Tính bảo đảm đó không chỉ được thực hiện trong những giao dịch dân sự hợp pháp mà còn phát sinh từ các giao dịch vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự gọi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1
Đề bài: “Xác định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Sưu tầm một
giao dịch dân sự vô hiệu và bình luận hậu quả pháp lý của giao dịch này”
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ 1
1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự 1
2 Phân loại giao dịch dân sự 2
3 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 3
II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 5
1 Khái niệm của giao dịch dân sự vô hiệu 5
2 Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu 6
3 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 7
III HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 9
1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập 9
2 Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận 10
3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó 11
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường 12
IV VÍ DỤ VỀ MỘT GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA NÓ12 1 Ví dụ về một giao dịch dân sự vô hiệu 12
2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu nêu trên 14
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4MỞ ĐẦU
Để có thể tồn tại được, mỗi người đều phải tham gia vào các mối quan hệ khác nhau, tạo nên mối dây liên kết với thế giới xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của bản thân Một trong những hoạt động tích cực và hiệu quả nhất của con người nhằm hướng tới mục đích đó là việc tham gia vào các loại giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân sự Xét dưới góc độ của môn khoa học luật dân sự mà nhìn nhận thì giao dịch dân sự là phương tiện khá hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy cho nên giao dịch dân sự đã được đưa vào Bộ luật Dân sự nước ta nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từ giao dịch bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Tính bảo đảm đó không chỉ được thực hiện trong những giao dịch dân sự hợp pháp mà còn phát sinh từ các giao dịch vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự gọi là giao dịch dân sự vô hiệu Khi đó, tùy theo yêu cầu của các bên có quyền và lợi ích liên quan hoặc theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp
lý của việc tuyên bố đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao dịch Những quy định này góp phần ổn định giao lưu dân sự đồng thời có thể kiểm soát được các giao dịch dân sự, tránh làm thiệt hại đến lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng Do tính cấp thiết của vấn đề nên em đã
chọn đề tài: “Xác định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Sưu tầm một
giao dịch dân sự vô hiệu và bình luận hậu quả pháp lý của giao dịch này”.
NỘI DUNG
I Khái quát chung về giao dịch dân sự
1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự
Điều 166 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc
hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Dưới góc độ khoa học, ta thấy rằng khái niệm giao dịch dân sự được đưa ra
trong rất nhiều tài liệu khác nhau, nhưng đặc điểm chung của các khái niệm này là đều thống nhất khái niệm giao dịch dân sự gồm hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương Giao dịch dân sự thường có các đặc điểm chung sau đây:
Trang 5Thứ nhất, giao dịch dân sự phải thể hiện được ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch đó Ý chí của con người bao giờ cũng được thể hiện thông qua hành vi, mặt khác,
giao dịch dân sự bao giờ cũng là hành vi của con người nên giao dịch dân sự bao giờ cũng là sự thể hiện ý chí của con người xác lập giao dịch
Thứ hai, giao dịch dân sự nhằm phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định Hậu quả
pháp lý này có thể là xác lập các quyền, nghĩa vụ dân sự; có thể là chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự; có thể là thay đổi quyền, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia và xác lập giao dịch dân sự đó
Thứ ba, giao dịch dân sự hướng tới một quan hệ với các chủ thể khác Người lập
giao dịch dân sự luôn hướng tới việc hình thành một quan hệ dân sự với một hoặc nhiều chủ thể khác Thông qua quan hệ đó, các bên xác lập quyền, nghĩa vụ của các
chủ thể
2 Phân loại giao dịch dân sự
Căn cứ vào các bên tham gia giao dịch dân sự, ta có thể chia giao dịch dân sự thành các loại sau:
a Hợp đồng dân sự
Theo điều 385 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, “hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng dân sự
là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống ngày nay Thông thường, hợp đồng có hai hay nhiều bên tham gia, trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia trong một mối quan hệ cụ thể nào đó như mua bán, cho thuê Vì hợp đồng bao giờ cũng là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia, nên luôn tồn tại yếu tố thoả thuận giữa các chủ thể tham gia loại giao dịch dân sự này
b Hành vi pháp lý đơn phương
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, chấm dứt, thay đổi quyền, nghĩa vụ dân sự.1
Hành vi pháp lý đơn phương có thể là giao dịch dân sự nhưng không phải mọi hành
vi pháp lý đơn phương đều là giao dịch dân sự
Ngoài hai loại giao dịch dân sự nêu trên, còn một loại giao dịch dân sự khác là giao dịch dân sự có điều kiện
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam – tập 1, NXB Công an Nhân dân, 2017
Trang 6c Giao dịch dân sự có điều kiện
Giao dịch dân sự có điều kiện là những giao dịch mà sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của nó phụ thuộc vào các điều kiện mà một trong các bên xác lập giao dịch dân sự đó đã đưa ra khi xác lập giao dịch (hành vi pháp lí đơn phương hoặc hợp đồng) Như vậy, đây là những giao dịch dân sự đã được xác lập nhưng nó chỉ phát sinh hiệu lực hoặc bị hủy bỏ khi có những điều kiện nhất định xảy ra Sự kiện được coi
là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịch định ra, trong hợp đồng thì điều kiện đó do chính các bên thỏa thuận
3 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Điều 117 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”
Theo đó, ta thấy:
Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không bắt buộc phải thiết lập theo một hình thức nhất định, giao dịch đó được coi là có hiệu lực khi có đủ ba điều kiện được quy định tại khoản 1 của điều 117 Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2015:
Thứ nhất, chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập.
Các chủ thể chỉ được phép tham gia giao dịch dân sự mà pháp luật không cấm, phù hợp với năng lực pháp luật của mình Nếu chủ thể này là cá nhân, thì phải có đủ khả năng nhận thức và khả năng tài sản để thực hiện các nghĩa vụ phát sinh giao dịch dân
sự mà họ tham gia Cụ thể như sau:
+ Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
Trang 7+ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật
+ Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác
Thứ hai, chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện
Giao dịch dân sự phải được thiết lập trên cơ sở tự do, tự nguyện Vì vậy, giao dịch dân sự thiếu sự tự nguyện sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý Sự tự nguyện cũng
là một trong những nguyên tắc được quy định tại khoản 2 điều 3 Bộ luật Dân sự 2015:
“Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận” Vi phạm sự tự nguyện là vi phạm pháp luật Pháp luật cũng quy định một số trường hợp cụ thể mà giao dịch dân sự được thiết lập không có sự tự nguyện của các chủ thể tham gia giao dịch: giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay giao dịch xác lập vào thời điểm mà người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Tất nhiên, những giao dịch được xác lập bởi những yếu tố kể trên tức là đã vi phạm vào nguyên tắc tự nguyện của chủ thể sẽ bị coi là vô hiệu
Thứ ba, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Điều 118 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Điều 118 Mục đích của giao dịch dân sự
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.”
Trong bất kỳ một giao dịch nào, các bên tham gia đều hướng đến một mục đích nhất định, từ đó sẽ có sự xác lập quyền và nghĩa vụ (tức là nội dung của giao dịch) nhằm hiện thực hóa mục đích đó Như vậy mục đích và nội dung của giao dịch có quan
hệ chặt chẽ với nhau Mục đích và nội dung là một trong những yếu tố chủ yếu tạo thành một giao dịch dân sự, do vậy điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch cũng là những điều kiện cần thiết cho một giao dịch dân sự hợp pháp: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã
Trang 8hội” Điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Việc quy định cụ thể những điều cấm của pháp luật là để đảm bảo lợi ích công cộng và của các chủ thể Còn đạo đức xã hội
là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Tuy nhiên trong thực tế, căn cứ để xác định mục đích và nội dung của giao dịch dân
sự trái với đạo đức xã hội khá phức tạp vì đó là những chuẩn mực ứng xử do cộng đồng xã hội tự đặt ra và thừa nhận nó như những quy tắc chung chứ không được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật như các điều cấm của pháp luật
Đối với giao dịch dân sự mà pháp luật đã quy định phải được thiết lập theo một hình thức nhất định thì ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện trên, hình thức của giao dịch này còn phải tuân theo quy định của pháp luật mới được coi là có hiệu lực.2
II Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu
1 Khái niệm của giao dịch dân sự vô hiệu
Nhìn dưới góc độ nghiên cứu khoa học, dù thuật ngữ giao dịch dân sự vô hiệu được
sử dụng khác rộng rãi nhưng lại chưa có tài liệu nào nêu ra khái niệm cụ thể của giao dịch dân sự vô hiệu Trong Bộ luật Dân sự nước ta, tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015
có quy định về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, căn cứ vào các quy định này mà xây dựng nên quy định chung về giao dịch dân sự vô hiệu: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác” (Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015) Như vậy các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự làm cơ sở cho việc xác định giao dịch dân sự vô hiệu Căn cứ vào các quy định trên, ta có thể khái quát: “Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định”
Bằng việc quy định các điều kiện và một số trường hợp cụ thể dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu, Nhà nước có thể kiểm soát các giao dịch dân sự nhất định để đảm bảo tính ổn định trong giao lưu dân sự Nhìn chung các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu có một số ý nghĩa sau đây:
2 PSG TS Phạm Văn Tuyết, Hướng dẫn môn học Luật Dân sự - tập 1; NXB Tư pháp; 2017
Trang 9 Định hướng, tạo khuôn mẫu cho các chủ thể pháp luật dân sự khi tiến hành xác lập giao dịch dân sự phải tuân theo các quy định của pháp luật, không được thoả thuận hoặc thi hành trái pháp luật, trái đạo đức xã hội nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tự do,
tự nguyện cho các chủ thể
Ngăn chặn các loại giao dịch dân sự mà pháp luật cấm hoặc trái đạo đức xã hội, bảo đảm cho các giao lưu dân sự hợp pháp được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân
Ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch còn bảo đảm quyền lợi cho người thứ ba ngay tình, bảo đảm tính công bằng khi giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
Là cơ sở pháp lý mang tính nguyên tắc cho các bên tự hòa giải với nhau khi xảy
ra tranh chấp hoặc được tòa án áp dụng khi giải quyết các tranh chấp giao dịch dân sự
vô hiệu
2 Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu
Mục đích hay nói cách khác là những mong muốn, nguyện vọng mà bất kỳ chủ thể nào tham gia giao dịch đều muốn đạt được Pháp luật luôn tạo điều kiện và giúp đỡ các chủ thể hành động theo ý chí của mình nếu họ không vi phạm một trong bốn điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự nói trên Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không tuân thủ các điều kiện đó dẫn đến giao dịch dân sự bị vô hiệu và các chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ việc tuyên bố giao dịch vô hiệu Đây cũng là hai đặc điểm đặc trưng của giao dịch dân sự vô hiệu:
Vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định.
Đặc điểm này tuân theo đúng tinh thần của quy định về giao dịch dân sự tại Điều
122 Bộ luật Dân sự 2015 Một đặc điểm mang tính quyết định một giao dịch trở nên vô hiệu hay không đó là việc giao dịch đó không tuân thủ đầy đủ bốn điều kiện mà pháp luật đã quy định đối với giao dịch dân sự có hiệu lực tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015: điều kiện về năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao dịch, điều kiện
về mục đích và nội dung của giao dịch, điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể và điều kiện về hình thức trong một số trường hợp pháp luật quy định
Trang 10Các bên tham gia giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ việc tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu
Bất kỳ một sự vi phạm nào cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật bằng những chế tài nhất định Trong giao dịch dân sự cũng vậy, một khi các chủ thể không tuân theo quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì cũng phải chịu hậu quả do việc tuyên bố giao dịch đó đem lại Cụ thể, khi giao dịch bị tuyên bố
là vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch
đó Tính vô hiệu được xác định từ thời điểm các bên xác lập giao dịch (tức là từ khi giao kết hoặc tuyên bố ý chí) Đồng thời, khi giao dịch vô hiệu, các bên quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận của nhau Về mặt lý thuyết thì đây là sự tổn thất của các bên vì không đạt được mục đích ban đầu khi tham gia giao dịch, ngoài ra nếu bên nào có lỗi làm thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Như vậy hậu quả pháp lý có thể và hầu như thường gây bất lợi cho các bên tham gia giao dịch dân sự
3 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu
Dựa vào các tiêu chí khác nhau sẽ có các cách phân loại giao dịch dân sự khác nhau như sau:
a) Căn cứ vào trình tự tuyên bố một giao dịch vô hiệu
Ta có hai loại giao dịch dân sự như sau:
Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối:
Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối là giao dịch dân sự mà Toà án có quyền tuyên vô hiệu ngay cả khi không có sự yêu cầu của các bên chủ thể Giao dịch dân sự này bao gồm các giao dịch dân sự có nội dung và mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc có mục đích che giấu một giao dịch khác hay nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
Ví dụ: Giao dịch mua bán ma tuý
Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối:
Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối là những giao dịch dân sự mà Toà án chỉ có thể tuyên vô hiệu khi có yêu cầu từ một bên chủ thể nhất định Loại giao dịch dân sự này bao gồm giao dịch dân sự vi phạm tính tự nguyện của chủ thể, người tham gia giao dịch không có hoặc không đủ năng lực hành vi dân sự, hình thức của giao dịch không