Nhóm quyền về chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013 cơ bản gồm quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội; quyền bầu cử và ứng cử; quyền khiếu nại, tố cáo.. Quyền bầu cử và ứng cử và
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyền công dân là quyền được làm công dân của một cộng đồng xã hội, chính trị, hoặc quốc gia Quyền công dân được quy định tại chương II: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” theo hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyền công dân bao gồm những nhóm quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Là một bộ phận của quyền công dân, nhóm quyền về chính trị của công dân nắm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Nhóm quyền về chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013 cơ bản gồm quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội; quyền bầu cử và ứng cử; quyền khiếu nại, tố cáo Để hiểu rõ hơn về nhóm quyền chính trị của công dân nói chung và ba quyền
trên nói riêng, em xin phép chọn đề tài: “Phân tích nhóm quyền về chính trị của công dân theo Hiến pháp năm 2013” để trình bày.
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHÓM QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN
1 Quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan nhà nước
1.1, Cơ sở pháp lí:
Hiến pháp 2013, tại điều 27 quy định về quyền bầu cử, ứng cử của công dân như sau: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt
tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do luật định.”
Theo pháp luật hiện hành thì việc thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dan được quay định tại Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân
1.2, Nội dung
Quyền bầu cử và ứng cử là các quyền dân chủ cơ bản của công dân trong lĩnh
vực chính trị, thông qua đó, nhân dân thực thi hình thức dân chủ gián tiếp ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước
Trang 3Công dân được hưởng quyền bầu cử và ứng cử một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử Tuy nhiên có một vài trường hợp không được hưởng quyền này -Những trường hợp không được thực hiện quyền bầu cử gồm: người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực; người đang phải chấp hành hình phạt tù; người đang bị tạm giam; người mất năng lực hành vi dân sự
-Những trường hợp không được thực hiện quyền ứng cử: những người thuộc diện không được thực hiện quyền bầu cử, ngoài ra còn có: người đang bị khởi tố hình sự, người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án; người
đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án; người đang chấp hành quyết định xử lí hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sơ giáo dục hoặc đang bị quản chế hành chính
Quyền bầu cử của công dân được thực hiện theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Theo nguyên tắc phổ thông, mọi công dân từ đủ 18 tuổi trở lên đều được tham gia bầu cử trừ trường hợp đặc biệt bị pháp luật cấm Theo nguyên tắc bầu cử bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, mỗi cử tri đều có một lá phiếu với giá trị ngang nhau, đều được tự do và độc lập thể hiện trực tiếp sự lựa chọn của mình đối với những ứng cử viên bằng việc tự viết phiếu, tự bỏ
là phiếu của mình vào hòm phiếu kín
Quyền ứng cử của công dân được thực hiện qua hai con đường: tự ứng cử và
được giới thiệu ứng cử Các công dân đủ 21 tuổi trở lên, có năng lực và tín nhiệm
với cử tri đều có thể tự ứng cử hoặc được các cơ quan, tổ chức giời thiệu ứng cử (trừ các trường hợp do Luật bầu cử quy định)
1.3, Ý nghĩa
Thông qua quyền bầu cử mà công dân có thể lựa chọn những người có ưu tú nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của mình vào các cơ quan nhà nước, giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước Việc công dân thực hiện
Trang 4đúng đắn các quyền bầu cử, ứng cử theo các nguyên tắc, trình tự luật định thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta, thể hiện sự bình đẳng của công dân trong đời sống chính trị
Nhà nước bảo đảm cho công dân thực hiện tốt các quyền bầu cử và ứng cử cũng chính là bảo đảm thực hiện quyền công dân, quyền con người trên thực tế
2.Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội.
2.1, Cơ sở pháp lí:
Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội được quy định tại điều 28 của Hiến
pháp 2013
1.Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với các cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương
và cả nước.
2.Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.
2.2, Khái niệm
- Quyền tham gia quả lý nhà nước và xã hội là quyền tham gia xây dựng bộ máy
nhà nước và các tổ chức xã hội; tham gia bàn bạc, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt động, các công việc chung của Nhà nước và xã hội
- Về quyền tham gia xây dựng bộ máy nhà nước và các tổ chức xã hội thể hiện
ở:
+ Công dân thành lập nên Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp thông qua con đường bầu cử
+ Công dân tham gia vào việc lập nên các tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ, Hội thanh niên, hội những người cao tuổi… dựa trên nguyên tắt tự nguyện
+ Về việc tham gia bàn bạc, tổ chức thực hiện các công việc chung của Nhà
nước và xã hội thể hiện như sau:
Trang 5+ Tham gia bàn bạc, quyết định các chính sách ở thôn, xã.
+ Tham gia bàn bạc, quyết định xây dựng các công trình cầu cống, đường xá
ở địa phương
+ Tham gia bàn bạc việc xây dựng các trụ sở, ủy ban…
- Về quyền giám sát, đánh giá các hoạt động của các cá nhân, tổ chức, cơ
quan:
+ Thông qua việc chất vấn đại biểu Quốc hội
+ Khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật
2.3, Nội dung
a, Công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội bằng hai cách:
Cách thức nhất, thông qua con đường trực tiếp:
-Tham gia thảo luận, góp ý kiến xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến các quyền và lợi ích cơ bản của công dân Đồng thời trong quá trình thực hiện pháp luật, nhân dân có quyền và trách nhiệm đóng góp ý kiến, phản ánh kịp thời với nhà nước về những vướng mắc, bất cập, không phù hợp của các chính sách, pháp luật
để Nhà nước sửa đổi, hoàn thiện đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích của công dân
-Thảo luận và biểu quyết các vấn đề trọng đại khi Nhà nước tổ chức trưng cầu
ý dân Hiến pháp 2013 quy định tại điều 29 về vấn đề trưng cầu ý dân như sau:
“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Tuy nhiên việc thực hiện trưng cầu ý dân còn nhiều hạn chế, ít thực hiện Ngày nay, pháp luật về trưng cầu ý dân đang ngày càng hoàn thiện theo
đó luật sẽ quy định những vấn đề cần phải tổ chức trưng cầu dân ý
b, Cách thứ hai, thông qua con đường gián tiếp Theo đó, nhân dân sẽ bầu ra các
đại biểu thay mặt cho mình tham gia vào các công việc chung của Nhà nước như đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Nhà nước đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội của công dân thông qua cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Việc thực hiện cơ chế này
Trang 6đã giúp cho nhân dân nắm được đầy đủ các thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước, trên cơ sở đó bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc thiết thực,
cụ thể gắn liền với quyền và lợi ích của công dân
2.4, Ý nghĩa
Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước, nhằm động viên và pháp huy sức mạnh của toàn dân, của toàn xã hội vào việc xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh và hoạt động có hiểu quả
Trên cở sở các quy định về quyền của minh, công dân có thể tham gia tích cực
và có trách nhiệm cào mọi lĩnh vực của quản lý nhà nước và xã hội, góp phần thúc đẩy sự pháp triển kinh tế, văn hóa, xã hội làm cho đất nước ngày càng pháp triển thinh vượng, văn minh
3 Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
3.1, Cơ sở pháp lý
Hiến pháp 2013 quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại điều 30
như sau:
1.Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ qua, tổ chức, các nhân.
2.Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại,
tố cáo Người bị thiệt hại có quyền bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
3.Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
2.2, Nội dung
- Quyền khiếu nại là quyền của công dân, cơ quan, tổ chức được đề nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi
Trang 7hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Quyền tố cáo là quyền của công dân được báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
- Người có quyền khiếu nại, tố cáo:
• Người khiếu nại có thể là cá nhân hoặc tổ chức Cá nhân được hiểu là công
dân nói chung và cán bộ, công chức nói riêng Tổ chức có quyền khiếu nại gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang nhân dân…
• Người có quyền tố cáo: chỉ có công dân mới có quyền này.
- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
+ Giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết
của người giải quyết khiếu nại Giải quyết tố cáo là việc xác minh, kết luận về nội
dung tố cáo và việc quyết định xử lí của người giải quyết tố cáo
+ Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, giải
quyết khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo đó là: người đứng đầu cơ quan hành chính có quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại (có thể là quyết định, hành vi hành chính của người đứng đầu hoặc của cán bộ, công chức do người
đó quản lí); người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan hành chính có quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng Thanh tra Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
+ Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết
tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, đó là: người đứng đầu cơ quan, tổ chức, có thẩm quyền quản lí người bị tố cáo; người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp
Trang 8tra Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nếu hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm hình sự thì các cơ quan tô tụng (điều tra, kiểm sát, tòa án) giải quyết
2.3, Ý nghĩa
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là quyền dân chủ quan trọng trong đời sống của công dân, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân: Nhà nước bảo đảm để công dân thực hiện các quyền dân chủ của mình, công dân có quyền sử dụng và có nghĩa vụ thực hiện các quyền dân chủ một cách tích cực
Quy định của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo là cơ sở pháp lí để công dân thực hiện một cách có hiệu quả quyền công dân của mình trong một xã hội dân chủ,
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngăn chặn những việc làm trái pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và công dân Thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, quyền công dân được bảo đảm, bộ máy nhà nước ngày càng được củng cố vững mạnh để thực sự là bộ máy của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
KẾT LUẬN
Trên đây là ba quyền về chính trị cơ bản và quan trọng nhất của công dân Đó là
cơ sở pháp lí để nhân dân thực sự làm chủ đất nước, là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Nhà nước ta tạo mọi điều kiện để công dân có thể thực hiện các quyền chính trị của mình một cách bình đẳng Việc đảm bảo cho các quyền về chính trị nói riêng và các quyền cơ bản của công dân nói chung góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân