1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa Nhật Bản với Trung Quốc và Đông Á.

10 174 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 30,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sức mạnh của Mỹ giảm sút cùng với sự nổi lên của Trung Quốc tạo nên những áp lực lớn từ nhiều phía đối với Nhật Bản, đòi hỏi nước này phải điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại và

Trang 1

QUAN HỆ NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC

1 VỀ VẤN ĐỀ TRÊN BIỂN HOA ĐÔNG

Nhật chứng minh trò giàn khoan Biển Đông ở Hoa Đông

Nhật Bản công bố sơ đồ và hình ảnh các công trình nổi của Trung Quốc trên Hoa Đông và coi đây là sự thể hiện ngoan cố

Các công trình nổi

Ngày 22/7/2015, Nhật Bản đã công bố một tấm bản đồ và một loạt hình ảnh chụp từ trên không về 12 công trình ngoài khơi làm bằng chứng cho thấy Bắc Kinh đơn phương khai thác giếng khí đốt gần đường ranh giới trên biển giữa Trung Quốc với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông

Phát biểu trong buổi họp báo, Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết từ hồi tháng 6/2013, Tokyo đã biết về 12 công trình trên nằm ở phía bên kia đường ranh giới trên biển và tổng số công trình như vậy hiện này là 16

Ông Suga cũng đã chỉ trích việc Bắc Kinh tiếp tục đơn phương khai thác tài nguyên, theo đó

đi ngược lại hiệp định song phương từng ký hồi năm 2008 về việc cùng khai thác khí đốt trên Biển Hoa Đông

Hiện bản đồ và các hình ảnh trên đã được công bố công khai trên trang tin điện tử của Bộ Ngoại giao Nhật Bản Tới nay, Nhật Bản và Trung Quốc vẫn bất đồng về phân định hải giới ở Biển Hoa Đông, nơi Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của hai bên chồng lấn nhau

Tokyo đã đề xuất xác lập một giới tuyến trung lập ở vùng chồng lấn này, song Bắc Kinh bác

bỏ đề xuất trên và một mực tuyên bố nước này sở hữu EEZ rộng hơn

Cũng liên quan tới các hoạt động này của Trung Quốc, Sách Trắng Quốc phòng thường niên

2015 của Nhật Bản đã nhấn mạnh sự ngoan cố ngày một gia tăng của Trung Quốc có nguy cơ gây căng thẳng trong khu vực

Văn kiện vừa được Nội các Nhật Bản thông qua hôm 21/7 kêu gọi Bắc Kinh chấm dứt hoạt động xây dựng các công trình khai thác dầu và khí đốt mới gần khu vực tranh chấp ở biển Hoa Đông mà cả hai nước cùng tuyên bố chủ quyền

Sách Trắng cho rằng những công trình như vậy sẽ tạo điều kiện để Trung Quốc giám sát các hoạt động của hải quân Nhật Bản và Mỹ

Ý đồ quân sự

Sự phát triển của quân đội và an ninh Trung Quốc đã từng được đề cập trong các báo cáo thường niên của Nhật Bản những năm trước

Tuy nhiên, năm nay Sách Trắng Quốc phòng của Nhật Bản cho rằng môi trường an ninh hiện nay đang “ngày một gay gắt” và gia tăng lo ngại về những hành động của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và Biển Đông

Trang 2

Báo cáo có đoạn: “Trung Quốc, cụ thể là trong các vấn đề liên quan đến hàng hải, tiếp tục thể hiện theo lối ngoan cố, không ngừng tìm cách thay đổi nguyên trạng, chỉ để đáp ứng các nhu cầu đơn phương mà không có sự thỏa hiệp”

Việc công bố Sách Trắng Quốc phòng năm nay của Nhật Bản đã bị trì hoãn hơn một tuần do các thành viên chủ chiến trong đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền của Thủ tướng Nhật Bản yêu cầu đề cập đến những hành động đơn phương trên biển của Trung Quốc, bao gồm hoạt động khai thác dầu và khí đốt ở biển Hoa Đông

Tài liệu dài 429 trang này nói rằng Trung Quốc đã khôi phục hoạt động thăm dò ở biển Hoa Đông từ năm 2013, và trước đó đã bắt đầu xây dựng một vài công trình mới gần khu vực tranh chấp

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani hôm 10/7 cho biết Trung Quốc “có thể triển khai hệ thống radar trên những công trình đó và sử dụng chúng như một căn cứ điều hành máy bay trực thăng hoặc máy bay không ngườĐây cũng là lần đầu tiên Sách Trắng Quốc phòng của Nhật Bản in cả những hình ảnh chụp được từ vệ tinh các hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây dựng ở Biển Đông

Sách Trắng có đoạn: “Trung Quốc đã nhanh chóng đẩy mạnh các hoạt động xây dựng đảo ở khu vực quần đảo Trường Sa và trong số các công trình được xây dựng trên một số hòn đảo nhân tạo có cả đường băng và cảng biển Đây là mối quan tâm của không chỉ Mỹ mà còn của

cả cộng đồng quốc tế”

Thái Minh, báo Đất Việt, 23/07/2015,

http://baodatviet.vn/quoc-phong/binh-luan-quan-su/nhat-chung-minh-tro-gian-khoan-bien-dong-o-hoa-dong-3278537/

2 MỘT SỐ TRỞ NGẠI TRONG QUAN HỆ NHẬT-TRUNG TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NAY

Đăng ngày: 24-08-2012, 10:53 | Danh mục: Bài viết tạp chí » Năm 2008 » Số 3

Nhật Bản và Trung Quốc là hai nước lớn ở Châu Á Một bên là một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới, còn bên kia là một cường quốc chính trị và một nền kinh tế đang lên Mối quan hệ giữa hai quốc gia này đã và đang có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển của Châu Á nói riêng và thế giới nói chung Quan hệ Nhật – Trung thời hiện đại đã trải qua những bước đi thăng trầm Từ sau Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, do nhiều nhân tố thúc đẩy, mối quan hệ này đã có nhiều biến chuyển tích cực Tuy nhiên, sự bất đồng trong nhiều vấn đề đang cản trở sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước Quan hệ Nhật – Trung căng thẳng

đã ảnh hưởng lớn tới quá trình hợp tác và hội nhập ở Đông Á Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến những vấn đề gây trở ngại trong quan hệ hai nước Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay

Những vấn đề gây trở ngại cho mối quan hệ Nhật – Trung thời hiện đại đã được đề cập trên nhiều phương diện, nhiều góc độ khác nhau Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã tác động mạnh mẽ tới tình hình quan hệ quốc tế Tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại nhằm tranh thủ những bạn đồng minh và tìm kiếm một vị trí trên trường quốc tế Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá, cả Nhật Bản và Trung Quốc đều ra sức cải thiện mối quan hệ giữa hai nước Tuy nhiên, những vấn đề lịch sử để lại đang là “hòn đá tảng” ngăn cản mong muốn hoà bình hữu nghị giữa hai quốc gia Theo chúng tôi, trở ngại chính là những tồn tại của lịch

sử bao gồm thái độ đối với lịch sử, tâm lí nghi ngại lẫn nhau và tranh chấp lãnh thổ

Trang 3

1 Thái độ đối với lịch sử

Mối quan hệ Nhật – Trung đã có từ rất sớm Khoảng thế kỉ VI – VIII, triều đình Nhật Bản đã chọn lựa những người tài giỏi và gửi sang Trung Quốc để học tập và tiếp thu văn hoá tiên tiến của Trung Quốc Trong suy nghĩ của tầng lớp lãnh đạo Nhật Bản lúc bấy giờ hình thành hai thái độ đối với Trung Quốc: kính nể hoặc phủ nhận Đại đa số giới thượng lưu và trí thức Nhật Bản đều nhận thấy văn hoá Trung Quốc là tiến bộ và cần học tập Còn Trung Quốc chỉ nhận thức Nhật Bản là nước láng giềng “kém” văn minh Từ đó cho đến trước thời đại Minh Trị, Trung Quốc luôn khẳng định vị thế nước lớn trong quan hệ với Nhật Bản Tuy nhiên, những đặc điểm về địa lý, lịch sử, văn hoá đã tạo nên tinh thần tự tôn dân tộc rất mãnh liệt ở người Nhật Bản Dù chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nhưng người Nhật không tiếp thu nguyên vẹn mà đã cải biến nhiều yếu tố cho phù hợp với môi trường và văn hoá Nhật Bản Các Thiên hoàng Nhật Bản cũng luôn khẳng định ý thức ngang hàng với các Thiên tử Trung Hoa Duy nhất trong lịch sử Nhật Bản chỉ Ashikaga Yoshimitsu (1358 - 1408), vị tướng quân thứ ba của dòng họ Ashikaga là người nhận tước phong “quốc vương Nhật Bản” của các hoàng đế Trung Hoa ban cho

Sang thời kì Minh Trị, nhờ những biện pháp cải cách duy tân đất nước, Nhật Bản đã thoát khỏi nguy cơ mất độc lập và trở thành một cường quốc ngang hàng với các nước tư bản phương Tây Từ đây, Nhật Bản bắt đầu thực hiện tham vọng đế quốc của mình Để thực hiện

chủ trương ‘thoát Á nhập Âu” trên tinh thần “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt

qua phương Tây”, Nhật Bản đã tiến hành các cuộc xâm lược ra bên ngoài Đầu tiên, Nhật Bản nhìn sang Trung Hoa cổ kính, già nua Cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) là bước đầu của quá trình Nhật Bản xâm lược Trung Quốc Tiếp đó, Nhật Bản xâm lược vùng Đông Bắc Trung Quốc lập nên “Mãn Châu quốc”, đưa hoàng đế Phổ Nghi, vị hoàng đế cuối cùng của triều Mãn Thanh lên làm “bù nhìn” cai trị Từ đó cho đến Chiến tranh Thế giới thứ hai là những năm tháng đầy đau khổ và tủi nhục đối với người Trung Quốc khi một phần lớn lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của quân phiệt Nhật Bản Lòng tự tôn dân tộc, ý thức Đại Trung Hoa

đã bị tổn thương nghiêm trọng Thực tế, Nhật Bản đã gây ra nhiều đau thương cho các dân tộc Châu Á nói chung và cho người dân Trung Quốc nói riêng

Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản là nước bại trận nhưng trong tình hình Chiến tranh Lạnh bắt đầu phát triển, Nhật Bản đã khéo léo lợi dụng mâu thuẫn Mỹ - Xô, dựa vào Mỹ để tập trung phát triển kinh tế Chỉ trong một thời gian ngắn với tốc độ phát triển

“thần kỳ”, Nhật Bản đã trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Chính sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và dựa vào mối liên minh với Mỹ mà lòng tự tôn dân tộc của Nhật Bản càng được phát huy

Từ sau Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, Nhật Bản đang ra sức vươn lên vị trí một cường quốc chính trị Nhật Bản đang thực hiện việc “trở lại Châu Á” bằng kinh tế, đầu

tư và viện trợ ODA Trong số các nước Châu Á, Trung Quốc là nước nhận được ODA nhiều nhất từ Nhật Bản Mặc dầu vậy, thái độ đối với các vấn đề lịch sử của hai nước rất khác nhau Trung Quốc luôn đòi hỏi Nhật Bản phải chính thức công khai xin lỗi ở cấp nhà nước và có những hành động thiết thực sửa chữa những sai lầm của quá khứ quân phiệt Còn Nhật Bản lại luôn né tránh nhìn nhận một cách đầy đủ những vấn đề này Đây là

bất đồng lớn đã và sẽ cản trở sự phát triển quan hệ giữa hai nước Chính sự bất đồng về thái

độ đối với lịch sử đã làm căng thẳng quan hệ hai nước trong những năm đầu thế kỉ XXI Nó kéo theo những tranh cãi về sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản, về việc viếng thăm ngôi đền Yasukuni của nhiều nhà lãnh đạo Nhật Bản…

Vào năm 1983, Nhật Bản đã ban hành bộ sách giáo khoa về lịch sử trong đó phủ nhận những hành động tàn bạo mà quân phiệt Nhật Bản đã gây ra ở nhiều nước Châu Á trong Chiến tranh

Trang 4

Thế giới thứ hai Điều này đã làm cho nhiều nước Châu Á, nhất là Trung Quốc hết sức tức giận Đến ngày 5/4/2005, Bộ Giáo dục Nhật Bản lại cho ban hành bộ sách giáo khoa lịch sử mới dành cho bậc phổ thông, trong đó tô hồng quá khứ thời quân phiệt, không dùng từ “xâm lược” khi nhắc đến cuộc chiếm đóng quân sự đối với các nước Châu Á Vụ thảm sát Nam Kinh từ tháng 12/1937 đến tháng 3/1938 được gọi là một “vụ việc” trong đó “nhiều” người Trung Quốc bị giết Trung Quốc khẳng định, trong vụ thảm sát Nam Kinh đã có 300.000 người chết, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em, 20.000 phụ nữ bị cưỡng hiếp Còn phiên toà xét xử tội phạm chiến tranh do Mĩ tổ chức thì liệt kê khoảng 140.000 người chết

Bộ sách giáo khoa lịch sử mới của Nhật Bản đã gây nên sự tức giận đối với người dân Trung Quốc và nhiều nước Châu Á khác Những vụ tấn công người Nhật, đập phá cửa hàng người Nhật ở Trung Quốc từng liên tiếp xảy ra Đại sứ quán Nhật Bản ở Bắc Kinh cũng bị ném chai

lọ, gạch đá Phía Nhật Bản thì cho rằng, Trung Quốc luôn cố gắng thổi phồng những vấn đề lịch sử và không nhất thiết phải đưa tất cả tội lỗi của Nhật Bản trong thời kì chiến tranh vào sách giáo khoa vì nó không đem lại tác dụng giáo dục lòng tự tôn dân tộc cho học sinh Nhật Bản Vì vậy, Trung Quốc có lí do để hiểu rằng Nhật Bản chưa bao giờ nhìn nhận đúng đắn và

có thiện chí sửa chữa sai lầm của quá khứ

Trong khi vấn đề sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản chưa được giải quyết thì việc trước đây các nhà lãnh đạo Nhật Bản viếng thăm ngôi đền Yasukuni càng làm cho Trung Quốc và nhiều nước Châu Á láng giềng thêm giận dữ Đền Yasukuni là ngôi đền Thần đạo, nơi tưởng niệm 2,5 triệu người Nhật chết trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong đó có cả 14 lãnh đạo quân phiệt đã bị xét xử là tội phạm chiến tranh loại A Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, đã có 3 vị thủ tướng Nhật viếng thăm đền Yasukuni, đặc biệt là Thủ tướng J Koijumi, nắm quyền từ

1998 – 2004, người có công vực dậy nền kinh tế Nhật sau khủng hoảng tài chính năm 1997 Trong hai nhiệm kì của mình, ông Koijumi thường xuyên viếng thăm ngôi đền này Trung Quốc và nhiều nước Châu Á đã phản ứng dữ dội trước hành động đó và cho rằng việc này đã phủ nhận quá khứ tội lỗi của Nhật Bản, xúc phạm tới tình cảm nhân dân họ Phía Nhật Bản luôn tuyên bố đây là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh của họ, đền Yasukuni là nơi thờ vong linh những người Nhật tử nạn trong chiến tranh chứ không phải nơi thờ tội phạm chiến tranh Tất cả những điều này cho thấy, nhận thức về các vấn đề lịch sử của Nhật Bản đang đặt ra nhiều vấn đề gây tranh cãi, là nguyên cớ để phía Trung Quốc cho rằng, Nhật Bản chưa thực sự hối hận về những tội lỗi trong quá khứ

2 Tâm lí nghi ngại lẫn nhau

Từ chỗ bất đồng về thái độ đối với lịch sử đã dẫn tới tâm lí nghi ngại lẫn nhau Trung Quốc cũng như nhiều nước Châu Á vẫn chưa thể nào quên được những tai hoạ mà chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản đã gây ra cho mình Sau cải cách Minh Trị, Nhật Bản hội nhập vào thế giới tư bản và nhanh chóng vươn lên một cường quốc Đối với nhiều nước Châu Á lúc bấy giờ, Nhật Bản là tấm gương sáng để học tập Đặc biệt, sau chiến thắng trước nước Nga Sa hoàng (1904

- 1905), người ta hy vọng có thể dựa vào “người anh cả da vàng” để chống lại chủ nghĩa tư bản phương Tây Nhưng mong ước đó nhanh chóng bị dập tắt bởi những hành động tàn bạo của chủ nghĩa quân phiệt Nhật

Trong thời kì Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật đưa ra chiêu bài xây dựng “khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á” nhằm đặt các nước Châu Á vào vòng lệ thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai là thất bại đầu tiên của Nhật trong việc thực hiện các tham vọng đế quốc của mình Nhật Bản bại trận, phải lệ thuộc vào Mỹ và mất hết ảnh hưởng ở Châu Á

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật tập trung phát triển kinh tế và nhanh chóng trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới (sau Mỹ) Từ sau Chiến tranh Lạnh kết thúc, Nhật Bản

Trang 5

đang ra sức tìm kiếm một vai trò chính trị mới lớn hơn cho tương xứng với sức mạnh kinh tế -tài chính của mình Hiện nay, Nhật đóng góp 20% ngân sách của Liên Hợp Quốc nhưng lại không có quyền quyết định đối với những vấn đề an ninh chính trị toàn cầu Mục tiêu mà Nhật đang theo đuổi là thúc đẩy nhanh quá trình tải tổ Liên Hợp Quốc và tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho vị trí thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc

Nhưng những dấu ấn của quá khứ cộng với những hành động thể hiện rõ tham vọng chính trị hiện nay của Nhật đã làm cho Trung Quốc lo ngại về sự phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991, Nhật Bản lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc đã gửi quân đội của mình ra nước ngoài, mặc dù chỉ làm các nhiệm vụ hoà bình như cứu hộ, vớt mìn trên biển… Sau sự kiện 11/9/2001, Nhật cũng gửi quân đội đến Afganistan Năm 2003, trong cuộc chiến vùng Vịnh lần hai, Nhật cũng gửi quân đội đến Iraq Đặc biệt, từ tháng 1/2007, Nhật đã tiến gần đến việc sửa đổi Điều 9 trong Hiến pháp hoà bình 1946 khi chính thức đổi tên “Cục Phòng vệ” thành Bộ Quốc phòng, cho phép triển khai quân đội và những hành động quân sự bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản Chắc chắn, Trung Quốc chưa bao giờ cảm thấy yên tâm khi ở bên “người láng giềng” giàu mạnh và đầy tham vọng

Bên cạnh đó, Trung Quốc vẫn còn chưa hết bất an khi Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật vẫn còn hiệu lực Hiệp ước này được sửa đổi năm 1997 đã xác định phạm vi bảo vệ là “những khu vực xung quanh Nhật Bản”, hàm ý bao gồm cả Đài Loan - vấn đề luôn làm Trung Quốc đau đầu Việc Nhật Bản vẫn dựa vào “chiếc ô hạt nhân” của Mỹ luôn làm cho Trung Quốc phải cảnh giác

Ngược lại, Nhật Bản cũng cảm thấy mối lo ngại từ Trung Quốc ngày càng tăng Công cuộc cải cách của Trung Quốc đã và đang đạt được những thành quả to lớn Từ 1978 – 2001, GDP bình quân của Trung Quốc mỗi năm tăng 9,4% Năm 2000, GDP của Trung Quốc đã vượt qua mức 1000 tỷ USD, tổng sản lượng kinh tế năm 2001 đã vươn lên đứng hàng thứ 6 thế giới Đến tháng 12/2007, theo đánh giá mới của WB dựa trên sức mua tương đương (PPP), Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Trung Quốc đang là đối thủ cạnh tranh gay gắt với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực kinh tế

Đồng thời, Trung Quốc là một trong năm nước thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, có tiếng nói quyết định đối với các vấn đề chính trị thế giới Trung Quốc là cường quốc hạt nhân hàng đầu ở Châu Á, có lực lượng quân đội thường trực đông gấp 10 lần quân đội Nhật Bản Ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc liên tục tăng Hiện nay, Trung Quốc đang theo đuổi một chương trình hiện đại hoá quân đội một cách toàn diện với mục tiêu xây dựng một lực lượng có thể triển khai nhanh ở bất cứ đâu trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Trung Quốc đã thể hiện rõ tham vọng lãnh thổ của mình ở vùng biển Đông và các đảo tranh chấp với Nhật Mối lo ngại của Nhật Bản về sức mạnh quân sự của Trung Quốc

là hoàn toàn có cơ sở Những người theo dân tộc chủ nghĩa ở Nhật Bản lo ngại rằng Trung Quốc là nhân tố gây bất ổn định ở Đông Bắc Á, nhất là khi quan hệ hai nước vẫn còn nhiều bất đồng, tranh chấp Điều đó đã cho thấy, tâm lí nghi ngại lẫn nhau đang là vấn đề cản trở sự phát triển quan hệ hai nước Nhật Bản – Trung Quốc

3 Tranh chấp lãnh thổ

Tranh chấp lãnh thổ giữa Nhật Bản và Trung Quốc không chỉ xuất phát từ lợi ích quốc gia mà còn liên quan đến những vấn đề lịch sử Cho nên, nó càng làm cho bất đồng giữa hai bên thêm sâu sắc

Trang 6

Về tranh chấp lãnh thổ, Nhật Bản và Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Senkaku (theo tên gọi của Nhật Bản) hay là Điếu Ngư (theo tên gọi của Trung Quốc) Đây là quần đảo gồm 8 hòn đảo không có cư dân sinh sống nhưng được xác định là có trữ lượng lớn về dầu mỏ và khí đốt Nhật Bản đã đưa ra đường ranh giới để tách biệt khu vực kinh tế riêng biệt dài 200 hải lý giữa hai nước và luôn coi Senkaku là dãy đảo thuộc về tỉnh Okinawa của Nhật Trung Quốc cho rằng, toàn bộ thềm lục địa biển phía đông của Trung Quốc, mở rộng ra phía đông gần như toàn bộ tuyến đường ranh giới tới vùng cực nam mà người Nhật đang sinh sống trên đảo Okinawa, “được kéo dài tự nhiên” bao gồm cả quần đảo Điếu Ngư là thuộc Đài Loan và do vậy nó thuộc về Trung Quốc Hiện nay, do nhu cầu năng lượng của cả hai nước ngày càng tăng nên việc tranh chấp để khẳng định chủ quyền đối với dãy đảo này càng thêm quyết liệt Đối với Trung Quốc, nhượng bộ đối với vấn đề Điếu Ngư

sẽ liên quan tới vấn đề độc lập của Đài Loan và vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường

Sa ở biển Đông Còn với Nhật, bất cứ nhượng bộ nào trong vấn đề Senkaku cũng sẽ dẫn tới những khó khăn khi đòi lại những đảo ở miền Nam Sakhalin Dù hai nước đều nỗ lực và hứa hẹn sẽ “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” nhưng mâu thuẫn về vấn đề lãnh thổ vẫn là điều khó vượt qua

Tóm lại, trên đây là những vấn đề đang và sẽ tiếp tục cản trở bước phát triển trong quan hệ Nhật – Trung từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay Quan hệ Nhật – Trung căng thẳng sẽ có ảnh hưởng lớn tới hoà bình, an ninh ở Đông Á cũng như triển vọng thành lập cộng đồng Đông Á

Do vậy, cả hai nước phải thật sự nhìn thẳng vào các vấn đề lịch sử, hết sức nỗ lực để giải quyết những bất đồng và cùng đóng góp xây dựng một khu vực Đông Á hoà bình, thịnh vượng

QUAN HỆ NHẬT BẢN – ĐÔNG Á

Quan điểm và chính sách của Nhật Bản đối với tiến trình liên kết ở Đông Á

(LLCT) - Quan điểm của Nhật Bản về tiến trình liên kết Đông Á đã được tượng hình rất

sớm, từ chính sách Đông Nam Á trong Học thuyết Fukuda (1977) đến ý tưởng xây dựng Cộng đồng Đông Á trong quan điểm Hatoyama (2009) Mặc dù chính trường Nhật Bản

có nhiều thay đổi, song qua từng thời kỳ, với những đời thủ tướng khác nhau, Nhật Bản vẫn luôn thể hiện sự quan tâm lớn tới tình hình khu vực thông qua đường lối, chính sách đối ngoại sắc sảo của các đảng cầm quyền Bằng những hành động thiết thực, Nhật Bản

đã có những đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy hợp tác các nước trong khu vực Đông

Á, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á của Thủ tướng Hatoyama.

1 Sự điều chỉnh chiến lược hướng về châu Á của Nhật Bản những năm đầu thập kỷ 90

Những năm 90 của thế kỷ XX, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi, nền ngoại giao Nhật Bản đứng trước những vận hội và thách thức mới Sức mạnh của Mỹ giảm sút cùng với sự nổi lên của Trung Quốc tạo nên những áp lực lớn từ nhiều phía đối với Nhật Bản, đòi hỏi nước này phải điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại và thể hiện tích cực hơn vai trò, trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu và khu vực

Chính sách đối ngoại của Nhật Bản với châu Á dưới thời Thủ tướng Toshiki Kaifu (1989 -1991) cũng kiên định mục tiêu: Cam kết không trở thành cường quốc quân sự; đóng góp tích cực hơn trong các vấn đề chính trị châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD); tham gia giải quyết vấn đề Campuchia;tăng cường hợp tác khu vực thông qua đầu tư chuyển giao công nghệ, chương trình viện trợ chính thức ODA, đóng vai trò thúc đẩy hợp tác để các nước ASEAN và

Trang 7

Đông Dương cùng phát triển Nhật Bản tham gia ngày càng tích cực hơn, sâu hơn vào các vấn

đề của khu vực, cả về kinh tế và chính trị Phát biểu của Thủ tướng Kaifu có đoạn: “Tôi nhận thấy Nhật Bản được trông chờ đóng góp lớn hơn ở khu vực CA-TBD, không chỉ trong lĩnh

Sau khi Hiệp định hòa bình về Campuchiađược ký kết, Nhật Bản đã vận động chính quyền

Mỹ thay đổi chính sách đối với Việt Nam Thậm chí, nước này còn mạnh dạn quyết định nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam trong khi Mỹ vẫn chưa dỡ bỏ lệnh cấm vận Những nỗ lực trên của Nhật Bản đã tạo ra ảnh hướng tốt đẹp, góp phần cải thiện các mối quan hệ tại khu vực, tạo lập một môi trường hòa bình ở Đông Nam Á (ĐNA)

Trước những thuận lợi trong nỗ lực can dự vào nền an ninh - chính trị ĐNA, tháng 1-1993, trong chuyến viếng thăm chính thức các nước ASEAN, Thủ tướng Nhật Bản Kiichi Miyazawa (1991-1993) đã công bố chính sách đối ngoại của Nhật Bản với ĐNA, chủ yếu tập trung vào

hợp tác chính trị - an ninh, với nội dung: Thứ nhất, Nhật Bản nhắc lại cam kết không trở

thành “cường quốc quân sự”, đồng thời chủ trương cùng các nước khu vực ĐNA đoàn kết,

thiết lập trật tự an ninh và bảo vệ ổn định tình hình khu vực Thứ hai, Nhật Bản kêu gọi hợp

tác, phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN để tái thiết bán đảo Đông Dương, xác định diễn

Như vậy, ngoài quan hệ kinh tế truyền thống, Nhật Bản đã trực tiếp đề cập đến hợp tác

trong lĩnh vực chính trị - an ninh với các quốc gia ASEAN, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản sang các quốc gia trên bán đảo Đông Dương Cũng với chính sách

đối ngoại đổi mới này, Nhật Bản đã hiện thực hóa được mục tiêu quan trọng được đề xuất trong Học thuyết Fukuda, đó là tăng cường vai trò “cầu nối” của Nhật Bản giữa Đông Dương

và các nước ASEAN Kiên trì quan điểm “Chính trị, kinh tế song hành” được hình thành từ Học thuyết Fukuda, ý tưởng “Thoát Âu, nhập Á” ngày càng rõ nét trong đường lối đối ngoại của Nhật Bản Các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước này tại khu vực Đông Á nói riêng và

CA -TBD nói chung cũng đã được tăng cường đáng kể trong những năm 1990

2 Những nét mới trong quan điểm, chính sách của Nhật Bản về tiến trình hợp tác Đông Á từ cuối những năm 90 (thế kỷ XX) đến nay

Kế tiếp những bước phát triển của người tiền nhiệm, Thủ tướng Ryutaro Hashimoto (1996 -1998) đã thực hiện chuyến công du sang các nước ASEAN vào tháng 1-1997, với mục đích chính thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ ngoại giao ASEAN - Nhật Bản và đề xuất tổ chức các cuộc họp cấp cao thường xuyên giữa hai bên Cũng trong chuyến thăm này, Nhật Bản công bố

“Học thuyết Hashimoto” được coi là có tầm quan trọng ngang với “Học thuyết Fukuda” trong mục tiêu tăng cường và mở rộng hơn mối quan hệ hợp tác với các nước ASEAN trên tất cả các lĩnh vực Trong đó, nổi bật là “Ba sáng kiến hợp tác Nhật Bản - ASEAN tiến tới thế kỷ XXI”: 1) Tiếp tục tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN, trong đó lĩnh vực ổn định tiền tệ - tài chính, cải cách cơ cấu kinh tế được đặc biệt chú trọng Tăng cường các cuộc đối thoại giữa hai bên về các lĩnh vực kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tài chính thông qua cuộc họp thường niên các cấp; 2) Kêu gọi Nhật Bản và ASEAN tăng cường hợp tác trên 3 mặt đối thoại cấp cao; tích cực trao đổi văn hóa và giải quyết hiệu quả các vấn đề toàn cầu; 3) Kiến nghị nâng cấp quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ đối thoại cấp bộ trưởng lên hội nghị cấp cao định kỳ, chính thức hoặc không chính thức, thể hiện một đường lối ngoại giao “kế thừa chính sách ngoại giao trước đây, phát triển hơn nữa quan hệ với các nước trong khu vực ĐNA

Qua đó, học thuyết Hashimoto thể hiện hai đặc điểm nổi bật: một là, đây là lần đầu tiên Nhật

Bản không nhắc tới sự hối hận đối với tội ác xâm lược trong lịch sử và cam kết “không làm

Trang 8

cường quốc quân sự” của mình; hai là, học thuyết đánh giá cao vai trò của ASEAN như là

một đối tác bình đẳng với Nhật Bản, chuyển từ “quan hệ viện trợ là chính” sang “quan hệ hợp tác bình đẳng” giữa hai bên Với mục tiêu “biến kỷ nguyên mới của Nhật Bản và ASEAN thành quan hệ đối tác rộng rãi và mật thiết hơn”, học thuyết Hashimoto ra đời thể hiện quyết tâm của Nhật Bản nhằm nắm giữ một vai trò chính trị lớn hơn ở khu vực thông qua việc tăng cường đối thoại với các quốc gia ĐNA

Tiếp theo học thuyết Hashimoto, mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN tiếp tục được củng

cố dưới thời Thủ tướng Keizo Obuchi (1998 - 2000) Kế hoạch Obuchi đã hiện thực hóa một bước học thuyết Hashimoto với việc đặt ra những mục tiêu cụ thể phát triển nguồn nhân lực nhằm tăng cường vai trò và ảnh hưởng của Nhật Bản trong việc phục hồi kinh tế của các nước ĐNA còn kém phát triển Kế hoạch Obuchi chuyển dịch trọng tâm trợ giúp của Tokyo, từ trợ giúp tài chính khẩn cấp sang hỗ trợ công cuộc phục hồi và phát triển dài hạn các nền kinh tế này

Trong vòng 5 năm kể từ khi lên nắm chính quyền (2001), Thủ tướng Junichiro Koizumi đã thực hiện 7 chuyến viếng thăm đến các quốc gia ĐNA; cùng với các nguyên thủ ASEAN tiến hành 8 cuộc hội đàm Tháng 1-2002, trong chuyến viếng thăm các nước ĐNA, ông đã có bài diễn thuyết quan trọng với tiêu đề “Nhật Bản và ASEAN của Đông Á: Quan hệ đối tác cởi mở

và thẳng thắn, trên cơ sở đối tác bình đẳng và tin tưởng lẫn nhau” Tuyên bố này có thể được coi là cơ sở của “Học thuyết Koizumi” trong hệ thống chính sách đối ngoại Nhật Bản, đặt nền tảng mới cho sự phát triển mối quan hệ truyền thống Nhật Bản - ASEAN trong thế kỷ XXI Trên cơ sở “đối tác bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau”, đồng thời đưa ra khái niệm mới “Nhật Bản

và ASEAN cùng tiến” Học thuyết Koizumi được cụ thể hóa qua 4 nội dung chính: 1) Nhật Bản ủng hộ ASEAN cải cách trên các lĩnh vực chính trị, luật pháp, cơ cấu kinh tế và tài chính; tăng cường hợp tác khai thác khu vực sông Mêkông, công nghệ thông tin và các ngành nghề liên quan; 2) Nhật Bản tích cực hợp tác với các nước ASEAN trong mục tiêu xóa bỏ đói nghèo, phòng ngừa phát sinh xung đột, thúc đẩy xây dựng cơ chế an ninh khu vực, tăng cường tìm kiếm sự ủng hộ trong cuộc chạy đua vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; 3) Nhật Bản đưa ra 5 ý tưởng cho mối quan hệ hợp tác Nhật Bản - ASEAN trong tương lai, bao gồm: hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực; lấy năm 2003 là năm giao lưu Nhật Bản -ASEAN; tăng cường hợp tác kinh tế toàn diện; triệu tập Hội nghị Phát triển quốc tế Đông Á (IDEA) và tăng cường hợp tác an ninh; 4) Chính phủ của Thủ tướng Koizumi đặc biệt thể hiện sự quan tâm đến tiến trình liên kết khu vực Đông Á thông qua việc đề ra ý tưởng xây dựng “Một cộng đồng Đông Á cùng nhau hành động và cùng nhau phát triển” Theo ông:

“Quá khứ của chúng ta có thể khác nhau nhưng tương lai của chúng ta có thể thống nhất và hỗ trợ cho nhau”, vì vậy “cần phải mở rộng Hợp tác Đông Á dựa trên quan hệ Nhật Bản

Báo chí Nhật Bản từng nhận định, chính quyền của cựu Thủ tướng Junichiro Koizumi chưa thực sự thành công với “Ngoại giao châu Á”, còn những nỗ lực của chính quyền Shinzo Abe

chỉ dừng ở mức đưa quan hệ với các nước châu Á trở về điểm xuất phát Tờ Nihon Keizai cho

rằng, nội các mới của Thủ tướng Yasuo Fukuda (2007-2008) và nhất là bản thân ông có thể tạo ra một bầu không khí tích cực hơn trong quan hệ giữa châu Á và Nhật Bản Kế thừa quan điểm của Học thuyết Fukuda “cha” (1977), tại Hội nghị “Tương lai châu Á” lần thứ 14 tổ chức tại Tokyo vào tháng 5-2008, Thủ tướng Fukuda đã cho thấy những hướng ưu tiên trong

chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với ĐNA: Trước hết, Nhật Bản tiếp tục duy trì Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ Hai là, Nhật Bản mong muốn tăng cường hợp tác với ASEAN trên

các lĩnh vực kinh tế, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tăng cường

nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực, “hợp tác đối phó thảm họa" Ba là, với mục tiêu thúc đẩy

việc thành lập Cộng đồng Đông Á, đẩy mạnh hợp tác với các nước ĐNA, Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ những nỗ

Trang 9

lực của ASEAN nhằm thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Bốn là, đưa Nhật Bản trở

thành quốc gia thúc đẩy hòa bình; hình thành và củng cố cơ sở hạ tầng cho việc hợp tác tri thức và giáo dục; đấu tranh với những vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu và bệnh lây nhiễm, tăng cường giao lưu con người trong khu vực CA-TBD

Các nội dung chính trên được giới quan sát gọi là "Học thuyết Fukuda mới", là sự nối tiếp

"Học thuyết Fukuda" Tuy nhiên, không dừng lại ở việc kế thừa chính sách của cha mình, Thủ tướng Y.Fukuda còn muốn mở rộng “Học thuyết Fukuda mới” ra các nước Đông Bắc Á với khẳng định “Nhật Bản phải tìm kiếm quan hệ thâm tình không chỉ với các nước ĐNA mà cả với Trung Quốc và Hàn Quốc” Đặc biệt, độngthái tích cực nhất trong chính sách ngoại giao châu Á của Thủ tướng Y.Fukuda là việc cải thiện mối quan hệ Trung - Nhật Theo quan điểm của ông, Cộng đồng Đông Á sẽ là một ý tưởng viển vông nếu không có sự hòa giải lịch sử giữa Bắc Kinh và Tokyo Và ông đã tạo ra ba sự thay đổi lớn: 1)Từ bỏ tính chất cực đoan trong chính sách ngoại giao của ông Koizumi, thay đổi lời nói và hành động thăm đền Yasukuni, xoá bỏ rào cản chính trị trong quan hệ Trung - Nhật; 2) Kiên định quan điểm đối ngoại tiếp tục nỗ lực cải thiện quan hệ Trung - Nhật, dù là cải cách hay bảo thủ đều cần phải duy trì quan hệ Trung - Nhật theo hướng ổn định, có kiểm soát; 3)Xây dựng một “Nội các hữu nghị Trung - Nhật”: thái độ phần lớn đều ôn hoà, có chừng mực, mong muốn tăng cường tình hữu nghị Trung -Nhật, không hài lòng với chính sách ngoại giao mất cân bằng của Koizumi Với Học thuyết Fukuda mới, quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Đông Bắc Á, đặc biệt là Trung Quốc, đang ngày càng ấm dần lên Thực hiện mục tiêu cải thiện quan hệ với Đông Bắc

Á, tiếp tục duy trì và thúc đẩy mối quan hệ truyền thống với các nước ASEAN, Học thuyết Fukuda mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thành công của tiến trình liên kết Đông Á

Từ khi Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) của Thủ tướng Yukio Hatoyama (2009 - 2010) lên nắm quyền, kết thúc 54 năm cầm quyền liên tục của Đảng Dân chủ Tự do (LDP), chính sách đối ngoại của Nhật Bản có thêm nhiều điểm mới Cương lĩnh tranh cử của DPJ khẳng định sẽ theo đuổi "chính sách đối ngoại chủ động” Mục tiêu trong chiến lược của Nhật ở CA-TBD là thông qua những hành động ngoại giao một cách tích cực, linh hoạt và có hiệu quả nhằm tạo

ra môi trường kinh tế - chính trị thuận lợi ở khu vực Coi đó là cơ sở để Nhật Bản hiện thực hóa mục tiêu trở thành một cường quốc toàn diện, không chỉ phát triển về kinh tế mà còn vững mạnh về chính trị Mục tiêu của DPJ được cụ thể thành những điểm sau: 1) DPJ sẽ xây dựng quan hệ đồng minh "gần gũi và bình đẳng" giữa Nhật Bản và Mỹ; 2) Củng cố các cơ chế hợp tác trong khu vực CA-TBD hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á; 3) Coi Trung Quốc là đối tượng ngoại giao quan trọng, thường xuyên điều chỉnh chính sách đối ngoại và giành thế chủ động trong quan hệ ngoại giao với nước này; 4) Coi đối tượng phòng thủ ở khu vực Đông Bắc Á là Nga và Bắc Triều Tiên Thực hiện chính sách vừa cảnh giác, vừa cải thiện quan hệ với các nước này; 5) Coi ĐNA là khu vực chiến lược quan trọng cần được ra sức mở rộng các quan hệ một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị và an ninh; 6) Đóng vai trò tích cực trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; tự do hóa thương mại và đầu tư; chống biến đổi khí hậu; đi đầu trong việc loại trừ vũ khí hạt nhân và hiểm họa khủng bố

Như vậy, xu hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại dưới thời Chính phủ Hatoyama có

thể khái quát thành 3 điểm lớn: một là, tiếp tục tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ; hai là, cải thiện quan hệ với Trung Quốc; ba là, coi trọng hợp tác khu vực Đối với châu Á nói

chung: Nội dung cốt lõi trong chiến lược ngoại giao của Chính phủ Hatoyama là mở rộng đối thoại chiến lược an ninh đa phương, thông qua đó xây dựng quan hệ cân bằng giữa đồng minh Nhật - Mỹ và ngoại giao châu Á, tạo bước đột phá để trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Đối với các nước ASEAN, Nhật Bản luôn xác định đây là đối tác kinh

tế, chính trị truyền thống quan trọng trong mục tiêu thực hiện hiệu quả tiến trình liên kết Đông

Trang 10

Á Riêng đối với Việt Nam, về cơ bản, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama sẽ không thay đổi chính sách đối ngoại vì Việt Nam là quốc gia có vị trí địa chính trị mang tính chiến lược ở khu vực ĐNA nói chung và Đông Á nói riêng

Quan điểm “Xây dựng Cộng đồng Đông Á - EAC”:Sau khi đắc cử, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama đẩy nhanh việc thành lập Cộng đồng Đông Á dựa trên mô hình Liên minh châu

Âu, theo đúng chủ trương của đảng Dân chủ Nhật Bản là giảm phụ thuộc vào Mỹ và tăng cường hợp tác trong khu vực.Có thể thấy, ý tưởng EAC là tâm điểm trong nền ngoại giao châu Á của Chính phủ mới do Đảng Dân chủ Nhật Bản lãnh đạo, nó được thai nghén từ lâu trong DPJ Việc Nhật Bản khởi xướng ý tưởng thành lập Cộng đồng Đông Á không phải là điều quá ngạc nhiên Trong kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh, với sự thay đổi về địa chính trị, điều kiện kinh tế ở Đông Á, sụt giảm quyền lực của Mỹ, sự trỗi dậy của châu Á, Nhật Bản hơn bao giờ hết muốn thúc đẩy vị thế và lợi ích của mình ở khu vực này

Ngày 4-6-2010, Hạ viện Nhật Bản đã nhất trí bầu ông Naoto Kan làm thủ Tướng.Về mặt đường lối, nhất là về chính sách đối ngoại, chính phủ mới do Thủ tướng Naoto Kan sẽ tiếp tục thực hiện chính sách của cựu Thủ tướng Hatoyama Ngay sau khi được bầu làm thủ tướng, trong cuộc điện đàm chính thức đầu tiên với Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Naoto Kan đã nhấn mạnh rằng “Liên minh Mỹ - Nhật sẽ là một trọng tâm trong chính sách ngoại giao của Nhật Bản” Hai bên tái khẳng định quan hệ song phương, nhất trí thực thi thỏa thuận về vấn đề tái bố trí căn cứ quân sự Mỹ tại Okinawa đã đạt được với nội các của ông Yukio Hatoyama cũng như cam kết hợp tác trong các vấn đề khu vực và thế giới Mặc dù nhấn mạnh rằng nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản là quan hệ đồng minh với

Mỹ, nhưng Thủ tướng Kan cũng không quên các lợi ích thương mại với Trung Quốc Ông Kan cũng khẳng định sẽ tiếp tục theo đuổi mục tiêu thành lập Cộng đồng Đông Á theo quan điểm của Thủ tướng tiền nhiệm Hatoyama Các nhà nghiên cứu nhận định, Nhật Bản đang có một nội các trẻ hơn và đầy nhiệt huyết với công việc Người Nhật hy vọng chính phủ mới sẽ vượt qua những sóng gió để đưa đất nước “mặt trời mọc” tiếp tục phát triển và thực hiện giấc

mơ cường quốc hàng đầu khu vực

Như vậy, quan điểm của Nhật Bản về tiến trình liên kết Đông Á đã được tượng hình rất sớm,

từ chính sách ĐNA trong Học thuyết Fukuda (1977) đến ý tưởng xây dựng Cộng đồng Đông

Á trong quan điểm Hatoyama (2009) Mặc dù chính trường Nhật Bản có nhiều thay đổi, song qua từng thời kỳ, với những đời thủ tướng khác nhau, Nhật Bản vẫn luôn thể hiện sự quan tâm lớn tới tình hình khu vực thông qua đường lối, chính sách đối ngoại sắc sảo của các đảng cầm quyền Bằng những hành động thiết thực, Nhật Bản đã có những đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy hợp tác các nước trong khu vực Đông Á, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á của Thủ tướng Hatoyama

Ngày đăng: 12/04/2018, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w