên cứu mới Tác giả Nguyễn Thị Thúy Điệp và cộng sự, (2005) [10] khi nghiên cứu về khả năng tái sinh của một số dòng đậu tương phục vụ cho kỹ thuật chuyển gen cho biết: Môi trường MS - B5 có bổ sung 10 mg/l 2,4D cho tỷ lệ tạo calus cao nhất từ mẫu lá mầm, giống cho tỷ lệ tạo callus cao là DT96 (73%), tiếp đến là giống DT90 ( 61,7%), giống DT84 (61,5%)
Tỷ lệ chồi cao nhất ở môi trường MS-B5 + 1mg/l zeatin + 0,29 mg/l GA3 +
30 mg/l Glutamin saccaroza + 0,3% phytagel
1.3.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về giống đậu tương ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Các tỉnh miền núi phía Bắc, đậu tương được trồng từ lâu đời với vụ hè
là vụ gieo trồng chính Thời vụ gieo trồng từ tháng 5 đến tháng 6 Các giống
được sử dụng là Vàng Cao Bằng, Vàng Mường Khương, Đậu lạng, Xanh Hà
Bắc có thời gian sinh trưởng 120-140 ngày
Kết quả nghiên cứu của Trần Đình Long và Đoàn Thị Thanh Nhàn, (1994) [19] về giống đậu tương M103 cho biết: Giống M103 không những thích hợp cho cả 3 vụ ở đồng bằng mà còn cho năng suất cao và ổn định tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Quảng
Ninh và Vĩnh Phúc, năng suất biến động từ 60 - 80 kg/sào Bắc Bộ
Trang 38Theo nghiên cứu của Đào Quang Vinh và cs, (1994) [30] cho biết giống
đậu tương VN1 có khả năng thích ứng rộng cả đồng bằng, trung du và miền
núi, có thể cho năng suất đạt tới 14 tạ/ha tại tỉnh Tuyên Quang và 18 tạ/ha tại tỉnh Cao Bằng
Kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Bình và cs, (2006) [2] cho biết giống ĐT22 và DT96 là 2 giống đậu tương phù hợp với sản xuất ở vùng miền núi phía Bắc (Điện Biên) Giống ĐT22 cho năng suất trung bình 18,2 tạ/ha trong vụ hè thu và 14,3 tạ/ha trong vụ xuân Giống DT96 đạt năng suất trung bình 17,3 tạ/ha vụ hè thu 12,1 tạ/ha vụ xuân Hai giống này vượt năng suất của DT84 từ 12 - 24%
Kết quả nghiên cứu của Ngô Thế Dân và cs, (1999) [8] cho biết các giống đậu tương thích hợp cho vùng miền núi phía Bắc là Vàng Mường Khương, Vàng Cao Bằng, Vàng Hoà An, Vàng Mộc Châu, Bách Hoà Thảo, Cúc Lục Ngạn, Vàng Hà Giang, Xanh Tiên Đài, Đen Bắc Hà, Vàng Phú Nhung, Xanh Tiên Yên, Cúc Chí Linh, ĐT76 (ĐH4), DT84, M103, ĐT80, VX93 Các giống mới được tạo ra trong nhưng năm gần đây đã góp phần đáng
kể vào việc tăng năng suất và sản lượng đậu tương các tỉnh miền núi phía Bắc (từ 6 - 7 tạ/ha lên 9 - 10 tạ/ha) diện tích gieo trồng các giống đậu tương mới còn rất ít trong sản xuất, điều đó nói lên rằng công tác chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn chưa được chú trọng đúng mức
Những kết quả nghiên cứu trên của thế giới và Việt Nam đã mở ra những triển vọng mới góp phần thúc đẩy sản xuất thâm canh đậu tương theo hướng tăng năng suất và chất lượng Tuy nhiên một trong những yếu tố hạn chế chính trong sản xuất đậu tương là chưa có bộ giống cho năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái nên đã dẫn đến năng suất thấp Ngoài ra, còn một số yếu tố như sâu bệnh hại, thủy lợi và thị trường tiêu thụ Vì vậy, nghiên cứu xác định giống phù hợp với từng vùng sinh thái là hết sức cần thiết trước khi sản xuất đại trà
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành với 7 giống đậu tương và giống DT84 được chọn làm đối chứng
1 DT84 Viện di truyền nông nghiệp Viêt Nam
2 ĐT26 Trung tâm đậu đỗ Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam
3 ĐT22 Trung tâm đậu đỗ Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam
4 ĐT30 Trung tâm đậu đỗ Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam
5 ĐT2010 Trung tâm đậu đỗ Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam
6 ĐT51 Trung tâm đậu đỗ Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam
7 ĐT31 Trung tâm đậu đỗ Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại bản Km 2 - xã Bình Lư - huyện Tam Đường- tỉnh Lai Châu
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trong 2 vụ: Vụ hè thu năm 2014 bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2014; Vụ xuân hè được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2015
Trang 402.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của 7 giống đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ hè thu năm 2014 và vụ xuân hè năm 2015
- Đánh giá các chỉ tiêu về sinh lí của 7 giống đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ hè thu năm 2014 và vụ xuân hè năm 2015
- Đánh giá tình hình sâu hại và khả năng chống đổ của 7 giống
đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ hè thu năm 2014 và vụ xuân hè
năm 2015
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 7 giống
đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ hè thu năm 2014 và vụ xuân hè
năm 2015
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống đậu tương QCVN01-58/2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2.4.1 Điều tra điều kiện thời tiết khí hậu của huyện Tam Đường
Số liệu thời tiết khí hậu thu thập số liệu tại trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Lai châu
2.4.2 Thí nghiệm đồng ruộng
Trong thí nghiệm tập trung vào: Tìm hiểu khả năng sinh trưởng, phát triển
và năng suất của các giống đậu tương mới nhằm chọn được giống cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái ở huyện Tam Đường Thí nghiệm được tiến hành tại Bản Km 2 - xã Bình Lư - Huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu