Nếu đem của cải đổ vật của mình cho dân vay mượn để lấy giá lời cao hay lợi nhiều thì cũng phải tội như vậy, những của cải đổ vật ấy phải tịch thu sung công.” - Về hình thức của giao dịc
Trang 2HÔ GIÁ O OỤ( VÀ D À O T Ạ O HỘ TU P H Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trần Trung Truc
MỘT SỐ VÂN ĐỂ VỂ GIAO DỊCH DÂN s ự
VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH
DÂN S ự VÔ HIỆU.
Chuyên ngành : Luật dân sự
Trang 3Lời n ó i đ ầ u
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN cứu ĐỂ TÀI.
Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình
độ văn minh của xã hội loài người Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường phát sinh nhiều loại hình giao dịch mà pháp luật dân sự từng bước phải hệ thống hoá bằng các qui định cụ thể Trong quá trình pháp điển hoá các quan
hệ dân sự ở nước ta, chế định giao dịch dân sự được Bộ luật dân sự (viết tắt
là BLDS) ghi nhận tại chương V Phần thứ nhất gồm 18 điều (từ Điều 130 đến Điều 147 của BLDS) Những qui định đó thể hiện được sự khái quát hoá thành những nguyên tắc chung, áp dụng cho tất cả các giao dịch dân sự
là hành vi pháp lý đơn phương hay hợp đổng Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biến, được áp dụng rộng rãi nhất trong giao lưu dân sự, xẩy ra hàng ngày, và tất cả các chủ thể tiến liành xác lập, thực hiện Giao dịch dân sự được BLDS ghi nhận là căn cứ pháp lý
để xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự, chính vì thế trong tình hình hiện nay, BLDS đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống và thoả mãn các điều kiện vật chất, tinh thần hàng ngày cua nhân dân Thực tế đời sống dân
sự là rất phức tạp, cho nên không thể tránh khỏi các tranh chấp xảy ra, vì vậy nghiên cứu sâu vê chế dinh giao dịch dân sự để hiểu rõ hơn bản chất của một chuẩn mực pháp lý này, giúp cho việc hiểu và hình thành thống nhất cách ứng xử của mọi người khi tham gia giao dịch là việc làm không thể thiếu được M ặt khác, cũng do BLDS mới chỉ qui định nguyên lý chung của giao dịch dân sự/ vì vậy cần nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của BLDS về giao dịch dân sự, đặc biệt là vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thi hành và áp dụng pháp luật Đây chính là yêu cầu cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
2 TÌNH HÌNH NGHĨÊN c ứ u ĐỂ TÀI.
Trang 4BLDS nhưng việc nghiên cứu đề tài này dưới dạng m ột công trình khoa học dưới dạng tổng quát thì chưa có một tác giả nào thực hiện Trong thực tế mới chỉ có m ột số bài viết ngắn đăng trên các tạp chí chuyên ngành về những vụ việc cụ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp và áp dụng pháp luật tại các Toà án nhân dân Các liên quan tới một vụ án cụ thể bài viết trên chủ yếu là bình luận dưới một góc độ riêng Thời gian gần đây các công trình đó đã có một số công trình chuyên khảo là các luận án Thạc sỹ luật học nhưng lại viết dưới góc độ gắn liền với m ột loại hợp đồng dân sự cụ thể, ví dụ hợp đồng mua bán, thuê nhà, cho vay và những hậu quả pháp
lý đối với các hợp đồng cụ thể đó Vì vậy, việc nghiên cứu tổng hợp và khái quát chung về giao dịch dân sự lại trong một công trình khoa học duy nhất
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
3 MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
- Mục đích nghiên cứu đề tài là không ngoài việc thống nhất nhận thức sâu sắc hơn bản chất pháp lý của giao dịch dân sự, từ đó đặt các vấn đề giao dịch dân sự trong một mối quan hệ thống nhất có mối liên hệ biện chứng với nhau, giúp cho việc áp dụng các quy định đó trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh từ giao dịch được dễ dàng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề cơ bản nhất của giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu, hướng giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu trong thực tiễn xét xử của Toà án
Phương pháp luận cơ bản là học thuyết của chủ nghĩa M ác-Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu từ cái chung đến cái riêng, từ lý luận soi vào thực tiễn và qua thực tiễn sinh động bổ xung cho cơ sở lý luận đối với những vấn đề về giao dịch dân sự Ngoài ra, trong luận án còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đánh giá sâu hơn các vấn đề trong đề tài và xem xét chúng trong mối liên hệ với nhau, trong giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 55 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN.
Dựa trên cơ sở phân tích các quy định tổng hợp các quan điểm về giao dịch dân sự và thực tiễn áp dụng chúng, tác giả cố gắng xây dựng cơ sở lý luận về giao dịch dân sự một cách có hệ thống, giải thích những qui định có liên quan đến giao dịch dân sự như quan niệm về đạo đức xã hội v.v Những kiến nghị về việc áp dụng chế định này trong việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu
6 C ơ CẨU CỦA LUẬN ÁN.
Luận án bao gồm lời nói đầu, 3 chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Khái quát chung về giao dịch dân sự
1.1 Khái lược về quá trình hình thành và phát triển của các qui định về giao dịch dân sự trong pháp luật Việt nam
1.1.1 Thời kỳ trước năm 1945
1.1.2 Thời kỳ từ năm 1945 đến trước ngày ban hành BLDS
1.1.3 Quá trình hình thành các qui định về giao dịch dân sự trong
BLDS
1.2 Khái niệm và các đặc điểm pháp lý của giao dịch dân sự
1.2.1 Khái niệm chung về giao dịch dân sự
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của giao dịch dân sự
1.2.2.1 Đối vcíi hợp đồng
1.2.2.2 Đối với hành vi pháp lý đơn phương
Chương 2: Các yêu cầu cơ bản của giao dịch dân sự
2.1 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
2.1.1 Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự.2.1.2 Mục đích viì nội duiiG, của giao dịch dân sự không trái pliáp luật
Trang 6và đạo đức xã hội.
2.1.3 Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện,
2.1.4 Hình thức của giao dịch phù hợp với qui định của pháp luật
2.5 Mục đích của giao dịch dãn sự (Điều 132 - BLDS)
2.6 Hình thức của giao dịch dân sự (Điều 133 - BLDS)
2.7 Giao dịch dân sự có điều kiện (Điều 134 - BLDS)
Chương 3: Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân
sự vô hiệu
3.1 Khái niệm chung về giao dịch dân sự vô hiệu
3.2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
3.2.1 Khái quát chung :
3.2.2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
3.2.3 Một số trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý
của giao dịch dân sự đó trong Bộ luật dân sự
3.3 Vấn đế bảo vệ quyến lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
Phần kết luận và những ý kiến đề xuất khi nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được những ý kiến đóng góp, xây dựng của các thầy, các bạn đồng nghiệp và đặc biệt cảm ơn thầy Đinh Văn Thanh - Phó tiến sĩ luật học đã giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này
Trang 7Điển hình của pháp luật cổ nước ta là Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều
hình luật) được soạn thảo và ban hành dưới triều Lê (Thế kỷ thứ XV đến thế
kỷ thứ x v i n ) Đây là đỉnh cao của lịch sử hình thành và phát triển pháp luật so với hệ thống luật cổ nước ta, kể cả việc so sánh với Bộ Hoàng Việt luật lệ do Gia Long ban hành năm 1812
Nhìn tổng quan về Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt nam trong quản lý xã hội thì thấy rằng, các nhà nước phong kiến có áp dụng đan xen giữa đức trị và pháp trị, do có sự ảnh hưởng to lớn của nho giáo Trung quốc vào Việt nam Chính vì vậy những quy định về giao dịch dân sự cũng bị ảnh hưởng, cụ thể là:
a) Các nguyên tắc tổng quát về giao dịch dân sự trong luật cổ không được các nhà lập pháp nêu cụ thể Tuy nhiên, những nguyên tắc ấy có thể coi là kết quả đĩ nhiên của quan niệm nhân trị về pháp luật, bởi trong quy tắc xử sự chung, mọi người đều bị ràng buộc ý thức hệ của đạo Khổng về người quân tử (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) Vì thế, các công trình nghiên cứu trước đây cho thây, trong pháp luật cổ cũng có các nguyên tắc về giao dịch dân sự , chẳng hạn:
- v ề nguyên tắc tự do khế ước (hợp đồng), luật cổ cho phép mọi người
tự do giao kết hợp đồng với nhau Trong đa phần các trường hợp, luật không quy định được phép hay cấm đoán quyền của người dân, nhưng vẫn có những ngoại lệ mà nguyên tắc tự do bị hạn chế Chẳng hạn quan niệm về thuần phong mỹ tục của xã hội phong kiến, đây là những quan điểm bất di,
Trang 8bất dịch trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ như quyền gia trưởng (có thể là quyền của ông bà, hay cha mẹ hay con trưởng v.v ) đó là những người với đạo lý nhân trị họ có quyền to lớn, quyết định những công việc chủ yếu trong gia đình hay dòng họ, vì vậy nhiều giao dịch dân sự muốn được xác lập phải có sự đồng ý của họ Ví dụ, Điều 387 Bộ luật Hổng Đức quy định:
“Phàm cha mẹ còn sống mà bán điền sản phi pháp, con trai phải phạt 60 trượng, giáng hạ hai bậc, con gái phạt 50 roi, giáng hạ một bậc Phải trả nguyên tiền cho người mua và điền sản trả lại cho cha m ẹ ”
Quan niệm về trật tự công cộng, là trật tự xã hội do Nhà nước phong kiến xác lập, duy trì và bảo vệ cũng là yếu tố hạn chế quyền tự do giao dịch dân sự, chẳng hạn:
• Bảo vệ Nhà nước, nển an ninh đất nước: luật cổ quy định rất nhiều điều khoản, có thể nêu một số trường hợp: những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho nước ngoài thì bị tội chém ( Điều 73 Bộ luật Hồng Đức) Những người bán nô tỳ và voi ngựa cho nước ngoài thì bị tội chém ( Điều 74 Bộ luật Hổng Đức)
• Bảo vệ nền kinh tế: luật cổ đã quy định sự bảo vệ những nguyên tắc
cơ bản của nền kinh tế Ví dụ Điều 198 Bộ Luật Hông Đức quy định:
“Những người từ chối không tiêu tiền đồng bị sứt mẻ hoặc đòi giá hàng quá cao mới bán, hay là đóng cửa hàng không bán để bán dấu ở
trong nhà, thì đều bị xử tội biếm Những hàng hoá nói trên đều bị tịch thu sung công.” Với quy đinh này chúng ta thấy, pháp luật triều
Lê đã coi đổng tiền vẫn giữ nguyên giá trị mặc dù bị sứt mẻ, và để đối phó với nạn đầu cơ tích trữ, luật đã cấm bán hàng quá cao giá, cấm không được đóng cửa hàng không buôn bán
Như vậy, tuy không nêu thành văn, nhưng qua nghiên cứu ta thấy sự tự
do giao kết dân sự được pháp luật cho phép, ngoại trừ những trường hợp xâm phạm thuần phong mỹ tục và trật tự công cộng do Nhà nước phong kiến duy trì
b) Các yếu tố chủ yếu của giao dịch dân sự theo pháp luật dân sự trước
Trang 9- Về năng lực pháp luật của chủ thể :
Con cháu thì dưới quyền người gia trưởng, vì vậy không thể có tài sản riêng, do đó không được pháp luật quy định quyền tham gia giao dịch dân
sự, trừ trường hợp người gia trưởng cho phép
Đối với người vợ, mặc dù trong cổ luật không dự liệu sự không có năng lực của người đàn bà có chồng, nhưng theo tổ chức của gia đình phụ
hệ, các giao dịch liên quan đến tài sản của gia đình bao giờ cũng do gia trưởng đứng tên ký kết Song ở nước ta, địa vị người vợ trong gia đình rất quan trọng, vì vậy thường hai vợ chồng đứng tên trong khế ước mua bán hay vay mượn quan trọng
Đối với người thác loạn tinh thần, luật Gia Long quy đinh họ phải bị xiềng xích, bị trông nom cẩn thận vì vậy họ không thể được giao kết hợp đổng
- Về sự lừa dối: Điều 137 luật Gia Long trừng phạt sự lừa dối trong việc mua bán đồ vật, Điều 87 luật Gia Long nghiêm phạt sự bán điền sản phi pháp Theo sự giải thích của nhà làm luật, Điều 87 luật Gia Long bao gồm các trường hợp :
• Bán không có quyền, nghĩa là chiếm đoạt các điển sản của ngườikhác rồi bán phi pháp
• Đổi chác phi pháp những ruộng xấu lấy những ruộng đất phì nhiêu
• Chiếm đoạt tài sản của người khác bằng sự lừa dối và lợi dụng chủ
Trang 10lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm.”
- Về sự cưỡng bách: Luật cổ quan tâm đến việc trừng phạt trongnhững trường hợp cưỡng bách, nhất là đối với người có quyền lực, như các nhà chức trách cai trị trong hạt cưỡng bách dân để mua bán rẻ có lợi cho riêng mình Ví dụ Điều 355 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Người nào ức hiếp mua mộng đất của người thì phải giáng hạ hai bậc, nhưng cho lấy lại tiền m ua.” Điều 688 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Các cơ quan cai quản quân dân cùng những nhà quyền quý mà nhiễu sách, vay mượn của cải đồ vật của dân trong hạt thì phải khép vào tội uổng pháp (lạm dụng pháp luật), phải hoàn lại đổ vật cho chủ Nếu đem của cải đổ vật của mình cho dân vay mượn để lấy giá lời cao hay lợi nhiều thì cũng phải tội như vậy, những của cải đổ vật ấy phải tịch thu sung công.”
- Về hình thức của giao dịch :
Về nguyên tắc cổ luật không quy định các bên phải lập giấy tờ quy định quyền, nghĩa vụ cho các bên cụ thể đối với các giao dịch như mua bán vật thông thường, vay mượn thời gian ngắn, số lượng ít v.v Song trong một số trường hợp lại quy định về hình thức cụ thể như đối với vật có giá trị tương đối lớn gồm nhà cửa, đất đai, số tiền lớn, trâu bò v.v Văn bản này bao giờ cũng lập thành một bản do bên ký kết giao cho bên kia (bên có quyền) Nếu người không biết chữ có thể nhờ người khác viết thay và nhờ người chứng kiến việc này Ví dụ Điều 366 Bộ íuật Hổng Đức quy định:
“Những người làm chúc thư văn khế mà không nhờ các người quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo vật nặng nhẹ Chúc thư văn khế ấy không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được” Như vậy về hình thức, luật không yêu cầu phải có chứng thư, công chứng, nhưng trong thực tế người ta quen nhờ lý trưởng chứng kiến trong các chứng thư quan trọng (mua bán, đổi chác ruông đất v.v )
- Về giao dịch vô hiệu :
Các chế tài được áp dụng trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu không thuần tuý là trách nhiệm tài sản Trong nhiều trường hợp ngoài các
Trang 11quy định về trách nhiệm tài sản còn áp dụng những chế tài của pháp luật hình sự.
Ví dụ :
• Như Điều 366 Bộ luật Hồng Đức đã trích dẫn trên, nếu vi phạm về hình thức thì khế ước đó không có giá trị đây là điển hình của giao dịch vô hiệu do vi phạm hình thức
•Trong trường hợp không có sự tự nguyện của một bên trong khế ước thì cũng bị coi vô hiệu Điều 355 Bộ luật Hổng Đức: “ Người nào ức hiếp
để mua mộng đất của người khác thì phải biếm hai tư và cho lấy lại tiền
m ua”
Hoặc trường hợp bán các điền sản, hoa lợi trái phép (tức đối tượng của giao dịch) thì giao dịch đó cũng bị coi là vô hiệu Mặt khác tính vô hiệu của giao dịch thể hiện ngay cả việc không thực hiện hết nghĩa vụ của các bên
Ngoài ra, cổ luật còn nêu vấn đề thời hiệu giao dịch và các nội dung khác So với pháp luật đương thời ở các nước khác thì cổ luật Việt nam tuy
bị ảnh hưởng của pháp luật Trung quốc, nhưng có tính sáng tạo mang đậm nét tính cách Việt nam và quy định khá đầy đủ các quan hệ dân sự về giao dịch dân sự so với thời kỳ đó
Thời kỳ trước 1945 chúng ta còn tồn tại ba Bộ luật dân sự áp dụng cho
ba miền của nước ta đó là: Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ (năm 1883) và sắc lệnh Tân điền thổ bổ sung sau (năm 1925), Bộ dân luật Trung kỳ (năm 1936), Bộ dân luật Bắc kỳ (năm 1931)
Các nguyên tắc của giao dịch quy định trong các bộ luật thời Pháp thuộc được rút tỉa từ nguyên tắc của Bộ dân luật Pháp 1804 Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, các Bộ dân luật được ban hành với tư cách là một ngành độc lập, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các quan hệ trong giao lưu dân sự Tuy có ảnh hưởng trực tiếp của Bộ dân luât Pháp 1804 nhưng có nhiều điều được sửa đổi cho phù hợp vơí điều kiện kinh tế, xã hội Việt nam đương thời và đặc biệt là phù hợp với những phong tục tập quán
Trang 12phổ thông ở Việt nam
(28/10/1995).
Kể từ khi nước ta giành được độc lập (2/9/1945) Quốc hội nước VNDCCH ban hành Hiến pháp 1946 và sau này Nhà nước ta ban hành các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và hiến phápl992 Các quy định ở Hiê^i pháp là cơ sở, nền tảng cho các quy định về giao dịch dân sự, cho cách ứng
xử của công dân và các chủ thể khác trong khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phù hợp với các giai đoạn của lịch sử Ví dụ Hiến pháp 1946 (Điều6) quy định: ‘T ất cả công dân Việt nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá.”, (Điều 9) ‘Đ àn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.”, hoặc Điều 50 Hiến pháp 1992 quy định: “ Ở nước CHXHCN Việt nam các quyền con người về dân sự được tôn trọng, thể hiện các quyền công dân và được quy định ở trong Hiến pháp và Luật” Có thể nhận thấy thời kỳ này có hai giai đoạn rõ r ệ t :
- Giai đoạn từ 1945 đến năm 1980 thể chế hoá các quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta ban hành hàng nghìn các văn bản dưới dạng luật, sắc lệnh, pháp lệnh, lệnh, nghị định, thông tư, chỉ thị v.v quy định về quan hệ dân sự nói chung và giao dịch dân sự nói riêng Theo dòng lịch sử có thể thấy rằng :
Ngày 10/10/1945 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 90/SL cho phép tạm sử dụng m ột số luật lệ ban hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khi ban hành những Bộ luật chung nhất cho toàn quốc, nếu: Những luật lệ ấy không
trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt nam và chính thể dân chủ cộng hoà.” Như vậy với tinh thần đó, ba Bộ dân luật ở ba miền (Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ 1883, Bộ dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ 1936) được tiếp tục thi hành Nhằm điều chỉnh các giao lưu dân sự trong điều kiện hoàn cảnh mới trong chiến tranh chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 “Sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật ”, làm cho việc áp dụng các quy định của các Bộ luật đế
Trang 13quốc phong kiến theo các nguyên tắc mới, đó là các nguyên tắc: “ Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân.” ( Điều 1) “Người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân”( Điều 12) “Người đàn bà có chồng
có toàn năng về mặt hộ” ( Điều 6) “Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của m ột bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước
có thể bị coi là vô hiệu.” ( Điều 13) v.v Những nguyên tắc có tính chất chỉ đạo này áp dụng chung cho dân luật, vì vậy nó cũng được áp dụng cho giao dịch dân sự
Năm 1959 Toà án Tối cao đã ra chỉ thị số 772/CT-TATC về việc đình chỉ áp dụng các Bộ luật của đế quốc phong kiến Như vậy, các nguyên tắc
áp dụng cho dân luật và giao dịch dân sự chỉ còn là những nguyên tắc được quy đinh tại sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 và các điều được quy đinh tại Hiến pháp Các văn bản dưới luật ban hành trong thời kỳ này có nội dung
và các yêu cầu đối với hợp đồng được quy định riêng rẽ và ít thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi dân sự hợp pháp của công dân mà chủ yếu là tập trung vào việc thực hiện mục đích cải tạo XHCN Nhưng pháp luật dân sự cũng có những bước tiến lớn, đã quy định nhiều loại hợp đồng dân sự như hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng mua, bán, cho, đổi nhà cửa, phương tiện vận tải, hàng hoá; hợp đồng gửi giữ, uỷ nhiệm, thuê mướn nhân công v.v Ví
dụ, yêu cầu về hình thức của hợp đồng mua bán, cho, đổi nhà được quy định ở Sắc lệnh 85/SL ngày 20/2/1952 ban hành thể lệ trước bạ về việc mua bán, cho và đổi nhà cửa, mộng đất Điều 1 sắc lệnh 85/SL quy định: ‘Việc mua bán cho và đổi nhà cửa, mộng đất bắt buộc phải trước bạ, rồi mới được sang tên trong sổ địa bộ và sổ thuế; việc chuyển dịch các tài sản khác được miễn trước bạ.” Hoặc điều lệ thống nhất quản lý nhà cửa ở thành phố, thị
xã, thị trấn do Nghị định số 2/CP ngày 4/1/1979 của Hội đổng chính phủ ban hành, tại điều 16 Nghị định quy định: “Việc mua bán nhà cửa của nhân dân và việc chuyển dịch nhà cửa của cơ quan, xí nghiệp phải theo đúng với các nguyên tắc, thủ lục do pháp luật Nhà nước quy định.” Hoặc hướng giải
Trang 14quyết hình thức hợp đồng mua bán nhà được báo cáo tổng kết ngành Toà án nhân dân năm 1980 nêu: “ Nếu mua bán trước ngày ban hành Nghị định
số 2/CP ngày 4/1/1979 của Hội đồng chính phủ mà không có chứng nhận, hoặc trước bạ sang tên, qua điều tra nếu có đủ chứng minh là hai bên thực
tế có sự mua bán, bên bán đã nhận tiền, bên mua đã đến ở, thì công nhận việc mua bán là hợp pháp .Nếu là mua bán sau ngày ban hành Nghị định
số 2 ngày 4/1/1979 của Hội đồng chính phủ chưa có chứng nhận của chíph quyền hoặc chưa được trước bạ sang tên thì hợp đồng mua bán đó là vô hiệu”
Một trong những căn cứ để xét hợp đồng vô hiệu hay hợp pháp là việc dẫn chiếu các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu Nguyên tắc chung là hợp đồng vô hiệu nếu vi phạm các nguyên tắc cơ bản của sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 Ngoài ra, Chỉ thị số 4/DS ngày 14/10/1963 của Toà
án Tối cao về đường lối giải quyết những giao dịch hợp pháp và bất hợp pháp, ví dụ trong chỉ thị này có nêu rõ những giao dịch bất hợp pháp như: giao dịch trong việc hùn vốn đầu cơ trục lợi, trong việc buôn hàng lậu thuế,
sự là: Pháp lệnh hợp đổng dân sự năm 1991; Pháp lệnh nhà ở năm 1991;
Trang 15Luật đất đai năm 1993 Các văn bản pháp luật giai đoạn này tạo thành một
bộ khung pháp lý cho các giao dịch dân sự phát triển và hướng giải quyết các tranh chấp về giao dịch dân sự ở đây các khái niệm (tập trung ở hợp đổng) các nguyên tắc, yêu cầu cơ bản, điều kiện hợp pháp các hợp đổng vô hiệu được quy định tương có hệ thống
1.1.3 Quá trình hình thành các quy định vê giao dịch dân sự trong BLDS.
Ở giai đoạn trước ngày BLDS được ban hành, giao dịch dân sự được quy định và tập trung ở các Pháp lệnh, đặc biệt là Pháp lệnh hợp đổng dân
sự năm 1991 Nhưng đánh giá tổng quan về giai đoạn này là: nhiều lĩnh vực quan hệ dân sự chưa được điều chỉnh như nghĩa vụ dân sự, hợp đổng dịch vụ, cho vay, lãi xuất v.v , mặt khác do chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, nhiều quy đinh trong các văn bản pháp luật dân sự hiện hành không còn phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới Các tranh chấp dân sự phát sinh đa dạng, phức tạp giữa các chủ thể, gây khó khăn cho các cơ quan xét
xử Các Toà án ở nước ta vẫn phải dựa vào báo cáo tổng kết ngành hàng năm, các báo cáo chuyên đề và các thông tư hướng dẫn của Toà án nhân dân Tối cao trong hoạt động xét xử Các loại văn bản hướng dẫn này chỉ là biện pháp giải quyết tình thế để bù lấp chỗ trống trong hệ thống pháp luật dân sự, như vậy là không phù hợp với nguyên tắc pháp chế XHCN Vì vậy, vói mục đích: tăng cường khuyến khích, đẩy mạnh giao lưu dân sự; bảo đảm đời sống và phát triển sản xuất, kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể và lợi ích cá nhân; bảo đảm sự quản lý của Nhà nước, nhằm giải phóng sức sản xuất; tạo ra một chuẩn mực pháp lý cho các chủ thể luật dân sự tham dự vào các quan hệ dân sự về giao dịch, BLDS ra đời đáp ứng đòi hỏi trên Với một quá trình soạn thảo BLDS lâu dài, qua nhiều
dự thảo, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật dân sự nước ta, giao dịch dân sự được quy định thành một chương riêng biệt (chương 5 phần thứ nhất) của BLDS (từ Điều 130 đến Điều 147) ở phần này những khái niệm chung và một số quy định có tính chất nguyên tắc về giao dịch dân sự được hệ thống hoá Khái niệm về giao dịch dân sự được
Trang 16mở rộng không chỉ đối với hợp đồng dân sự mà còn đối với cả hành vi pháp
lý đơn phương nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
Cùng với khái niệm, các quy định khác về giáo dịch dân sự dựa trên cơ
sở kế thừa các quy định của các văn bản pháp luật trước, như Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh thừa kế 1990, Pháp lệnh bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 1989 - V V , nhưng được phát triển, mở rộng cho phù hơp với thực tiễn
Các quy định về nội dung của giao dịch dân sự như điều kiện hợp pháp của giao dịch dân sự, quy định riêng về mục đích, hình thức của giao dịch dân sự, giao dịch dân sự có điều kiện v.v và đặc biệt là vể giao dịch dân
sự vô hiệu, được quy định tỉ mỉ, chi tiết hơn (như giao dịch dân sự vồ hiệu
do không tuân thủ hình thức, giao dịch dân sự vô hiệu do người mất năng lực hành vi dân sự, do bị nhầm lẫn, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu v.v )
M ột điểm nữa là quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự được quy định chi tiết, tỉ mỉ hơn trong phần thứ ba: nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự Ví dụ: ngl ầ vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn cách sử dụng, nghĩa vụ bảo hành của các bên trong hợp đồng mua bán Các điều kiện để bên thuê nhà được quyền ưu tiên mua nhà đang thuê.v.v
Có thể nói, quá trình hình thành các quy định vể giao dịch dân sự trong BLDS được các nhà lập pháp soạn thảo trên cơ sở các quy định về giao dịch dân sự trước đó và lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, của các cơ quan nhà nước có liên quan, và là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học công phu về giao dịch dân sự đã và đang tổn tại và sẽ phát sinh, từ
đó tập hợp dựa trên cơ sở lý luận khoa học để hình thành chế định giao dịch dân sự
1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM p h á p l ý c ủ a g i a o d ị c h d â n s ự
1.2.1 Khái niệm chung về giao dịch dân sự.
Trang 17Trong thực tiễn đời sống xã hội, đa sô các quan hệ dân sự được điều chỉnh thông qua hợp đồng và các hành vi pháp lý đơn phương, gọi chung giao dịch dân sự có đối tượng là quan hệ về tài sản và một số quan hệ nhân thân.
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế hành chính bao cấp sang nền kinh
tế thị trường ở nước ta đã tác động mạnh vào cách nhìn nhận về các giao dịch dân sự Ngược lại, giao dịch dân sự của kinh tế thị trường cũng trô thành công cụ tác động tích cực trở lại, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, nhất là chúng thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng của mọi người dân Các giao dịch ngày càng đa dạng phức tạp hơn do
có sự tham gia của nhiều chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, trong và ngoài nước, và sự đan xen nhiều loại hình sở hữu khác nhau, các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được mở rộng hơn trước Ví dụ như trong lĩnh vực sử dụng đất đai, vấn đề uỷ quyền quản
lý, sử dụng, đinh đoạt tài sản v.v
Tại Điều 130 BLDS qui định: “Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Từ qui định trên, ta có thể thấy giao dịch dân sự bao gồm các yếu tốsau :
* Chủ thể của giao dịch dân sự: là các bên có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi tham gia giao dịch dân sự nhằm vào một mục đích nhất định Theo BLDS chủ thể bao gồm: Cá nhân, Pháp nhân, Hộ gia đình và Tổ hợp tác
-Về cá nhân: (được qui định tại chương 2 phần thứ nhất của BLDS) Năng lực pháp luật của cá nhân !à khả năng của cá nhân hưởng quyền và có nghĩa vụ dân sự do pháp luật dân sự điều chỉnh Năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi người đó sinh ra còn sống và chấm dứt khi người đó chết; mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật như nhau; không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật qui định hạn chế năng lực pháp luật của cá nhân
Trang 18Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực hành vi dân sự được Luật dân sự qui định căn cứ vào độ tuổi, vào sự thể hiện ý chí ra bên ngoài, công dân có thể bị hạn chế năng lực hành vi hoặc bị tuyên bố mất năng lực hành vi v.v
Đối với cá nhân là người nước ngoài (không mang quốc tịch Việt nam, hoặc không quốc tịch, mang quốc tịch của quốc gia khác) đang sinh sống
và làm việc tại Việt nam có địa chỉ thường trú taị Việt nam, thì về nguyên tắc năng lực pháp luật và năng lực hành vi của họ như công dân Việt nam Nhưng xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền, an ninh quốc gia, người nước ngoài có thể bị hạn chế một số quyền nào đó (như nơi cư- trú, sở hữu nhà v.v ) hoặc bị hạn chế giao dịch dân sự theo chế độ đãi ngộ như công dân
do luật quốc tế điều chỉnh Vấn đề này còn tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa Việt nam và nước mà công dân đó mang quốc tịch
- Về pháp nhân: được qui định tại chương 3 phần thứ nhất BLDS Theo quy định tại Điều 14 BLDS một tổ chức được công nhận là Pháp nhân khi có đủ các điều kiộn sau đây :
+ Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận (ở đây bao hàm yếu tố xin phép và được phép của tổ chức đó)
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ (có lý lịch, tên gọi, trụ sở, điều lệ v.v )
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó (đây là tiền đề vật chất có ý nghĩa quan trọng trong thực tế để pháp nhân tham gia giao dịch dân sự với tư cách chủ thể độc lập)-
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Đây là những điều kiện cơ bản qui địiih qui chế pháp lý đối với pháp nhân, thiếu một trong bốn điều kiện kể trên, thì không thể trở thành pháp nhân với tư cách là chủ thể của giao dịch dân sự
Trang 19- v ề hộ gia đình và tổ hợp tác được qui định tại chương 4 phần thứ nhất BLDS , là một chế định mới ghi nhận “chủ thể khác” khi tham gia giao dịch dân sự.
+ Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để lao động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh,
do pháp luật qui định, mới trở thành chủ thể của giao dịch dân sự, chứ không phải tất cả các hộ gia đình đều trở thành chủ thể của giao dịch dân sự (tức là phải có điều kiện nhất định)
+ Tổ hợp tác: là các cá nhân từ 3 người trở lên hình thành tổ hợp tác trên cơ sở hợp đồng, hợp tác, có chứng thực của ƯBND xã, phường, thị trấn, cùng đóng góp tài sản công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm dân sự thì trở thành chủ thể của giao dịch dân sự
Hộ gia đình, tổ hợp tác ỉà chủ thể được xây dựng do sự tổn tại khách quan của nó, đặc biệt là hộ gia đình: Một hình thức tổ chức kinh tế vừa và nhỏ, phù hợp với sự đổi mới của nền của nền kinh tế nông thôn Nó liên quan đến các loại về quan hệ về quyền sử dụng đất, mua bán thuê mướn công cụ, vật tư sản xuất để khai thác đất đai, mua bán tiêu thụ sản phẩm.v.v Còn đối với tổ hợp tác được hình thành như một nhu cầu tất yếu,
tự nhiên vì lợi ích thiết thân của người lao động trong quá trình mở rộng sản xuất, kinh doanh, phát huy sức mạnh cộng đồng, tình hữu ái, tương trợ nhau trong sản xuất và đòi sổng Nó là hình thức đơn giản liên kết giữa các cá nhân hoạt động riêng lẻ, tách biệt thành một tổ chức có chung tài sản, tổ chức lao động, điều hành và cùng liên đới chịu trách nhiệm về tài sản và ăn chia khi có hoa lợi
* Khách thể của giao dịch dân sự: Giao dịch dân sự là phương tiện
pháp lý quan trọng nhất, phổ biến nhất trong giao lưu dân sự, nhằm chuyển dịch quyền tài sản cũng như để thoả mãn nhu cầu tinh thẩn của mọi người trong cuộc sống Nếu khách thể chung của quan hệ pháp luật là cái mà
17
Trang 20quan hệ pháp luật đó tác động tới thì trong giao dịch dân sự có thể khẳng định nó là những quyền lợi, lợi ích vật chất hay tinh thần mà các bên mong muốn đạt được thông qua giao dịch dãn sự.
Những lợi ích vật chất ở đây có thể bao gồm :
- Tài sản theo Điều 172 - BLDS thì bao gồm vật có thực, tiền, các giấy
tờ giá trị được bằng tiền và các quyền tài sản Tài sản ở đây được dùng mua bán, trao đổi, tặng cho.v.v nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ cho sản xuất kinh doanh
- Kết quả của hoạt động tinh thần sáng tạo: đó là thành quả của sản phẩm trí tuệ do con người trong quá trình lao động tinh thần tạo ra Nó được biểu hiện dưới các dạng: các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, là các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp ; có thể nói những đối tượng này phải được đăng ký quyền đối với sản phẩm của mình mới được pháp luật bảo vệ
- Quyền sử dụng đất; người sử dụng đất theo Luật đất đai và Luật dân
sự có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa k ế quyền sử dụng đất Vì vậy, quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đổng chuyển quyền sử dụng đất và là di sản trong thừa kế
Có quan điểm cho rằng, đó là hành vi xử sự m à các bên hướng đến nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự “Là những cái
mà các chủ thể của quan hệ pháp luật hướng tới, tác động vào” ^ 1)
Hành vi trong giao dịch dân sự có thể là hành vi đơn phương hay hành
vi đa phương (hợp đồng)
Hành vi có thể là hành động hoặc không hành động theo sự thoả thuận của các chủ thể trong các giao dịch dân sự cụ thể
Hành vi trong giao dịch dân sự: nếu là hợp pháp sẽ làm phát sinh
1 X e m ; Ciiáo tr ìn h ĨAiẠl clA.il s ự Viột n a m T ạ p 1 t r ư ờ n g Đ ạ i h ọ c lu ậ t H à n ộ i N X B C ô n g an n h â n
dân 1997 T r 57.
Trang 21quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi xác lạp giao dịch dân sự, nếu không bất hợp pháp sẽ không làm phất sinh quyền và nghĩa vụ các bên từ thời điểm xác lập giao dịch.
* Nội dung của giao dịch dân sự: là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ
dân sự của các bên trong giao dịch dân sự Giữa quyền và nghĩa vụ luôn luôn có mối quan hệ biện chứng thống nhất vói nhau Đối với hợp đồng dân
sự thì không thể có quyền bên này mà không làm phát sinh nghĩa vụ của họ
và ngược lại, nghĩa vụ của bên kia cũng là căn cứ làm phát sinh quyền cho
họ, vấn đề này được thường xuyên đặt ra và giải quyết dễ dàng, nhưng trong hành vi pháp lý đơn phương (như để lại di chúc, hứa thưởng v.v ) thì giữa quyền và nghĩa vụ dân sự phải được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể
Ví dụ, trong trường hợp một người từ bỏ quyền sở hữu, thì sẽ phát sinh nghĩa vụ tôn trọng lợi ích công cộng, lợi ích của người khác (người thứ ba
có liên quan), nghĩa vụ này phát sinh trên những quy định về nguyên tắc hay điều luật cụ thể
Quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự được thể hiện như sau:
- Quyền dân sự : đó là quyền năng dân sự của chủ thể được pháp luật dân sự cho phép, nó bao gồm quyền theo khả năng có thể được thực hĩện (ví dụ như chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình), quyền này tồn tại và được ghi nhận một cách khách quan, thường xuyên, xuyên suốt, tiềm
ẩn trong quá trình chủ thể còn tồn tại Mặt khác, ehủ thể có quyền hành xử theo ý muốn của mình trong từng giao dịch cụ thể, tức là bằng khả năng của mình, họ biến quyền dân sự đó trở thành thực tế (quyền chủ quan), sự thể hiện ý chí tức thời phải là sự phản ánh đúng ý chí của họ đối với những loại giao dịch được phép, trong đó họ xác lập được quyền dân sự của mình
Quyền dân sự của các bên luôn luôn được pháp luật công nhận và bảo
vệ, có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo
vệ quyền đ, khi bị người khác vi phạm
Nghĩa vụ dân sự: đó là cách xử sự bắt buộc của người có năng lực
Trang 22hành vi dân sự v ề tổng quan thì nghĩa vụ đầu tiên phải là tôn trọng, không được xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Điều luật quy định về nghĩa vụ này thường là ở dạng cấm không được làm hoặc phải làm những hành vi nhất định (như cấm mua bán hàng Nhà nước cấm lưu thông, cấm mua bán đất v.v ), nghĩa vụ ở đây còn phải tôn trọng đạo đức xã hội, tập quán của địa phương Còn trong giao dịch dân sự cụ thể thì phải thực hiện nghĩa vụ nhằm thoả mãn yêu cầu của bêji
có quyền Nghĩa vụ có thể bằng một hay nhiều hành vi nhất định (như giao tài sản hay trả tiền trong hợp đồng mua bán ) hoặc không thực hiện những hành vi nhất định (như không được tự ý sửa chữa nhà đang thuê, không được bán tài sản đang mượn )- Nghĩa vụ dân sự cũng có thể do người có nghĩa vụ được phép lựa chọn cách xử sự (ví dụ như trả tiền hay vàng có giá trị tương đương trong hợp đồng mua bán ) Nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà gây thiệt hại thì có thể phải bồi thường thiệt hại
do lỗi của họ gây ra
Như vậy, có thể đưa ra một khái niệm tổng quan về giao dịch dân sự như sau: Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý của cá nhân hay pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự để thoả mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của chủ thể trong quá trình trong giao lưu dân sự do pháp luật dân sự điều chỉnh
* Các nguyên tắc của giao dịch dân sự: đó là những tư tưởng chỉ
đạo chung cho các giao dịch dân sự và hậu quả của giao dịch dân sự đó BLDS không qui định cụ thể các nguyên tác của giao dịch dân sự; dựa theo phép suy đoán trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của BLDS, ta có thể hệ thống những nguyên tắc của giao địch dân sự như sau :
- Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi hành vi trong giao dịch dân sự xác lập, thi hành không được xâm hại đến các quyền lợi, lợi ích của Nhà nước, của tập thể hay của công dân, nếu vi phạm ,thì giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu và
Trang 23không có hiệu lực thi hành Nguyên tắc này dựa trên cơ sở qui định tại Điều 2 của BLDS như một nguyên tắc chung cho tất cả các quan hệ dân sự nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự.
- Nguyên tắc không trái pháp luật, đạo đức xã hội là đòi hỏi đối vớichủ thể khi xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự phải tuân theo các điều kiện, trình tự, thủ tục và nội dung mà pháp luật dân sự đã quy định (dù
cố ý hay vô ý) với pháp luật hoặc đạo đức xã hội *Trong một số trường hợp pháp luật không qui định loại hình giao dịch dân sự, thì giao dịch dân sự xác lập không được trái với những nguyên tắc
cơ bản của Luật dân sự Nguyên tắc này được nêu rõ tại Điều 3 và Điều 4 BLDS
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực trong giao dịch dân sự là nguyên tắc đòi hỏi khi xác lập quyền và nghĩa vụ dân
sự, không bên nào được áp đặt, cấm đoán cưỡng ép đe doạ, ngăn cản nhau Không được lấy lý do phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để xác lập quyền dân sự không bình đẳng với nhau, và khi đã xác lập quyền và nghĩa
vụ dãn sự, các bên phải có nghĩa vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau thực hiện, không bên nào được lừa dối bên nào (các Điều 7, 8 và 9 BLDS)
- Nguyên tắc mọi thoả thuận, cam kết hợp pháp trong giao d' :h dân sự
có hiệu lực bắt buộc thi hành :
Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện chậin thực hiện không đúng nghĩa vụ mà mình đã tự nguyện cam kết, thoả thuận Nếu không tự nguyện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo qui định của pháp luật (Điều 10 BLDS)
- Nguyên tắc hoà giải :
Các bên được khuyến khích hoà giải trong khuôn khổ của pháp luật qui định đối với quá trình thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Không ai được dùns, vĩĩ lực hoặc đe doạ clìing vfỉ iực trong việc giải quyết
Trang 24tranh chấp dân sự với nhau (Điều 11 BLDS).
- Nguyên tắc bảo vệ quyền dân sự :
Quyền dân sự của các bên xác lập được pháp luật bảo vệ, khi có hành
vi xâm hại thì chủ thể có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền can thiệp bằng các biện pháp như: buộc khôi phục tình trạng ban đầu, bổi thường thiệt hại v.v (Điều 12 BLDS)
Chế định giao dịch dân sự có ý nghĩa to lớn, đó là sự cần thiết cấp bách trong việc điều chỉnh mối quan hệ cơ bản trong pháp luật dân sự, nó tạo khuôn mẫu, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân
sự, góp phần đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội cua đất nước
* Phân loại giao dịch dân sự :
- Dựa vào sự thể hiện ý chí của các bên có thể phân ra hai loại giao dịch dân sự đó là : hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng dân sự
- Dựa vào điều kiện các bên đặt ra khi tham gia giao dịch dân, quyền, nghĩa vụ dân sự đó được xác lập, Ihay đổi hay huỷ bỏ có sự phụ thuộc vào điều kiện nào, ta có loại giao dịch dân sự có điều kiện
- Dựa vào hình thức giao dịch dân sự ta phân biệt: giao dịch dân sự có hình thức bắt buộc và giao dịch dân sự không có hình thức bắt buộc
+ Giao dịch có hình thức bắt buộc: là việc các bên phải tuân theo hình thức nhất định mà pháp luật dân sự quy định Thường là hình thức bằng văn bản có công chứng, chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: hợp đồng mua bán nhà phải được lập thành văn bản,
có chứng nhận của cơ quan công chứng Nhà nước và trước bạ sang tên (Điều 443, 444 BLDS )
+ Giao dịch dân sự không có hình thức bắt buộc: là các bên có thể lựa chọn giao dịch bằng lời nói, văn bản hay bằng hành vi cụ thể tuỳ theo ý chí của các bên khi thoả thuận, có nghĩa bằng bất cứ hình thức
gì được qui định trong luật dân sự
Trang 25Giao dịch dân sự có hình thức bắt buộc vừa thể hiện sự quản lý và giám sát của Nhà nước, vừa đảm bảo độ an toàn pháp lý cho quyền tự do thoả thuận của chủ thể, buộc các bên tuân theo qui định có tính chất khuôn mẫu khi xác lập giao dịch dân sự chính là bảo vệ quyền dân sự của các bên Còn giao dịch dân sự không có hình thức bắt buộc, thể hiện sự tự do của chủ thể lựa chọn hình thức khi giao dịch dân sự phù hợp với nội dung và tính chất của giao dịch đó mà không chịu sự quản lý cũng như sự giám s.át
từ phía Nhà nước
* Giải thích giao dịch dân sự :
Thông thường, giao dịch dân sự do các bên xác lập qui định rõ quyền, nghĩa vụ dân sự, biến quyền và nghĩa vụ đó trở thành thực tế, đáp ứng nhu cầu, mục đích của các bên khi tham gia giao dịch Nhưng trong nhiều giao dịch có thể có nội dung không rõ ràng hoặc không được nêu rõ ra, do đó cần phải giải thích giao dịch dân sự, nhằm bổ sung những điểm còn thiếu hay không rõ ràng đó
Giải thích giao dịch dân sự là làm sáng tỏ vể mục đích, nội dung, ý muốn đích thực của các bên trong giao dịch dân sự, nhằm đạt hiệu quả tối
ưu của giao dịch, bảo đảm cho giao dịch đàn sự được thực hiện phù hợp với
ý chí đích thực của các bên
Điều 135 - BLDS qui định : “1- Việc giải thích giao dịch dân sự phải căn cứ vào ý muốn đích thực của các bên khi xác lập giao dịch và mục đích của giao dịch đó 2- Trong trường hợp giao dịch dân sự có thể hiểu nhiều nghĩa khác nhau, thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch, theo tập quán nơi giao dịch được xác lập, nếu bên mạnh thế về kinh tế đưa vào giao dịch nội dung bất lợi cho bên yếu thế về kinh tế, thì khi giải thích giao dịch dân sự phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế.”.Như vậy, giải thích giao dịch dân sự trước hết là giải thích theo ý muốn đích thực của người xác lập giao dịch dân sự Nhưng trong thực tế, giao dịch dân sự có tranh chấp thì ý muốn của các bên thường khác nhau, vì vậy khi giải thích cần phải căn cứ vào mục đích chung mà thông qua giao
Trang 26dịch các bên cần đạt được (như mục đích của hợp đồng), đồng thời xem xét
cả mục đích kinh tế xã hội của các bên (thoả mãn nhu cầu gì có phù hợp với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế hay không)
Có trường hợp nội dung của giao dịch bao hàm có những điểm mâu thuẫn với nhau, nhất thiết khi giải thích phải căn cứ vào mục đích cơ bản của giao dịch, phải đặt chúng trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của nội dung phù hợp với quan hệ pháp luật mà các bên xác lập *Trong trường hợp nội dung của giao dịch có điểm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch, theo tập quán hoặc theo thông lệ nơi thực hiện giao dịch Tập quán hay thông lệ phải được xã hội thừa nhận và có hiệu lực như qui phạm của pháp luật đối với các bên tham gia giao dịch Tập quán hay thông lệ còn có nét riêng, phụ thuộc vào từng địa phương, từng lĩnh vực hoạt động hoặc từng ngành nghề nhất định Mặt khác nếu nội dung của giao dịch thiếu m ột số điều khoản nhất định, nhưng không thuộc nội dung chủ yếu, thì có thể bổ xung theo tập quán đối với giao dịch tại nơi thực hiện giao dịch đó
M ột điểm nữa được qui định khi giải thích giao dịch dân sự là trường hợp: bên có lợi thế về kinh tế đưa vào giao dịch dân sự những nội dung bất lợi cho bên yếu thế về kinh tế, thì khi giải thích giao dịch phải theo hướng
có lợi cho bên yếu thế về kinh tế, quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của bên yếu th ế về kinh tế và tạo ra sự bình đẳng tương đối cho họ Nhưng quan niệm thế nào là lợi thế và yếu thế về kinh tế chưa cụ thể, vì vậy, theo quan điểm của chúng tồi thì có thể phải xem xét tư cách, chủ thể dựa trên một vài yếu tố khi giao dịch dân sự đó được xác lập như sau :
+ Khả năng thu nhập bình quân của các bên khi xác lập giao dịch với nhau, (ở đây phải có sự chênh lệch tương đối lớn trở lên)
+ Nhu cầu thoả mãn giá trị vật chất hay tinh thẩn của các bên trong giao dịch dân sự (ví dụ một người mua đồ dạc về để trưng bày cho đẹp, người bán cần tiền để ỉo chữa bệnh tật hiểm nghèo)
Trang 274- Tính cấp bách hay không của các bên khi xác lập giao dịch dân sự (cũng xuất phát từ nhu cầu và phụ thuộc vào ý thức chủ quan khi giao dịch).
+ Giao dịch dân sự đó được xác lập trong hoàn cảnh kinh tế, xã hội như thế nào, giữa các bên ra sao (như có thiên tai, lụt lội, chính trị
xã hội biến động, hay tài sản bị trượt giá v.v )
+ Giao dịch dân sự đó phải được loại trừ với giao dịch có sự nhầm lẫn
bị lừa dối đe doạ
Ví dụ: A cần bán một bình cổ cho B (B đã biết trước về bình đó) vớigiá 2 triệu đồng để lấy tiền chữa bệnh cho thân nhân đang ốm nặng B nhấttrí mua và trả trước 1 triệu và thoả thuận xem lại có thể bớt tiền Khi B xemlại tuy bình cổ đó không có khuyết tật gì nhưng vẫn đòi bớt tiền500.000đ,00 Ở trường hợp B đưa vào nội dung mua bán là bớt tiền nhằm
lợi dụng hoàn cảnh khó khăn để ép A phải bán tài sản là bất lợi cho A Vì vậy, khi giải thích hợp đồng mua bán này cần buộc B phải có nghĩa vụ trả tiền với giá thoả thuận (2.000.000d,00), việc hạ giá trị không có lý do chính đáng vì bình không có khuyết tật và để đảm bảo quyền lợi cho A khi giao dịch, (đang ở trong tình trạng khó khăn về k inh tế)
Việc giải thích giao dịch dân sự còn phải căn cứ vào logic của vấn đề, vào nhiều yếu tố khác (các tình tiết hoặc hoàn cảnh cụ thể, ngôn từ sử dụng, các điều khoản chính, phụ v.v ) để đạt được cách giải thích tốt nhất, công bằng nhất, nhưng không được đi trái với bản chất của giao dịch và ý chí của các bên khi xác lập giao dịch dân sự đó
Trong trường hợp giao dịch dân sự cụ thể nhưng việc giao kết lại thực hiện trên cơ sở một hợp đồng mẫu do một bên đưa ra, thì bên đưa ra hợp đồng mẫu còn phải chịu sự bất lợi khi giải thích điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng mẫu ( Điều 406 BLDS)
* Hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự.Trong trường hợp bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện
Trang 28không đúng nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền Ngoại trừ trường hợp người có nghĩa vụ không thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng (trừ trường hợp có sự thoả thuận hoặc pháp luật có qui định khác).
Nguyên tắc xác định trách nhiệm dân sự dựa vào việc xác định lỗi Bên
có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự, nếu nghĩa vụ dân sự không thực hiện được hoàn toàn do lỗi của người có quyền, có nghĩa là người vi phạm nghĩa vụ chỉ phải bồi thường theo mức độ lỗi của mình gây ra thiệt hại Lỗi trong trách nhiệm dân sự có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý, bên vi phạm nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự bao gồm bồi thường thiệt hại vật chất và bôì thường thiệt hại tinh thần
-Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền bao gồm tổn thất về tài chính, chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.v.v
- Thiệt hại về tinh thần chưa được BLDS qui định cụ thể Đây là vấn đề phức tạp, quan điểm của chúng tôi về vấn đề này sẽ được trình bày ở chương giao dịch dân sự vô hiệu
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của giao dịch dân sự
Như phần trên đã trình bày, giao dịch dân sự là sự thể hiện ý chí của các bên khi xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ, nó được phân loại thành 2 loại: hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đon phương Vì vậy, để xem xét đặc điểm cơ bản của giao dịch dân sự, ta xét theo hai Ịoại giao dịch, đó là :
I.2.2.I Đối với hợp đồng.
Theo Điều 394 - BLDS khái niệm về hợp đồng dân sự được qui định như sau: “Hợp đổng dân sự là thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.” ■
Trang 29Hợp đồng dân sự là một dạng cơ bản, chủ yếu của giao dịch dân sự Thường giao dịch dân sự thể hiện rõ nét qua hợp đồng dân sự.
- Về chủ thể của hợp đồng dân sự là chủ thể chung của pháp luật dân
sự như đã nêu ở phần trên gồm cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác
- Bản chất của hợp đồng dân sự: là sự tự do thoả thuận giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, tức là có sự bàn bạc, đi đến thống nhất ý chí của các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền vằ nghĩa vụ dân sự nhất định Ví dụ: thoả thuận về mua bán nhà ở; mua tài sản; vận chuyển; gửi giữ v.v Việc thoả thuận hoàn toàn không bị trở ngại bởi các yếu tố khách quan trừ những điều mà pháp luật cấm Thực tiễn có những trường hợp không có sự bàn bạc giữa các bên, mà một bên đơn phương ấn đinh các điều khoản của hợp đổng còn bên kia chấp nhận hay không chấp nhận Ví dụ: hợp đồng ký với Công ty Bưu điện, Công ty điện, Công ty kinh doanh nước v.v Các hợp đồng do công ty đó qui định sẵn, người tiêu dùng chỉ căn cứ vào đó ký hoặc không ký Sự thoả thuiựn ở đây thể hiện dưới dạng người tiêu dùng sau khi tham khảo hợp đổng mẫu đã mặc nhiên đồng ý với hợp đồng và ký kết tham gia hợp đồng đó:
Sự tự do thoả thuận mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ Thoả thuận
đó phải làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên trong giao lưu dân sự, do luật dân sự điều chỉnh mới đủ điều kiện hình thành hợp đồng dân sự Điều này để phân biệt với sự thoả thuận tương
tự nhưng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, mà do các ngành luật khác điều chỉnh
Sự thoả thuận xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên không được vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 131 BLDS Theo nguyên tắc chung những thoả thuận vi phạm các điều kiện trên, thì sẽ bị coi là vô hiệu, tức là pháp luật không công nhận hợp đồng đó Quyền và nghĩa vụ của các bên không được bảo đảm
- Mục đích của hợp đồng dân sự nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng trong đời sống hàng ngày, gồm có nhu cầu về vật chất hoặc tinh
Trang 30thần (khác với mục đích của hợp đồng kinh tế là sinh lợi), những nhu cầu này thường là nhu cầu trực tiếp cho đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân.
Đối tượng của hợp đồng dân sự là tài sản vật chất (như giao vật hay tiền phải trả), hoặc giá trị tinh thần (xem biểu diễn nghệ thuật) v.v
- Nguyên tắc của hợp đồng dân sự cũng là nguyên tắc chung của giao dịch dân sự ngoài ra nó còn chịu nguyên tắc riêng của hợp đổng, được qui định tại Điều 395 - BLDS :
+ Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
+ Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực
Việc qui định nguyên tắc riêng là do đòi hỏi từ đặc thù của hợp đổng dân sự, đó là sự thoả thuận ý chí các bên ở ngay cả khi các bên xác lập hợp đồng nhằm phát sinh hay hợp tác trong việc thực hiện, huỷ bỏ hợp đồng
- Phân loại hợp đồng chủ yếu :
+ Hợp đồng song vụ: là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghía vụ đối với nhau, nghĩa vụ bên này là quyền của bên kia Ví dụ: trong hợp đồng mua bán tài sản, bòn bán có nghĩa vụ giao tài sản và nhận tiền, bên mua có nghĩa
vụ trả tiền và nhận tài sản Ở hợp đồng song vụ, việc phát sinh những quyền và nghĩa vụ có chủ đích khác nhau và ngược chiều nhau, nhưng gắn
bó chặt chẽ với nhau Ví dụ: một bên bán tài sản mục đích lấy tiền, còn một bên (bên mua) có mục đích là xác lập quyền sở hữu tài sản đó Vì vậy, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ, thì bên kia cũng không phải thi hành nghĩa vụ của mình, trừ khi các bên thoả thuận về thời điểm thực hiện nghĩa vu khác nhau
+ Hợp đồng đơn vụ: là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ còn bên kia có quyền Ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản, bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo khuyết tật tài sản tặng cho, còn bên được tặng cho có quyền nhận hay không nhận tài sản tặng cho đó (Điều 465 - BLDS) Bên có nghĩa vụ
Trang 31phải thực hiện đúng theo cam kết, thoả thuận nếu thay đổi phải được sự đồng ý của bên có quyền.
+ Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba: là họp đổng mà các bên giao kết đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc các bên thực hiện nghĩa vụ đó đem lại Người thứ ba ở đây được hiểu là một khái niệm pháp lý, chỉ người không tham gia giao kết hợp đồng nhưng được hưởng quyền lợi do những người giao kết hợp đồng đó Vì vậy, người thứ ba có quyền từ chối lợi ích họ được hưởng, hoặc nếu đồng ý hưởng quyền, thì các bên trong hợp đồng có nghĩa vụ phải thực hiện mọi cam kết
đã thoả thuận vì quyền của người thứ ba đó
+ Ngoài ra có thể phân loại hợp đồng chính và họp đồng phụ
Việc phân loại hợp đồng như trên có ý nghĩa trong việc bắt buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ hoặc hưởng quyền dân sự đã giao kết
- Nội dung của hợp đồng dân sự: Là các điều khoản mà các bên thoả thuận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, bao gồm :
+ Điều khoản căn bản: là điều khoản bắt buộc các bên phải thoả thuận, nếu thiếu điều khoản này, thì hợp đổng không thể giao kết được Ví dụ: trong hợp đồng mua bán, thì vật đem bán và giá cả là hai điều khoản căn bản, thiếu nó thì hợp đồng này không thể giao kết được;
Điểu khoản căn bản được hình thành trên hai cách: thứ nhất do pháp luật qui định (đối với một số hợp đồng dân sự chuyên biệt); thứ hai nếu pháp luật không qui định thì theo thoả thuận của các bên Điều 401 - BLDS gợi ý một số điều khoản là nội dung chủ yếu của hợp đồng để các bên thoả thuận, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể như: đối tượng hợp đồng; số lượng, chất lượng, giá, phương thức thành toán v.v
+ Điều khoản thông thường: là các điều khoản mà các bên có thể thoả thuận hoặc không thoả thuận trong khi giao kết hợp đồng Các điều khoản này được qui định trong luật, khi có tranh chấp sẽ căn cứ vào pháp luật để giải quyết
Trang 32+ Điều khoản tuỳ nghi: là điều khoản các bên nêu ra các phương thức khác nhau để tự lựa chọn, hoặc những điều khoản luật không nêu, các bên
tự thoả thuận trong khi giao kết hợp đồng Ví dụ: các bên có thể thoả thuận lãi xuất cho vay nhưng không được vượt quá 50% của lãi xuất cao nhất
do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng.” (Điều
437 K l)
- Hiệu lực của hợp đồng dân sự: được qui định ở Điều 404 - BLDS v ề nguyên tắc, hợp đồng dân sự hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên kể từ thời điểm giao kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hay huỷ bỏ theo thoả thuận của các bên, hoặc pháp luật qui định Việc thực hiện hợp đồng dân sự phải dựa trên các nguyên tắc sau :
4- Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau
Nguyên tắc này hình thành trong quá trình giao kết và đòi hỏi các bên phải nỗ lực chủ quan để đạt được mục đích mong muốn của mình, nhưng phải trung thực, hỗ trợ nhau, bảo đảm tối đa mọi quyền lợi của nhau
+ Đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác Đó là những điều khoản chủ yếu bắt buộc hoặc tuỳ nghi Khi các bên xác lập quyền và nghĩa vụ cho mình thì phải nghiêm chỉnh thực hiện đúng cam kết, thoả thuận đó ở đây buộc các bên không được gian dối, cố ý đưa đối tượng, số lượng sai, hay nói cách khác là phai thực hiện triệt để để toàn bộ những gì mà mình đã cam kết, trừ những trở ngại khách quan hoặc có những sự kiện khác mà mình không thể khắc phục được Nếu việc thực hiện không đúng qui định của hợp đồng sẽ dẫn đến hậu quả buộc phải thực hiện đúng cam kết hoặc bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xẩy ra
+ Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người khác
Đây cũng là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình giao lưu dân sự Không được vì lý do để đảm bảo thực hiện hợp đồng mà xâm hại lợi ích của
Trang 33Nhà nước, tập thể, công dân Ví dụ: không thể lấy ]ý do cần phải thanh toán nợ mà bán trái phép tài sản của người khác gửi, hay thực hiện hợp đồng lại gây thiệt hại cho người khác về tài sản, uy tín, nhân phẩm v.v Trường hợp có trở ngại khách quan hoặc theo ý muốn chủ quan của các bên, các bên có thể sửa đổi hợp đồng theo thoả thuận và giải quyết luôn hậu quả đó dựa trên cách thức phù hợp với qui định của pháp luật.
- Hợp đồng dân sự được chấm dứt theo các căn cứ sau đây :
+Hợp đổng đã hoàn thành: bao gồm hoàn thành toàn bộ các điều khoản của hợp đồng Như bên bán nhà đã giao nhà, bên mua trả tiền và nhận nhà, hợp đồng này tuân thủ đúng hình thức theo quy định của pháp luật thì coi hợp đồng đã hoàn thành
+ Theo thoả thuận của các bên: các bên có thể thoả thi< Ịn chấm dứt hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình thực hiện hợp đồng; nếu việc chấm dứl không ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba Các bên có thể thoả thuận trong hựp đồng hoặc hợp đồng đang được thực thi về việc chấm dứt hợp đồng
+ Cá nhân giao kết hợp đổng chết, pháp nhẩm hoặc chủ thể khác chấm dứt, mà hợp đổng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoác ch’ I thể đó thực hiện Ở đây không có sự chuyển giao nghĩa vụ cho người thứ ba
+ Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đình chỉ theo quyết đinh của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Thông thường theo quy định của Toà án khi giải quyết yêu cầu tuyên bố huỷ hợp đồng
+ Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại Ví dụ A bán xe máy cho B theo thoả thuận, hẹn một tuần sau giao xe nhhưng trong thời gian đó chiếc xe của A bị mất trộm, hợp đồng mua bán giữa A và B bị huỷ bỏ Nếu có thiệt hại xảy ra B có thể khởi kiện yêu cầu bổi thường
+ Các trường hợp khác do pháp luật qui định như việc Toà án tuyên bố
Trang 34huỷ bỏ hợp đồng vì lợi ích người thứ ba, lợi ích của Nhà nước, tập thể hay của công dân Ở trường hợp này thường theo yêu cầu của người đại diện của Viện kiểm sát, Mặt trân Tổ quốc, Hội phụ nữ v.v khởi kiện vì lợi ích chung.
I.2.2.2 Đối với hành vi pháp lý đơn phương:
Đây là một dạng của giao dịch dân sự Ví dụ: một người trước khi chết lập di chúc hợp pháp để lại cho người khác di sản của mình, bằng hành
vi lập di chúc, người đó thể hiện ý chí của cá nhân mình định đoạt tài sản của mình có, không phụ thuộc vào ý chí của bên nhận di sản, người nhận di
#
sản có quyền hưởng tài sản được chuyển giao theo di chúc làm sở hữu Ví
dụ này nói về hành vi của một người khi thể hiện ý chí không phụ thuộc ý chí người khác nhưng làm phát sinh một quan hệ pháp luật thuộc giao dịch dân sự, đó là hành vi pháp lý đơn phương
Vậy hành pháp lý vi đơn phương trong giao dịch dân sự là sự thể hiện
ý chí của m ột bên nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia
Sự thể hiện ý chí của một bên trong hành vi pháp lý đơn phương so với
sự thoả thuận ý chí của các bên trong hợp đồng, là điểm khác nhau cơ bản
và cũng là căn cứ để phân loại trong giao dịch dân sự giữa hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng; tuy cả hai loại giao dịch trên đều có mục đích là làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự
Thường hành vi pháp lý đơn phương do một chủ thể thực hiện như lập
di chúc, di tặng, đơn phương đình chỉ hợp đồng v.v nhưng cũng có thể nhiều chủ thể cùng thể hiện ý chí trong giao dịch dân sự đó (ví dụ: hai cá nhân, tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng, thi có giải v v )
Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát siiih hậu quả pháp lý khi có điều kiện nhất định, do người xác lập giao dịch đưa ra cho người khác Những người này phải đáp ứng được các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lộp giao dịch Ví dụ: công ty A hứa thưởng 2.000.000,ll00 cho cầu thủ ghi được bàn thắng đầu tiên của giải
Trang 35bóng đá mùa này, thì cầu thủ nào ghi được bàn thắng đầu tiên đó có quyền nhận 2.000.000,đ00 do công ty A có nghĩa vụ phải trả thưởng.
Hoặc ý chí của người đưa ra phải được bên kia biết được từ đó mới phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Ví dụ: một bên trong hợp đồng tuyên bố đơn phương đình chỉ thi hành hợp đồng vì một lý do nào đó Sự tuyên bố này phải được bên kia biết được, nếu không hành vi pháp lý đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cho các bên được *Như vậy, để phân biệt giữa hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng,
ta xét theo góc độ ý chí của các bên khi xác lập một giao dịch dân sự, mặt khác ta cũng thấy sự liên hệ giữa hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng trong quá trình thực hiện giao dịch dân sự, bởi cả hai đều nhằm mục đích chung đó là làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự cho các bên, mặc dù quyền và nghĩa vụ có thể bù trừ hoặc không bù trừ cho nhau
Việc nghiên cứu và xây dựng chế đinh quy đinh dân sự thành một phần riêng trong BLDS là một bước tiến lớn, là thành tựu của các nhà lập pháp nước ta trong quá trình pháp (ỉ'ổn hoá các quan hệ dân sự Các qui định về giao dịch dân sự dựa trên cơ sở k ế thừa một truyền thống pháp luạt dân sự nước ta từ trước đến nay và phând nào đó có tham khảo pháp luật dân sự của thế giới Giao dịch dân sự được ghi nhận trong BLDS không chỉ
ở trong phạm vi hợp đổng dân sự, mà còn mở rộng ở hành vi pháp lý đơn phương, là sự thể hiện ý chí của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong giao lưu dân sự nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Những qui định của giao dịch dân sự trong BLDS mang tính khái niệm tổng quan, vì vây khi xem xét giao dịch dân sự cụ thể, không chỉ nhìn vấn đề ở một góc độ nào đó, mà phải mở rộng đến các yếu tố liên quan được qui định ở các chế định khác của BLDS
Khái quát chung về giao dịch dân sự giúp hiểu rõ bản chất giao lưu dân sự nước ta trong giai đoạn trước đây, hiện nay và dự liệu cho giao dịch dân sự sẽ phát sinh sau này Qua đó, để đạt mục đích là tạo ra một chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của mọi người khi tham gia giao dịch dân sự
Trang 36Chương 2
CÁC YÊU CẦU C ơ BẢN CỦA GIAO DỊCH DÂN s ự
Các yêu cầu cơ bản của giao dịch dân sự là các yếu tố cấu thành bắt buộc cho một giao dịch dân sự cụ thể, là căn cứ để xem xét tính hợp pháp hay không họp pháp của giao dịch dân sự đó Nếu thiếu một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thì giao dịch sẽ là vô hiệu, nghĩa là giao dịch đó sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập
2.1 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU L ự c CỦA GIAO DỊCH DÂN s ự
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là sự cụ thể hoá các nguyên tắc của giao dịch dân sự mà các chủ thể phải tuân theo, thể hiện tính định hướng của Nhà nước buộc các chủ thể khi xác lập, thực hiện các hành vi dân sự không được trái với lợi ích Nhà nước , lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Mặt khác, nó tạo ra khuôn mẫu chung, cho phép các cbii thể tự do, tự nguyện giao kết, tổ chức và lựa chọn các hình thức giao dịch Vậy có thể khái quát điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là điều kiện cần phải có để giao dịch có hiệu lực nếu thiếu các điều kiện này thì giao dịch đó bị vô hiệu
Điều 131 - BLDS qui định điều kiện có hiệu lực của giao dịch như sau:
“Giao dịch dân sự có hiêu lực khi có đủ các điều kiện sau đây :
1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức
xã h ộ i
3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
4- Hình thức giao dịch phù hựp với qui định của pháp luật”
Vì vậy, xét điền kiên có hiệu lực của 2;iao dịch dân sự ta xét theo tinh thần các qui định nêu trên :
Trang 37Người tham gia giao dịch ở đây được hiểu là các chủ thể của giao dịch dân sự, bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.Giao dịch dân sự là một dạng thể hiện ý chí chủ thể được quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh Vì vậy, để quan hệ pháp luật dân sự đó được xác lập, thi hành phải thông qua hành vi dân sự và hành vi đó phải do con người cụ thể thực hiện.
Nếu năng lực hành vi dân sự của cá nhân được pháp luật qui định tương đối cụ thể, thì đối với các chủ thể khác không được qui định, mà năng lực hành vi dân sự của chủ thể đó phải thông qua người đại diện thực hiện, biến những quyền chủ thể được pháp luật ghi nhận thành thực tế Chủ thể khác có quyền hưởng và gánh vác nghĩa vụ do hành vi của người đại diện xác lập, thực hiện
Vì vậy, để phân tích tư cách chủ thể trong giao dịch dân sự xem họ có khả năng hay không có khả năng xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, ta xét theo các loại chủ thể là: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
- Đối với cá nhân:
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân đều như nhau, nhưng năng lưc hành vi dân sự của họ khác nhau bởi: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền nghĩa vụ dân sự.” (Điều 19 - BLDS)
Cá nhân có thể tự một mình hoặc cùng nhiều người tham gia giao dịch dân sự với tư cách là một bên Ví dụ:
+ Một nguời xác lập thực hiện hợp đồng mua bán
+ Vợ và chổng cùng lập di chúc để lại di sản - V V Thuộc tính “khả năng” trong qui định về năng lực hành vi dân sự của
cá nhân được hiểu là pháp luật cho phép hay không cho phép cá nhân đó tham gia, và nếu tham gia thì có thể chỉ ở mức độ nhất định khi xác lặp thực
2.1.1 Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân
Trang 38hiện giao dịch dân sự, vì vậy cần phải phân biệt năng lực hành vi dân sự của
cá nhân “Khả năng” còn bao hàm yếu tố tố chất tự nhiên của cá nhân đó có thể đảm đương được nghĩa vụ dân sự hay không khi được hưởng quyền dân
sự Ví dụ một người có trình độ pháp lý mới tham gia tư vấn luật được, một người có giọng hát tốt có thể đáp ứng yêu cầu của người ký hợp đổng biểu diễn
Một căn cứ để phân biệt khả năng tham gia giao dịch dân sự là độ tuổi của cá nhân đó “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên; người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” (Điều 20 - BLDS) Tinh thần chung của BLDS quy định như sau :
+ Năng lực hành vi dân sự của người thành niên là đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật qui định người mất năng lực hành vi dân sự hoặc năng lực hành vi dân sự bị hạn chế Năng lực hành vi dân sự đầy đủ là sự thừa nhận của pháp luật, cho phép cá nhân đó tự do giao kết dân sự theo qui định của pháp luật, không bị hạn chế
+ Người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự hạn chế Tính hạn chế năng lực hành vi dân sự ở chỗ: những cá nhân đó khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện, trừ giao dịch nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Qui định này chỉ mang tính nguyên tắc, bắt buộc chung Điều này có nghĩa tuỳ theo từng loại hay nhóm quan
hệ dân sự mà người chưa thành niên tham gia mà có thể tự Jiọ hay buộc phải thông qua đại diện để giao dịch (ví dụ họ có thể mua bán đồ ăn, thức uống, phương tiện như dùng học hành.v.v nhưng không được phép mua bán nhà, xe máy.v.v là những tài sản có giá trị.)
+ Một qui định ngoại lệ của BLDS là: “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đổng
ý của người đại diện theo pháp luật” (đoạn 2 Điều 22 - BLDS) Qui định này có sự phù hợp với các qui định của Luật lao động, biểu hiện khả năng
Trang 39lao động và tiêu dùng trong sinh hoạt của cá nhân ở độ tuổi này, phù hợp với nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, nếu so với Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 thì quy định này có sự tiến bộ hơn.
+ Người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch của họ phải do người đại diện theo pháp luật xác lạp, thực hiện (Điều
23 - BLDS) Có nghĩa là, mọi giao dịch của nhóm người này đều phải thông qua người đại diện, họ không thể tự mình tham gia vào bất kỳ một giao dịch dân sự nào
- Căn cứ vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cũng như khả năng thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân ta có thể phân biệt năng lực hành vi dân sự của cá nhân như sau :
+ Người mất năng lực hành vi dân sự được qui định ở điều 24- BLDS:
là người không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dân sự của mình Điều kiện :
• Người đó mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức điểu khiển được hành vi của mình
• Theo yêu cầu của người có quyền lợi, lợi ích liên quan yêu cầu Toà
án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
• Có kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyển vể khả năng nhận
Trang 40người mất năng lực hành vi dân sự Trường hợp Toà án chưa ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, thì mọi giao dịch với người mất năng lực hành vi dân sự đó cũng vô hiệu, nhưng xét hậu quả pháp lý thì tuỳ nhận thức của các bên tham gia giao dịch với người mất năng lực hành vi dân sự mà xem xét hậu quả trên cơ sở lỗi dân sự.
Trong thực tiễn thường gặp những người bị mắc bệnh tâm thần mà chúng ta dễ nhận biết về khả năng không thể tham gia giao dịch dân sự cừa
họ Bởi lẽ, họ không hiểu và cũng không thể làm chủ được hành vi của mình; không thể nhận thức được việc làm của chính bản thân mình Để cho phù hợp với diễn biến phức tạp trong thực tế, BLDS còn dự liệu khả năng:
“mắc các bệnh khác” Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng vấn đề cần giải quyết là qui đinh về “Mắc các bệnh khác” được hiểu như thế nào, hiện nay chưa được giải thích và hướng dẫn cụ thể, liệu những người mắc bệnh câm, điếc, mù có phải là mắc bệnh khác không? Theo chúng tôi có thể hiểu người “đang mắc bệnh khác” như sau :
• Loại trừ các bệnh liên quan đến tâm thần
• Đang mắc một bệnh tật và vì bệnh tật mà hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dân sự của người đó Ví dụ bệnh viên màng não (yếu tố này theo đánh giá của Toà án khi giải quyết yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi)
• Nếu để người đó tham gia giao dịch dân sự sẽ gây hại đến quyền, lợi ích bình thường của cá nhân người đó hay người có quyền, lợi ích liên quan
Vì vậy, người có quyền lợi, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án tuyên bố năng lực hành vi dân sự của họ bị mất Năng lực hành vi dân sự của cá nhân này có thể được phục hổi nếu họ khỏi bệnh đó và Toà án ra quyết định tuyên bố huỷ bỏ việc họ mất năng lực hành vi dân sự
Có thể lấy ví dụ: người già ốm mà không nhận thức được một cách bình thường và hay bị lú lẫn Nếu họ hoặc bị người khác xúi dục để xác lập một giao dịch dân sự dẫn đến quyền lợi của họ hoặc gia đình họ bị thiệt
thòi (như k ý bán nhà, h a y di c h ú c sai ý c h í -V.V ).