Hiến pháp 2013 quy định hai hình thức thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân, đó là: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.. Để hiểu rõ hơn về hình thức dân chủ trực tiếp, em xin đi p
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
ĐỀ SỐ 10
Phân tích hình thức dân chủ trực tiếp được thể hiện thông qua các
quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I.Tổng quát về hình thức dân chủ trực tiếp 1
1.Khái niệm về hình thức dân chủ trực tiếp 1
2 Một vài hình thức của hình thức dân chủ trực tiếp 2
II Hình thức dân chủ trực tiếp được thể hiện thông qua các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013 2
1 Các hình thức dân chủ trực tiếp được thể hiện qua Hiến pháp 2013 3
2 Ý nghĩa của các quy định mới trong Hiến Pháp năm 2013 4
3 Một số hình thức thực thi dân chủ trực tiếp ở Việt Nam 4
3.1 Trưng cầu ý dân 4
3.2 Tham gia quản lý nhà nước và xã hội 5
3.3 Bãi miễn đại biểu dân cử 6
3.4 Nhân dân giám sát hoạt động của Nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước 7
3.5 Nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở 7
KẾT BÀI 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 3MỞ ĐẦU
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp 2013, đây là sự kiện chính trị pháp lý quan trọng của đất nước Hiến pháp thể hiện những nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quy định đầy đủ rõ nét về chủ thể là Nhân dân trong Hiến pháp,
về quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân
Hiến pháp 2013 quy định hai hình thức thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân, đó là: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Để hiểu rõ hơn về hình thức dân chủ
trực tiếp, em xin đi phân tích đề tài: “Phân tích hình thức dân chủ trực tiếp được thể
hiện thông qua các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013”
NỘI DUNG I.Tổng quát về hình thức dân chủ trực tiếp
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là một nguyên tắc cơ bản, được ghi nhận trong cả bốn bản Hiến pháp của nước ta (Hiến pháp: 1946, 1959,1980 và 1992) Hiến
pháp năm 2013 một lần nữa tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Trích điều 1, điều 2 – khoản 1;
2 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013)
1.Khái niệm về hình thức dân chủ trực tiếp
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định chủ quyền nhân dân trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp, tôn trọng và đề cao quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện rõ hơn bản chất dân chủ của Nhà nước ta So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm
2013 đã quy định cụ thể hơn các phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Đồng thời cũng quy định cụ thể cách thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện (Điều 6 Hiến pháp năm 2013): "Nhân
Trang 4dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước" Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung đầy đủ hơn các hình thức thực hiện
quyền lực nhà nước của nhân dân, không chỉ bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như trước đây mà còn thông qua các cơ quan khác của Nhà
nước và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp.
Bàn về dân chủ trực tiếp (direct democracy), chúng ta hiểu dân chủ trực tiếp là
hình thức mà ở đó người dân tự quyết định (không thông qua những người do mình bầu ra) các luật lệ và chính sách quan trọng của cộng đồng và đất nước Đặc tính chủ yếu của hình thức dân chủ trực tiếp là nhanh chóng Chính vì vậy, chúng luôn đảm bảo tính nguyên vẹn cho ý chí của nhân dân, chuyền tải ý chí trính trị của nhân dân một cách trực tiếp về các vấn đề của cộng đồng, quốc gia Bên cạnh đó, nhân dân cũng có
đủ cơ sở để kiểm soát con đường chính trị của các cơ quan quyền lực nhà nước Chính
vì vậy, dân chủ trực tiếp còn được gọi là dân chủ đích thực hay chuyên nghĩa –
true/pure democracy Cách thức, hiệu quả thực thi hình thức này được cho là yếu tố
quan trọng trong việc đánh giá liệu chính quyền có thực sự “của dân, do dân, vì dân” hay không
2 Một vài hình thức của hình thức dân chủ trực tiếp
Trên thế giới, hiện đang tồn tại một vài hình thức dân chủ trực tiếp sau đây:
_ Trưng cầu ý dân (referendum): Trưng cầu ý dân là việc các cử tri bỏ phiếu trực tiếp để quyết định các vấn đề chính trị, xã hội, pháp lý mang tính quan trọng của đất nước hay địa phương
_ Sáng kiến của công dân (citizen’s initiative): Sáng kiến của công dân là việc công dân đề xuất và bỏ phiếu quyết định về một vấn đề chung nào đó của cộng đồng, quốc gia Điều kiện để thực hiện bỏ phiếu là những người đề xuất phải thu thập đủ số lượng chữ ký ủng hộ theo luật định
_ Sáng kiến chương trình nghị sự (Agenda initiative): Sáng kiến chương trình nghị sự là việc công dân đề xuất một vấn đề cụ thể nào đó vào chương trình nghị sự
Trang 5của cơ quan lập pháp quốc gia hay địa phương Trong sáng kiến chương trình nghị sự, không nhất thiết cần tổ chức cho các cử tri bỏ phiếu thông qua sau khi một vấn đề nào
đó được đưa vào chương trình nghị sự
_ Bãi miễn (recall): Bãi miễn là việc cử tri bỏ phiếu nhằm chấm dứt vai trò của một đại biểu dân cử Bãi miễn thường xảy ra khi người đề xuất thu thập đủ số lượng chữ kí ủng hộ tối thiểu theo luật định
II Hình thức dân chủ trực tiếp được thể hiện thông qua các quyền cơ
bản của công dân trong Hiến pháp 2013
1 Các hình thức dân chủ trực tiếp được thể hiện qua Hiến pháp 2013
Trong Hiến pháp năm 2013, dân chủ trực tiếp được thể hiện khá đa dạng và ở nhiều cấp độ khác nhau
Các hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng nhất đã được quy định ngay trong Hiến pháp như:
_ Quyền bầu cử, ứng cử (Điều 7, Điều 27):
“Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội
đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân”
“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi
trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân ”
_ Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28):
“Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận
và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở địa phương và cả nước”
_ Quyền được biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29):
Trang 6“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng
cầu ý dân”
_ Quyền khiếu nại, tố cáo của Nhân dân đối với việc làm trái pháp luật của cơ
quan, tổ chức, cá nhân (khoản 1 Điều 30), ở quy định "Nhân dân là người xây dựng,
thi hành và bảo vệ Hiến pháp” (lời nói đầu của bản Hiến pháp).
_ Việc lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp (các khoản 3, 4 Điều 120), ở
chế định Hội đồng bầu cử quốc gia quy định tại Điều 117 “Hội đồng bầu cử quốc gia
là cơ quan do Quốc hội thành lập có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” nhằm tạo
thêm một cơ chế để bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình
_ Quy định trách nhiệm thông báo tình hình hoạt động của các cơ Nhà nước cho nhân dân của Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình (khoản 6 Điều 98, khoản 2 Điều 99, khoản 1 Điều 116)
Các hình thức dân chủ trực tiếp khác như tham gia ý kiến, thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước, thực hiện dân chủ ở cơ sở… thì trên cơ sở quy định của Hiến pháp đã và đang được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
Có thể thấy, quy định mới về hình thức dân chủ trực tiếp này được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh thông qua các quyền cơ bản của công dân
2 Ý nghĩa của các quy định mới trong Hiến Pháp năm 2013
Cùng với những điểm nhấn mạnh mang về cách tiếp cận bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một số quy định quan trọng về hình thức dân chủ trực tiếp thể hiện qua các quyền cơ bản của công dân
Trang 7Chương II Hiến pháp khẳng định, quy định rõ hơn và làm sâu sắc hơn quyền dân chủ trực tiếp của Nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương
và cả nước (Điều 28), biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29) Có thể nói, trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng, vì một mặt bảo đảm quyền của Nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước, mặt khác bảo đảm cho những quyết định về các vấn đề hệ trọng của đất nước được thông qua một cách dân chủ hơn, cẩn trọng hơn, chính đáng hơn Quy định này cũng thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta, thể hiện quyền công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội
3 Một số hình thức thực thi dân chủ trực tiếp ở Việt Nam
3.1 Trưng cầu ý dân
Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ trực tiếp điển hình, một trong những hình thức cao của việc nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Sự ra đời định chế trưng cầu ý dân đánh dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của nền dân chủ trên thế giới Bỏ phiếu trưng cầu là việc nhân dân bỏ phiếu thể hiện ý chí của mình đối với những vấn đề trọng đại của đất nước Thông qua hình thức này, người dân có điều kiện thể hiện quan điểm của mình đối với một vấn đề chính trị xã hội quan trọng, được bày tỏ ý kiến đồng ý hay không đồng ý và cơ quan nhà nước có trách nhiệm căn cứ vào đó để ban hành quyết định tương ứng
Điều 29 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có
quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Nghiên cứu các quy định của
pháp luật hiện hành về trưng cầu ý dân thấy rằng, trên thực tế các quy định này còn nhiều hạn chế, chưa đủ cơ sở để có thể triển khai tổ chức thực hiện được việc trưng cầu ý dân Mặt khác, mặc dù trưng cầu ý dân có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức dân chủ đại diện, nhưng về mặt thực tiễn, việc thực hiện nó có thể gặp rất nhiều phức tạp Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu còn lo ngại về việc thực hiện biện pháp này Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, với các điều kiện về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, không phải là không có cơ sở để thực hiện trưng cầu ý dân, nhưng so với nhiều nước khác, rõ ràng cũng không phải là hoàn toàn thuận lợi Có thể thấy các công tác để hoàn thiện việc trưng cầu ý dân là cả một quá trình dài không thể
Trang 8thực hiện tốt ngay từ ngày đầu được.1 Việc vừa làm vừa tổng kết, nghiên cứu những công việc cần trưng cầu ý dân, xem xét điều kiện, hoàn cảnh nào thuận lợi và không thuận lợi cho việc trưng cầu; cách thức trưng cầu ra sao, xử lý như thế nào là rất cần
thiết, đòi hỏi kinh nghiệm và cách thức thực hiện công việc cao.
3.2 Tham gia quản lý nhà nước và xã hội
Xác định rõ mục tiêu xây dựng một chế độ dân chủ triệt để, dân chủ là “do nhân
dân tự quy định”, Lênin cho rằng, mục đích của chính quyền Xô viết là thu hút những
người lao động tham gia vào quản lý nhà nước, thực hiện một nền dân chủ rộng rãi nhằm giải phóng con người và phát triển toàn diện con người trong xã hội mới Có nhiều phương thức để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, trong đó, việc nhân dân tham gia thảo luận và góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật của nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng Thông qua đó, nhân dân thể hiện một cách trực tiếp ý chí của mình về các vấn đề được pháp luật điều chỉnh
Sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý nhà nuớc và xã hội đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, được hiến định tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa qua các đạo luật như Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Phòng chống tham nhũng, Các đạo luật nêu trên đều quy định cụ thể về điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội Luật về các tổ chức chính trị - xã hội như: Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Mặt trận Tổ quốc,… đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong công việc quản lý nhà nước và
xã hội Theo quy định của Hiến pháp, nhân dân có quyền quyết định các vấn đề hệ trọng của đất nước thông qua trưng cầu ý dân và trực tiếp quyết định nhiều vấn đề liên quan đến đời sống ở cơ sở Ngoài những hình thức nêu trên, người dân có thể tham gia
ý kiến vào các văn bản pháp luật thông qua các phương tiện truyền thông Mặt khác, nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia tích cực vào hoạt động quản
lý nhà nước như tiếp tục mở rộng hơn nữa các phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước bằng cách ban hành một số văn bản pháp luật có liên
1 www.bqllang.gov.vn/hien-phap-2013
Trang 9quan Đồng thời, nhà nước cần tăng cường cung cấp thông tin, nâng cao trình độ dân trí, bảo đảm để người dân thực hiện quyền làm chủ khi tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội
3.3 Bãi miễn đại biểu dân cử
Chế độ dân chủ sẽ không thể triệt để và hoàn toàn nếu nhân dân chỉ bầu ra những đại biểu của mình mà lại không có quyền bãi miễn các đại biểu đó khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Quyền bãi miễn là quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chế độ dân chủ
Thông qua hình thức này, nhân dân thể hiện sự bất tín nhiệm của mình đối với những đại biểu dân cử không hoàn thành sứ mệnh là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của họ Quyền bãi miễn xuất phát từ nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân là tối thượng, là quyền lực gốc Nhân dân
có thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình hoặc gián tiếp thông qua những đại biểu dân cử Tuy nhiên, trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác không có quy định nào nêu rõ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phạm phải hành vi nào thì
sẽ bị coi là không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Vì vậy, việc thực hiện chế
độ cử tri bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong thực tế là rất khó khăn Ngay cả cơ sở pháp lý cho hoạt động Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người vừa là đại biểu Quốc hội vừa giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn cũng chưa được cụ thể và rõ ràng Với chỉ một số ít điều quy định trong Hiến pháp, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Tổ chức Quốc hội như hiện nay, chúng ta chưa có đủ cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc thực hiện chế độ bãi miễn đại biểu dân cử
Trong thực tế, việc bãi miễn đại biểu dân cử kể cả bởi cử tri hay bởi Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều rất lúng túng và không khả thi Những quy định pháp luật hiện nay về vấn đề bãi miễn đại biểu dân cử là chưa tương xứng với tầm quan trọng của hình thức dân chủ này Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, chế độ bãi miễn đại biểu cũng có ý nghĩa chính trị và pháp lý quan trọng như chế độ cử tri bầu ra người đại diện cho mình Vì vậy, thủ tục bãi miễn cũng phải tuân theo những trình tự luật định rõ ràng thì mới có khả năng thực thi trên thực tế.2
2 Moj.gov.vn/npl/Pages/tim-hieu-hien-phap.aspl?ItemID=151
Trang 103.4 Nhân dân giám sát hoạt động của Nhà nước, cơ quan nhà nước, cán
bộ, công chức nhà nước
Các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước thực hiện thẩm quyền của mình là thực hiện quyền hạn do nhân dân uỷ thác cho Vì vậy, để bảo đảm rằng các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước thực hiện đúng quyền hạn do nhân dân uỷ thác, không lạm quyền, không lộng quyền thì đòi hỏi nhân dân phải giám sát việc thực hiện quyền lực đó
Giám sát quyền lực nhà nước là một hoạt động đặc biệt quan trọng trong việc quản lý nhà nước, giúp cho việc quản lý, điều hành các hoạt động nhà nước theo một định hướng thống nhất, nhằm hạn chế hành vi vượt quá giới hạn pháp luật trong thực thi quyền lực của các chủ thể quyền lực nhà nước Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định toàn bộ quyền lực nhà nước là của dân, chịu sự giám sát của nhân dân và các cơ quan quyền lực dân cử Tuy nhiên, việc nhân dân giám sát các cơ quan quyền lực nhà nước hầu như thực hiện còn rất hạn chế, mang nặng tính hình thức, chưa phát huy được tính tích cực chính trị của nhân dân đối với các cơ quan quyền lực do chính nhân dân bầu
ra, do nhân dân ủy quyền Nhà nước Việt Nam mặc dù đề cao quản lý xã hội bằng pháp luật nhưng tri thức và kinh nghiệm giám sát quyền lực còn ít và mới chỉ là bước khởi đầu; nhân dân chưa thực sự chủ động, tích cực tham gia thực hiện vai trò là các chủ thể giám sát các cơ quan nhà nước Chính vì vậy, hệ thống giám sát với nhiều hình thức, công cụ cần không ngừng được củng cố, hoàn thiện nhằm tạo điều kiện để nhân dân có khả năng giám sát một cách có hiệu quả, khoa học đối với tổ chức thực thi quyền lực nhà nước.3
3.5 Nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở
Quy chế dân chủ cơ sở nhằm bảo đảm cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trực tiếp ở nơi cư trú, cơ quan, đơn vị công tác Tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng về mở rộng dân chủ, dân chủ trực tiếp được cụ thể hoá và đưa vào khá nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của các tổ chức chính trị - xã hội Quá trình thực hiện cải cách hành chính gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở đang được tiến hành đồng bộ, rộng rãi Qua quá trình triển khai thực hiện dân
3 www.qhhdthuathienhue.gov.vn