Theo đó, Nhật đã triển khai nhiều hoạt đối ngoại nhằm:■ Đẩy mạnh quan hệ nhiều mặt với các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, coi hòa bình ổn định hợp tác và phát triển tại khu vực
Trang 1CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trong giai đoạn 2001 – 2016
Trang 21 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2016
Trang 3Từ năm 2000 trở đi, Nhật bắt đầu đầu tư nhiều hơn vào khu vực Đông Nam Á, đưa ra những chính sách hướng tới việc thiết lập quan
hệ hợp tác tốt đẹp trên lĩnh vực kinh tế với khu vực này
Trang 4Tăng cường tính độc lập và tự chủ trong đa phương hóa chính sách đối
Trang 5Triển khai thuyết “ngoại giao giá trị” với tầm nhìn toàn cầu, tăng cường liên
kết với các nước có cùng giá trị cơ bản về tự do, dân chủ, sự chi phối của pháp luật đề hình thành một “vòng cung” bao vây, kiềm chế Trung Quốc;
Triển khai thuyết “ngoại giao giá trị” với tầm nhìn toàn cầu, tăng cường liên
kết với các nước có cùng giá trị cơ bản về tự do, dân chủ, sự chi phối của pháp luật đề hình thành một “vòng cung” bao vây, kiềm chế Trung Quốc;
Tạo điều kiện phát triển đất nước, nhất là đảm bảo an ninh năng
lượng.
Tạo điều kiện phát triển đất nước, nhất là đảm bảo an ninh năng
lượng.
Trang 6Theo đó, Nhật đã triển khai nhiều hoạt đối ngoại nhằm:
■ Đẩy mạnh quan hệ nhiều mặt với các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, coi hòa bình ổn định
hợp tác và phát triển tại khu vực này là yếu tố đảm bảo cho sự ổn định về mặt an ninh chính trị và thúc đẩy hồi phục kinh tế của Nhật Bản.
■ Khẳng định ASEAN là đối tác của hòa bình, ổn định và thịnh vượng, ưu tiên tăng cường hợp tác kinh
tế và an ninh-quốc phòng nhằm đối phó và kiềm chế Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển
Trang 7QUỐC PHÒNG – AN NINH
Từ cuối những năm 2000, các nhà phân tích an ninh Nhật Bản đã âm thầm bày tỏ mối quan ngại ngày càng tăng đối với các căng thẳng đang nổi lên ở Biển Đông xung quanh tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và ranh giới biển
Trang 8An ninh quốc gia của Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng từ khu vực
biển Đông
■ An ninh quốc gia của Nhật Bản phụ thuộc rất lớn vào sự an toàn trên các tuyến đường biển quốc tế chảy qua lãnh hải của các nước Đông Nam Á Không chỉ đảm nhận vai trò vận chuyển, xuất nhập khẩu hàng hóa, nhu yếu phẩm cần thiết cho đời sống và sản xuất của người dân Nhật
■ Các tuyến đường biển ở Đông Nam Á còn là cầu nối căn cứ quân sự của Mỹ ở Okinawa với các tuyến phòng thủ do Mỹ lập
ra để đảm bảo an ninh quân sự cho Nhật Bản ở Đông Á
■ Ngoài ra Nhật còn lo ngại rằng nếu Trung Quốc chiếm ưu thế trong tranh chấp với các nước Đông Nam Á, các quy chuẩn luật pháp quốc tế sẽ bị làm suy yếu, và các lợi ích quốc gia ở Biển Đông và Hoa Đông sẽ bị thiệt hại
Trang 9■ Do đó, trong giai đoạn này, mặc dù không có liên quan đến tranh chấp chủ quyền với các đảo mà một
số nước ASEAN đang tranh chấp, Nhật vẫn đưa ra các chính sách đối ngoại với các nước ASEAN trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng với ý muốn hỗ trợ tăng cường năng lực giữ vững hòa bình ổn định biển đảo, đặc biệt là những nước ASEAN có tranh chấp lãnh thổ trực tiếp với Trung Quốc.
■ Mục tiêu chính là đối phó và kiềm chế việc Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển
■ Bên cạnh đó, Nhật cũng tăng cường sức mạnh quân sự bằng cách tăng thêm ngân sách cho việc mua sắm các các trang thiết bị cho lực lượng phòng vệ, đồng thời chú ý đến quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật
Trang 102 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2016
2.1 Về an ninh chính trị - ngoại giao
2.2 Về hợp tác phát triển kinh tế
Trang 112.1 Về an ninh chính trị - ngoại giao
2.1.1 Giai đoạn 2001-2006
2.1.2 Giai đoạn 2006-2009
2.1.3 Giai đoạn 2009-2012
2.1.4 Giai đoạn 2012-2016
Trang 13HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI GIỮA HAI NƯỚC
■ Từ quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài” (4/2002) lên quan hệ “Đối tác bền vững” (7/2004).
■ Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao (từ tháng 7/2004), hai bên đã xây dựng được cơ chế đối thoại kinh tế, an ninh và quốc phòng thường kỳ hàng năm.
■ Tháng 11/2006: hai bên ký Tuyên bố chung về “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á”.
Trang 14Nhìn chung
■ Từ năm 2001 đến 2006, Nhật Bản và Việt Nam đã tạo dựng được cơ chế đối thoại ở nhiều cấp.
■ Trong giai đoạn này, Nhật Bản cũng thể hiện việc ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới.
Trang 15Giai đoạn này, Nhật Bản trải qua ba đời Thủ tướng, với những chính sách cũng như đường lối tương đối
Trang 16HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI GIỮA HAI NƯỚC
■ Ngày 19/11/2006, Abe Shinzo đã đến viếng thăm Việt Nam, thúc đẩy hợp tác song phương giữa hai nước, nâng tâm chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng cho hai nước nói riêng và châu Á nói chung
■ Hai bên khẳng định lại Tuyên bố chung “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” được công bố ngày 19/10/2006; đồng thời hoan nghênh việc thực hiện có kết quả “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược
giữa Việt Nam và Nhật Bản” được công bố ngày 27/11/2007
■ Từ khi lên nắm chính quyền (2008), Thủ tướng Aso Taro đã có những chính sách ngoại giao nhằm đẩy mạnh cải cách kinh
tế, tăng cường ngoại giao với các nước nhằm khôi phục uy tín của đảng Dân Chủ Tự Do (LDP) và nội các mới
Trang 17Theo đó,
■ Việt Nam và Nhật Bản - hai bên thống nhất sẽ hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề quan hệ song
phương, cũng như trong các vấn đề của khu vực châu Á và Cộng đồng quốc tế, trên cơ sở tin
tưởng và lợi ích chung, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phồn vinh ở châu Á
■ Vào năm 2009, hai bên đã đưa ra Tuyên bố chung về "Quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và
phồn vinh ở Châu Á", nhất trí đưa quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược.
Trang 18Nhật bản trong giai đoạn này cũng trải qua ba đời Thủ tướng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền là Đảng Dân chủ Nhật
Trang 19■ Trong giai đoạn này, chính sách đối ngoại của Nhật Bản có thêm nhiều điểm mới Cương lĩnh tranh cử của DPJ khẳng định sẽ theo đuổi “chính sách đối ngoại chủ động”.
■ Chính sách đối ngoại dưới thời Chính phủ Hatoyama có thể khái quát thành 3 điểm lớn: một là, tiếp tục tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ; hai là, cải thiện quan hệ với Trung Quốc; ba là, coi trọng hợp tác
khu vực đối với châu Á nói chung.
■ Đối với Việt Nam, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama sẽ không thay đổi chính sách đối ngoại vì Việt Nam
là quốc gia có vị trí địa chính trị mang tính chiến lược ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Đông Á nói riêng.
Trang 20Quan điểm “Xây dựng Cộng đồng Đông Á - EAC”
■ Sau khi đắc cử, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama đẩy nhanh việc thành lập Cộng đồng Đông Á dựa trên mô hình Liên minh châu Âu.
■ EAC là tâm điểm trong nền ngoại giao châu Á của Chính phủ mới
■ Trong kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh, với sự thay đổi về địa chính trị, điều kiện kinh tế ở Đông Á, sụt giảm quyền lực của Mỹ, sự trỗi dậy của châu Á, Nhật Bản hơn bao giờ hết muốn thúc đẩy vị thế và lợi ích của mình ở khu vực này.
Trang 21Từ năm 2010, Đối
thoại Đối tác chiến
lược Việt Nam - Nhật
thoại Đối tác chiến
lược Việt Nam - Nhật
2010: “Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á”
Năm 2011, “Tuyên bố chung triển khai hành động trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được kí kết
Năm 2011, “Tuyên bố chung triển khai hành động trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được kí kết
Từ tháng 11/2012, Đối thoại chính sách quốc phòng Việt - Nhật cấp Thứ trưởng
đã họp 2 phiên.
Từ tháng 11/2012, Đối thoại chính sách quốc phòng Việt - Nhật cấp Thứ trưởng
đã họp 2 phiên.
Hoạt động đối ngoại Việt – Nhật
về an ninh – quốc phòng
Trang 224 Giai đoạn 2012-2016:
Thời kì này, Đảng Dân chủ Tự do trở lại nắm quyền chính trị, dưới quyền của Thủ tướng Shinzo Abe Sau khi tái đắc cử vào tháng 12/2012, Thủ tướng Abe tích cực triển khai các hoạt động đối ngoại nhằm:
Khẳng định ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng là đối tác của hòa bình, ổn định và thịnh vượng
Ưu tiên tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh-quốc phòng nhằm đối phó và kiềm chế Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển
Lưu tâm đến các kết nối hàng hải và hàng không giữa Nhật và Việt Nam trong khu vực
Hai bên khẳng định hoà bình và ổn định trên biển là lợi ích chung của cả hai nước cũng như cộng đồng quốc tế.
Trang 23Các hoạt động đối ngoại giữa hai nước
về an ninh – quốc phòng
■ Tháng 8/2012: tại Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam – Nhật Bản lần thứ 2, hai bên nhất trí tập trung vào các vấn đề lớn như an ninh phi
truyền thống, vấn đề hạt nhân, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, vấn đề an ninh biển, chống cướp biển
■ Tháng 1/2015: Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam – Nhật Bản lần thứ 3 đã diễn ra tại Hà Nội hai nước bày tỏ mong muốn tăng cường thúc
đẩy hợp tác quốc phòng toàn diện vì lợi ích chung của nhân dân hai nước, góp phần giữ gìn, bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
■ Vào cuối năm 2016, Nhật Bản tiếp tục bày tỏ ý muốn đẩy mạnh chia sẻ công nghệ và cấp thêm tàu tuần tra biển cho Việt Nam sau 6 chiếc tàu tuần
dương cũ đã giao cho Việt Nam vào năm 2015, tăng cường các cuộc tập trận chung ở Biển Đông.
Trang 242.2 Về hợp tác phát triển kinh tế
2.2.1 Quan hệ thương mại
2.2.2 Quan hệ kinh tế về đầu tư trực tiếp FDI
2.2.3 Quan hệ viện trợ phát triển chính thức ODA
Trang 252.2.1 Quan hệ thương mại
■ Giai đoạn 2001-2012: những chính sách đối ngoại về kinh tế hợp lý và rộng mở, phương châm tăng cường hợp tác đối tác chiến lược với Việt Nam đã làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều tăng
■ Đến năm 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 8,2 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Nhật 4,56 tỷ USD, tăng trên 20% và nhập khẩu từ Nhật 3,6 tỷ USD, tăng 11,7% so với năm 2004
■ Trong giai đoạn 2009-2012, kim ngạch thương mại hai nước không ngừng tăng
■ 1/10/2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật có hiệu lực, góp phần cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật-ASEAN, tạo
khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước
Trang 26■ Thủ tướng Shinzo Abe hoan nghênh Việt Nam đã mở cửa thị trường cho mặt hàng thịt bò, thịt lợn và nội tạng trắng của Nhật Bản nhập khẩu vào Việt Nam Ông cũng đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc tạo điều kiện để sớm nhập khẩu táo từ Nhật Bản.
■ Năm 2013, Nhật Bản là bạn hàng thương mại đứng thứ 4 của Việt Nam với kim ngạch thương mại hai chiều đạt 25,163 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 13,581 tỷ USD
■ Ngày 21/1/2014, Nhật Bản đã bãi bỏ việc kiểm tra toàn bộ tồn dư chất Ethoxyquin đối với tôm của Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy thương mại hai chiều về mặt hàng nông lâm thủy sản
■ Kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước năm 2016 đã đạt gần 30 tỷ USD, và phấn đấu tăng gấp đôi đến năm 2020
Trang 272.2.2.Quan hệ kinh tế về đầu tư trực tiếp FDI
■ Nhật Bản đi đầu về mặt giải ngân vốn FDI.
■ Năm 2013, FDI Nhật Bản dẫn đầu với tổng đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 5,747 tỷ USD
■ Tính đến cuối tháng 11 năm 2016, Nhật Bản là nhà đầu tư đứng thứ 2/114 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 3242 dự án và 42 tỷ USD tổng vốn đầu tư.
Trang 29Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản
■ Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản đã được khởi xướng từ tháng 4/2003, nhằm thiết lập và tạo dựng một môi
trường kinh doanh và đầu tư thông thoáng, minh bạch tại Việt Nam, đồng thời đưa ra những khuyến nghị chính sách mang tính xây dựng, làm thông tin tham khảo trong quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách cho các cơ quan chức năng của Việt Nam
■ Tính đến 2016, Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản đã thực hiện được 5 giai đoạn với tổng số 441 tiểu hạng mục
trong kế hoạch hành động, trong đó có 367 tiểu hạng mục đã được triển khai đúng tiến độ, chiếm 83% tổng số tiểu hạng mục cam kết
■ Trong đó, Nhật Bản đã tham gia mô hình được gọi là Hợp tác công tư (PPP), nhằm thúc đẩy các dự án như đường
sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân và mong muốn đóng góp đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam
Trang 30Hỗ trợ "Chiến lược Công nghiệp hóa"
■ Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố rằng Nhật Bản sẽ tiếp tục hợp tác giúp phát triển công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam cũng như hỗ trợ phía Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm
2020; phối hợp chặt chẽ để triển khai kế hoạch hành động cho 6 ngành được lựa chọn trong Chiến lược
Công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm
nhìn 2030
■ Đồng thời sẽ hỗ trợ phát triển hai khu công nghiệp tại Hải Phòng và Bà Rịa – Vũng Tàu thông qua cung cấp kinh nghiệm quản lý, hỗ trợ thu hút đầu tư từ Nhật Bản.
Trang 31Phát triển nguồn nhân lực
■ Nhật Bản cam kết tích cực hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ thúc đẩy giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam cũng như xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề của Việt Nam; hợp tác phát triển một số trường dạy nghề của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế.
■ Chính phủ hai nước tiếp tục hợp tác trong Dự án Đại học Việt-Nhật do các tổ chức hữu quan của hai nước hiện đang thúc đẩy.
Trang 32•(1) Phát triể
n nguồ
n nhân lự
c và xâ
y dựng th
ể chế, trong đó ch
ú trọng hỗ tr
ợ chuyể
n
đổi sa
ng nề
n kin
h tế th
ị trường
•(2) H
ng các côn
g trình đi
ện
và gia
o thông
•(3) H
ỗ tr
ợ phát triển nô
ng nghiệ
p, nhất là ph
át triể
n c
ơ sở hạ tầ
ng
ở nông th
ôn
và
chuy
ển gia
o cô
ng ngh
g thôn
•(4) H
ỗ tr
ợ phát triể
n giáo dụ
c và
y tế
•(5) H
Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, nhằm vào định hướng phát triển 5 lĩnh vực
ưu tiên
2.2.3 Quan hệ viện trợ phát triển chính thức ODA
Trang 33■ Ngày 2/6/2004, Nhật Bản đã công bố Chính sách viện trợ ODA mới cho Việt Nam với ba mục tiêu chính: Thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện đời sống – xã hội, hoàn thiện thể chế.
■ Tại cuộc hội đàm năm 2006, Nhật Bản cam kết sẽ tiếp tục duy trì viện trợ ODA và xem xét nghiêm túc các dự án hạ tầng chiến lược của Việt Nam
■ Trong giai đoạn 2005 – 2010, kinh tế của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn, phải cắt giảm nguồn viện trợ phát triển (ODA) cho các nước đang phát triển, nhưng với Việt Nam, chính phủ Nhật Bản vẫn duy trì nguồn cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất, với số tiền khoảng 11 tỷ USD, chiếm 35% tổng số vốn ODA mà cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam
Trang 34Thủ tướng Shinzo Abe phát biểu về việc cấp ODA cho Việt Nam
■ Năm 2012, Nhật Bản tiếp tục gia tăng ODA cho các dự án lớn về cơ sở hạ tầng của Việt Nam; giúp Việt Nam phát triển công nghiệp phụ trợ; phát triển ngành công nghệ Vũ trụ
■ Thủ tướng Shinzo Abe khẳng định “tiếp tục coi Nhật Bản là một trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho
ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam”.
■ “Việt Nam là đối tác quan trọng trong chính sách Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) của Nhật Bản” Thủ tướng Shinzo
Abe cũng đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ cùng có lợi thông qua hợp tác dựa trên công nghệ
và tri thức của Nhật Bản trong quá trình triển khai ODA của Nhật Bản nhằm đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam
Trang 35Khoản ODA vốn vay trong tài khóa 2014 của Chính
phủ Nhật Bản cung cấp cho Chính phủ Việt Nam trị giá
112,41 tỷ yên, nhằm tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội
Khoản ODA vốn vay trong tài khóa 2014 của Chính
phủ Nhật Bản cung cấp cho Chính phủ Việt Nam trị giá
112,41 tỷ yên, nhằm tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở
Gần đây nhất, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cam kết sẽ
cung cấp khoản ODA 123 tỷ yên trong năm tài khóa 2016 cho
Việt Nam trong các lĩnh vực an ninh hàng hải, ứng phó với biến đổi khí hậu, thoát nước và xử lý nước thải
Gần đây nhất, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cam kết sẽ cung cấp khoản ODA 123 tỷ yên trong năm tài khóa 2016 cho Việt Nam trong các lĩnh vực an ninh hàng hải, ứng phó với biến đổi khí hậu, thoát nước và xử lý nước thải
ODA những năm gần đây