LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự quan tâm của Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học cùng các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Thạnh
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học
Tác giả luận văn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự quan tâm của Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học cùng các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành thực
hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của
một số giống lúa thơm tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài của mình, để có được kết quả như vậy, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn:
TS.Nguyễn Đức Thạnh - Trưởng phòng Thanh tra Khảo thí và Đảm bảo chất
lượng Giáo dục - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn:
1 Ban giám hiệu Nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2 Ban Chủ nhiệm khoa Sau Đại học (Phòng quản lý Đào tạo Sau Đại học)
-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3 Các thầy, cô giáo giảng dạy các bộ môn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
4 Các đồng chí cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu Lúa thuần - Viện Cây lương thực và Cây thực Phẩm -Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
5 Ban Giám hiệu cùng các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Sinh – Kỹ thuật Nông nghiệp trường Trung học Phổ thông Yên Lạc 2 – huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh Phúc
6 Đảng Ủy - HĐND - UBND, các ban ngành đoàn thể và nông dân 3 xã: Tân Hương, Trung Thành và Hồng Tiến huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người người thân yêu đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
Do còn hạn chế về trình độ lý luận, chuyên môn và kinh nghiệm thực tế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến bổ sung của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 09 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vượng
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước 9
1.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước 13
1.3 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 19
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 19
1.3.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 22
1.3.3 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 28
1.3.4 Sản xuất lúa thơm chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 29
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 31
2.4.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
2.5 Kỹ thuật làm mạ và thời vụ gieo trồng 31
Trang 62.5.1 Thời vụ 31
2.5.2 Kỹ thuật làm mạ, cấy 32
2.6 Các chỉ tiêu theo dõi 33
2.6.1 Số liệu khí tượng: Nhiệt độ trung bình, ẩm độ, lượng mưa, số giờ nắng 33
2.6.2 Các giai đoạn sinh trưởng 33
2.6.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý 33
2.6.4.Các chỉ tiêu về tính chống chịu 34
2.6.5 Các chỉ tiêu về tính trạng hình thái 35
2.6.6 Các chỉ tiêu về sâu, bệnh hại chủ yếu 37
2.6.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 39
2.6.8 Đánh giá chất lượng các giống lúa thí nghiệm 40
2.6.9 Đánh giá chất lượng cơm của các giống lúa thí nghiệm 40
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Đặc điểm cơ bản của vùng nghiên cứu 41
3.1.1 Vị trí địa lý 41
3.1.2 Đặc điểm tự nhiên 41
3.1.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu 43
3.1.4 Tình hình sử dụng đất đai của địa phương 44
3.2 Kết quả thí nghiệm so sánh các giống lúa thơm 45
3.2.1 Sinh trưởng và phát triển của mạ 45
3.2.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển của từng giống lúa 48
3.2.3 Một số đặc điểm hình thái của các giống lúa thí nghiệm 50
3.2.4 Một số đặc điểm nông học của các giống lúa thí nghiệm 52
3.2.5 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 54
3.2.6 Chỉ số diện tích lá của các giống lúa thí nghiệm 58
3.2.7 Khả năng chống đổ của các giống lúa thí nghiệm 60
3.2.8 Khả năng chống chịu sâu, bệnh hại lúa thí nghiệm 62
Trang 73.2.9 Các yếu tố cấu thành năng suất lúa 65
3.2.10 Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 71
3.2.11 Chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm 74
3.2.12 Đánh giá chất lượng gạo bằng cách nấu ăn thử 77
3.2.13 Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thí nghiệm 78
3.3 Kết quả sản xuất thử nghiệm ở vụ xuân 2012 81
3.3.1 Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh của các giống lúa thử nghiệm 81
3.3.2 Đánh giá năng suất thực thu các giống lúa thử nghiệm 82
3.3.3 Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thử nghiệm 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các quốc gia sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên thế giới năm 2010 20
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 24
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa tại Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2011 28
Bảng 3.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2011 tại tỉnh Thái Nguyên 43
Bảng 3.2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Phổ Yên 45
Bảng 3.3 Chất lượng mạ của các giống lúa vụ mùa năm 2011 46
Bảng 3.4 Chất lượng mạ của các giống lúa vụ xuân 2012 47
Bảng 3.5: Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa năm 2011 48 Bảng 3.6: Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ xuân 2012 49 Bảng 3.7: Đặc điểm hình thái của các giống lúa thí nghiệm 50
Bảng 3.8: Đặc điểm nông học của các giống thí nghiệm 52
Bảng 3.9: Khả năng đẻ nhánh của giống thí nghiệm vụ mùa 2011 54
Bảng 3.10: Khả năng đẻ nhánh của giống thí nghiệm vụ xuân 2012 56
Bảng 3.11: Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2011 58
Bảng 3.12: Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lúa thí nghiệm vụ xuân 2012 59
Bảng 3.13: Khả năng chống đổ của các giống lúa thí nghiệm 61
Bảng 3.14: Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2011 63
Bảng 3.15 : Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại và chịu lạnh của các giống lúa thí nghiệm vụ xuân 2012 64
Bảng 3.16: Năng suất lý thuyết và các yếu tố cấu thành năng suất vụ mùa 2011 67
Bảng 3.17: Năng suất lý thuyết và các yếu tố cấu thành năng suất vụ xuân 2012 69
Bảng 3.18: Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2011 71
Trang 10Bảng 3.19: Năng suất thực thu của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ
xuân 2012 73
Bảng 3.20: Chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ mùa 2011 75
Bảng 3.21: Chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ xuân 2012 76
Bảng 3.22: Chất lượng cơm của các giống lúa thí nghiệm 77
Bảng 3.23: Hạch toán kinh tế cho 1ha lúa vụ mùa 2011 79
Bảng 3.24: Hạch toán kinh tế cho 1ha lúa vụ xuân 2012 80
Bảng 3.25: Tình hình sâu, bệnh hại chính vụ xuân 2012 82
Bảng 3.26: Hạch toán kinh tế cho 1 ha lúa thử nghiệm 83
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Biểu đồ 3.1 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2011 54
Biểu đồ 3.2 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ xuân 2012 56
Biểu đồ 3.3: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu vụ mùa 2011 72
Biểu đồ 3.4: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu vụ xuân 2012 74
Biểu đồ 3.5: Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2011 79
Biểu đồ 3.6: Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thí nghiệm vụ xuân 2012 80
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong những cây lương thực chính có
vai trò rất quan trọng đối với hơn một nửa dân số trên thế giới Nó là cây lương thực chủ yếu hiện nay trong bữa ăn hàng ngày của hàng tỷ người dân sống ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh và khu vực Trung Đông Trong những năm tới, lúa vẫn sẽ là cây lương thực hàng đầu của họ
Lúa gạo là một trong ba loại cây lương thực trọng yếu trên thế giới là: lúa mì, lúa gạo và ngô Ở châu Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng, lúa gạo
là cây lương thực có vai trò quan trọng nhất trong việc cung cấp lương thực cho cuộc sống hàng ngày của con người Để phát triển sản xuất lúa trong khi điều kiện về diện tích có hạn, chúng ta cần tập trung thâm canh trên cơ sở ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích
Cây lúa là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của loài người Từ buổi đầu của nền văn minh, cây lúa đã trở thành cây lương thực chính của người Việt Nam và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta Trong những năm trước đổi mới, nước ta là một trong những nước ở trong tình trạng thiếu lương thực triền miên Năm 1986, cả nước sản xuất lúa đạt hơn 16.002.900 tấn, sang năm 1987 lại giảm chỉ còn 15.102.600 tấn trong khi đó dân số tăng lên 1,5 triệu người/năm Ở miền Bắc, mặc dù nhà nước đã phải nhập khẩu 1,28 triệu tấn để thêm vào cân đối lương thực nhưng vẫn không đủ, vẫn có đến 9,3 triệu người thiếu ăn (trong đó có 3,6 triệu người bị đói gay gắt) Từ khi đổi mới đến nay, ngành nông nghiệp nước
ta đã có những bước phát triển vượt bậc nhờ có những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta Đến năm 1989, nước ta đã giải quyết được vấn đề lương thực đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và một phần đã xuất khẩu ra các nước khác trên thế giới Từ đó đến nay, Việt Nam luôn là
Trang 13một trong ba nước xuất khẩu lúa gạo lớn nhất trên thế giới với sản lượng gạo xuất khẩu trung bình đạt trên 4 triệu tấn/năm Để có được những thành tựu trên là do sự tổng hợp của nhiều yếu tố như: đổi mới cơ chế, chính sách cùng với các giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phuc vụ sản xuất nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, mạng lưới điện, phân bón,…), đồng thời áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, đặc biệt là sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần vào thành tựu chung trong sự phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong thời gian qua Yếu tố đóng góp của khoa học và công nghệ cho việc nâng cao năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam ngày càng được khẳng định rõ rệt trong thời kỳ đổi mới
Khi xã hội càng phát triển, cuộc sống của người dân đã trở nên no đủ thì nhu cầu ăn ngon của người dân ngày càng tăng Trước kia khi năng suất và sản lượng lương thực còn thấp, con người chỉ mơ ước là làm sao ăn đủ no Nhưng hiện nay, nhờ ứng dụng những tiến bộ mới trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã làm cho năng suất và sản lượng lương thực ngày càng cao Chính vì vậy, nhu cầu được ăn ngon của con người ngày càng tăng lên rõ rệt Con người thường tìm đến những sản phẩm
có chất lượng cao (trong đó có những giống lúa chất lượng cao), ít quan tâm đến số lượng hơn Xuất phát từ nhu cầu đó, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo nhằm tạo ra những giống lúa vừa có năng suất cao mà chất lượng lại tốt
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu, chọn tạo
ra rất nhiều các giống lúa chất lượng cao được người dân hưởng ứng rộng rãi như các giống: Bắc thơm, Hương thơm, Hương cốm, Tám thơm,
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi phía Bắc Đây là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện khí hậu, địa hình, vị trí địa
lý, đất đai và tài nguyên khoáng sản Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai nên Thái Nguyên có nhiều khả năng để phát triển nông, lâm, ngư
Trang 14nghiệp, công nghiệp, du lịch và các dịch vụ khác Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 48,69 % diện tích đất tự nhiên Đây là một điều kiện thuận lợi
để phát triển mở rộng diện tích cây lương thực trong đó có cây lúa
Sản xuất lúa nước là một nghề truyền thống của nhân dân tỉnh Thái Nguyên Trong những năm gần đây tập quán độc canh cây lúa với các giống lúa cổ truyền đã thay đổi bằng tập quán đưa thêm một số cây trồng cạn vào gieo trồng trên đất lúa, tạo nên hệ thống cây trồng đa dạng, nhiều hộ gia đình
đã mạnh dạn thay đổi giống lúa truyền thống bằng việc đưa vào các giống lúa thơm chất lượng cao, lúa lai năng suất nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên cùng diện tích canh tác Từ đó năng suất lúa của tỉnh Thái Nguyên đã có bước tăng đáng kể cả về năng suất và chất lượng, đóng góp một phần lớn trong đó là
sự phát triển của các giống lúa lai Tuy nhiên giống lúa lai cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong sản xuất lúa của tỉnh do đòi hỏi đầu tư thâm canh cao, chất lượng gạo trung bình, không chủ động được giống, giá thành giống cao, chưa phù hợp với tập quán để giống hàng vụ của người dân Hàng năm, tỉnh đã chi cho hỗ trợ cho việc mua giống lúa lai hàng chục tỷ đồng nhằm trợ giá giống cho bà con nông dân trên địa bàn nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao Trong khi đó giống lúa thuần giải quyết được khá triệt để những hạn chế của giống lúa lai
Do nhu cầu về chất lượng cuộc sống của con người ngày càng cao nên sản phẩm gạo chất lượng tại nhiều địa phương trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng cũng không ngừng tăng lên Xuất phát từ thực tế
đó chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển
và năng suất của một số giống lúa thơm tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục đích nghiên cứu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa thơm gieo cấy ở vụ mùa năm 2011 và vụ xuân năm 2012 tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên
Trang 15- Chọn ra được những giống lúa thơm có khả năng thích ứng rộng, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh, cho năng suất cao và ổn định gieo cấy tại huyện Phổ Yên và mở rộng ra trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu, bệnh hại và bước đầu đánh giá được tiềm năng về năng suất của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Hạch toán được hiệu quả kinh tế của giống lúa chất lượng so với giống đối chứng gieo cấy đại trà ở địa phương
- Xây dựng được mô hình một số giống lúa thơm có triển vọng
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đa dạng hoá thêm bộ giống lúa chất lượng cao tại địa phương
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất của người dân
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giống lúa thơm thu thập, chọn lọc từ các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc, các trường đại học, viện nghiên cứu trên khu đất ruộng thí nghiệm thuộc địa bàn huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 08 năm 2012
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Lúa là cây trồng có nguồn gốc từ lâu đời Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng lúa trồng xuất hiện ở châu Á cách đây 8.000 năm [44] Tổ tiên trực tiếp của lúa trồng châu Á (Oryza sativa L.) vẫn còn chưa có những kết luận chắc chắn Một số tác giả như Sampath và Rao (1951) [54], Sampath và Govidaswami (1958) [55], Oka (1974) [52] cho rằng O.sativa được tiến hóa
từ lúa dại lâu năm O.rufipogon, còn các tác giả khác như Chatterjee (1951) [43], Chang (1976) [42] lại cho rằng O.sativa được tiến hóa từ lúa dại hàng năm O.nivara Các nhà khoa học Nhật Bản như Oka (1988) [53], Morshima
và cộng sự (1992) [51] cho rằng kiểu trung gian giữa O.rufipogon và O.nivara giống với tổ tiên lúa trồng O.sativa hơn chính các loài lúa dại nhiều năm (O.rufipogon) hoặc hàng năm (O.nivara)
Lúa trồng châu Á O.sativa có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc (Decadolle A., 1985; Roscheviez, Ru., 1931) và Ấn Độ (Sampath và Rao, 1951) [54] Theo công bố của Chang (1976) [42] thì O.sativa xuất hiện đầu tiên trên một vùng rộng lớn từ lưu vực sông Gamges dưới chân núi Himalaya qua Myanmar, Bắc Thái Lan, Lào đến Việt Nam và nam Trung Quốc Ông còn cho rằng lúa Indica phát sinh từ vùng Nepal, Myanmar, Vân Nam (Trung Quốc) đến khu vực sông Hoàng Hà và từ Việt nam phát tán dần lên tận lưu vực sông Dương Tử, từ đó phát sinh những biến dị thích ứng và hình thành các chủng chịu lạnh Japonica (hoặc O.Sinica)
Lúa gạo là một trong ba loại cây lương thực chủ yếu trên thế giới: lúa
mì, lúa gạo và ngô Đây là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 3 tỷ người trên thế giới Trong khi dân số thế giới không ngừng tăng lên thì ngược lại diện tích đất trồng lúa không tăng mà có xu hướng bị thu hẹp do các hoạt
Trang 17động sản xuất công nghiệp, xây dựng của con người, xâm lấn của nước biển,…Do đó, vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe doạ đến sự an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai Theo dự đoán của các chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục tăng trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ nhu cầu sống còn của cư dân mới Khoảng 40% dân số trên thế giới sử dụng lúa gạo như là nguồn lương thực chính Sản xuất lúa gạo chủ yếu tập trung ở các nước châu Á với mức tiêu dùng hàng năm khoảng 180 - 200 kg/người
Về mặt dinh dưỡng trong lúa gạo có đầy đủ các chất giống như các loại cây lương thực khác, trong đó tinh bột chiếm hàm lượng chủ yếu (chiếm đến 62,4% hàm lượng chất khô) Ngoài ra trong lúa gạo còn có một số loại Vitamin, đặc biệt là vitamin B1
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng ở khắp mọi miền của đất nước Trong quá trình sản xuất lúa đã hình thành nên 2 vùng sản xuất rộng lớn đó là vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long [20], [27]
Dân gian ta có câu: “Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa” , đó là câu nói
mà cha ông ta đã đúc rút để khẳng định vai trò quan trọng của giống cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Trong ngành trồng trọt nói chung thì giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, năng suất, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm
Giống cây trồng là khâu rất quan trọng trong trồng trọt Đặc tính của giống, yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác quyết định đến năng suất Kiểu
Trang 18gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường Các giống khác nhau được so sánh qua các môi trường khác nhau thì biểu hiện năng suất khác nhau Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống
Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng chưa bao giờ đáp ứng
đủ cho nhu cầu sản xuất Công tác nghiên cứu về giống được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research (IRRI) đã có các chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa như các vấn
đề về chọn tạo giống, nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu, bệnh hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau,…
Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ đặc tính di truyền của giống đó, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu khác nhau, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt đó phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, kinh tế, xã hội của vùng
Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau Do đó để xác định được một số giống tốt cho từng vùng sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian Bởi vậy, việc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng thì giống đó phải được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau Mục đích là để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và kả năng cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó
Giống là tiền đề của năng suất và phẩm chất Một giống lúa tốt cần thoả mãn một số yêu cầu sau:
Trang 19- Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác tại địa phương
- Cho năng suất cao và ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn của biến động thời tiết
- Có tính chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
- Có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng
Tất cả các giống lúa trước khi đưa ra sản xuất đại trà cần phải qua khảo nghiệm và khu vực hoá
Mỗi vùng, mỗi điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng cần có giống cây trồng tốt và điều kiện canh tác phù hợp Vì vậy một trong những biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm tận dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội là
bố trí cơ cấu cây trồng cho phù hợp với một vùng hay một đơn vị sản suất nông nghiệp Trong việc xác định giống cây trồng hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao, đất đai là một trong những căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, cho nên cần phải nắm vững được mối quan hệ giữa giống cây trồng với đặc điểm đất đai thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao
Việc xác định đưa giống lúa thuần chất lượng cao vào sản xuất ở mỗi vùng, mỗi khu vực sản xuất nhằm bảo đảm tính hợp lý, phù hợp của từng giống lúa đó với điều kiện cụ thể của nơi sản xuất, thì ngoài việc giải quyết các mối liên hệ giữa giống lúa thuần với điều kiện đất đai, tập quán canh tác, còn phải quan tâm tới phương thức sản xuất ở vùng, khu vực đó
Trong lịch sử phát triển lâu đời của sản xuất nông nghiệp, các giống lúa được con người tạo ra được chọn tạo sau có ưu việt hơn giống trước đó và được thay thế cho nhau Có những giống mới đưa vào sản xuất nhưng do môi trường sản xuất không thích hợp nên phải nhường chỗ cho các giống khác Hiện nay các giống lúa này tồn tại xen kẽ nhau và thích hợp với từng điều kiện của mỗi địa phương
Trang 20Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ưu, nhược điểm song
sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa thuần như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian, thời gian nhất định và được người dân chấp nhận và mở rộng
Cơ cấu các giống lúa thơm hiện nay đang được gieo trồng thường được chọn lựa trên lợi ích lớn nhất cho đa số người dân, nó phải được bố trí hợp lý, phù hợp với tập quán của địa phương, mà vẫn đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong vùng
1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Vào đầu những năm 1960, Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) đã được thành lập ở Philippines Viện này đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu, lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại, tiêu biểu như các dòng IR, Jasmin Đặc biệt vào thập niên 80 giống IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng lên đáng kể Cuộc “cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra
để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo
Các nhà nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế (IRRI) nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể đạt
13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR6 và Jasmin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Trên cơ sở một số giống lúa chất lượng cao Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin, giàu
Trang 21protein, có mùi thơm, cơm dẻo…) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng [40]
Nhiều nước ở châu Á có diện tích trồng lúa lớn, có kỹ thuật thâm canh tiên tiến và có kinh nghiệm dân gian phong phú Có đến 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước châu Á, đó là: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản [17]
Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới, là một nước thiếu đói lương thực trầm trọng trong thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, vì vậy công tác nghiên cứu, lai tạo, chọn tạo và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất
là giống lúa mới vào sản xuất được đặc biệt chú trọng Trong lịch sử phát triển lúa lai trên thế giới, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế lai của lúa vào sản xuất Năm 1960 khi theo dõi thí nghiệm của mình, Viêm Long Bình phát hiện một cây lúa lạ khỏe, bông to, hạt nhiều Nhưng ông đã thất vọng vì chưa tìm ra phương pháp sử dụng ưu thế lai Sau đó ông bắt đầu tìm dòng bất dục đực Con đường tạo giống ưu thế lai theo phương pháp “3 dòng” được hé mở từ đây Năm 1964, Viêm Long Bình phát hiện cây
có tính bất dục đực nhưng không giữ được tính bất dục đó bởi không có dòng duy trì mẹ Tháng 11/1970 Lý Tất Hồ cộng tác với Viêm Long Bình thu được cây bất dục đực trong loài lúa dại ở đảo Hải Nam Đây là thành công có tính quyết định đến việc tạo ra các tổ hợp lai 3 dòng và 2 dòng sau này Vào năm
1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ “3 dòng” được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [18] Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Trung Quốc tập trung vào việc lai tạo các giống lúa lai 2 dòng và đang hướng tới tạo ra các giống lúa lai 1 dòng siêu cao sản (siêu lúa) có thể đạt năng suất 18 tấn/ha/vụ
Trang 22Về chiến lược phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là phát triển lúa lai hai dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng, lúa lai siêu cao sản nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lúa gạo của đất nước [49]
Ấn Độ là một nước có diện tích trồng lúa đứng đầu thế giới, đồng thời
Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” về đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất, làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị trường tiêu thụ
Nhật Bản là một trong mười nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế giới Nhật Bản cũng là nước đạt năng suất lúa cao đứng hàng đầu thế giới, tuy
có diện tích không lớn song sản lượng năm 2009 đạt trên 10 triệu tấn Có được kết quả đó là do người Nhật chỉ trồng lúa 1 vụ/năm, cây lúa được gieo trồng trong điều kiện thời tiết thuận lợi nhất, công tác giống lúa của Nhật cũng được đặc biệt chú trọng về giống chất lượng cao vì người Nhật đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, Nhật bản đã tập trung vào công tác nghiên cứu giống lúa ở các Viện Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu… đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao như giống: Miyazaki1 và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được
vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13%, hàm lượng Lyzin cũng rất cao [10]
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng hàng đầu thế giới Với những
ưu đãi của thiên nhiên, Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù
Trang 23năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này
có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát,
có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho thấy giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của Việt Nam Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới của Thái Lan là: Khaodomali, Jasmin (Hương nhài) Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tương đối ổn định và Thái Lan cũng như nhiều nước Đông Nam
Á khác trong buổi đầu phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa, đều xuất phát từ thế mạnh nông nghiệp
Indonesia là nước có diện tích trồng lúa khá lớn trong danh sách 10 nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa gạo Đây cũng là nước có nhiều giống lúa chất lượng cao, cơm dẻo, có mùi thơm, hầu hết các giống lúa ở Indonesia
có nguồn gốc bản địa hoặc được lai tạo ở các cơ sở nghiên cứu Trong thời gian gần đây Indonesia nhận định có khả năng đối mặt với khủng hoảng lương thực trong mười năm tới nên đã khởi động chương trình “hồi sinh ngành nông nghiệp”
Ở khu vực Đông Á còn có một số nước cũng có diện tích trồng lúa đáng kể đó là: Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan Các nước này chủ yếu sử dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực này Các giống lúa nổi tiếng của khu
Trang 24vực này là Ton gil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang chan gi, Geo-Wô-Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee-Geo-Wô-Gen là một vật liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [47]
Đee-Ngoài châu Á thì ở Mỹ, trong thời gian gần đây các nhà khoa học không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo và đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà còn nghiên cứu tỷ lệ protein trong gạo, phù hợp với thị trường hiện nay
Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho sự phát triển của cây lúa Có nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn được phù sa bồi đắp thường xuyên, các vùng đồng bằng châu thổ đều được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây lúa luôn gắn liền với đời sống hàng ngày của dân tộc ta Vì vậy có thể nói rằng Việt Nam
là cái nôi của nền văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước mà nó còn góp phần quan trọng vào thị trường xuất khẩu lúa gạo của thế giới
Trước năm 1954, người dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúa địa phương, mặc dù năng suất không cao song chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện đất đai khí hậu của Việt Nam, đồng thời có khả năng chống chịu tốt với sâu, bệnh Nhiều giống lúa được lưu truyền trong sản xuất từ đời này sang
Trang 25đời khác như giống: Chiêm Tép, Chiêm Sài Đường, Chiêm cút… các giống gieo cấy vụ mùa như: lúa Di, lúa Tám Xoan, lúa Dự…
Từ sau ngày hòa bình lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng tới việc phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng với mục đích nhanh chóng đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh trở thành một đất nước có nền công nghiệp phát triển Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau kinh tế của đất nước ta vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng Đất nước vẫn không thể chuyển mình và nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước ta đã có những nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn về đường lối chính sách và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Đảng và Nhà nước ta quan tâm đó là tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà nông học đã nhập nội, thử nghiệm sản xuất nhiều giống lúa ngắn ngày của Trung Quốc, làm tiền đề cho sự ra đời của vụ lúa Xuân gieo cấy bằng các giống Chân Trâu Lùn, Trà Trung Tử…
Khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975), nước ta đã tập trung nhiều vào nghiên cứu cây lúa, trong đó công tác chọn tạo và lai tạo các giống lúa được đặc biệt chú trọng Nhờ các thành tự trong nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lúa của Việt Nam không ngừng tăng Nước ta cũng đã nhập nội một số giống lúa từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và của một số nước khác làm phong phú bộ giống lúa của Việt Nam
Nhận rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, từ Đại hội Đảng lần thứ VI và các thời kỳ đại hội tiếp theo, ngành nông nghiệp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm thúc đẩy đúng mức Trong một thời gian không lâu nước ta đang từ một quốc gia nhập khẩu
Trang 26lương thực, người nông dân làm ra sản phẩm lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác song quanh năm vẫn chịu cảnh thiếu đói lương thực, nay đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 thế giới Tuy nhiên một vấn
đề đặt ra đó là số lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá bán không cao do chất lượng gạo của Việt Nam còn kém so với các nước khác như Thái Lan Vì thế chiến lược sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong những năm tới và các thập niên tiếp theo là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm ở mức gần
40 triệu tấn như hiện nay, đồng thời đưa vào gieo cấy khoảng 1 triệu ha lúa chất lượng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
Với điều kiện thời tiết, khí hậu địa lý thuận lợi cho người trồng lúa, Việt Nam được coi như là cái nôi của nền văn minh lúa nước Phát huy những lợi thế đó, trong những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, từ Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay nền nông nghiệp nước
ta được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và đã được đầu tư đúng mức nên năng suất và sản lượng lúa gạo Việt Nam không ngừng được nâng cao
Để có được một ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệ nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa học nông nghiệp có giá trị, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng cho tới nay, sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có một cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn
đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Một số giống lúa chất lượng cao như giống Tám thơm, lúa Dự, Nàng thơm, Nếp Cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, các giống Nếp nương, Tẻ nương… đã được đưa
Trang 27vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Nước ta đã nhập và thuần hóa nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hóa, Khaodomaly Tiền Giang… [30]
Để tăng năng suất và sản lượng lúa chúng ta cần có những biện pháp kỹ thuật phù hợp đối với từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa Sản lượng, số bông số nhánh không nhất thiết tỷ lệ với nhau Nhưng thường nếu năng suất cao thì số bông cũng nhiều và do đó số nhánh đẻ cũng cao, vì vậy muốn tăng sản lượng lúa phải làm cho lúa đẻ nhánh nhiều Tăng số nhánh là một chuyện rất dễ dàng, nhưng nhiều khi không những không tăng được số bông mà lúa lại dễ bị lốp và sâu bệnh phá hại Có nhiều trường hợp tuy tăng được số nhánh nhưng không đạt được sản lượng cao như ý muốn, nhưng cũng
có trường hợp tăng số nhánh do đó tăng được năng suất Đứng về phương diện sinh trưởng của cây lúa mà xét thì có thể có 2 mặt Thứ nhất là bộ rễ lúa
có được chăm sóc, quản lý tốt không Thứ hai là bộ phận trên mặt đất, đặc biệt là việc điều chỉnh số nhánh có thích hợp không [31]
Theo Nguyễn Văn Hoan số dảnh cần cấy ở một khóm phụ thuộc trước hết vào số bông cần đạt trên 1m2, và căn cứ vào mật độ đã chọn để đạt được
số bông theo quy hoạch Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh cấy của một khóm lúa là dù được cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác nhau nhưng cuối cùng cần đạt được số bông cần thiết và độ lớn của bông theo yêu cầu để đạt được số lượng hạt thóc /m2
như mong muốn [7]
Mật độ là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khóm/m2 Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao (cấy dầy) thì số bông càng nhiều, song số hạt/ bông càng
ít (bông bé), tốc độ giảm số hạt/ bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ Vì
Trang 28thế cấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều khẳng định: khi các khâu
kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương án tối ưu
để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy [8] Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm canh của người dân…Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã kết luận: trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dầy Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống
to bông, vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm (Nguyễn Thị Lẫm và cs, 2003) [18]
Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì nên cấy mạ non Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền thống Mạ non cấy 3-4 dảnh/khóm (mạ non chưa đẻ), 30-35 khóm/m2
để sau thời kỳ đẻ nhánh có số nhánh tương đương như loại mạ thâm canh, khoảng
cách 25x12 cm thường được ưa chuộng ( Nguyễn Văn Hoan, 2003) [7]
Đối với mạ non khi cần đạt 9-10 bông/khóm và mật độ 35-39 khóm/m2
thì chỉ cần cấy 2 dảnh mạ/ khóm, không nên cấy nhiều dảnh hơn vì loại mạ non đẻ khỏe, cấy nhiều dảnh cây lúa sẽ đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp Hoặc số bông / khóm nhiều hơn so với dự định sẽ làm cho số hạt /bông ít đi, bông lúa nhỏ, năng suất không dạt yêu cầu Khi cần đạt 11-12 bông /khóm ở mật độ 29-32 khóm/m2, cần cấy 3 dảnh/ khóm để một
dảnh mạ sinh ra 4 bông lúa to đều nhau ( Nguyễn Văn Hoan, 2003) [8]
Trang 29Ở Nhật Bản, mạ tốt là mạ non, cấy xuống cây mạ bén rễ rất nhanh, mật
độ cấy tiêu chuẩn ở Hokkaido là 35 x 15 cm, mỗi khóm 3 dảnh Theo kết quả nghiên cứu của trạm thí nghiệm nông nghiệp ở Hokkaido cho thấy trong một phạm vi mật độ nhất định thì năng suất hầu như không thay đổi Mật độ cấy thích hợp nhất thay đổi tùy theo lượng phân bón và đặc tính giống Ở vùng nhiệt đới như Ấn Độ, cấy lúa chín sớm với mật độ 15 x 15 cm, mỗi khóm lúa
2 dảnh, với lúa chín muộn khoảng cách 20 x 20 cm hoặc 15 x 23cm, mỗi khóm 2 dảnh Còn những nơi đất tốt có thể cấy 30 x15 cm (Tanaka Akira, 1981) [25]
Ở Nhật Bản khoảng cách cấy ngày càng được mở rộng dần Tương lai sau này áp dụng những giống tốt, bón nhiều phân thì có thể cấy khoảng cách
từ ngày 19/12 đến 25/3 đẻ được 113 nhánh (trong đó có 101 nhánh thành bông, tỷ lệ nhánh có ích là 89,4%) (Bùi Huy Đáp, 1980) [5]
Khi làm thí nghiệm trên giống lúa Di Hương với các khoảng cách cấy khác nhau thay đổi từ 30 x 30 cm, 20 x15 cm, 20 x 10 cm, 15 x 5 cm, 10 x 5
cm, 5x 5 cm Với các số dảnh khác nhau trong mỗi khóm thay đổi từ 1 dảnh thường, 1 dảnh đẻ (ngạnh trê), 3 dảnh, 5, 8, 10, 13, 16 Như vậy mật độ thay đổi từ 11 - 400khóm/m2 Và mật độ dảnh cơ bản thay đổi từ 11 - 6400 dảnh/m2 Thí nghiệm được tiến hành trong 2 vụ mùa đã cho thấy thời gian đẻ của giống lúa Di Hương thay đổi rõ với các mật độ khác nhau Mật độ khóm càng cao thời gian đẻ càng ngắn dù mật độ dảnh trong khóm cao hay thấp
Trang 30Mật độ dảnh trong khóm càng cao đối với cùng mật độ khóm thì thời gian đẻ cũng rút ngắn, trừ các mật độ khóm tương đối thưa (30 x 30 cm, 20 x15 cm) [7] Qua các nghiên cứu Bùi Huy Đáp cho rằng nếu ta cấy càng nhiều dảnh lúa thì bông lúa càng ít hạt, ví dụ như cấy 1600 dảnh/ m2
thì 1 bông chỉ có 8 hạt, cấy 1000 dảnh/ m2
thì 1 bông trung bình có 22 hạt, cấy 500dảnh/m2 1 bông có 44 hạt, 250 dảnh/m2
1 bông có 82 hạt, 33 dảnh/m2 1 bông có 119 hạt Giống lúa mùa Di Hương dài ngày cho năng suất cao nhất ở mật độ 33 khóm/m2, mỗi khóm cấy 1 dảnh Tăng lên 3 dảnh trên 1 khóm, năng suất còn khá (đứng thứ 2), nhưng đã kém rõ so với mật độ trên Và càng tăng số khóm hay số dảnh thì năng suất càng giảm, nếu tăng số dảnh lên 7 lần so với công
thức thứ nhất thì năng suất giảm 5 tạ/ha [5]
Trong điều kiện bình thường ở ruộng tốt, mực nước trong thích hợp, đối với các giống lúa cao cây ở Việt Nam, nên cấy dầy hợp lý, và mỗi khóm nên cấy ít dảnh Bụi lúa cấy ít dảnh sẽ đẻ thuận lợi, sẽ có các nhánh xòe ra bốn phía, bụi lúa tròn và sẽ khỏe hơn những bụi cấy nhiều dảnh Mật độ khóm và mật độ dảnh trong khóm là những biện pháp có thể sử dụng để điều tiết một cách thích đáng sự đẻ nhánh của cây lúa, và qua sự đẻ nhánh sẽ điều tiết sự phát triển của cả quần thể ruộng lúa (Bùi Huy Đáp, 1980) [5]
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) thì giống lúa có nhiều bông nên cấy 200 - 250 dảnh cơ bản/m2, giống to bông cấy 180 - 200 dảnh/m2
Số dảnh cấy/khóm là 3 - 4 dảnh ở vụ mùa và 4 - 5 dảnh ở vụ chiêm [26]
1.3 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Vùng phân bố của cây lúa là khá rộng từ vĩ độ 530B đến vĩ độ 350
N Trong đó vùng phân bố chủ yếu từ 300B đến 100N Với khoảng trên 100 nước trồng lúa, năng suất trung bình trên phạm vi quốc gia đạt 60 - 80 tạ/ha/năm
Trang 31Bảng 1.1 Các quốc gia sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên thế giới năm 2010
STT Tên nước Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
- Về năng suất lúa: Trong 10 nước trồng lúa nhiều nhất trên thế giới thì Trung Quốc là nước có năng suất lúa cao nhất, đạt 65,48 tạ/ha cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 21,8 tạ/ha, tiếp theo là Việt Nam (53,22 tạ/ha) cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 9,54 tạ/ha và các nước khác như Inđônêxia (50,15 tạ/ha, cao hơn nang suất trung bình của thế giới là 6,47 tạ/ha) Các nước còn lại là Bangladesh (42,79 tạ/ha), Brazil (41,27 tạ/ha), Myanma (41,24 tạ/ha), Philippin (36,22 tạ/ha), Ấn Độ (33,83 tạ/ha) Pakistan
Trang 32(30,59 tạ/ha) và thấp nhất là Thái Lan (28,75 tạ/ha) thấp hơn năng suất trung bình của thế giới từ 0,89 tạ/ha đến 14,93 tạ/ha
- Về sản lượng lúa: Đứng đầu trong danh sách các nước sản xuất lúa nhiều nhất là Trung Quốc với 197.212.010 tấn, tiếp theo là Ấn Độ (143.963.000 tấn), và các nước còn lại là Inđônêxia (66.469.400 tấn), Bangladesh (50.061.200 tấn), Việt Nam (39.988.900 tấn),… Như vậy, sản lượng lúa của
10 quốc gia đứng đầu chiếm 85,7 % tổng sản lượng lúa gạo của cả thế giới
Sản lượng lúa gạo trong một số năm trở lại đây có mức tăng trưởng đáng kể nhờ việc mở rộng diện tích đất trồng lúa, cùng với việc đầu tư thâm canh, sử dụng các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, xây dựng đường
xá giao thông, hệ thống thuỷ lợi tưới tiêu, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật
Hiện tại, nhu cầu lúa gạo về phẩm chất rất khác nhau tùy từng vùng và tập quán Các nước Nhật, Triều Tiên, Trung Quốc, Âu Mỹ thích gạo mềm, ướt, hơi dẻo (giống japonica) Ngược lại Ấn Độ, Pakixtan, Việt Nam lại thích gạo nở, cơm khô Trên thị trường gạo thế giới, chiều dài hạt, phẩm chất gạo rất được quan tâm Về chiều dài hạt, Viện IRRI chia ra làm 4 cấp: hạt rất dài (trên 7,5 mm), hạt dài (6,6 - 7,5 mm), hạt trung bình (5,5 - 6,5 mm) và hạt ngắn (dưới 5,5 mm) Về màu sắc gạo, phổ biến nhất là màu trắng ngà, song cũng có màu đỏ hoặc hơi đen Về hướng phát triển gạo của các nước cũng rất khác nhau, tùy vào thị trường tiêu thụ của mình mà các nước xuất khẩu gạo lớn hiện nay tập trung phát triển các loại gạo có chất lượng khác nhau: Thái Lan tập trung sản xuất phát triển các giống lúa có kiểu hạt dài, chất lượng cao; tại Mỹ phát triển các giống có kiểu hạt tròn và hạt dài nhưng có chất lượng cao; trong khi đó Ấn Độ lại phát triển các giống có năng suất cao để xuất khẩu sang các nước nghèo (các nước ở Châu Phi)
Việc nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất, chất lượng cao đang được các tổ chức nghiên cứu trên thế giới quan
Trang 33tâm Một số giống lúa có chất lượng đã được công bố như: Khao Dawk Mali đây
là giống lúa nước trời của Thái Lan, phản ứng với ánh sáng thích hợp với đất phèn nhẹ, đất nhiểm mặn vào mùa khô, có đặc điểm gạo mềm, hạt dài, có mùi thơm, năng suất đạt 3 - 4 tấn/ha
Tại Mỹ các nhà khoa học đã chọn lọc ra được giống Jasmine 85 có thời gian sinh trưởng 100 - 105 ngày, cho năng suất khá (5 - 6 tấn/ha), có chất lượng cao
Trong xã hội hiện nay khi mức sống của đại bộ phận người dân đã được nâng cao thì nhu cầu về sản phẩm gạo có chất lượng cao đặc biệt là các loại lúa đặc sản ngày một tăng lên Theo nhận xét của S.Tang và Z.Wang, 2001: lúa đặc sản chất lượng là cơ sở vật chất quan trọng cho công tác cải tiến các giống lúa mới
Còn theo định nghĩa của Ceng Y.M; Chen Y (1998) thì lúa đặc sản là những loại lúa đặc biệt, không giống như các loại lúa phổ biến thông thường Chúng được xác định bởi sự khác biệt về một vài đặc điểm theo những chỉ tiêu quan trọng quy định chung cho phần lớn các nước châu Á và Châu Phi:
hình dáng, kích cỡ, hàm lượng Amylose, màu nội nhũ và mùi thơm
Ceng Y.W; Chen Y và Dai L.Y (1998) cho rằng lúa nếp hoặc lúa Waxy, lúa thơm, lúa màu (lúa đỏ, lúa tím, lúa đen), lúa nương - japonica, lúa dẻo (soft rice), lúa boutique, lúa nấu rượu, lúa vô cơ, lúa có phẩm chất dinh dưỡng, đều thuộc lúa đặc sản và khái niệm về lúa đặc sản cổ truyền, lúa đặc sản cải tiến là khái niệm để phân biệt lúa đặc sản bản địa và lúa đặc sản mới chọn tạo
1.3.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt nam là một nước trồng lúa trọng điểm của thế giới Người Việt Nam luôn tự hào về nền văn minh lúa nước của mình Với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, Việt Nam được coi là cái nôi hình thành cây lúa nước
Từ xa xưa, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng
Trang 34trong đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999) [6] Cùng với địa hình trải dài trên 1 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằn châu thổ trồng lúa phì nhiêu đó là Đồng bằng châu thổ sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, không những cung cấp đủ lương thực trong nước, mà hàng năm còn xuất khẩu hàng triệu tấn gạo sang các nước Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 tăng lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó giảm xuống còn 7,45 triệu ha năm 2003 (Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự 2003) [17] Cùng thời gian đó, năng suất và sản lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách giống lúa và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh một cách hợp lý, đồng bộ Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của nước ta tăng lên 2,8 lần Giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Điều này gắn liền với các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa được ứng dụng rộng rãi trong thời gian này và quan trọng hơn là việc chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá, lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích người dân đầu tư tham canh sản xuất lúa Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục từ gần 9,0 triệu tấn năm
1961 lên 35,83 triệu tấn năm 2005 Từ một nước thiếu ăn phải nhập khẩu gần
2 triệu tấn gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên giải quyết lương thực cho hơn 83 triệu dân ngoài ra còn xuất khẩu ra thị trường thế giới hàng triệu tấn gạo/năm và luôn đứng trong danh sách các nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền sản xuất nông nghiệp của nước ta chuyển từ kinh tế tập thể lấy Hợp tác xã nông nghiệp quản lý và điều hành kế hoạch sản xuất, sang cơ chế lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ vì vậy đã khuyến khích người dân đầu tư về công sức tiền của cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh tăng vụ vì vậy sản lượng lúa của Việt
Trang 35Nam không ngừng được tăng cao Nước ta đã giải quyết cơ bản vấn đề thiếu lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và còn xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây diện tích trồng lúa có xu hướng giảm dần nguyên nhân chủ yếu là do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã và đang làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung
và đất trồng lúa nói riêng giảm đáng kể Nếu so sánh năm 2000 với 2010 thì diện tích trồng lúa của nước ta giảm tới 152.600 ha (FAO STAT, 2012) [35]
Ở miền Nam, vào giữa những năm 60, các giống lúa mới như IR8, IR5, IR20 đã được nhập nội để khảo nghiệm, và cho năng suất trung bình khoảng 35,8 tạ/ha
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
Trang 36Nhìn vào bảng 1.2 ta thấy, trong 10 năm trở lại đây diện tích trồng lúa của nước ta giảm 152.600 ha từ 7.666.300 ha (năm 2000) xuống còn 7.513.700 ha (năm 2010) Nguyên nhân của hiện tượng này là do nhà nước ta đang có chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ cho nên diện tích trồng lúa bị thu hẹp Bên cạnh đó, các khu công nghiệp được xây dựng ngày càng nhiều, nhu cầu đất ở ngày càng tăng nên lấn vào đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng làm suy giảm về diện tích Trong khi diện tích trồng lúa bị thu hẹp thì năng suất lúa và sản lượng lúa lại không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2000, năng suất lúa bình quân đạt 42,43 tạ/ha đến năm 2010, năng suất lúa đã tăng lên 53,22 tạ/ha (tăng 10,79 tạ/ha) tức tăng 20,27% so với năm 2000 Sản lượng lúa tăng từ 32.529.500 tấn lên 39.988.900 tấn (tăng 7.459.400 tấn) tức tăng 18,65%) so với năm 2000 Trong những năm gần đây do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã làm diện tích trồng lúa có xu hướng giảm, mặc dù sản lượng vẫn tăng do việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm tăng năng suất lúa Bên cạnh việc tăng năng suất lúa, chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo, những giống lúa cổ truyền như Tám Ấp Bẹ, Tám Xoan, Dự, nếp cái Hoa vàng, nếp Hòa Bình, nếp Hải Phòng, Nàng Nhen, Nàng thơm Chợ Đào, đã được phục tráng và mở rộng trong sản xuất [6]
Có được kết quả như vậy là do Đảng và nhà nước ta đã chú trọng đầu
tư nhiều cho phát triển nông nghiệp như: xây dựng hệ thống kênh mương tưới tiêu, hỗ trợ giá thành về giống, phân bón và các vật tư, thiết bị khác phục vụ nông nghiệp, tăng cường công tác nghiên cứu, chọn lọc ra các giống lúa mới
có năng suất cao và ổn định, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt đưa vào sản xuất,… chính điều đó đã góp phần làm tăng đáng kể năng suất và sản lượng lúa, đáp ứng nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu ra nước ngoài đem về nguồn thu lớn cho đất nước
Trang 37Năm 2002 tại trại thí nghiệm nông nghiệp Văn Điển đã tiến hành khảo nghiệm để so sánh một số giống lúa mới về thời vụ gieo cấy, mật độ cấy và phân bón Kết quả đã chọn ra được giống NX30, BM98 - 55 chịu thâm canh,
có tiềm năng năng suất cao, chống chịu tốt với một số loại sâu bệnh chính hại lúa (đạo ôn, bạc lá, rầy nâu), chất lượng gạo ngon, cấy được cả 3 vụ xuân sớm, xuân chính vụ và mùa sớm Giống X25, AYT77, VK1 có thời gian sinh trưởng ngắn, tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo tốt, tính thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh khá, cấy được cả hai vụ xuân muộn và mùa sớm Năm
2003 tại trại thí nghiệm Văn Điển các nhà khoa học tiếp tục tiến hành khảo nghiệm một số giống lúa có tềm năng năng suất và chất lượng cao, kết quả đã chọn được một số giống có thời gian sinh trưởng ngắn và tiềm năng suất cao như AYT77, AYT01,VĐ7 HT1, P6, P8
Cũng trong năm 2003, Nguyễn Thanh Tuyền đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm nguồn và sức chứa của một số giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau Kết quả cho thấy các giống lúa ngắn ngày có các yếu tố sức chứa cao hơn các giống trung ngày Do đó năng suất và tiềm năng năng suất của các giống ngắn ngày bằng hoặc cao hơn các giống dài ngày
Ngày nay khi thu nhập của người dân đã tăng lên đáng kể thì nhu cầu
về gạo chất lượng ngày càng cao Và lúa gạo đặc sản, chất lượng cao trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong bữa ăn của người dân Vì vậy trong quá trình nghiên cứu chọn tạo các nhà khoa học không những quan tâm đến năng suất mà chất lượng gạo cũng được chú ý Trong một vài năm qua các giống lúa cổ truyền như Tám Ấp Bẹ, Tám Xoan, Dự, Nếp Cái Hoa Vàng, nếp Hòa Bình và các giống lúa thơm chất lượng cao như: Tám thơm, Bắc thơm, Hương thơm, Huơng cốm,…đã được phục tráng, khảo nghiệm, chọn lọc và nhân rộng trong sản xuất Bên cạnh đó các giống lúa chất lượng khác
đã được chọn tạo và ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp cả nước như: HT1, BT7, LT2, nếp N87, nếp N97, P1, P6
Trang 38Khi nói về những giống lúa chất lượng cao ở Việt Nam, chúng ta cũng cần đề cập tới những giống lúa nếp, lúa Japonica, lúa thơm, Mặc dù sản lượng trồng lúa nếp chỉ chiếm khoảng 5 – 10% tổng sản lượng lúa nhưng không thể thiếu trong cơ cấu mùa vụ của nước ta Trong khi đó diện tích trồng lúa thơm ở nước ta trong một vài năm trở lại đây đang tăng đáng kể do nhu cầu của thị trường Tùy năng suất của các giống lúa thơm chưa cao nhưng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân
Về lúa Japonica, năm 2003 - 2004, Lê Vĩnh Thảo đã phối hợp với các nhà khoa học Bắc Triều Tiên nhập nội và nghiên cứu 900 mẫu giống lúa Japonica tại Việt Nam Kết quả bước đầu cho thấy các mẫu lúa này tỏ ra chống chịu khá với rét, bệnh đạo ôn, bạc lá Trong đó có 30 dòng vật liệu có thời gian sinh trưởng rất ngắn: 130 ngày ở vụ xuân Nhiều dòng có yếu tố cấu thành năng suất cao, trên 10 bông/khóm, hơn 150 hạt chắc/bông
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa (2001-2005) cho thấy hầu hết các giống lúa Nếp, lúa Thơm, lúa Nương đều kháng được bệnh bạc lá
(Xanhthomomas oryzea) Lúa Thơm có khả năng kháng bệnh đạo ôn (Piricularia grisea) Qua điều tra tác gia đã thu thập được 873 mẫu giống lúa
thơm, lúa nếp, lúa nương từ các địa phương để làm nguyên liệu phục vụ chọn tạo các giống lúa chất lượng cao
Theo Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Chí Bửu, Lưu Ngọc Trinh, Lê Vĩnh Thảo (2001); Trần Văn Đạt (2002) lúa nếp, lúa thơm và lúa nương là các giống lúa đặc sản khá phổ biến ở Việt Nam Hiện nay trên thị trường trong nước và quốc tế đang có sự chuyển hướng và thay đổi ảnh hưởng đến sự phát triển của nhóm giống này Thị trường thế giới đặc biệt là ở các nước phát triển
và Trung Đông, đang chuyển hướng về lúa gạo chất lượng cao
Lúa gạo có chất lượng cao như Basmati của Ấn Độ, Pakistan; Jasmine
và Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan; Malagkit Sung Song của Philippines; Badshahog của Bangladesh hoặc Nàng Thơm, Tám Thơm, Nếp của Việt
Trang 39Nam thường được ưa chuộng và có giá trị cao gấp ba, bốn lần giá trị bình quân lúa gạo xuất khẩu hiện nay
Các giống lúa P290, P1, AC5 là các giống lúa mới có chất lượng cao với hàm lượng protein biến động 10-12%, năng suất đạt 6,0 - 7,0 tấn/ha, ít nhiễm sâu bệnh, giá bán trên thị trường cao (Vũ Tuyên Hoàng và CS, 2006)
1.3.3 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Qua điều tra, thu thập số liệu tại chi cục Thống kê Thái Nguyên và thông tin từ các nguồn khác như Niên giám thống kê 2011, Sở Nông nghiệp
& Phát triển Nông thôn Thái Nguyên, chúng tôi đã thu được kết quả về diện tích, năng suất và sản lượng lúa tại tỉnh qua các năm từ 2005 đến 2011 thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa tại Thái Nguyên
SL (ngàn tấn)
DT (ngàn ha)
NS (tạ/ha)
SL (ngàn tấn)
DT (ngàn ha)
NS (tạ/ha)
SL (ngàn tấn)
(Nguồn Niên giám thống kê 2011)
Qua bảng 1.3 ta thấy, trong những năm gần đây, diện tích trồng lúa trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ nhưng năng suất và sản lượng lúa tăng lên đáng kể Năm
2005, diện tích gieo trồng lúa là 70,1 ngàn ha, năng suất là 46,0 tạ/ha và sản lượng thu được là 322,2 ngàn tấn, đến năm 2011, diện tích gieo trồng lúa là 71,2 ngàn ha (tăng lên 1,1 ngàn ha so với năm 2005) nhưng năng suất lúa tăng lên 51,8 tạ/ha (tăng 5,8 tạ/ha so với năm 2005) và sản lượng tăng lên đáng kể
Trang 40là 368,9 ngàn tấn (tăng 46,7 ngàn tấn so với năm 2005) Có được kết quả như vậy là do trong những năm gần đây, lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chính sách chú trọng hơn đến đầu tư, phát triển sản xuất nông nghiệp như: tăng cường đầu tư cho hệ thống kênh mương phục vụ cho việc tưới tiêu, hỗ trợ giá vật tư nông nghiệp như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, cho người nông dân, tăng cường đầu tư xây dựng các cơ sở thu mua, chế biến sản phẩm,
hỗ trợ các biện pháp kỹ thuật thông qua các tài liệu phát tay, các hội thảo đầu bờ, cho người dân cho nên năng suất và sản lượng lúa không ngừng tăng lên góp phần phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Bên cạnh đó, trong vài năm trở lại đây, các nhà khoa học đã chọn tạo ra nhiều giống lúa mới có năng suất cao và ổn định, chất lượng tốt, khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt đưa vào sản xuất nhằm thay thế các giống lúa cũ đã thoái hóa suy giảm năng suất, chất lượng gạo, đưa vào sản xuất đại trà làm cho năng suất, sản lượng lúa không ngừng tăng lên qua các năm
1.3.4 Sản xuất lúa thơm chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trong những năm gần đây Thái Nguyên đã có sự chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vào sản xuất, đặc biệt là đưa các giống lúa lai năng suất cao, chất lượng tốt, với diện tích lúa lai ngày một tăng lên diện tích lúa thuần một ngày giảm đi, tuy nhiên diện tích trồng các giống lúa thơm chất lượng cao vẫn luôn giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu giống lúa ở địa phương bởi lẽ giống lúa lai cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong sản xuất của bà con nông dân do đòi hỏi đầu tư thâm canh cao, chất lượng gạo trung bình, không chủ động được giống, giá giống cao, tỷ lệ nhiễm sâu bệnh ngày một tăng, chưa phù hợp với tập quán để giống hàng vụ của người nông dân ở địa phương Hàng năm, tỉnh đã chi cho hỗ trợ giống lúa lai hàng chục tỷ đồng nhằm hỗ trợ giá giống cho bà con nông dân trên địa bàn nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao Trong khi đó các giống lúa thuần (trong đó có các giống lúa thơm chất lượng cao) đã giải quyết được khá triệt để những hạn chế của giống lúa lai