Quyền lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự không được đảm bảo khỏa đáng khi GDDS bị tuyên bố vô hiệu, nhất là khi các tranh chấp về giao dịch dân có xu hướng ngày cà
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
Khoa luật
=== ===
trần thị thu hằng
giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý
của giao dịch dân sự vô hiệu
khóa luận tốt nghiệp đại học
Ngành luật
Trang 2Tr-ờng đại học vinh
Khoa luật
=== ===
giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý
của giao dịch dân sự vô hiệu
khóa luận tốt nghiệp đại học
Ngành luật
Sinh viên thực hiện: trần thị thu hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh viên ở giảng đường Đại học, để trở thành một cử nhân đóng góp những
gì mình đã học được cho sự phát triển đất nước
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ của Hội đồng khoa học Khoa Luật, các Thầy giáo, Cô giáo trong tổ bộ môn Luật Tư pháp Đặc biệt là sự hướng dẫn
và giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của Cô giáo - ThS Nguyễn Thị Thanh
Em xin trân trọng cảm ơn Cô giáo - ThS Nguyễn Thị Thanh - người trực tiếp hướng dẫn khóa luận, xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học Khoa Luật, các Thầy giáo, Cô giáo trong tổ bộ môn Luật Tư pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình triển khai đề tài khóa luận
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu không nhiều cũng như năng lực nghiên cứu khoa học của bản thân có hạn nên bài khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của Hội đồng khoa học Khoa Luật, các Thầy giáo, Cô giáo cũng như những người quan tâm tới vấn đề này
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của khóa luận 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm chung của GDDS 5
1.2 Khái niệm và đặc điểm chung về GDDS vô hiệu 8
1.3 Phân loại GDDS vô hiệu 14
1.4 Quy định về GDDS vô hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ 16
1.4.1 GDDS vô hiệu dưới thời nhà Lê và nhà Nguyễn 16
1.4.2 Các quy định về GDDS dưới thời Pháp thuộc 18
1.4.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay 19
Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 21
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về GDDS vô hiệu 21
2.1.1 Các trường hợp về GDDS vô hiệu 21
2.1.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu 34
2.2 Giải quyết hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu 35
2.2.1 Xử lý hậu quả giao dịch vô hiệu 35
Trang 52.2.2 Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba ngay tình khi
GDDS bị tuyên bố là vô hiệu 37 2.3 Một số vướng mắc thường gặp trong GDDS vô hiệu trên thực tế 40
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ GIAO DỊCH DÂN
SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 45
3.1 Một số kiến nghị xây dựng pháp luật dân sự về GDDS vô hiệu và
hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu 45
32 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử GDDS vô hiệu 48
KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự GDDS : Giao dịch dân sự Nxb : Nhà xuất bản
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói rằng trong công cuộc phát triển kinh tế hội nhập như ở nước ta hiện nay thì GDDS được xem là yếu tố vô cùng quan trọng, đây được xem là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất, kinh doanh
Xuất phát từ tầm quan trọng, cũng như ý nghĩa thực tiễn của GDDS thì BLDS nước ta đã quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ về việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của GDDS Các quy định đó của BLDS đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia GDDS, tạo nên sự ổn định của các quan hệ tài sản trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, tạo động lực thúc đẩy cho quá trình hội nhập khu vực
và thế giới của nước ta
Song trong thực tiễn xét xử, giải quyết về các GDDS vô hiệu hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắc Một số quy định cứng nhắc, chưa đầy đủ đã gây nên những cách hiểu không thống nhất Ví dụ như: các căn cứ để tuyên bố GDDS vô hiệu còn có nhiều điểm chưa rõ ràng; hậu quả pháp lý của GDDS
vô hiệu còn quy định một cách chung chung, khó áp dụng Quyền lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự không được đảm bảo khỏa đáng khi GDDS bị tuyên bố vô hiệu, nhất là khi các tranh chấp về giao dịch dân có xu hướng ngày càng gia tăng, trong đó các GDDS vô hiệu do vi phạm về điều kiện có hiệu lực của giao dịch chiếm tỷ lệ không nhỏ Do đó việc tuyên bố GDDS vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý khi GDDS vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp nhất hiện nay
Từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trên đây tôi thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề GDDS và hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu là
Trang 8một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết, do đó tôi quyết định chọn đề tài
“Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay thì việc nghiên cứu GDDS, GDDS vô hiệu và hậu quả pháp
lý của GDDS vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ, dưới những góc độ khác nhau Vấn đề GDDS vô hiệu và hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu chủ yếu được đề cập trong các bài giảng trong giáo trình luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại
học Quốc gia, trong một số ấn phẩm như: Bình luận BLDS của Bộ Tư pháp,
hay như trong một số công trình nghiên cứu như của tiến sĩ Bùi Đăng Hiếu:
GDDS vô hiệu tương đối và GDDS vô hiệu tuyệt đối; hay như trong một số
công trình nghiên cứu: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường: “GDDS vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu” năm 2004; Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh: “xử lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân
sự Việt Nam” Hoàng Thị Thanh: Quy định "GDDS vô hiệu do không tuân
theo các quy định về hình thức"; Phan Tấn Phát: GDDS vô hiệu và hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức; Luận
văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Trung Trực: Một số vấn đề GDDS vô
hiệu và hậu quả pháp lý của nó
Như vậy, việc nghiên cứu đề tài "Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu
quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu" là một đề tài rộng, có nhiều khía
cạnh để khai thác khác nhau, nhất là trong khi sự phát triển của tình hình kinh tế xã hội, các quan hệ xã hội biển đổi ngày càng phức tạp và đa dạng hơn, vấn đề xử lý GDDS vô hiệu và hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu, đặc biệt là sau khi BLDS năm 2005 ra đời cũng nảy sinh nhiều vấn đề cấp thiết, đòi hỏi cần có sự sửa đổi bổ sung sao cho phù hợp với các xu hướng mới
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm pháp lý về GDDS; làm rõ căn cứ pháp lý xác định GDDS vô hiệu và phân tích thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý khi GDDS vô hiệu
Việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành khóa luận này phải thực hiện được các nhiệm vụ:
- Phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của GDDS vô
hiệu và hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu;
- Nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả của những quy định pháp luật hiện hành về GDDS vô hiệu và các quy định về hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu;
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật
về GDDS vô hiệu và cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của khóa luận tốt nghiệp, người viết tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự, cũng như vấn đề thực tiễn về GDDS
vô hiệu và hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu của Tòa án nhân dân
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài luận
án là triết học Mác - Lênin Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến đề tài của luận án
Ngoài việc dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án, tác giả
sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: so sánh pháp luật, logic pháp lý, hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tiễn để làm
Trang 10rõ vấn đề lý luận cũng như thực tiễn quá trình giải quyết các tranh chấp GDDS vô hiệu và hậu quả của nó trong giai đoạn hiện nay
Tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp so sánh
- Kết hợp giữa lý luận với thực tiễn
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao dịch dân sự vô hiệu và hậu
quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Chương 2: Quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu và
thực tiễn giải quyết hậu quả về giao dịch dân sự vô hiệu Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
1.1 Khái niệm và đặc điểm chung của GDDS
Giao dịch được hiểu một cách chung nhất là mối liên hệ phổ biến trong
xã hội loài người và đây cũng được xem là một trong những chế định pháp lí
cổ điển, nó xuất hiện từ rất lâu đời Ngay từ trong giai đoạn sơ khai, khi mà
xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện các hình thức trao đổi hàng hoá, thì giao dịch đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ, từ đó dẫn đến việc chi phối các mối quan hệ khác nhau trong xã hội, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, cho đến ngày nay, trong cuộc sống hiện đại thì giao dịch được xem là “công cụ” thông dụng và
có hiệu quả, bảo đảm cho các quan hệ dân sự được thực hiện một cách linh hoạt và có hệ thống, nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển Không những thế, GDDS còn là phương tiện pháp lí quan trọng giúp cho các công dân thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất kinh doanh cũng như sinh hoạt tiêu dùng
Chính bởi tầm quan trọng như trên mà chế định về GDDS đã được đề cập đến trong pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau, điển hình như: Trong BLDS của nước Nhật Bản cũng đã đưa ra chế định hành vi pháp lý đơn phương bao trùm lên chế định hợp đồng và chế định thừa kế theo di chúc, còn trong BLDS của nước Cộng hòa Pháp lại không đưa ra chế định GDDS mà lại chỉ đưa ra chế định hợp đồng dân sự và chế định thừa kế Còn dưới góc độ khoa học thì các nhà khoa học của Nhật Bản nhận định “GDDS là hành vi hợp pháp nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”
Việt Nam chế định GDDS được quy định trong chương VI phần I của BLDS nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 121 BLDS quy định
Trang 12“GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Dưới góc độ khoa học thì các nhà khoa học Việt Nam đề cập trong nhiều tài liệu với góc độ khác nhau về khái niệm GDDS như sau: “GDDS là hành vi được thực hiện nhằm thu được kết quả nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả thành hiện thực”
Nhìn chung, dù các nhà khoa học pháp lí có đưa ra khái niệm về GDDS dưới góc độ nào đi chăng nữa thì đều khẳng định GDDS bao gồm:
Một là: Hợp đồng dân sự
Hai là: Hành vi pháp lí đơn phương
Xét theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự được hiểu là các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau
Xét theo phương diện chủ quan thì hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ xã hội cụ thể
Tại điều 388 BLDS năm 2005 đã định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc chấm dứt, thay đổi các quyền và nghĩa vụ dân sự”
Ví dụ: Khi phát sinh hợp đồng mua bán tài sản giữa anh An và anh Bình sẽ làm phát sinh quyền của anh An, tương ứng với nghĩa vụ của anh Bình và ngược lại
Hay nói cách khác thì hợp đồng dân sự là loại giao dịch phổ biến nhất, thông dụng nhất, nó phát sinh thường xuyên trong đời sống hàng ngày của chúng ta và giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất
là trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Hành vi pháp lí đơn phương là hành động thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, phát triển hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà
Trang 13không phụ thuộc ý chí của bên kia Hiện nay thì hành vi pháp lý đơn phương tồn tại cũng khá phổ biến, tác động đến nhiều mối quan hệ khác nhau
Ví dụ như: Ông An viết di chúc để lai toàn bộ tài sản cho anh Hùng là
con của Ông Như vậy, ý chí của người tặng tài sản không phụ thuộc vào ý của người khác, nhưng bằng hành vi tặng tài sản theo đúng quy định của pháp luật làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật thuộc GDDS
Thông thường hành vi pháp lý đơn phương do một chủ thể thực hiện, nhưng cũng có thể do nhiều chủ thể thực hiện (tổ chức hoặc nhiều cá nhân…)
Ví dụ: Hành vi để lại tài sản cho một tổ chức cho một tổ chức
Từ khái niệm GDDS có thể nhận thấy GDDS có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia giao dịch
Giao dịch dấn sự đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người, nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ không ngừng chi phối nhu cầu đa dạng của con người Khi tham gia vào giao dịch, các chủ thể đều đạt mục đích nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng
Thứ hai: Các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện Đây là sự phản
ánh tính thống nhất ý chí của các bên, cho nên nó là một nguyên tắc quan trọng để thiết lập nên giao dịch Trong các GDDS nếu thiếu các yếu tố này không thể coi là giao dịch được
Thứ ba: Chế tài trong giao dịch mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất
linh hoạt Pháp luật của phần lớn các nước trên thế giới hiện nay đều xây dựng các chế định của GDDS trên nguyên tắc tự do thoả thuận, tự do cam kết
và xác định chế tài Đây là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự nói chung cũng như GDDS nói riêng
Thứ tư: Nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức
xã hội Trong GDDS khi tham gia giao dịch các chủ thể đều phải nhằm đạt được một mục đích nhất định và mong muốn mục đích của mình trở thành hiện thực Do vậy, để đạt được mục đích ấy các chủ thể có quyền đặt ra
Trang 14những yêu cầu, cam kết phù hợp với ý chí của mình Tuy nhiên các cam kết
đó không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Từ khái niệm, đặc điểm của GDDS đã cho thấy tầm quan trọng của GDDS trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, cụ thể như:
+ Là cơ sở pháp lí để giải quyết các tranh chấp xảy ra
+ Bảo đảm cho việc kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền + Tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khi tham gia giao dịch
+ Góp phần ổn định trong quan hệ sở hữu tài sản
Như vậy chế định giao dịch có ý nghĩa hết sức quan trọng, thiết thực góp phần thúc đẩy các giao lưu dân sự phát triển, phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh như hiện nay, đồng thời giúp các chủ thể tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra đối với các bên tham gia giao dịch, góp phần ổn định trong quan hệ sở hữu tài sản nói riêng và quan hệ dân sự nói chung
1.2 Khái niệm và đặc điểm chung về GDDS vô hiệu
Vô hiệu hiểu theo nghĩa thông thường là: “không có hiệu lực, không có hiệu quả” Như vậy có thể suy ra là GDDS vô hiệu là giao dịch không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lí Theo quy định trong BLDS Việt Nam thì để xác định một GDDS vô hiệu căn cứ vào quy định tại điều 127 “GDDS không có một trong các điều kiện quy định tại điều 122 thì
vô hiệu”
Như vậy, GDDS vô hiệu là GDDS mà các chủ thể tham gia giao dịch không tuân thủ theo các điều kiện mà pháp luật quy định đối với GDDS có hiệu lực pháp luật Do đó dẫn đến hậu quả là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch Đối với một GDDS vô hiệu thì cho dù các bên tham gia giao kết đã thực hiện hoặc thực hiện một phần của giao dịch theo cam kết của các bên… thì vẫn không được công nhận về mặt
Trang 15pháp lí và mọi cam kết không có giá trị bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm các bên xác lập giao dịch đó
Ví dụ như: Anh Nguyễn Bình Minh và anh Mai Anh Phúc có ký với
nhau hợp đồng mua bán 100 con sếu đầu đỏ (sếu đầu đỏ là loài động vật quý hiếm, nhà nước cấm khai thác, mua bán) Như vậy, giao dịch trên đương nhiên là vô hiệu, không có giá trị pháp lý ngay từ thời điểm giao kết vì giao dịch trên đã vi phạm điều cấm của pháp luật
Xuất phát từ khái niệm, cũng như các quy định trong BLDS năm 2005
về GDDS vô hiệu cho thấy GDDS vô hiệu thường có những đặc điểm chung như sau:
Một là: không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của pháp
luật đối với GDDS có hiệu lực như:
* Không đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch:
Khi các chủ thể tham gia vào GDDS thì phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật được hiểu là năng lực vốn
có của các chủ thể, năng lực này được pháp luật quy định là có từ khi người
đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết Năng lực pháp luật của các chủ thể
sẽ không bị ảnh hưởng bởi các trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản… Còn năng lực hành vi được pháp luật quy định là: Khả năng của các cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.Như vậy khi các chủ thể bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định trong các GDDS cụ thể thì bản thân các chủ thể đó phải đáp ứng đầy đủ năng lực hành vi dân sự nêu trên
Pháp luật chia thành các mức độ hành vi dân sự dựa trên độ tuổi và trình độ nhận thức Nếu chủ thể là cá nhân thì phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có nghĩa là các chủ thể này không bị mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà pháp luật quy định là mất năng
Trang 16lực hành vi dân sự Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành
vi chưa đầy đủ, nhưng khi xác lập, thực hiện GDDS đã có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, hoặc có thể tự mình thực hiện, xác lập những GDDS nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện các giao dịch trong phạm
vi số tài sản riêng của mình (trừ trường hợp là lập di chúc phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ) Trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
Ngược lại, nếu các chủ thể khi tham gia GDDS mà không thỏa mãn các điều kiện trên đây thì đương nhiên vô hiệu Cụ thể như những trường hợp tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự, hoặc có năng lực hành
vi dân sự một phần, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự… mà pháp luật không cho phép tham gia GDDS một cách độc lập
Ví dụ như: Người đủ 18 tuổi nhưng lại bị mắc bệnh tâm thần, hoặc các
bệnh khác dẫn đến bị mất năng lực hành vi dân sự, hoặc hạn chế hành vi dân
sự theo quyết định của tòa án Hoặc người dưới 6 tuổi (thuộc vào trường hợp mất năng lực hành vi dân sự) thì thực hiện mọi hành vi dân sự cũng đều được xem là vô hiệu, không có giá trị pháp lý và sẽ không được pháp luật công nhận
Di chúc muốn có hiệu lực thì chủ thể lập di chúc cũng phải thỏa mãn đầy đủ các quy định về chủ thể mà pháp luật dân sự quy định Người lập di chúc phải là người minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừ dối, đe dọa, nếu là người từ đủ 18 tuổi trở lên thì phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị mắc các bệnh tâm thần, hoặc các bệnh khác
mà pháp luật quy định bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Nếu di chúc do chủ thể từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì di chúc đó phải được lập thành văn bản, phải có cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý
Trang 17* Mục đích và nội dung của giao dịch không đáp ứng đầy đủ yêu cầu
của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội:
Mục đích của GDDS chính là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch, còn nội dung của GDDS là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận GDDS (điều khoản xác định quyền, nghĩa vụ của các bên) Trong GDDS thì yếu tố thể hiện ý chí là một trong các nguyên tắc chủ yếu và đặc trưng của GDDS Theo nguyên tắc này chủ thể tham gia giao dịch có quyền tự do thể hiện ý chí của mình, tự do trong việc quyết định nội dung, hình thức của giao dịch, thể hiện khi xác lập giao dịch thì các chủ thể có quyền tự do lựa chọn đối tác, tự do thoả thuận nội dung của giao dịch, hình thức giao kết Nhưng sự tự do đó không mang tính tuyệt đối
mà bị ràng buộc trong khuôn khổ pháp luật cho phép Sự ràng buộc này chính
là sự hạn chế do của các chủ thể khi tham gia giao dịch, nếu chủ thể tham gia giao dịch không tuân theo sự hạn chế của pháp luật dẫn tới GDDS vô hiệu, điều này cũng có nghĩa là một khi mục đích và nội dung của GDDS vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì giao dịch đó cũng đương nhiên
vô hiệu
* Chủ thể tham gia giao dịch không tự nguyện
Trong GDDS thì sự tự nguyện ý chí của các chủ thể là rất quan trọng,
vì vậy mà các chủ thể khi tham gia vào GDDS phải thể hiện ý chí đích thực của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép mà không bị sự ép buộc của bất
kỳ một yếu tố nào khác
Ví dụ: Anh A với anh B, tiến hành thỏa thuận và đi đến giao kết với
nhau một hợp đồng mua bán nhà đất của anh B, thì GDDS này chỉ có hiệu lực khi sự ký kết của hai bên đảm bảo tất cả các điều kiện để một GDDS có hiệu lực như: Điều kiện về mục đích, nội dung, hay hình thức, và điều quan trọng
là việc ký kết này phải xuất phát từ sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, có nghĩa là việc anh A và anh B ký với nhau hợp đồng mua bán đất là
Trang 18xuất phát từ ý chi và nguyện vọng của hai bên, không bị một yếu tố quyền lực nào từ bên ngoài chi phối, ép buộc, gây áp lực để bắt các bên thực hiện giao kết hợp đồng, còn nếu xuất hiện sự ép buộc dẫn đến việc ký kết thì hợp đồng đương nhiên vô hiệu Do đó bất kỳ thỏa thuận nào mà không phản ánh đúng ý chí của các bên tham gia vào giao dịch thì đều dẫn đến sự vô hiệu của GDDS
* Hình thức giao dịch không đúng với quy định của pháp luật
Bên cạnh nội dung của GDDS thì hình thức của GDDS cũng là một yếu
tố vô cùng quan trọng của mối giao dịch Tùy vào mỗi tình huống GDDS cụ thể mà việc quy định hình thức để giao dịch có hiệu lực cũng rất khác nhau
Có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Khi các chủ thể tham gia vào GDDS mà không đáp ứng các điều kiện về hình thức này thì đương nhiên giao dịch đó cũng được xem là GDDS vô hiệu Các hình thức giao dịch khác nhau thì lại có những quy định khác nhau về hình thức
Trước hết là hình thức bằng miệng (bằng lời nói): Đây được xem là hình thức phổ biến nhất trong hoạt động GDDS trong xã hội ta hiện nay, phần lớn các giao dịch này ít chịu sự chi phối của các quy định của pháp luật về hình thức giao dịch, nhưng bên cạnh đó cũng có giao dịch được xác lập bằng miệng, những phải tuân thủ các quy định của pháp luật, nếu không tuân thủ thì giao dịch đó cũng đương nhiên vô hiệu
Ví dụ như: Theo quy định tại khoản 5 Điều 652 BLDS năm 2005 thì
“Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải công chúng hoặc chứng thực” Như vậy trong trường hợp lập di chúc bằng miệng mà chủ thể lập di chúc không thỏa mãn các điều kiện trên đây như là: Không có người chứng kiến, hoặc có mà không đủ số lượng, có
đủ người chứng kiến nhưng những người đó lại không ghi chép lại, không ký
Trang 19tên, hay có ghi chép, có ký tên nhưng lại không công chứng, chứng thực thì di chúc đó đã vi phạm điều kiện về hình thức miệng của di chúc, và di chúc được lập bằng hình thức miệng đó cũng được xem là vô hiệu
Hình thức GDDS thứ hai, được áp dụng phổ biến, rộng rãi hơn trong các GDDS là hình thức bằng văn bản Văn bản lại chia làm hai loại, đó là: Văn bản thường và văn bản có công chứng chúng thực, văn bản thường áp dụng trong trường hợp các bên trong giao dịch tự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện bằng hình thức văn bản, có chữ ký xác nhận của các bên, ví dụ: hợp đồng thuê nhà dưới 6 tháng… Còn hình thức văn bản thứ 2 là văn bản có công chúng, chứng thực
Từ thực tế trên cho thấy việc quy định một số loại giao dịch phải tuân thủ các quy định về hình thức là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc chuyển dịch các tài sản có giá trị lớn
Do đó mỗi chủ thể tham gia giao dịch phải tùy vào hoàn cảnh để lựa chọn các hình thức giao dịch đó, sao cho vừa đảm bảo quyền lợi của các chủ thể mà không vi phạm các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của
là xác lập giao dịch để đáp ứng nhu cầu hoặc vật chất của mình mà phải quay lại tình trạng như trước khi tham gia giao dịch Tuy nhiên về mặt thực tế khi tuyên bố giao dịch vô hiệu có bên được hưởng lợi, có bên thiệt hại, có thể nói đây là vấn đề phức tạp nhất khi giải quyết hậu quả pháp lí GDDS vô hiệu trong thực tế
Trang 20Khi GDDS vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ các bên coi như không được xác lập kể từ điểm xác lập giao dịch, cũng đồng nghĩa với việc giao dịch đó không có hiệu lực pháp lý trên thực tế:
Từ những phân tích trên và qua việc xác định đặc điểm chung của GDDS vô hiệu, có thể đi đến một khái niệm khoa học về GDDS vô hiệu như sau: “GDDS vô hiệu là loại giao dịch mà khi xác lập các bên (hoặc chủ thể có hành vi pháp lí đơn phương) đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn tới hậu quả pháp lí mà không làm phát sinh bất kì một quyền hay nghĩa vụ dân sự nào” Và lúc này thì các bên tham gia giao dịch phải áp dụng các quy định về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại điều 137 BLDS năm 2005
1.3 Phân loại GDDS vô hiệu
Khi phân loại GDDS vô hiệu, thông thường, các nhà khoa học căn cứ vào tính trái pháp luật dẫn đến giao dịch vô hiệu để phân ra thành giao dịch
vô hiệu tuyệt đối và GDDS vô hiệu tương đối GDDS vô hiệu tuyệt đối là GDDS không có hiệu lực ngay từ khi giao kết, không có giá trị về mặt pháp
lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên Do vậy, kể cả trường hợp các bên tham gia giao dịch đã ký kết và thực hiện sẽ không có giá trị pháp lý Các bên phải chấm dứt thực hiện và quay lại tình trạng ban đầu và hoàn lại cho nhau những gì đã nhận
Ví dụ: Trong trường hợp ông Hoàng ký với ông Long hợp đồng mua
bán gố quý hiếm, nhưng loại gỗ này được nhà nước bảo vệ, cấm khai thác, do
đó giao dịch trên sẽ vô hiệu toàn bộ (vì hợp đồng ký kết trên đã vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại điều 128 BLDS năm 2005)
Còn đối với giao dịch vô hiệu tương đối là loại giao dịch có khả năng khắc phục, nó được coi là một loại GDDS có thể có hiệu lực nhưng cũng có thể bị vô hiệu theo sự lựa chọn của một trong các bên tham gia giao dịch
Trang 21Giao dịch này thông thường không xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội và chỉ có thể bị vô hiệu đối với bên có lỗi mà không bị vô hiệu đối với bên không có lỗi Khi xác định GDDS vô hiệu thì các quyền và nghĩa vụ của các bên đã thỏa thuận đều không có giá trị pháp lý, còn trong trường hợp giao dịch đó được thừa nhận sau khi đã khắc phục thì đương nhiên quyền và nghĩa
vụ của các bên sẽ được pháp luật bảo hộ, bảo vệ theo sự cam kết của các bên, giao dịch khắc phục được coi là giao dịch mới
Còn đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối thì lại hoàn toàn khác Đây thường là giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật nên trong thực tế Tòa án
và các cơ quan có thẩm quyền không cho phép khắc phục cho dù các bên mong muốn được khắc phục Giao dịch này không có hiệu lực ngay từ thời điểm ký kết, cho dù nó có bị Tòa án tuyên bố vô hiệu hay không
Đối với GDDS vô hiệu tuyệt đối tất cả những người liên quan đến giao dịch đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu, còn đối với GDDS vô hiệu tương đối thì chỉ có người nào được pháp luật bảo vệ mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch tuyệt đối là vô thời hạn, còn đối với giao dịch
vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện được nhà lập pháp quy định một thời gian nhất định Việc phân loại này có ý nghĩa cả trong lý luận và thực tiễn, vì khi đưa ra các biện pháp xử lý các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật có thể cân nhắc các giải pháp tối ưu để quyền và nghĩa vụ của các bên ít bị ảnh hưởng, tổn thất
Nếu căn cứ vào thời hiệu khởi kiện thì xếp giao dịch vô hiệu về hình thức là giao dịch vô hiệu tuyệt đối, còn căn cứ vào tiêu chí có khả năng khắc phục thì giao dịch vô hiệu về hình thức là giao dịch vô hiệu tương đối Trong trường hợp này, cần xác định hình thức của giao dịch chỉ là điều kiện khi thực hiện việc xác lập giao dịch, nếu các bên tham gia giao dịch không thực hiện
Trang 22điều kiện theo đúng hình thức thì giao dịch vô hiệu, nó không thuộc loại GDDS vô hiệu tương đối hay GDDS vô hiệu tuyệt đối
Nhìn chung, GDDS vô hiệu là GDDS mà các chủ thể tham gia giao dịch không tuân thủ theo các điều kiện mà pháp luật quy định đối với GDDS
có hiệu lực pháp luật Hậu quả là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch Đối với một GDDS vô hiệu thì cho dù các bên tham gia giao kết đã thực hiện hoặc thực hiện một phần của giao dịch theo cam kết của các bên thì vẫn không được công nhận về mặt pháp lý và mọi cam kết không có giá trị bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm các bên xác lập giao dịch đó
1.4 Quy định về GDDS vô hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ
1.4.1 GDDS vô hiệu dưới thời nhà Lê và nhà Nguyễn
Trong các đạo luật phong kiến Việt Nam không có khái niệm về giao dịch mà chỉ nêu các loại khế ước chung như: mua bán, cho thuê, cho vay và chế định về thừa kế
Một là: Đối với các quy định về khế ước
Xuất phát từ chính sách: “Trọng nông ức thương’’ của triều đình phong kiến mà luật phong kiến Việt Nam lúc này không quy định rõ vấn đề nghĩa vụ khế ước, nội dung của các loại khế ước Tuy vậy trong Luật Hồng Đức hay Luật Gia Long cũng có ghi nhận về các loại khế ước chung như: Mua bán, cho thuê, cho vay và Luật Hồng Đức cũng được xem là đỉnh cao của lịch sử lập pháp của thời kỳ phong kiến nước ta lúc bấy giờ Về GDDS thời kỳ này
có những đặc điểm sau:
+ Về tự do khế ước: Luật không có một điều khoản nào quy định về tự
do khế ước nhưng cho phép mọi người tự do giao kết khế ước với nhau, Luật chỉ can thiệp khi việc kết lập khế ước vi phạm thuần phong mĩ tục hay rối
Trang 23loạn xã hội Luật của nước ta lúc bấy giờ ghi nhận và đảm bảo nguyên tắc tự
do khế ước, nghiêm trị các hành vi cưỡng bức giao kết thế ước Ví dụ: Điều
355 Luật Hồng Đức quy định: “Người nào ức hiếp mua ruộng đất của người khác thì bị xử biếm hai tư, cho được trả tiền mua” Như vậy trong trường hợp không có sự tự nguyện của một bên trong khế ước thì cũng bị coi là vô hiệu
+ Về việc Quy định Khế ước dân sự vô hiệu do người mất năng lực hành vi thực hiện: Trong luật Gia Long quy định, đối với người thác loạn tinh
thần, họ phải bị xiềng xích, trông nom cẩn thận Vì vậy, họ không thể được giao kết khế ước, kể cả trong lúc họ tỉnh táo
+ Về hình thức của khế ước
Về nguyên tắc chung trong luật phong kiến, khi đương sự đồng ý nội dung của khế ước, đối với các kế ước không quan trọng hoặc giá trị không lớn như: mua bán vật thông thường, vay mượn thời gian ngắn, số lượng ít không phải lập giấy tờ Còn đối với vật có giá trị tương đối lớn gồm: nhà cửa, đất đai, số tiền lớn, trâu bò phải lập giấy tờ, tức là phải lập thành văn bản các bên cùng ký Trong văn bản ghi rõ quyền và nghĩa vụ của các bên Nếu người không biết chữ có thể nhờ người khác viết thay và chứng kiến
Hai là: Đối với thừa kế theo di chúc
Pháp luật thời phong kiến đó đều dựa trên nguyên tắc "tôn trọng ý muốn và quyết định của người có tài sản" Tuy nhiên, bị chi phối bởi các tư tưởng nho giáo mà Nhà nước đã đề lên thành luật, quy định về thừa kế chỉ đề cập tới một loại tài sản duy nhất đó là điền thổ, di chúc dưới dạng văn bản gọi
là chúc thư, người lập di chúc tự lập văn bản, nếu trong trường hợp không tự lập được thì nhờ xã trưởng lập hộ (Điều 366 Quốc triều hình luật) Trong mọi trường hợp chứng thư không tuân thủ theo quy định về hình thức thì sẽ không
có giá trị pháp lý, tài sản thừa kế được chia theo pháp luật quy định
Trang 24Còn trong Bộ luật Gia Long vấn đề thừa kế theo di chúc đã được đề cập đến tại điều 388: “Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải làm theo đúng Vi phạm điều này sẽ mất phần của mình’’
1.4.2 Các quy định về GDDS dưới thời Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, luật dân sự được ban hành với tư cách là luật độc lập Các bộ luật trong thời kỳ này gồm: Bộ Dân Luật Giảm Yếu năm 1883, Bộ Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ năm 1936 - còn gọi là Bộ Dân Luật Trung Kỳ Nhìn chung, các bộ luật này chịu ảnh hưởng trực tiếp của Bộ dân luật Pháp năm 1804 nhưng đã sửa đổi cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam
+ Quy định về khế ước
Theo quy định thời Pháp thuộc thì một khế ước được hình thành khi có các điều kiện sau:
- Phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên về hình thức, nội dung khế
ước và mọi điểm mà các bên đã đưa ra thỏa thuận
- Phải xác định rõ đối tượng của khế ước, đối tượng phải thuộc quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của các bên
- Phải có một việc đích thực chính đáng
Khế ước vô hiệu là khế ước không có một trong các điều kiện làm cho khế ước hợp pháp, cụ thể là:
- Trái với nguyên tắc tự do giao kết khế ước như
Về hậu quả của khế ước thì pháp luật thời Pháp thuộc không quy định
cụ thể về vấn đề này mà chỉ nêu chung chung: “Nghĩa vụ có sự giả dối hoặc phi pháp thì không có hiệu lực gì”
+ Về thừa kế theo di chúc
Pháp luật thừa kế được quy định trong các Bộ dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật chủ yếu dựa trên khuôn mẫu của BLDS
Trang 25Napoleon của Pháp, so với pháp luật thời nhà Lê và thời nhà Nguyễn thì có quy định chi tiết hơn Theo Điều 321 Dân luật Bắc kỳ và Điều 313 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật, thì chỉ có những người đã thành niên hoặc đã thoát quyền, có đủ trí khôn thì có quyền để lại di chúc (quy định tại Điều 261 và Điều 262 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
1.4.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay
Thời kỳ nước ta mới giành được độc lập chưa có điều kiện ban hành văn bản pháp luật để thay thế những bộ luật của chế độ cũ Nhà nước thời bấy giờ tạm sử dụng một số luật lệ ban hành ở Bắc - Trung - Nam với nguyên tắc: Những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa
Sau khi có Hiến pháp mới năm 1959, Tòa án tối cao đã ra Chỉ thị số 772/CT-TATC về việc đình chỉ áp dụng của luật lệ của đế quốc, phong kiến,
ở miền nam chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng công bố thi hành BLDS của chính quyền Sài
Đến thời kỳ thay đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường, lúc này cần thiết phải có BLDS ra đời thay thế các văn bản pháp luật này
Năm 1995 BLDS được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/71996, đồng thời chấm dứt hiệu lực của pháp lệnh hợp đông dân sự năm 1991, BLDS
đã xóa bỏ được những tàn dư của chế độ phong kiến mang tính chất cổ hủ, lạc hậu và bất bình đẳng trong xã hội, đồng thời tiếp thu được những tinh hoa của pháp luật trước đó và pháp luật quốc tế Có thể nói rằng, chúng ta đã có BLDS mang tính ưu việt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của nước ta
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án về GDDS được xác lập và thực hiện trước khi có BLDS phải áp dụng các văn bản trước đây
để giải quyết, nhưng các văn bản thời kỳ này mang tính chắp vá, còn nhiều điều khoản chưa phù hợp BLDS năm 1995 ra đời nhưng Pháp lệnh hợp đồng
Trang 26kinh tế vẫn có hiệu lực, sau đó Luật Thương mại ra đời (năm 1997) dẫn đến nhiều chế định áp dụng trong giao dịch khác nhau, dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất trong việc áp dụng luật Để khắc phục tình trạng trên, BLDS năm
2005 đã ra đời
Có thể nói BLDS lần này có nhiều điểm ưu việt hơn vì đã xóa bỏ những điểm chưa hợp lý trong các quy định luật, đồng thời cũng tiếp thu được những tinh hoa của pháp luật trước đó và pháp luật quốc tế Đặc biệt là quy định có hiệu lực của GDDS tại BLDS năm 2005 mang một số tinh thần khác
so với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 chỉ quy định ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch chứ không quy định bốn điều kiện có hiệu lực của giao dịch như BLDS năm 1995, điều kiện về hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp pháp luật quy định mà thôi, bên cạnh đó thì điều kiện về nội dung và hình thức cũng có sự thay đổi cơ bản Nếu như trong BLDS năm
1995 quy định nội dung và mục đích không trái quy định pháp luật và đạo đức
xã hội thì BLDS năm 2005 lại quy định là: Không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, quy định này đã tôn trọng nguyên tắc hiến định: Công dân được làm những gì pháp luật không cấm
Như vậy, BLDS năm 2005 đã trở thành một đạo luật chung nhất điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh trong quan hệ dân sự nói chung., cũng như trong các quan hệ: hôn nhân và gia đình, kinh doanh và thương mại, lao động nói riêng, đồng thời cũng chấm dứt tình trạng chế định hợp đồng dân sự và thương mại tách biệt, đối với một số loại giao dịch đặc thù thuộc lĩnh vực kinh doanh và thương mại thì sẽ ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước khi áp dụng nguyên tắc giải quyết của BLDS Tuy nhiên
Bộ luật vẫn còn những điểm chưa hợp lý, cần xem xét tiến tới hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi cho hoàn thiện hơn
Trang 27Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VỀ GIAO DỊCH
DÂN SỰ VÔ HIỆU
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về GDDS vô hiệu
2.1.1 Các trường hợp về GDDS vô hiệu
GDDS bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương Do đó các trường hợp GDDS vô hiệu được quy định cụ thể từ Điều 128 đến Điều 134 BLDS năm 2005 Bên cạnh đó thì Điều 652, 653, của BLDS 2005 quy định
về di chúc
+ GDDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức
xã hội
Điều 128 BLDS năm 2005 quy định: “GDDS có mục đích và nội dung
vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu
Ðiều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
Ðạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”
So sánh nội dung quy định trên đây với quy định trong BLDS năm
1995 cho ta thấy về hình thức thì Điều 128 không có những quy định mới hoàn toàn, nhưng xét về mặt tư tưởng chính của điều luật thì đã có những thay đổi cơ bản Trước đây BLDS năm 1995 quy định: Đối với những quy định của pháp luật mà người dân thực hiện không đúng với những quy định đó hoặc pháp luật không có quy định cho phép hay cấm không được làm nhưng người dân vẫn thực hiện giao dịch đó thì bị coi là trái pháp luật và giao dịch
đó đương nhiên vô hiệu, đến BLDS năm 2005 chỉ còn quy định trường hợp GDDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật Như vậy so với quy định
Trang 28của BLDS năm 1995 thì quy định của BLDS năm 2005 đã sửa đổi theo hướng
mở rộng phạm vi cho các GDDS bằng việc giới hạn hơn những hạn chế tự do giao dịch Tuy nhiên trong BLDS năm 2005 còn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng khái niệm về vi phạm điều cấm của pháp luật hay trái pháp luật, bởi vì khái niệm vi phạm điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định nhưng chủ thể vẫn cố tình thực hiện hành vi đó, còn khái niệm trái pháp luật được hiểu theo một nghĩa khái quát và bao trùm hơn khái niệm vi phạm điều cấm của pháp luật, Trái pháp luật ở đây không chỉ là trái với pháp luật dân sự
mà còn trái cả với các văn bản pháp luật khác hoặc trái với chính sách của Nhà nước, như: Không được trái với nguyên tắc của GDDS hoặc các văn bản pháp luật khác
Ví dụ: Theo BLDS năm 2005 thì: Hợp đồng là một dạng hình thức của
GDDS thì hợp đồng cũng “không vi phạm điều cấm pháp luật”, nhưng tại khoản 1 Điều 389 BLDS năm 2005 quy định: “Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật ”, như vậy hợp đồng không những không được “vi phạm điều cấm của pháp luật” mà “còn không được trái pháp luật”,
do đó việc sử dụng thuật ngữ không thống nhất trong trường hợp trên sẽ làm cho nội dung của các hợp đồng giao dịch được điều chỉnh chặt chẽ hơn rất nhiều từ hai điều luật trên
Bên cạnh đó đã quy định về hợp đồng dân sự thì BLDS năm 2005 cũng
đã quy định về trường hợp hành vi pháp lý đơn phương vô hiệu mà điều chỉnh
cụ thể nhất là trong việc xác lập di chúc Nếu di chúc được hình thành có nội dung, mục đích vi phạm điều cấm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì di chúc đó cũng đương nhiên vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, không phụ thuộc xem người lập di chúc đó có đồng ý hay không
Ví dụ: Ông A có 1 vợ và 1 con, năm 2009 ông A chết, để lại di chúc,
nội dung di chúc là để lại toàn bộ tài sản cho chị C, mà chị C chỉ là người
Trang 29quen biết của ông A mà không hề để lại tài sản cho vợ và con của ông, tại thời điểm ông A lập di chúc con của ông mới lên 5 tuổi Như vậy di chúc trên vô hiệu vì nội dung của bản di chúc ông A lập đã vi phạm điều cấm của pháp luật khi không hề để lại tài sản con của ông vì theo quy định của pháp luật con của ông A chưa đến tuổi thành niên, do đó ông A phải có nghĩa vụ trách nhiệm để lại một phần di sản để chăm sóc, cấp dưỡng cho con, vợ của ông, (áp dụng quy định tại điều 699 BLDS năm 2005 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc)
+ GDDS vô hiệu do giả tạo
Điều 129 BLDS về GDDS vô hiệu do giả tạo như sau:
“khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo nhằm che giấu một giao
dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này
Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”
Như vậy GDDS giả tạo là GDDS được thiết lập giữa các bên nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ Trên thực tế, các bên giao dịch không có ý định tạo lập quyền, nghĩa vụ pháp
lý qua giao dịch này Giao dịch được xác lập với mục đích nhằm để trốn tránh
nghĩa vụ đối với người khác hay đối với xã hội hoặc để che giấu một hành vi nào đó, có thể là hành vi bất hợp pháp Một trong vấn đề cơ bản khác để xác định giao dịch giả tạo đó là ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể, tức là có sự thông đồng trước, trước khi xác lập giao dịch giả tạo Đây là dấu hiệu đặc trưng của giao dịch giả tạo, nếu không có sự thông đồng này thì giao dịch đó cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu nhưng không phải là giao dịch giả tạo Có thể nói, yếu tố thông đồng trước là yếu tố đặc trưng của giao dịch giả tạo Ở Điều
129 này thì đối với giao dịch vô hiệu do giả tạo yếu tố khách quan của nó luôn có sự đồng thuận trong việc ký kết xác lập giao dịch giữa các bên
Trang 30Ví dụ: Ông Hoàng ký với ông Minh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, xong xong với hợp đồng trên thì ông Hoàng và ông Minh còn thiết lập với nhau hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thứ hai với giá thấp hơn giá thực tế mà các bên đã thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế với nhà nước
Đối với hành vi pháp lý đơn phương nếu tồn tại yếu tố giả tạo thì hành
vi đó cũng đương nhiên vô hiệu
Ví dụ như: Trong trường hợp di chúc được xác lập nhưng nhằm mục
đích trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hoặc đối với cơ quan nhà nước thì
di chúc đó đương nhiên vô hiệu, hoặc hành vi tặng cho tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thì hành vi tặng cho đó cũng vô hiệu
+ GDDS vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
GDDS là một hình thức cụ thể thể hiện ý chí chủ thể được quy phạm pháp luật dân sự dự liệu và điều chỉnh Do vậy, muốn quan hệ pháp luật dân
sự đó được xác lập, thi hành và công nhận, thì phải thông qua hành vi dân sự
và hành vi đó phải do người có đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện Điều
130 BLDS quy định:
“khi GDDS do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện, thì theo yêu cầu của người đại diện cho người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu, nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện”
Dựa theo độ tuổi và khả năng phát triển nhận thức mà pháp luật phân biệt năng lực hành vi dân sự thành các cấp độ khác nhau như:
+ Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: là cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, không
bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành