1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

115 529 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 3,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu Do giới hạn cua một luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ, học viên không có tham vọng giải quyết được mọi vấn đề trong quy định pháp lu

Trang 1

ĐẠI HỌC ỌUÓC GIA HÀ NỌI

KHOA LUẬT

NGUYÊN PHƯƠNG THU Ý

GIAO DỊCH DÂN s ụ VÔ HIỆU VÀ GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH

DÂN SỤ VÔ HIỆU

Chuyên ngành : Luật dân sụ

Mã số : 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC • • • •

Người hướng dân khoa học: TS Đinh Trung Tụng

V- lo/ 1 ^ 9

HẢ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cica khoa học cua riêng tôi Các sỏ liệu, ví dụ và trích dân trong luận văn đảm hao độ tin cậv, chính xác và trung thực Những kêt luận khoa học cua luận văn là két quả cua quả trình tìm tòi nghiên cứu của tác gia.

Tác giả luận văn

Nguyên Phuong Thuý

Trang 3

Chương T KHÁI QUÁT VẺ GIAO DỊCH DÂN s ự VÔ HIỆU VÀ

HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH DÂN s ụ VÔ HIỆU

1.1 Khái niệm, đặc điếm pháp lý của giao dịch dân sự

1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự

1.1.2 Đặc diêm chung của giao dịch dân sự

1.2 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao

dịch dân sự vô hiệu

1.2.1 Khái niệm ui ao dịch dân sự vô hiệu

1.2.2 Đặc điếm chung của giao dịch dân sự vô hiệu

1.2.3 Khái quát về hậu quả pháp lý cua giao dịch dàn sự vô hiệu

1.3 Khái quát về giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của pháp

luật Việt Nam qua các thời kỳ

1.3.1 Giao dịch dân sự vô hiệu dưới thời Nhà Lê

1.3.2 Giao dịch dân sự vô hiệu dưới thời Pháp thuộc

Giao dịch dân sự vô hiệu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945

đến nay

T rang

14

9

9

9

1 1 15

15182429

2932

Trang 4

Ch trưng 2: GIAO DỊCH DÂN s ụ VỔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP

LÝ CÜA GIAO DỊCH DÂN s ụ T HE O QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Các căn cứ luật định về giao dịch dân sự vô hiệu 42

2 1 Người tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dàn sự 422.1.1 Mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của 48

pháp luật, trái đạo đức xã hội

2.1.1 Người tham gia giao dịch không tự nguyện 542.1 - Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thu hình thức 562.1 : Người tham gia xác lập uiao dịch không đúng thẩm quyền 61

2.1 " Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 65

2.3 1 lậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu 71

2.3.3 1 lậu qua pháp lý theo thoả thuận của các chu thê được Toà án 75

Trang 5

11 1113

->

Chương 3: THỤC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÈ GIAO

DỊCH DÂN s ụ VÔ HIỆU VÀ VIỆC GIAI QUY ÉT HẬU

QUA PHÁP LY VÍ: GIAO DỊCH DÂN s ụ VÔ HIỆU

"hực trạng việc áp dụng pháp luật vê giao dịch dân sự vô hiệu

\à hậu quả pháp lý giao dịch dàn sự vô hiệu

Một số vướng mac thường gặp trong quá trình giải quyết giao

cịch dân sự vô hiệu và xử lý giao dịch dân sự vô hiệu

Một sô vướng măc thường gặp phải trong quá trình giai quyết

ũao dịch dân sự vô hiệu

Một sô vướng mắc thường gặp trong quá trình giải quyết hậu

cưa pháp lý khi Toà án tuyên bổ giao dịch dân sự vô hiệu

Đôi với trường hợp giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô

hiệu theo Điều 137 BLDS 2005

Xử lý sản đôi với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi

phạm điều cấm pháp luật hoặc do bị lừa dổi đe doạ (Điều 128

và Điều 132 BLDS 2005)

Kiến nghị sửa đôi một sô điều luật liên quan đến quy định vê

giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý giao dịch dân sự

vô hiệu

Giải pháp đề xuât hoàn thiện pháp luật

Dối vói Điều 122 BLDS 2005

Loại bỏ vấn đề không tuân thủ quy định về hình thức là điều

kiện tuyên bổ giao dịch dân sự vô hiệu

Trang 6

quyết định cua Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác; sự kiến pháp lý

do pháp luật quy định (sinh tư kết hôn ); gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật Trong các can cứ này thì giao dịch dân sự là loại căn cứ diễn ra phổ biến nhất Giao dịch dân sự có thê là hành vi pháp lý đơn phương thế hiện sự tuyên bỏ

ý chí của một chú thể đối với các chủ thê khác như từ bỏ quyẽn đòi nợ, di chúc,

từ chối quyển thừa kê Giao dịch dán sự cũng có thể là hành vi (sự thoa thuận) giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thav dổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dán sự Có 4 điều kiện cần và đủ đảm bảo cho một giao dịch dân sự có hiệu lực Khi giao dịch dân sự không có 1 trong 4 điêu kiện nói trên là giao dịch dân sự vô hiệu Căn cứ vào mức độ tác hại, ánh hưởng cua giao dịch dân sự vỏ hiệu đối với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của các bên mà hậu quả pháp lý cua giao dịch dân

sự vô hiệu là khác nhau Qua thời gian gần 10 năm thực tiễn thi hành BLDS

1995, quy định về giao dịch dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, một số quuy định không đầy đủ, rõ ràng hoặc không phù hợp với thực tế Đặc biệt là với

sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội, các quan hệ mang yếu tố dân sự ngày càng da dạng, phức tạp, nhu cầu sửa dổi bổ sung các quy định của BLDS

1995 nói chung và quy định về giao dịch dân sự nói riêng trở lên cần thiết Quán triệt những quan diêm chi dạo trong quá trình soạn thảo, BLDS 2005 dã được nghiên cứu đê dược sửa dổi một cách toàn diện và cơ bản, nhằm dáp ứng nhu cầu của thực tiễn, phù hợp với hệ thống pháp luật chung của quốc gia Giao dịch dân

sự được quy định tại Ch ương VI Phần thứ nhất của Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm

18 Điều (từ Điều 121 den Điều 138) về cơ bản, Bộ luật dân sự 2005 vẫn giữ nguyên cấu trúc của quy định về Giao dịch dân sự của Bộ luật dàn sự 1995, chỉ thay đổi về nội dung một sỏ quy dinh Bao gồm các thay đổi vé nội dung có điều kiện cua Giao dịch dân sự, thay đổi vổ giao dịch dân sự vô hiệu

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập tổ chức Thương Mại thế giới, đê bắt kịp với trình độ phát triển của kinh tế thế giới, Bộ luật dân sự nói chung và quy dinh về Giao dịch dân sự nói riêng phai trở thành nén tảng pháp lý

cơ ban tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lê quốc tế, tạo diều kiện

Trang 7

cho quan hệ mang yếu tố dán sự được phát triển Các yếu tô chu quan và khách quan làm phát sinh những lý do dẫn đến việc quy định về giao dịch dân sự ở Việt Nam chưa đạt được hiệu qua đầy du có thể kể đến là:

- Y thức pháp luật cua người dán chưa cao Hiện nay người dân đã bắt đầu ý thức được việc tuân thu pháp luật khi tham gia vào các quan hệ dân

sự kinh tế thưirng mại lao động Tuy nhiên, mức độ quan tâm chỉ bắt đầu ở một số bộ phận người dân ở một sô khu vực nhất dinh có trình độ phát triển kinh tê xã hội cao;

- Nhận thức chưa đầy du toàn diện về quy định pháp luật về giao dịch dân sự về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch dân sự;

- BLDS 2005 mới dược ban hành Thời gian áp dụng bộ luật trong thực tiễn chưa nhiều Trước yêu cầu của việc hội nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), quy định về giao dịch dân sự cần dược quan tâm nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về cả mặt lý luận và thực tiễn, từ đó dưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam, đảm báo pháp luật dân

sự được thi hành một cách hữu hiệu nhất

Vì những lv do trên đây, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài khoa học: “Giao dịch dân sự vỗ hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu" thực sự

dáp ứng dược đòi hỏi cấp thiết trong việc nghiên cứu khoa học về giao dịch dân

sự trong giai doạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu dè tài

Hoạt động giao dịch dân sự đã tồn tại và phát triển từ rất lâu cùng với sự phát triển của dời sống con người Đến nav, quy dinh pháp luật về giao dịch dán

sự đã tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với thõng lệ quốc tế Tuy nhiên, còn rất nhiều vấn đề có liên quan như vấn đề điều kiện có hiệu lực cua giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vổ hiệu và hậu qua của giao dịch dân sự vô hiệu trong thực tế vẫn dang là mối quan tâm cua nhà làm luật, cua Chính phu và các tổ chức, cá nhân Giao dịch dân sự là quv định chung, nền táns cua quan hệ pháp luật dân

Trang 8

sự Các quy định vé giao dịch dân sự xuyên suốt các phần quy định về sở hữu tài san hợp đổng, thừa kế cua Bo luật dân sự Hiện nay, chưa có một luận vãn hay một công trình nghiên cứu nào đầy du toàn diện về giao dịch dân sự

Đặc biệt, từ khi Bộ Luật dân sự 2005 có hiệu lực, việc áp dụng các quy định cua pháp luật giao dịch dán sự có nhiều diêm mới cần dược nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn cua một luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ, học viên không có tham vọng giải quyết được mọi vấn đề trong quy định pháp luật

về giao dịch dân sự và thực tiễn thi hành mà chi tập trung vào giai quyết những vân để liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quá pháp lý cua giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Trên cơ sở phạm vi đã xác định, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài khoa học này là:

- Phân tích, dánh giá quy dinh của pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự

4 Phưong pháp nghiên cứu

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tác giả tiến hành giải quyết các vấn để trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử Việc nghiên cứu để tài khoa học cũng gắn lien với thực tiễn nước ta theo quan điểm của Đang Cộng san Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng Nhà nước và pháp luật nói chung và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng

Trang 9

Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: Phân tích, chứng minh, so sánh, thông kê, dicn giai, suy diễn logic được sử dụng để làm

rõ các vấn đé cua đề tài nghiên cứu

5 Kết cấu đé tài

Ngoài phần mớ dầu, kết luận và danh mục tài liệu tham kháo, nội dungcua luận văn gồm 3 chương, 8 mục

Trang 10

Chương I

KHẢI QUÁT VỀ GIAO DỊCH DÂN s ự VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ

CỦA GIAO DỊCH DÂN s ụ VÔ HIỆU

1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý cua giao dịch dán sự

1.1.1 Khái niệm giao dịch dan sự

Giao dịch dân sự là một khái niệm có một quá trình phát triển gắn liền với quá trinh phát triển của xã hội loài người Sự hình thành chế dinh giao dịch dân

sự gần như xuất hiện đồng thời với các nhu cáu giao lưu mang tính tài sán trong

xã hội Thời kỳ La Mã dời sống kinh tế xã hội còn trong tình trạng khép kín với hình thức chu yếu là chăn nuôi và trồng trọt Luật pháp thời kỳ dó còn sơ khai, các giao dịch còn hạn chế với những hình thức thể hiện và cách thức ký kết phức tạp Sau đó, cùng với sự mở mang lãnh thổ quốc gia và với sự phát triển mạnh

mẽ cua dời sống kinh tế chính trị xã hội, chế dinh giao dịch dân sự đã có thay đổi cơ bản, pháp luật buộc phái công nhận giao dịch dân sự là một chế định quan trọng và đã có quv định về những mô hình xử sự chung đế các bên tuỳ ý lựa chọn trong các giao lưu dân sự

Mặc dù pháp luật mồi quốc gia có cách tiếp cận khác nhau về giao dịch,

về những quv dinh chung của giao dịch dân sự, nhưng pháp luật cứa phần lớn các nước dều không có khái niệm về giao dịch dân sự, mà khái niệm về giao dịch dàn sự chi đề cập đến dưới góc độ khoa học

Dưới góc độ khoa học, các nhà khoa học Nhật bản đề cập “giao dịch dân

sự là hành vi hợp pháp nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự" [ 15, tr.l 14] Khái niệm này không nêu ra loại giao dịch cụ thế nào mà nó là tất cá những hành vi tự nguyện của các chu thê khi tham gia vào các quan hệ dán sự nhằm thu được một kết quả nhát dinh và các hành vi này không trái với pháp luật Khi tham gia vào các quan hệ dân sự sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dàn sự cua các chu thê và pháp luật thừa nhận các quan hệ này, dồng thời tạo điều kiện dam báo cho các quyền, nghĩa vụ dó trở thành hiện

Trang 11

thực Như vậy, phần lớn các quan hệ trong cuộc Sống được điều chinh hàng pháp luật và được coi là giao dịch pháp luật dân sự.

Khái niệm giao dịch dân sự dược các nhà khoa học Việt Nam đề cập trong nhiều tài liệu, với góc độ khác nhau như: “giao dịch dân sự là hành vi dược thực hiện nhằm thu được kết qua nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quá trở thành hiện thực" hay “giao dịch là một sự kiện pháp lý, bao gồm hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương (hợp đồng) làm phát sinh hậu quá pháp lý [16, tr 266] hoặc được nêu nguyên văn Điều 121 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005: “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý dơn phươn« làm phát sinh, thav đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Hợp đồng dân sự là một loại giao dịch dân sự phổ biến nhất, thông dụng nhất, nó phát sinh thường xuyên trong đời sông hàng ngày của chúng ta và giữ vị trí vô cùng quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay Chính vì lẽ đó mà pháp luật về hợp đồng giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật cua mỗi quốc gia Hợp đồng có thê diễn

ra giữa các cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau, các bên tự do thỏa thuận trên cơ sơ tự nguyện, bình dáng nhăm đạt mục dich nhất định về vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với pháp luật và dạo đức xã hội của quốc gia và của thê giới, mà các chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh

Hợp đồng bao gồm hai yêu tỏ: sự thỏa thuận và mục dich tạo lập hiệu lực pháp lý (mục dich xác lập, thay đổi hay chàm dứt quyên, nghĩa vụ dán sự) Sự tự

do thỏa thuận giữa các chù thể trong giao dịch dân sự thường là sự bàn bạc, di đến thống nhất V chí của các chu thể bình dẳng về địa vị pháp lý Việc thỏa thuận này không bị cán trở bởi bát cứ yếu tố chu quan và khách quan nào, trừ trường hợp trái với pháp luật và đạo đức xã hội

Và sự tự do, thỏa thuận mới chỉ là điều kiện cần nhưng vẫn chưa phai là diều kiện du Bởi lõ, sự thỏa thuận phai làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự cua các bên mới du điều kiện hình thành hợp dỏng Ví dụ, lời

Trang 12

hứa cua cha mẹ với con cái hoặc giữa hạn bè với nhau không làm phát sinh hậu qua pháp lý Hay như các thỏa thuận thuần túy trong BLDS không thê coi là hợp đồng: thỏa thuận về giá cá và thỏa thuận về áp dụng hệ sô trượt giá khi có biến động về giá (khoản một, khoán 2 Điều 431 BLDS 2005); thỏa thuận về việc lập thêm phụ lục hợp đồng Thậm chí trong một số trường hựp hành vi thỏa thuận giữa các bên, có ý chí làm phát sinh hậu quá pháp lý nhưng sau đó nếu các bên không mong muốn xảy ra thì hậu quả pháp lý cũng không xảy ra Đây là yêu tố quan trọng đê xác định sự khác nhau giữa hợp đổng với các quan hệ xã hội khác

Sự thỏa thuận phải dựa trên cơ sở pháp luật cho phép, nếu trái với các quy định của pháp luật thì hợp đồng sẽ bị hủy bo, các bên giải quyết hậu qua theo quy định của pháp luật hoặc tự thỏa thuận

Hành vi pháp lv dơn phương là hoạt động thế hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩ vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí của bén kia Ví dụ, một người trước khi chết lập di chúc hợp pháp để lại người khác di sản của minh Bằng hành vi lập di chúc này, người dó dã thê hiện ý chí cá nhân của mình để định đoạt tài sản mà họ có, không phụ thuộc vào

ý chí của bên nhận di san (trừ trường hợp người nhận di sản từ chối nhận di sản theo quy dinh tại điều 645 BLDS 2005), người nhận di sán có quyền dược sơ hữu tài sản chuyên giao theo di chúc Như vậy, ý chí của người để lại di chúc không phụ thuộc vào ý chí của người khác nhưng bằng hành vi lập di chúc theo dúng quy dinh cua pháp luật làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật thuộc giao dịch dân sự

Trên thực tế, thông thường, hành vi pháp lý đơn phương do một chủ thể thực hiện, nhưng cũng có thế do nhiều chu thể thực hiện (nhiều cá nhân hay một

tổ cức cùng hứa thưởng ) Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý dơn phươns chi làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự theo các điều kiện Nếu không dáp ứng điều kiện dó thì không thê coi đó là giao dịch dân sự được

1.1.2 Đặc điểm chung của giao dịch dan sự

Trang 13

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý hợp pháp thê hiện ý chí cua một hoặc nhiổu người nhàm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự Do dó, giao dịch dân sự có dặc điểm chung như sau:

Thứ nhủi, giao dịch dân sự phai là V chí của các bên tham gia giao dịch Khi tham gia vào giao dịch, các chu thể déu dạt mục dich nhất dinh nhàm thỏa mãn nhu cầu sán xuất, kinh tế hoặc sinh hoạt, tiêu dùng Để dạt được mục dich

đó các chu thể phai thê hiện dược V chí cua mình Và sự thế hiện ý chí đó phai tuân theo hình thức nhất dinh, phù họp với quy định của pháp luật

Quan niệm về tự do ý chí trong giao dịch được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong khoa học pháp lv cua Pháp từ thế kỷ XVIII Lúc đầu, nó dược coi

là nguyên nguyên tắc độc tôn ý chí Nguyên tắc này cho phép các chu thê tham gia giao dịch (chủ yếu là hợp dồng), tự do thê hiện ý chí của mình không bị phụ thuộc hoặc cản trở bởi bất kỳ yếu tố nào khác, kể cả pháp luật

Sự tự do ý chí dược biểu hiện khái quát ở một số nội dung như sau:

+ Tự do giao kết hợp đồng: Các chủ thê có quyến tự định đoạt việc tham gia hay không vào quan hệ hợp đổng, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tè;

+ Tự do lựa chọn đối tác dê giao kết hợp đồng;

+ Tự do quyết dinh tính chất hợp đồng giao kết: Tính chất của hợp đổng thê hiện ở loại hợp đồng mà các chú thể muốn giao kết Pháp luật hầu hết các nước đều cho phép các chủ thê có thê giao kết loại hợp đổng mà pháp luật có quy định cũng như giao kết loại hợp đồng mà pháp luật không có quy định và không cấm;

+ Tự do thoa thuận những nội dung của hợp đồng

Tuv nhiên trên thực tê, khi tham gia vào giao dịch các bên không ngang bằng nhau trên mọi lĩnh vực, có bên mạnh bên yếu về kinh tế cho nên dẫn tới sự bất binh đảng giữa các bên và bên yếu hơn sẽ phai phụ thuộc vào ý chí cua bên mạnh hơn Do đó, nguyên tắc độc tôn về ý chí chi mang tính chất hình thức Chính vì lẽ dó mà giao dịch không còn ý nghĩa de các chu thể tham gia với mục

Trang 14

đích thoa mãn nhu cầu của mình nữa Mặt khác khi các chu thê tham gia vào íziao dịch để thỏa mãn nhu cầu cua mình nhiều khi đã bất chấp cả sự thiệt hại của người khác cũng như lợi ích công cộng Do vậy, sự cần thiết phải có sự can thiệp cua Nhà nước vào các giao dịch này, nén nguyên tắc này đã không tổn tại dược láu Nhà nước ban hành ra pháp luật để điều chính sao cho các chu thê tham gia vào giao dịch không bị ép buộc và đổng thời cũng không anh hưởng đến quyền

và lợi ích cua người khác cũng như lợi ích công cộng

Thứ hai, Các bên tham giao giao dịch phải tự nguyện Đây là sự phán ánh

tính thống nhất ý chí của các bên cho nên nó là một nguyên tắc quan trọng để thiết lập nên giao dịch Trong các giao dịch dân sự, nêu thiêu các yếu tố này không thể coi là giao dịch được Bới lẽ, trong giao dịch dân sự các chú thể tham vào giao dịch là nhầm một mục dich nhất dịnh phục vụ cho nhu cầu về vật chất hay tinh thần của họ Để có được mục dich đó, người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự, còn đối với người bị hạn chê năng lực hành vi hoặc bị mất năng lực hành vi thì chỉ dược tham gia một số giao dịch nhất định hoặc phái

có người đại diện, người tham gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật Nhưng trong nhiéu trường hợp có nhiều chủ thê cùng tham gia khó có thể đạt được diêm trùng nhau về ý chí và mục dich Vì thế, mà các bên tham gia giao dịch phái tự dàn xếp với nhau đê tiến tới các bên dểu đạt dược mục dich của mình và di tới cam kết để cùng nhau thực hiện Nguyên tắc này dã tồn tại ở pháp luật của tất cả các nước trên thê giới, ở Việt Nam, nguyên tắc trên được ghi nhận hầu hết trong các văn bản pháp luật như: BLDS Luật Kinh tế, Luật lao động

Thứ ha chế tài trong giao dịch dân sự mang tính chất bắt buộc nhưng

cũng rất linh hoạt Pháp luật phần lớn các nước trên thế giới hiện nay đều xây dựng các chế dịnh cua giao dịch dân sự trên nguyên tắc tự do thoa thuận, tự do cam kết và xác dinh chê tài Đây là nguyên tắc cơ bán của luật dân sự nói chung cũng như vé giao dịch sự nói riêng Vân đề này hiện nay có hai xu hướng khác nhau Xu hướng thứ nhất cho ràng, dơn giản hoá việc quy tắc giam bớt số lượng

Trang 15

sự phức tạp các dieu luật mang tính chất chung và có kết cấu một cách đơn gian nhưng mạch lạc dề hiểu Xu hướng thứ hai cho rằng, cán quv định nhiều dieu khoan chi tiết rõ ràng, sẽ làm cho pháp luật phong phú hơn.

Pháp luật cua các nước xây dựng pháp luật về giao dịch theo hệ thông án

lệ dược xây dựng theo hướng thứ hai Do sử dụng án lệ nén rát dễ dàng thích nghi với điều kiện xảy ra trong thực tê vì nó mang tính linh hoạt Còn pháp luật cua những nước xây dựng pháp luật về giao dịch theo hệ thông luật thành văn tương đối ổn định và mang tính bắt buộc cao nhưng do thu tục ban hành pháp luật rất phức tạp, tốn nhiều thời gian nên việc thav đổi chúng khó khăn hơn Chính vì lẽ đó mà hệ thông pháp luật này nhiêu khi áp dụng đồng thời cả hai hướng mà dại diện là luật pháp của nước cộng hoà Pháp Luật của cộng hoà Pháp được coi là phần “cứng” tương dối ổn định và án lệ là phần “mềm” làm nhiệm vụ

bổ sung Với cách quy định này pháp luật vé giao dịch cua những nước này vừa

có tính ràng buộc cao nhưng cũng rất linh hoạt, uyển chuyển [21, tr 13-14],

ở nước ta hiện nay chưa công nhận án lệ là nguồn của pháp luật giao dịch

Do vậy, hiện nay chúng ta rất khó áp dụng, trong thực tê việc sửa đổi và hướng dẫn bằng văn bản là công việc thường xuyên Nhưng mỗi lần sửa dổi và hướng dẫn lại phải thông qua nhiều thủ tục rất phức tạp và khó khăn Ví dụ như: sửa dổi

Bộ luật, Luật phải đợi mỗi kỳ họp Quốc hội; các văn bán hướng dẫn của TANDTC và các thông tư liên tịch cũng phái mất rất nhiều các cuộc họp Trong khi đó do phát triển của khoa học - kỹ thuật lại xuất hiện nhiều loại tài sán mới, giao dịch mới và hình thức mới Ví dụ, ký kết hợp đồng dân sự qua mạng, Vì vậy, trên thực tê đã có tình trạng các vãn bản pháp luật vừa mới ban hành ra rất công phu nhưng đã bị lạc hậu; chưa kê đến những bất cập khi ban hành dẫn đến

sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau giữa các vãn ban pháp luật cù và văn ban pháp luật mới

Thứ tư, nội dung cua giao dịch không dược trái với pháp luật và đạo dức

xã hội Trong giao dịch dãn sự, khi tham gia vào giao dịch, các chu thể đểu phai nhàm đạt được một mục dích nhất dịnh và mong muốn mục đích cua mình trở

Trang 16

thành hiện thực Do vậy, đe đạt được mực đích đó các chu thê có quyền tự do đặt

ra những yêu cầu, cam kết phù hợp với ý chí của mình Tuy nhiên, các cam kết

đó không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội Bởi lẽ pháp luật của các nước, ngoài việc tạo điều kiện để cho các giao kết trở thành hiện thực, còn phải đặt ra những quy phạm pháp luật bảo vệ lợi ích chung cua xã hội, trong đó có lợi ích cua chính các chủ thê tham gia giao dịch

Từ những phân tích trên và qua việc xác định đặc điểm chung của giao dịch dàn sự, có thê đi đến một khái niệm khoa học về giao dịch dân sự như sau:

Giao dich dân sự lừ một ì oại hoạt động của con người (cá nhân, tổ chức thòng qua dó các chú thê thê hiện dược V chí, sự tự nguyện, tự do thoả thuận trong khuôn khô quy dinh pháp luật và dạo dức xã hội, làm phát sinh, thay dôi, hoặc chấm ehrt các quyền Ví ) nghĩa vụ dân sự.

1.2 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quá pháp lý của giao dịch dân sự vỏ hiệu

1.2.1 Khái niệm giao dịch dàn sư vỏ hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn Đây là nguyên lý chung mà pháp luật các nước den ghi nhận Trên thế giới hiện nay, phần lớn các nhà lập pháp không dưa ra khái niệm chung về giao dịch dân vô hiệu mà chủ yếu di sâu quy định các tiêu chí dê xác định một giao dịch vô hiệu Ví dụ, tại Điều 1 13 BLDS và thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý bị vổ hiệu nếu mục tiêu của nó rõ ràng

bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thê thực hiện dược, hoặc trái với trật tự công cộng hoặc trái với đạo đức”, ở Việt nam đê xác dinh giao dịch dân sự vô hiệu càn cứ vào quy định tại Dieu 122 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS 2005 (giao dịch dân sự không có một trong các điểu kiện được quv định tại Điều 122 cua BLDS là vô hiệu)

Dưới »óc độ nghiên cứu khoa học, mặc dù thuật ngữ giao dịch dân sự vô hiệu được sử dụng rộng rãi, nhưng chưa thấy tài liệu nào nêu ra khái niệm khoa

Trang 17

học cụ thê Đê tìm đến mội khái niệm hoàn chính vé giao dịch dân sự vô hiệu, trước hết làm rõ ván dề vô hiệu nói chung.

Vô hiệu theo nghĩa thòng thường là "không có hiệu lực, không có hiệu quá” [29 tr 1083 ị Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực pháp lý theo quy định của pháp luật Mặc dù một giao dịch dân sự nào đó dược xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hoặc dã thực hiện xong các quyên, nghĩa vụ như cam kết nhưng khi xác định đó là giao dịch dân

sự vô hiệu thì mọi cam kết (dang, đã thực hiện ) đều không phái là các quyển, nghĩa vụ được pháp luật bảo hộ và báo vệ Thông thường các nước trên thế giới déu căn cứ vào các điều khoan chủ yếu, mang tính chất quyết dinh của giao dịch

để xác định một giao dịch dân sự vô hiệu Các điều khoán chu yêu này dựa vào dặc điếm, tính chất cua giao dịch, đồng thời phải căn cứ vào tình hình kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

Khi xem xét giao dịch dân sự vô hiệu, thông thường, các nhà khoa học căn

cứ vào tính vi phạm điều cấm của pháp luật dẫn đến giao dịch vô hiệu để phân ra thành giao dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối Giao dịch dân sự vó hiệu tuyệt đối là giao dịch dân sự không có hiệu lực ngay từ khi giao kết, không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ

giữa các bên Đo vậy, kê cả trường hợp các bên tham gia giao dịch đã ký kết và thực hiện thì quyền và nghĩa vụ phát sinh cũng không dược pháp luật ghi nhận Các bên phái chấm dứt thực hiện và quay lại với tình trạng ban dầu và hoàn lại cho nhau những gì đã nhận Đối với giao dịch dân sự vỏ hiệu tương đối là loại giao dịch có khả năng khắc phục, nó được coi là một loại giao dịch dân sự có thể

có hiệu lực nhưng cũng có thể bị vô hiệu theo sự lựa chọn của một trong các bén tham gia giao dịch Giao dịch này thông thường không xâm phạm trật tự công cộng và dạo đức xã hội và chi có thể bị vỏ hiệu đối với bên có lỗi mà không bị

vô hiệu dối với bên không có lỗi Khi xác định giao dịch dân sự vô hiệu thì các quyển và nghĩa vụ của các bên dã thoá thuận đều không có giá trị pháp lý, còn trong trường hợp giao dịch đó dược thừa nhận sau khi đã khấc phục thì đương

Trang 18

nhiên quyền và nghĩa vụ cua các hên sẽ được pháp luật báo hộ, báo vệ theo sự cam kết cua các bén giao dịch khắc phục được coi là giao dịch mới Còn đối với giao dịch dán sự vô hiệu tuyệt dối thì lại hoàn toàn khác Đây thường là giao dịch vi phạm diều cấm của pháp luật nên trong thực tê Toà án và các cơ quan có thẩm quyền không cho phép khắc phục cho dù các bên mong muốn được khắc phục Giao dịch này không có hiệu lực ngay từ thời diêm ký kết, cho dù nó có bị Toà án tuyên bố vô hiệu hay không [21, tr.73-74].

Sự phân loại này là dựa trên các tiêu chí nhất dịnh đỏi với giao dịch dân

sự vỏ hiệu tuyệt đòi tất cá những người liên quan đến giao dịch đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, còn đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì chí có người nào được pháp luật bảo vệ mới có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Nhà lập pháp quv định thòi hiệu khởi kiện đôi với giao dịch tuyệt đối là vô thòi hạn, còn đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương đôi thì thòi hiệu khởi kiện được nhà lập pháp quy định một thòi gian nhất định Việc phân loại này có ý nghĩa trong cá lý luận và thực tiễn, vì khi dưa

ra các biện pháp xử lý các cơ quan nhà nước có thám quyền áp dụng pháp luật có thể cân nhấc các giải pháp tôi ưu đê bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bèn ít bị ảnh hương, tổn thất

Tuy nhiên, thực tiễn xem xét quy định pháp luật Việt Nam về giao dịch dân sự vô hiệu, nếu căn cứ vào các tiêu chí nêu trên đê phân loại, thấy ràng rất khó xác định giao dịch dân sự vô hiệu vé hình thức thì thuộc vào loại giao dịch nào, là giao dịch dân sự vô hiệu tương đối hay là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối? Nếu căn cứ vào thời hiệu khơi kiện thì xếp giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức là giao dịch dân sự vỏ hiệu tuyệt đối, còn căn cứ vào tiêu chí có khả năng khắc phục thì giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức là giao dịch dãn sự vô hiệu tương đôi Trong trường hợp này, cần xác định hình thức cua giao dịch chi là điều kiện khi thực hiện việc xác lập giao dịch, nêu các bên tham gia giao dịch không thực hiện điều kiện theo đúng hình thức thì giao dịch vô hiệu, nó không thuộc loại giao dịch dân sự vô hiệu tương đối hay giao dịch dàn sự vô hiệu tuyệt

Trang 19

đó i

Đê hiếu rõ hơn vể giao dịch dán sự vô hiệu, cần phái có sự phân biệt khác nhau giữa giao dịch dân sự vô hiệu với giao dịch dân sự mất hiệu lực Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực ở ngay thời diêm giao kết, còn giao dịch dán sự bị mất hiệu lực là giao dịch có hiệu lực tại thời điểm ký kết nhưng giao dịch bị chấm dứt hiệu lực là do rơi vào tình trạng không thê thực hiện được Tinh trạng mất hiệu lực của giao dịch dân sự có thê do một bên vi phạm, dẫn đến bên bị vi phạm yêu cầu huý giao dịch hoặc các bên tự thoả thuận với nhau chấm dứt hiệu lực cua giao dịch hoặc do trở ngại khách quan nào khác [21, tr.27-28] Ví dụ, hai bên ký kết một hợp đồng mua bán gỗ pơmu, thời diếm này Nhà nước không cấm mua bán đối với loại mặt hàng này nhưng trong khi hai bên đang thực hiện hợp dồng, Nhà nước lại có quyết định cấm khai thác và mua bán gỗ pơmu, dẫn đến hợp dồng không thể thực hiện dược và mất hiệu lực

Từ những phân tích trên và qua việc xác định đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu, có thê di đến một khái niệm khoa học về giao dịch dân sự

vô hiệu như sau:

Giao dịch dân sự vô hiệu là loại t>iao dịch dân sự mà khi xác lập các hên (hoặc chù thế có hành vi pháp lý dơn phươníị) dã có vi phạm ít nhất một trong các diên kiện có hiện lực do pháp luật quy đinh, dẩn tới hậu quả pháp lý là không làm phát sinh hất kỳ một quyển hay nghĩa vụ dân sự nào.

1.2.2 Dặc điếm chung của giao dịch dán sự vỏ hiệu

Về cơ bán cùa giao dịch dân sự vỏ hiệu là không đáp ứng các diều kiện theo quy định cua pháp luật Khi giao dịch dân sự vỏ hiệu các bên tham gia giao dịch phái gánh chịu hậu quá pháp lý nhất dinh có thể bất lợi về vật chất và tinh thần, như khổng đạt được mục dich đã được xác định, nếu chưa thực hiện thì sẽ không dược thực hiện giao dịch nữa, nếu đang thực hiện thì phai chấm dứt việc thực hiện dó do quay lại tình trạng ban dầu hoàn trá cho nhau những gì đã nhận Giao dịch dân sự vô hiệu thường có những đặc điểm chung sau:

Trang 20

a Khonsi đáp ihm mót t_rong các dicu kiên thco (JJJV dinh cua pháp luât đoi VỚỊ gịao dich dán sư có hiẽu Ịưc:

- Không đáp ứng điều kiện vé năng lực hành vi dán sự của người tham gia

giao dịch.

Đòi với cá nhân, để tham gia giao dịch phai có năng lực pháp luật và nâng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật là khả năng vốn có của chu thể mà pháp luật quy định cho các chu thê đều có quyền như nhau: “năng lực pháp luật dân

sự cua cá nhân có từ khi sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” [1, khoản 3, Điều 14], còn năng lực hành vi là kha năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Nếu năng lực pháp luật là tiền đề, là quyền dân sự khách quan cua chu thế, thì năng lực hành vi là khá năng hành động của chính chủ thế để tạo ra các quyền, thực hiện nghĩa vụ biến những quyền khách quan thành hiện thực Trường hợp tham gia giao dịch không có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi một phần, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà pháp luật không cho phép tham gia giao dịch một cách độc lập, thì giao dịch đó bị vô hiệu, trừ trường họp khi tham gia giao dịch có sự đổng ý của người giám hộ Sớ dĩ pháp luật thường chỉ quy định điều kiện cơ bản của chủ thê khi tham gia giao dịch là phái có năng lực hành vi dân sự mà không quy định về năng lực pháp luật là do năng lực pháp luật là cái vốn có của chú thể, ai cũng có năng lực pháp luật như nhau

- Mục đích và nội dung của giao dịch không dáp ứng dầy đu yêu cầu của

pháp luật hoặc trái với đạo đức xá hội.

Trong giao dịch dân sự thì yếu tố tự do ý chí là một trong các nguyên tắc chu yếu và đặc trưng của giao dịch dân sự Nhưng sự tự do đó không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc trong khuôn khổ pháp luật cho phép Sự ràng buộc này chính là sự hạn chế tự do của các chu thể khi tham gia vào giao dịch, nếu chu thể tham gia giao dịch không tuân theo sự hạn chê cua pháp luật dẫn tới giao dịch vỏ hiệu, dó là:

+ Mọi thoa thuận không dược vi phạm diêu cấm cùa pháp luật:

Trang 21

Trong khoa học pháp lý trên thê giới đều coi đây là sự hạn chê tự do cua chu thể Bơi lõ, về han chất pháp luật là công cụ bảo vệ cho giai cấp thông trị và lợi ích chung cua cộng đóng Chính vì vậy pháp luật phai quy định mọi hiện pháp đẽ pháp luật đi vào cuộc sông và được mọi người dân tuân thu nghiêm chinh, nếu không thực hiện nghiêm chinh sẽ có biện pháp chế tài hoặc có biện pháp khác buộc các chú thể phai tuân theo Trong giao dịch dán sự pháp luật đặt

ra các diéu kiện khi các chu thể tham gia giao dịch phái tuân theo (tức là phải chịu sự hạn chê pháp luật) nêu trong trường hợp không tuân theo thì giao dịch vỏ hiệu Tuy nhiên, ở mỗi nước có chế độ chính trị điểu kiện địa lý văn hoá truyền thông khác nhau mà hệ thông pháp luật nói chung và pháp luật về giao dịch dân sự nói riêng có quy định các điều kiện để cho các chủ thê tham gia giao dịch khác nhau

+ Giao dịch khỏỉu> vi phạm đạo dức xã hội.

Các giao dịch cho dù không trái bất cứ một quy định nào của pháp luật nhưng vẫn có thể bị vô hiệu khi vi phạm đạo đức - xã hội Pháp luật vé giao dịch

ớ đa số các nước trên thê giới đều có quy định này Ví dụ tại Điều 1 13 BLDS và thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý bị vô hiệu nếu mục tiêu cua nó rõ ràng bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện dược, hoặc trái với trật tự công cộng hoặc trái với đạo dức” Tại khoán 2 Điều 122, BLDS Việt Nam quy định một trong những dieu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là:

“Mục dich và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội” Theo nguyên tắc chung, giao dịch trái với đạo đức xã hội thì bị vỏ hiệu Tuy nhiên khái niệm đạo đức là một phạm trù trừu tượng (có độ co giãn cao), mà nó phụ thuộc vào trong thời điểm kinh t ế - chính trị nhất định, đồng thời đạo đức xã hội và phạm trù có tính đạo đức là hai phạm trù khác nhau nhưng không phai khi nào hai khái niệm này cũng có sự khác nhau rõ rệt và trong nhiều trường hợp nó

có liên quan với nhau nên không thế phân biệt chúng một cách rõ ràng dược

Ví dụ, pháp luật cua Nhật Ban không quy dinh riêng hành vi trái pháp luật với dạo đức mà nằm trong quy định về hành vi trái với trật tự công cộng Trật tự

Trang 22

công cộng là một phạm trù phạm vi rộng có liên quan đến ca lợi ích cua Nhà nước và lợi ích xã hội, khái niệm này so với khái niệm đạo đức - xã hội mang tính khái quát rộng hơn BLDS Nhật han đã đưa ra các trường hợp cụ thê là: một

là vi phạm nguyên tác còng hăng, hai là lợi dụng sơ xuất hoặc hoàn cảnh khó khan cua người khác vì mục đích thu lợi hất chính; ba là hạn chế quyén tự do cua người khác (ví dụ khi hợp dồng thuê mướn hoặc chuyển giao một công việc nhất định kèm theo diều kiện câm một bên thực hiện loại hình công việc tương

tự trong phạm vi rộng và thời gian dài); bốn là giao dịch pháp lý có tính chất dầu cư [15, tr 127]

Pháp luật nước ta ghi nhận hạn chê đối với giao dịch dân sự tại Điéu 122, Điều 395 BLDS 2005 nhưng do tính chất phức tạp nêu trên mà pháp luật nước ta không làm rõ thế nào là dạo đức - xã hội cho nên không quy định cụ thể trường hợp nào được coi là vi phạm Chính vì thê mà khi xác định nội dung của khái niệm đạo dức thường được xem xét trong môi quan hệ án lệ, nhưng về lý thuvết thì Nhà nước ta chưa thừa nhận án lệ Thực tiễn quy định này đã gây ra không ít khó khăn trong việc áp dụng Có thể nêu một ví dụ điển hình trong trường hợp này: một bên tham gia giao dịch biết rõ bẽn kia dang trong tình cảnh khó khăn, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của họ mà xác lập giao dịch có lợi cho mình một cách quá đáng thì có xác định là trái đạo đức xã hội không?

Chủ thẻ tham gia giao dịch không tự nguyện

Các chú thê tham gia giao dịch phái thê hiện V chí dich thực của mình Mọi thoả thuận không phan ánh đúng ý chí của các bẽn đều có thê dẫn đến sự vỏ hiệu cua giao dịch Pháp luật của phần lớn các nước trên thế giới đều đòi hỏi khi tham gia giao dịch phải thể hiện ý chí dich thực, ý chí dich thực trong giao dịch

là khi tham gia giao dịch các chú thể có quyển thê hiện mong muốn của mình ra bên ngoài trong khuôn khổ pháp luật cho phép mà không bị sự ép buộc cua bất

kỳ một yếu tô nào khác Tuv nhiên, dê hạn chê các trường hợp vô hiệu mà gày ánh hưởng rất lớn đến quyển lợi của các chu thê tham gia giao dịch cũng như lợi ích của công cộng, pháp luật vé giao dịch của một sò nước như Nhật Bản Cộng

Trang 23

Hoà Liên Bang Đức, Cộng Hoà Pháp vần thừa nhận hiệu lực cua giao dịch khi

có sự nhám lán đơn phương Giao dịch chi vỏ hiệu trong trường hợp mà cả hai hên biết trước sự sai lệch ý chí đích thực cua các bên so với những gì mà các bên thê hiện hoặc buộc các bên phai biết theo quy dinh cua pháp luật thì sẽ dẫn tới giao dịch vô hiệu như: bị lừa dối, de doạ

Hình thức giao dịch không đúng với quy định của pháp luật trong trường hợp pháp luật có quy định

Để bảo vệ cho trật tự an toàn xã hội, lợi ích cua Nhà nước và sự an toàn cua người tham gia giao dịch, ngoài việc các chu thể tham gia giao dịch phải thể hiện ý chí đích thực của mình còn phai tuân theo quy dinh của pháp luật về việc tuân thu các quy định về hình thức đối với một sô giao dịch nhất định mà pháp luật có quv định Hình thức của giao dịch là cách thức thê hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định Thông qua các biểu hiện này những người khác có thể biết được nội dung của giao dịch: “giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Trong trường hợp pháp luật

có quy định giao dịch dân sự phải dược thê hiện bằng vãn bán, phải có công chứng, chứng thực, phải dăng ký hoặc phải xin phép, thì phai tuân theo quy định dó” [1, Điều 124],

Việc quy định một số loại giao dịch phải tuân thú các quy định về hình thức dựa trên cơ cở là đối tượng của các loại giao dịch này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt, nên hình thức của giao dịch là căn cứ xác định hiệu lực của giao dịch Mặt khác, với những quy định này còn là cơ sơ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra giám sát việc chuyển dịch các tài sản này BLDS

1993 cua nước ta quy định hình thức giao dịch dân sự là một trong các điều kiện

có hiệu lực của giao dịch đó Tuy nhiên, BLDS 2005 lại có quan diêm khác về vấn đề này, hình thức giao dịch không phai là điều kiện kiên quyết đê xác lập giao dịch dó vô hiệu hay không, mà chi khi nào pháp luật có quy định rõ ràng về điều kiện hình thức đối với loại giao dịch mà chu thể xác lập, thì khi dó hình thức mới là điều kiện có hiệu lực cua giao dịch Đây là một diêm mới tiên bộ mà

Trang 24

các nhà lập pháp cua BLDS 2005 đã khắc phục được so với BLDS 1995.

h Các bén tham gia giao dich phai gánh chiu hâu qua pháp lv nhất đinh Khi giao dịch dân sự vỏ hiệu, quay lại tình trạng ban đáu, các bcMi tham gia giao dịch hoàn lại cho nhau những gì đã nhận, về mặt lý thuyết thì đây là sự tổr thất cua các bên vì các bên không đạt dược mục dich như đã mong muốn đó

là xác lập giao dịch đê dáp ứng nhu cầu hoặc vật chất cua mình mà phải quay lại tìm trạng như trước khi tham giao dịch Tuy nhiên, về mặt thực tế có trường hợp khi tuyên bố giao dịch dãn sự vô hiệu có bẽn được hưởng lợi, có bên bị thiệt hại,

có thế nói đây là vấn đé phức tạp nhất khi giải quyết hậu quả pháp lý giao dịch dâr sự vô hiệu trong thực tế, chúng tôi sẽ để cập trong chương 3 của luận văn

Về phương diện lý luận, trên thế giới có một số các cách thức điều chinh pháp luật đối với các giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

+ Quy định các điều kiện có hiệu lực cua giao dịch dân sự để từ đó suy

ä việc xác định giao dịch dân sự vô hiệu;

+ Quy định rõ các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, dại diện cho rường hợp này phái kê đến pháp luật của Cộng hoà Liên bang Đức, Nhật 3ản Theo các BLDS của Nhật Bán và của Cộng hoà Liên bang Đức thì các rường hợp vỏ hiệu cua hành vi pháp lý ở ngay phần chung của bộ luật không -|uy định các diều kiện có hiệu lực của giao dịch;

+ Quy định các điểu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và quy định các diéu kiện giao dịch vô hiệu Đại diện theo trường phái này phái kê đến xháp luật của nước ta và pháp luật của Cộng hoà pháp Pháp luật nước ta quy lịnh điều kiện có hiệu lực tại Điều 121 BLDS 2005 và điều kiện để dẫn tới pao dịch vố hiệu (Điều 125 BLDS 2005)

Mỗi cách thức trên qua thực tế áp dụng đều có tính ưu việt và cũng có nhữig hạn chế riêng của nó Việc nước ta lựa chọn phương án ba là do các nhà làm luật muốn sử dụng phương pháp loại trừ để xác định giao dịch vô hiệu từ nhũm siao dịch không du diều kiện có hiệu lực Sư dụng phương án này có vẻ

Trang 25

mang tính khái quát cao, nhưng có nhiéu diêm hạn chê của nó là sự cứng nhắ<c Khi tham gia giao dịch dân sự các chủ thê thê hiện ý chí cua mình nhưng ph.ái tuân thu các điểu kiện mà pháp luật cho phép, nếu không tuân thú düng các điề u kiện dó thì giao dịch trở thành vô hiệu Cách quy định thứ hai dưa ra điều kiện canh háo đê dẫn tới giao dịch dân sự vô hiệu cụ thể, còn lại cho phép người tham gia vào giao dịch đó có quyền lựa chọn theo phương án cua mình Với phương

án này nó mang tính chất uyển chuyên và linh hoạt, có hiệu quá [21, tr.31-32]

1,2.3 Khái quát vé hậu quá pháp lý của giao dịch dãn sự vô hiệu

Hậu qua theo nghĩa thông thường là “kết quá không hay về sau" [29, tr.415] Như vậy, hậu qua trước hết phải là một kết quá và kết quá đó phái xảy ra

từ một sự kiện, một hành vi nào dó, tức là hành vi, sự kiện và kết quả phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, hành vi hay sự kiện là nguyên nhân dẫn tới kết quả Theo quan điểm cùa triết học Mác Lônin thì hành vi hay sự kiện với tính cách là nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả theo một trình tự thời gian và trong một không gian xác định Nói cách khác, hậu quả phải xuất hiện sau

nguyên nhân Tuy nhiên, không phải tất cá các kết quả đều là hậu quả, mà ờ đâv

chi có kết qua không hay mới dược coi là hậu quá kết quá này gây hất lợi cho cá nhân, tổ chức, hay cho cá nhân loại Ví dụ như núi lứa, động dất hay gây cánh chết chóc cho con người, đó là hậu quả sự kiện bất khả kháng

Trong khoa học pháp lý chi những hành vi, sự kiện (mà nguyên nhân cũng

là do hành vi của con người) gây ra hất lợi cho cá nhân, tổ chức hay cho cả nhân loại và họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định nhưng phải được các nhà làm luật xác định hay dự liệu mới làm phát sinh hậu quả pháp lý Hậu quả pháp

lý phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sư nhất định và cũng phụ thuộc vào chế độ chính trị xã hội nhất định Vì pháp luật trong mọi thời đại về bản chất là một hiện tượng mang tính giai cấp sâu sác pháp luật là hình thức pháp lý cua chuyên chính giai cấp là công cụ duy trì xã hội trong sự phù hợp ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị Nên có những trường hợp cùng một sự kiện hay một hành vi, nếu

Trang 26

xáv ra ở thời điểm này thì hậu quả xảy ra không coi là hậu quá pháp lý, nhưng ở thời điểm khác coi là hậu quả pháp lý hoặc với cùng một sự kiện gây hậu quá như nhau ở nơi này coi là hậu quá pháp lý, nhưng ở nơi khác lại không coi là hậu qua pháp lý Ví dụ, hợp đổng chuyên nhượng quyền sử dụng đất xác lập năm

1988, thì bị vỏ hiệu, hậu quá pháp lý các bên quay lại tình trạng ban đầu, hoàn lại cho nhau những gì đã nhận vì vi phạm Điều 5, Luật Đất Đai năm 1987 “Nhà nước nghiêm câm mua bán chuyển nhượng quyền sứ dụng đất ”, nhưng sau khi có Luật đất dai năm 1993 thì Nhà nước lại cho phép chuyển nhượng quyền

sư dụng đất, nên hợp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng dất tuân thu điều kiện

do pháp luật quy dinh không bị vô hiệu

Trong hệ thông pháp luật của một quốc gia thì sự kiện khác nhau, mức độ khác nhau, được các nhà làm luật dự liệu trong nhiều ngành luật khác nhau và dặt ra các loại hậu quả pháp luật khác nhau, như: ngành luật dân sự, hình sự, hành chính, kinh tê Khi các chủ thể tham gia vào một quan hệ nhất định mà hành vi của các chú thê đó là trái pháp luật và trong từng quan hệ cụ thê thì phải chịu hậu quá pháp lý dược diều chỉnh bởi những ngành luật khác nhau

Đối với ngành luật hình sự, khi một người có hành vi trái pháp luật dẫn tới việc xâm phạm lợi ích cá nhân, của Nhà nước và của lợi ích xã hội thì bị coi là hành vi phạm tội Để báo vệ lợi Nhà nước, lợi ích xã hội và cua cóng dân, Nhà nước ban hành Bộ luật hình sự trong đó có quy định những hành vi coi là phạm tội và quy định cả hình phạt (hậu quá pháp lý) đê Tòa án căn cứ vào đó dưa ra phán quyết nhằm trị kẻ phạm tội và buộc người phạm tội phải khắc phục hậu quá

do hành vi phạm tội gây ra

Trường hợp người có hành vi trái pháp luật gây ra hậu quá nhất định đối với cá nhân, Nhà nước và xã hội Nhưnc chưa đến mức truy tố trách nhiệm hình sự thì họ chịu xử phạt bằng quyết định hành chính cua cơ quan Nhà nước

có thám quyền và phải gánh chịu hậu qua nhất định theo quy định vé xử phạt hành chính theo từng lĩnh vực

Tronc lĩnh vực dân sự thì hậu qua pháp lý xuất phát từ hành vi của các chu

Trang 27

thể, khi tham gia giao dịch dán sự nhất dinh dẫn tới vi phạm quyền nghĩa vụ cua chu thể khác hoặc khi giao dịch bị vô hiệu Khi một giao dịch dán sự vô hiệu các chu thê tham gia giao dịch phai gánh chịu những hậu qua nhất định do pháp luật quy dinh Hậu qua pháp lý trong giao dịch dân sự thường dẫn tới sự bất lợi

về tài sán hoặc lợi ích vật chất, năm ngoài ý chí và sự mong muốn cua chủ thê

Tuy nhiên, có thể một hành vi trái pháp luật phái gánh chịu hậu qua pháp

lý của một ngành luật nhưns cũng có thê cua nhiều ngành luật khác nhau điều chinh sự phân biệt cua các ngành luật này nhiều khi không rành mạch, nên khi buộc chu thể có hành vi trái pháp luật phai chịu hậu quả pháp lý do ngành luật nào diều chỉnh còn nhiều quan diêm khác nhau Ví dụ: một hành vi lừa dối trong giao dịch dân sự thì hậu quá có thê chi tuyên bô giao dịch dãn sự vô hiệu

và giải quyết hậu qua pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng cũng có thê người có hành vi lừa dối vừa phải chịu hậu quả pháp lý do luật dân sự điều chinh

và vừa phái chịu hậu quá pháp lý do luật hình sự điều chỉnh bằng hình phạt tù

Mặc dù khái niệm hậu quá pháp lý được sử dụng một cách rộng rãi trong khoa học pháp lý, nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa dưa ra một khái niệm cụ thê nào, các nhà lập pháp cũng chỉ di sáu vào quy dịnh nội dung của nó

mà thôi

Vé nguyên tắc, hậu quá pháp lý của giao dich dân sự vô hiệu là không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với các bên từ thời điểm xác lập Như vậy, các nhà làm luật đã kháng định tính nhất quán trong việc xử lv một giao dịch dân sự (nêu dã được xác lập) là vô hiệu và cũng là dê phòng ngừa trường hợp cá bên định cùng nhau xác lập giao dịch Cách thức xử lý này về thực chất là làm cơ

sở dê cảnh báo các bén khi tiến hành dề nghị hoặc chấp nhận việc xác lập giao dịch dân sự ở đây cũng xin nhàn mạnh rằng, khi xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không nên nói den quven và nghĩa vụ cua các bên, bởi vì dã

là giao dịch dân sự võ hiệu thì không thể phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự được Những thỏa thuận, cam kết trong giao dịch dân sự vô hiệu chi trở thành quyổn và ntihĩa vụ dân sự khi và chỉ khi giao dịch dân sự dược các bên xác lập có

Trang 28

hiệu lực (theo quy định Điều 121 BLDS 2005) Khi giao dịch dân sự vô hiệu không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự và các bên phai hoàn trá cho nhau những gì đã nhận, chính là khôi phục lại tình trạng ban dầu, trước thời điểm xác lập giao dịch Việc không phát sinh quyền và nghĩa vụ khi giao dịch dân sự vô hiệu chi là cách thức quy định cua nhà làm luật (xác dinh tính nguyên tắc), còn trong thực tê khi Tòa án giải quyết vụ kiện xin tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì thường là trường hợp các bên đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần những gì

họ thoa thuận với nhau Do vậy, trong thực tế rất ít khi gặp các trường hợp khi Tòa án tuyên bô giao dịch dân sự vô hiệu lại có thế khắc phục hậu quá đúng như nhà làm luật quy định Nhiều trường hợp giao dịch dân sự bị tuyên bỏ vô hiệu với dôi tượng giao dịch là vật đổi vật cũng phần nào bị tiêu hao

Về phương diện lý thuyết khi các bên tham gia giao dịch dân sự nhàm thiết lập một quan hệ dân sự, mà ở đó mỗi bèn đều đạt dược một mục dich nhất định Mục đích này có thể thỏa mãn về vật chất hoặc tinh thần cho mỗi bên Từ mục dich đó các bèn tham gia giao dịch sẩn sàng gánh chịu những trách nhiệm

và được hưởng những quyền lợi nhất dịnh, nhưng vì giao dịch dân sự vô hiệu không xác lập quyền và nghĩa vụ các bên, nếu các bên chưa thực hiện, thì các bên không được thực hiện; nếu đang được thực hiện, các bên không được tiếp tục thực hiện giao dịch và giái quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu; kể cá trường hợp các bẽn dã thực hiện xong những gì đã thỏa thuận thì giái quyết hậu quá cua giao dịch vô hiệu, giải quyết hậu quá pháp lý của giao dịch vô hiệu là buộc các bôn phải khôi phục lại tình trạng ban dầu, hoàn trá lại cho nhau những

gì dã nhận, trong trường hợp các bên không hoàn trả cho nhau bàng hiện vật thì hoàn trá cho nhau bằng tiền, bên có lỗi gây thiệt hại phai bổi thường do pháp luật quy dinh hoặc các bên có thỏa thuận trước về hậu qua, như: phạt, phạt cọc khi một bên có lỗi và phai chịu thiệt hại tương ứng với lỗi của họ gây ra Do đó, giao dịch vô hiệu chi có thê làm phát sinh hậu quá về trách nhiệm dân sự hoặc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [15, tr 168-169], Đây cũng chính là tính chất đặc trưng cứa chê tài trong quan hệ pháp luật dân sự Như vậy, nếu so với thời

Trang 29

diêm ban đáu rõ ràng các bên tham gia giao dịch dân sự mà giao dịch dó bị vô hiệu dã không thực hiện dược mục dich cua mình mà phái quay lại tình trạng như trước lúc các bên giao dịch với nhau Tuy nhiên, trong thực tiễn không hoàn toàn như vậy, vì quy dinh cua pháp luật nhiều khi không rõ ràng hoặc không phù hợp với diều kiện thực tế hoặc do trình độ bất cập của các thám phán nhiều khi giai quyết hậu qua pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu dẫn đến có lợi cho một phía Thậm chí có trường hợp khi Tòa án đã tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu nhưno lại buộc các bén thực hiện các thỏa thuận gióng như thực hiện quyển và nghĩa vụ của một giao dịch dân sự có hiệu lực.

Như vậy, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu có thê được hiệu là những hệ quả pháp lý phát sinh theo quy dinh của pháp luật trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu Hậu quả này chi phát sinh khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thám quyền hoặc trên cơ sở một quyết định, bản án của Tòa án

có hiệu lực pháp luật Cơ sớ để xác định hậu quả pháp lý có thể được pháp luật dân sự quy định trước hoặc do các bên tham gia giao dịch thỏa thuận Khi xảy ra hành vi vi phạm, các cơ quan nhà nước có thám quyền sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp chế tài, thậm chí không phụ thuộc vào ý chí cua các chu thể tham gia giao dịch, nêu các bên không thỏa thuận được

Theo quy dinh của BLDS của nước ta thì, khi giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu các bên khôi phục tình trạng ban dầu, hoàn trả cho nhau những gì dã nhận; nếu không hoàn trả bằng hiện vật, thì trá bàng tiền Bẽn có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường Tuy theo từng trường hợp, xét thấy tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sán giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu dược có thể bị tịch thu theo quy dịnh của pháp luật (khoản 2, Điều 125 BLDS 2005) Hậu quá pháp lý này có sự phân biệt khác nhau giữa luật dân sự và ngành luật kinh tế Theo quv định Pháp lệnh hợp đồng kinh tê thì thiệt hại phát sinh các bèn phái tự gánh chịu, trong khi dó ngành luật kinh tế thực chất chính là ngành luật dân sự mang tính chuyên biệt Do đó, gây bát bình dẳng cua các chu thê tham gia quan hệ giao dịch dân sự nói chung Ngoài ra, quy dịnh pháp luật vé giái quyết hậu quả cua một giao dịch dân sự vô

Trang 30

hiệu một thời gian dài không có văn bán hướng dẫn kê từ khi có Nghị quyết số 01/HĐTP/2003 ngày 16/4/2003 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 10/8/2004 cua Hội đồng Thám phán Tòa án nhân dán tối cao đã thống nhất được về dường lối xét xử về giải quyết hậu quả hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu nhưng chưa có hướng dẫn về giải quyết hậu quá cua giao dịch nói chung, dẫn tới sự giai quyết còn thiếu sự nhất quán

1.3 Khái quát về giao dịch dán sự vỏ hiệu theo quy định của pháp luạt Việt Nam qua các thời kỳ.

ỉ 3.1 Giao dịch dán sự vô hiệu dưới thòi nhà Lẻ

ớ Việt Nam, do có sự khác biệt trong quá trình phát trien lịch sứ nên các dạo luật phong kiên Việt Nam không có khái niệm về giao dịch, chi nêu các loại khế ước chung như: mua bán cho thuê, cho vay., và chế dịnh thừa kế Ngay trong các bộ luật được dánh giá là dinh cao cua thành tựu lặp pháp phong kiên như Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) dược ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông, Hoàng Việt luật lệ (Bộ Luật Gia Long) dược ban hành dưới thời vua Gia Long, khái niệm hợp dồng, hoặc khê ước với tư cách là một thuật ngừ pháp lý độc lập và hoàn chỉnh hầu như không dược biết tới Chê định hợp đổng chỉ được thê hiện không thật rõ nét thông qua các tình huống cụ thể như việc mua bán, thuê mướn, vay nợ, cầm cô, báo lãnh Mà không có tính khái quát cao và khồng thê áp dụng chung cho mọi trường hợp Vào thời kỳ này, giao dịch dân sự trong các bộ Luật có các dặc điểm sau:

Thứ nhất, Nguyên tắc chung về khê ước tuy không dược các nhà lập pháp nêu cụ thê, nhưng những nguyên tắc ấy có thể coi là kết quả dương nhiên cua quan niệm nhân trị Bới lẽ, trong quy tắc xử sự chung, mọi người đều bị ràng buộc bới ý thức hệ của đạo Khổng về người quân tư đó là các tiêu chuẩn nhàn,

lễ, nghĩa, trí, tín Chính vì thê mà trong các công trình nghiên cứu trước đây và hiện nay, các tác giã đều cho ràng trong pháp luật phong kiến cũng có các nguyên tắc về giao dịch dãn sự như:

Về nguyên tác tự do khế ước (hợp đồng), luật không có một điều khoản

Trang 31

nào quy định vé tự do khê ước nhưng cho phép mọi người tự do giao kết khê ước với nhau Luật phong kiến không quy định được phép hay câm đoán quyền cua chu thể tham gia khê ước, nhưng chi can thiệp khi kết lập khế ước vi phạm thuần phong mĩ tục hay làm rối loạn trật tự xã hội.

Ví dụ, Điều 378 Quốc triều hình luật quy định:

Cha mẹ còn sống, mà bán trộm điên sán, con trai phải phạt 60 trượng, biếm hai tư, con gái phạt 50 roi biếm một tư, phai trả nguyên tiền cho người mua điền sản trá lại cha mẹ (những kẻ hàng dưới ít tuổi cùng ở với bậc trên mà

ăn trộm điền sán cua gia trưởng cũng phai tội như thế) Người biết sự việc mà mua thì mất số tien mua; người viết vãn tự thay hay làm chứng mà biết sự thật thì phải phạt 50 roi, biếm một tư; không biết thì không xứ tội

Luật phong kiến quy định rất nhiều điểu khoản về vấn để bảo vệ an ninh đất nước, có thê nêu một sô ví dụ những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho nước ngoài thì bị tội chém và những người bán nô tỳ, voi ngựa cho nước ngoài thị bị tội chém (Điều 74 Quốc triều hình luật) Để bảo vệ nền kinh tế: Điểm đặc biệt nhất là luật cổ đã quy định sự bảo vệ những nguyên tấc cơ bủn của nền kinh tế

Ví dụ Điểu 198 Quốc triều hình luật quy định: “những người từ chối không tiêu đồng tiền bị sứt mẻ hoặc đòi giá hàng quá cao mới bán hay là đóng cửa hàng

không bán để bán dấu ờ trong nhà, thì đều phải tội hạ bậc hay bắt diễu di trước

công chúng ba ngày Những hàng hóa nói trên đều bị tịch thu sung công Những người cậy quyền mua hàng ức hiếp, thì cũng bị tội như thế.”

Tóm lại, tuy không nêu thành văn, nhưng có một số trường hợp pháp luật hạn chế sự tự do giao kết dàn sự Trong các trường hợp giao kết này đã xâm phạm thuần phong mỹ tục và trật tự công cộng do Nhà nước phong kiến duy trì thì bị coi là vô hiệu và giải quyết hậu quá giao kết vô hiệu theo quy định pháp luật dàn sự và còn bị xử theo chế tài hình sự

Khê ước dân sự vỏ hiệu do các hên không du diêu kiện nội dung không hội

tụ dit

Trang 32

Dieu 355 Quốc triều hình luật quy định “Người nào ức hiếp đê mua ruộng đất của người khác thì phai hiếm hai tư và cho lấy lại tiến mua" Như vậy, trong trường hợp không có sự tự nguyện cua một bên trong khê ước thì cũng bị coi là

vỏ hiệu

Khê ước dãn sự vô hiệu do IHỊƯỜÌ mất năng lực hành vi thực hiện

Quốc triều hình luật quy định ở Điéu 187 như sau: “trong các chợ ở kinh thành và thôn quê, những người mua bán không đúng theo cân, thước, thăng, đấu cua Nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì bị phạt tội biếm hoặc đổ" Cũng theo Điều 190 Quốc triều hình luật quy định: “ người dùng thăng, cân thước đế mua bán lây lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm"

Sự cưỡng hách:

Điều 355 Quốc triều hình luật quy định: “người nào ức hiếp đê mua ruộng đất cua người khác thì phải biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua” và tại đến 638 Quốc triều hình luật quy định:

Các cơ quan cai quản quân dân cùng những nhà quyền quý mà nhiễu sách, mượn của cai đổ vật của dân trong hạt thì phải ghép vào tội uổng pháp (lạm dụng pháp luật), phải hoàn lại đồ vật cho chu Nếu dem của cải dồ vật của mình cho dân vay mượn đê lấy giá lời cao hay lợi nhiều thì cũng phủi tội như vậy, những cua cái đồ vật ây phải tịch thu sung công

Sự hint lần: trong luật phong kiến không quv định lầm lẫn là một điều kiện

đê dẫn tới khế ước vô hiệu, nhà làm luật chỉ quan tâm khi nào sự lầm lẫn, đấy là một hậu qua hay thành tô cua sự lừa dối

Về hình thức của khê ước

Về nguyên tắc chung trong luật phong kiến, khi đương sự đồng V nội dung cua khê ước, đôi với các khế ước không quan trọng hoặc có giá trị không lớn như: mua bán vật thông thường, vay mượn thời gian ngắn, số lượng ít không phai lập giây tờ Còn đối với vật có giá trị tương đối gồm: nhà cửa, đất dai sô lien lớn trâu bò phai lập giấy từ, tức là phái lập thành văn bản các bên cùng

ký Trong văn ban ghi rõ quyền và nghĩa vụ cua các bên Nêu người không biết

Trang 33

chữ có thê nhờ người khác viết thay hay chứng kiến Ví dụ điều 366 Quốc triều hình luật quy định: “những người làm chúc thư văn khê mà khổng nhờ các qan trương trong làng viết thay và chứng kiên, thì phai phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thư văn khế ấy không có giá trị Nếu biết chừ mà viết lấy thì được".

1.3.2 Giao dịch dan sự vô hiệu dưới thời Pháp thuộc

Nãm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược Việt Nam vua quan nhà Nguyễn đã thỏa hiệp, đầu hàng Thời kv này Việt Nam bị chia làm ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Do nhận thức được vị trí vai trò cua pháp luật trong đời sống xã hội, thực dân Pháp đã ban hành ba BLDS áp dụng cho ba miền cua nước ta là: Bộ dân luật gián yếu Nam Kỳ (ban hành năm 1883), Bộ dân luật Bắc Kỳ (ban hành năm 1931), Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật (thường gọi là

Bộ dân luật Trung Kỳ, ban hành năm 1936) Riêng đối với Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ do thiêu phần khế ước nên dã được bổ sung bàng sác lệnh Tân diền thổ vào năm 1925 chỉ quy định riêng về vấn đề khê ước

Khác với Quốc triều hình luật, trong bộ Dân Luật Bắc Kỳ, Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật đã dưa ra dược khái niệm vổ khế ước:

Khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam doan với một hay nhiéu người khác để chuyển giao, đê làm hay không làm cái gì

Hiệp ước do một hay nhiều người đông ý với nhau để lập ra hay chuyển

di, dổi di hay tiêu đi một quyền lợi thuộc vé cúa cái hay về người [32, tr.76]

* Vé nguyên tắc, pháp luật tôn trọng quyền tự dịnh đoạt của các bên khi tham gia giao kết khế ước có quyén tự do ý chí không bị tác động bởi bất kỳ lý

do nào, trừ trường hợp trái với pháp luật, trái với phong hóa hay trật tự công cộns, người có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bổi thường thiệt hại, nếu có lỗi không thi hành đúng nghĩa vụ cua mình

* Điều kiện đê một khê ước được coi là hợp pháp

Theo quv định của pháp luật một khế ước có hiệu lực pháp luật khi đáp

Trang 34

ứng một trong các điều kiện sau:

- Phái có hai hên hay người thay mật của hai hên đồng ý:

- Phái có một vật nhất định và hai hên đã chỉ rõ mà hai hèn có quvền sửdụng;

- Phai có một việc đích thực chính đáng Sau khi hiệp ước được hình thành thì phai có hai điều kiện là: thứ nhất là không có sự hiểu lầm hay cưỡng bách làm trái với nguyên tắc tự nguyện, tự do thỏa thuận cua các hèn; thứ hai là, người lập khế ước hoặc trong trường hợp có người đại diện thì những người này phái du

tư cách mà pháp luật quv dinh (điều 683, dân luật Bấc Kỳ và điều 688, Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật ) Như vậy khê ước vô hiệu là khế ước không có một trong các diều kiện làm cho khế ước hợp pháp

Về tư cách chủ thê tham gia khế ước: người tham gia khế ước phải là thành niên, theo điều 217, Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật thì người thành niên từ

21 tuổi trở lên Tuy nhiên, người này không bị mắc bệnh “si ngốc, ngu xuẩn hoặc diên cuồng”

Trong một số trườns hợp pháp luật cho phép người chưa thành niên tham gia giao dịch, khi người này vì sự kết hôn mà có nhà riêng, không có sự ngăn cán của cha mẹ hoặc trường hợp đã du 18 tuổi, mà cha mẹ cho phép tự lập một cách công nhiên Trong trường hợp này, pháp luật quy định phái có người quán tài sản giúp đỡ cho vị thành niên, nếu không có người giúp đỡ thì người vị thành niên đó không được tham gia một số khế ước nhất định, như vay nợ, không dược cầm cố hay sư dụng gì về bất động sản của mình

Ngoài những quy dịnh người vị thành niên, người bị diên, pháp luật không cho phép họ tham gia khế ước nhưng vì bất kỳ một lý do gì mà họ lại tham gia không có người giám hộ dại diện thì khê ước dó là vô hiệu Pháp luật còn quy dịnh hạn chế quyền năng làm người vợ, trong gia đình, của con cháu:

"Phàm những việc của vợ chính hoặc vợ thứ, đểu do người chổng dứng thay mật dược cả, trừ khi nào vợ chính cùng vợ thứ được tự chủ làm công việc, sự cho phép ấy phai cho rõ ràng và làm bằng giấy; hoặc vợ chính hoặc vợ thứ phai có

Trang 35

chóng cho phép mới được thưa kiện Sự hạn chế này của pháp luật nhà Nguyễn không tạo ra cho các cá nhân quyền bình đẳng trong giao kết khê ước.

Nội dung cua khế ước không được trái với pháp luật, thuần phong mĩ tục, trật tự công cộng Các bên có thể thoa thuận về nội dung cua khế ước trên cơ sở

tự nguyện không trái với quv định trong luật dân sự hay trái với quy định khác

mà do Nhà nước ban hành hoặc không được xâm phạm tới trật tự công cộng, ví

dụ tại điều 675, Dãn luật Bắc kỳ hay Điều 715 Hoàng Việt trung kỳ bộ luật quy định: Có thê lấy hiệp ước riêng mà làm khác luật pháp chung, them hoặc bớt hiệu lực cua luật pháp được, miễn là đừng phạm tới trật tự công chúng và phong hóa Ngoài ra, pháp luật quan tâm đến tập quán và công bàng: Hiệp ước không những bắt buộc phải theo những điều dã định mà theo tính chất nghĩa vụ, chiếu theo lẽ công bàng, theo tục lệ cua pháp luật mà làm mọi sự nhân đó sinh ra nữa hoặc không trái với quy dinh về hình thức theo quy định của pháp luật

Sự tự nguyện của các chủ thể thamg gia khê ước thể hiện trên nguyên tắc

tự do khế ước Tự do khê ước là các bên tham gia khế ước có quyền tự do lựa chọn bất cứ loại khê ước nào miễn là không trái với pháp luật và phải thê hiện được V chí đích thực của các bên, không có sự nhám lẫn hay lừa dối, bạo hành ép buộc bên kia phải tham gia khế ước

1.3.3 Giao dịch dán sự vô hiệu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

Kê từ khi nước ta giành độc lập ngày 2-9-1945, Quốc hội nước Việt nam dân chu cộng hòa ban hành Hiến pháp 1946 và sau đó được bổ sung và sứa đổi ở các Hiên pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 Các bản hiên pháp này

là cơ sở nền táng cho các quy dịnh cua pháp luật nói chung và giao dịch dân sự nói riêng Việc ban hành Hiến pháp dựa trên nguyên tắc mang lại sự công bàng, bình dắng cho nhân dân xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu phong kiên, ví dụ, Điều

6, Hiên pháp 1946 ghi nhận: “Tất cá công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”: Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định:

“Đàn bà ngang quyền với dàn óng về mọi phương diện"; hoặc Điều 50 Hiên

Trang 36

pháp 1992 đã có quy dinh : “ở nước cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam các quyen con người về chính trị, dàn sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện các quyền cõng dân và được quy dinh ở trong Hiến pháp và luật”.

Thời kỳ nước ta mới giành độc lập chưa có điều kiện han hành văn han pháp luật dê thay thê những hộ luật cua chế độ cũ Do dó, ngày 10-10-1945 Hổ Chu tịch ký Sắc lệnh 90/SL cho phép tạm sử dụng một số luật lệ han hành ở Bãc Trung - Nam cho dến khi han hành những bộ luật chung nhất cho toàn quốc, nếu” những luật lệ ấy không trái vói nguyên tắc độc lập cua nước Việt Nam và chính thế dân chu cộng hòa” Có nghĩa là ha văn bản pháp luật (Dân luật gian yêu Nam kỳ 1883, Dân luật Bắc kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật 1936) đang tiếp tục áp dụng Tuy nhiên, trong thực tiễn xuất hiện nhiều quy định trong

bộ luật cũ không phù hợp với ban chất Nhà nước của dán, do dân và vì dân, nên ngày 22-5-1950, Chú tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 97/SL “Sứa dổi một số quy lệ và chế định trong dân luật”, với các nguyên tắc mới là:

+ Những quyển dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xứ nó đúng với quyền lợi của nhân dân;

+ Người ta chí dược hưởng dụng và sư dụng và các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân;

+ Người đàn bà có chổng có toàn năng về một hộ;

+ Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bẽn vì điểu kiện kinh tế của hai bên chênh lệch, thì khê ước có thể bị coi là vô hiệu

Sau khi có Hiến pháp mới năm 1959, Tòa án tối cao đã ra Chỉ thị sỏ 772/CT-TATC về việc đình chi áp dụng của luật lệ của đê quốc, phong kiên Như vậv các nguyên tắc áp dụng cho dân luật nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng chi còn là những nguyên tấc được quv định tại sắc lệnh 97/SL ngày 22-5-

1950, các điều được quy định tại Hiến pháp và các vãn bán dưới luật khác

Thời kỳ này chú trọng đối với những tài sán là nhà cửa, ruộng đất, nên nhiều ván bản đề cập đến như: sắc lệnh 85/SL ngày 20-2-1952 ban hành thê lệ trước bạ về việc mua bán, cho và đổi nhà cưa ruộng đất bát buộc phai trước bạ

Trang 37

rỏi mới được sang tên trong sổ địa bạ và sổ thuê, việc chuyển dịch các tài sán khác được miễn trước bạ”; Chỉ thị sô 4/DS ngày 14/10/1963 cua Tòa án nhân dân tỏi cao vé dường lối giái quyết những giao dịch họp pháp và bát hợp pháp, trong nội dung cua chi thị này có neu rõ những giao dịch bất hợp pháp như: giao dịch trong việc hùn vốn dầu cơ trục lợi; tổ chức buôn bán hàng cấm, trong việc buôn hàng lậu thuế

Khái niệm hợp đồng vô hiệu được nêu ở công vãn 1477/DS ngày 11-12-

1965 cua Tòa án Tối cao: Là hợp đồng không có hiệu lực vì nó trái với pháp luật, không phù hợp với yêu cầu của chính sách và pháp luật cua Nhà nước”

Trước ngày đất nước thống nhất, giải phóng miền Nam 30-4-1975, chính quyền Nguyễn Vãn Thiệu cũng đã soạn thảo mới BLDS với 1500 điều và được công bô thi hành vào tháng 12-1972 BLDS 1972 này thực chát chỉ là sự sao chép có sứa đổi một sô nội dung, nhưng nhìn chung không có gì khác biệt các quy định trong Dân luật Bắc kỳ năm 1931

Nghị định số 2/CP ngày 4-1-1979 của Hội dộng CHính phủ ban hành diều lệ thống nhất quản lý nhà cửa ở thành phố, thị xã, thị trân Tại diều 16 của Nghị định này quy định: “Việc mua bán nhà cửa của nhân dân về việc chuyển dịch nhà cửa của co quan, xí nghiệp phải theo đúng vói các nguyên tắc, thú tục

do pháp luật Nhà nước quy định”

Và Báo cáo 158/BC ngày 25-3-1985 của TAND TC tổng kết công tác xét

xử các tranh chấp vé mua bán nhà và cho thuê nhà ở của tư nhân tại thành phố, thị xã, thị trấn Theo báo cáo này thì hợp đồng mua bán có giá trị pháp luật khi

có bốn yếu tỏ sau:

+ Họp đồng phái có nội dung düng chính sách pháp luật;

+ Người tham gia ký kết họp đổng phải có dú tư cách về mặt pháp luật;+ Phai có sự thỏa thuận tự nguyện của bên mua và bên bán;

+ Họp đổng phai làm theo đúng thu tục luật định

Khi giai quyết các tranh chấp vé họp đồng mua bán nhà thì phai căn cứvào 4 yếu tố này để xem xét hợp đổng có vô hiệu hay không

Trang 38

Đối với hợp đổng chuyển nhượng quyền sứ dụng đất, theo Hiên pháp

1980, quyết định sô 201/CP ngày một/7/1980 của Hội đồng Chính Phú và luật Đất Đai năm 1987 thì thời gian này đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quán lý thống nhất Nhà nước nghiêm cấm mua bán, chuyển dịch, nhượng đổi đất dai Do dó, về nguyên tắc chunư là tất cả các giao dịch vé mua bán đất dai thực hiện trong thời gian này đều bị coi là trái pháp luật, chí đến khi có luật đất dai năm 1993 Nhà nước mới cho phép công dân chuyên nhượng quyền sử dụng

dất.

Thời kỳ thay dổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa sang kinh tê thị trường, hàng loạt các văn ban pháp luật ra đời, nhưng trong dó phai kê đến ba pháp lệnh có ý nghĩa to lớn trong việc dieu chỉnh các giao dịch dân sự là: Pháp lệnh hợp đổng dân sự có hiệu lực ngày 1-7-1991, Pháp lệnh nhà ở ngày 26-3-1991; Pháp lệnh thừa kế ngày 10-9-1990

Vé nguyên tắc, hợp dồng dân sự được giao kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình dẳng không trái pháp luật và dạo đức xã hội

Theo Điều 15 pháp lệnh hợp dồng dân sự , thì hợp dồng vô hiệu toàn bộ trong các trường hợp sau:

- Nội dung của hợp đồng vi phạm diếu câm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội; một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng;

- Hợp dồng do người dưới 18 tuổi giao kết mà không có sự đổng V của cha

mẹ hoặc người đỡ đầu, thì cha mẹ hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cáu Tòa án xác dinh hợp dồng vô hiệu;

- Khi một bên hợp đồng bị nhầm lẫn về nội dung chủ yếu cua hợp dồng,

bị de dọa hoặc bị lừa dối, thì có quyền yêu cáu tuyên bõ hợp đồng vô hiệu;

- Hợp đồng vô hiệu từng phán khi nội dung cua phần dó vô hiệu nhưng không anh hưởng tới nội dung cua các phần còn lại cua hợp đồng;

Giai quyết hậu quá cua hợp dồng vố hiệu theo điêu 16 Pháp lệnh hợp đồng dân sự, đó là:

- Hợp dồng vô hiệu không có giá trị tại thòi diêm giao kết;

Trang 39

- Nêu hợp đồng chưa thực hiện hoặc đã thực hiện một phán, thì các bên không được tiếp tục thực hiện;

- Trong trường hợp họp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, thì các bên có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nhau tài san đã nhận, nêu tài sán đó không bị tịch thu theo quy định cua pháp luật; nếu không hoàn tra bằng hiện vật, thì phai hoàn tra bằng tiền;

Bén có lỗi trong việc giao kết hợp đồng vô hiệu mà gây ra thiệt hại cho phía bên kia, thì phai bồi thường, trừ trường hợp bên bị thiệt hại biết rõ lý do làm cho hợp đồng vô hiệu mà vẫn giao kết;

- Khoản thu nhập không hợp pháp từ hợp đồng từ việc thực hiện hợp đổng vô hiệu phái bị tịch thu

Qua các vãn bản này chúng ta thấy nhiều lĩnh vực quan hệ dân sự chưa được điểu chính như: nghĩa vụ dân sự, cho vay, lãi suất, hợp đồng dịch vụ trong khi đó, do chuyên đổi cơ chế quản lý kinh tế, các tranh chấp dân sự phát sinh phức tạp, đa dạng giữa các chú thể, nhiều quy định trong các văn bán pháp luật dân sự còn chồng chéo, không còn phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới, gây khó khàn cho các chủ thể tham gia quan hệ dân sự cũng như cơ quan thi hành pháp luật Tòa án các cấp chủ yếu dựa vào các báo cáo tổng kết ngành hàng năm, báo cáo chuyên đề và các thông tư liên tịch của Tòa án tỏi cao, Bó Tư pháp, VKSNDTC hay hướng dẫn của TANDTC trong hoạt động xét xử Các lại văn bản hướng dẫn này chi là biện pháp giải quyết bù lấp chỗ trống trong hệ thống pháp luật dán sự nên không phù hợp với nguyên tắc pháp chế XHCN

Do đó BLDS ra đời thay thế các văn bản pháp luật đó là tất yếu đáp ứng được yêu cầu của thực tien giao lưu dân sự cũng như công tác thực hiện pháp luật cua nước ta Trong lịch sư hình thành và phát triển pháp luật dân sự Việt Nam, đây là lần thứ hai nước ta có BLDS nhưns khác nhiều so và với BLDS thời Pháp thuộc, BLDS thời chính thê ngụy Sài Gòn BLDS lần này có nhiều diều ưu việt hơn, vì đã xóa bỏ được những tàn dư cua chế độ phong kiến mang tính chất

cổ hu, lạc hậu và bất bình đẳng trong xã hợi, dồng thời tiếp thu được những tinh

Trang 40

hoa của pháp luật trước đó và pháp luật quốc tố Có thê nói ràng chúng ta đã có BLDS mang tính ưu việt cua Nhà nước XHXN, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội cua nước ta.

Trong BLDS thì giao dịch dân sự dược quy định thành hai phần, đó là phán chung và phần riêng Phần chung quv định tại Chương 5, phẩn thứ nhất của BLDS (từ Điều 130 đến điều 147) Phán này hao gồm những khái niệm chung và một số quv dinh có tính chất nguyên tắc vổ giao dịch dân sự Còn phần riêng quy định về những giao dịch cụ thể và giao dịch dân sự dược quy dinh tại Điều

130 BLDS: “giao dịch dân sự là hành vi pháp luật đơn phưrmg hoặc hợp đồng cua cá nhãn, pháp nhân và cua các chu thể khác nhàm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Cùng với quy định chung là các quy định về nội dung của giao dịch dân sự như: điều kiện hợp pháp của giao dịch dân sự, hình thức của giao dịch dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch và giao dịch dân sự có điều kiện và đặc biệt là về giao dịch dân sự vô hiệu, dược quy định chi tiết, tỉ mỉ hơn như: các điều kiện đê dẫn tới giao dịch vô hiệu và một sô giao dịch dân sự vô hiệu cụ thể, như do không tuân thu quy định về hình thức, giao dịch dân sự vô hiệu do người mất năng lực hành vi dân sự , ký kết do bị nhầm lẫn, bảo vệ quyền lợi của người thức ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu Một điểm nữa đáng chú ý đó là quyền và nghĩa vụ cua các bên trong giao dịch dân sự quy định ở phần thứ ba: nghĩa vụ dân sự và hợp đổng dân sự Ví dụ nghĩa vụ cung cấp thông tin nghĩa

vụ bảo hành của các bên trong hợp đồng mua bán hướng dẫn sư dụng Các điều kiện đê bên thuê nhà dược quyền ưu tiên mua nhà dang thuê, các biện pháp dám bao thực hiện nghĩa vụ hay các điều kiện giao kết, thực hiện hợp đổng dân sự

Phần riêng của các giao dịch quv định một số loại hợp đồng dân sự riêng

lẻ tai chương hai, phần thứ ba (nghĩa vụ dân sự và hợp dồng dân sự) và chương một và chươnc hai phần thứ tư (thừa kế) cua BLDS

Kế từ sau khi có BLDS, vổ cơ ban chúng ta áp dụng các quy định trong BLDS để điéu chinh các quan hệ giao dịch phát sinh sau khi BLDS ra dời Tuy

Ngày đăng: 08/10/2016, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Lẽ Thị Bích Thọ (2001), "Nhám lẫn - yêu tô dần đén sự vô hiệu cua hợp dỏng”, Tòa án nhân dân. (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhám lẫn - yêu tô dần đén sự vô hiệu cua hợp dỏng
Tác giả: Lẽ Thị Bích Thọ
Năm: 2001
22. Lê Thị Bích Thọ (2002), “Hợp dồng kinh tế vô hiệu và hậu qua pháp lý của nó”, Thông tin khoa học pháp lý, (5), Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp dồng kinh tế vô hiệu và hậu qua pháp lý của nó
Tác giả: Lê Thị Bích Thọ
Năm: 2002
1. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), NXB Chính trị quốc gia Khác
2. Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan (1995), quyển 1-IV. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa Pháp (1998), NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội Khác
4. Bộ luật lao động (2002), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5. Chính phu (1999), Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29-3 về thu tục chuyển đổi, chuyên nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thê chấp, góp vốn bằng giá trị sử dụng đất Khác
6. Hiên Pháp 1992 (2002), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Hội đồng Thám phán Tòa án nhân dân tôi cao (2003), Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giai quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình Khác
8. Hội dồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết sô 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giai quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình Khác
9. Luật doanh nghiệp (2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Luật đất dai (2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Pháp lệnh về nhà ở 1991.II. Tài liệu tham khao khác Khác
15. Bình luận khoa học Bộ luật dãn sự Nhật Ban (1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
16. Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam (2001), tập I, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
19. Nguyền Vãn Luật (2000), Giai quyết yêu cầu tuyên bỏ hợp đổng dân sự vô hiệu trong thực tiễn xét xứ của Tòa án nhân dân. Đe tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sớ, Hà Nội Khác
20. Đinh Ngọc Hiện (1999), Vấn đề áp dụng một sô chê dinh cua BLDS trong thực tiễn xét xử của Tòa án, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội Khác
23. Trần Trung Trực (1997). Một số vấn đề vể giao dịch dân sự và hậu qua pháp lý của giao dịch dân sự vỏ hiệu. Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
24. Tòa án nhân dân tỏi cao (2002), Báo cáo tổng kết cua ngành Tòa án năm 2001, Hà Nội Khác
25. Tòa án nhân dân tối cao (2003). Báo cáo tổng kết của ngành Tòa án năm 2002, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w