Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Việt Nam thay đổi qua các thời kì, qua nhiều đời thủ tướng, đặc biệt dưới thời kì Thủ tướng Shinzo Abe. Tiểu luận đã làm rõ đặc trưng trong từng thời kì và triển vọng xu hướng đối ngoại trong tương lai giữa Nhật bản và Việt Nam.
Trang 1CHÍNH SÁCH Đ I NGO I NH T B NỐ Ạ Ậ Ả 3/2017MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Association of South East Asia Nations – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CA-TBD: Châu Á – Thái Bình Dương
FDI: Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA: Official Development Assistance – Viện trợ phát triển chính thức
GDP: Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội
LDP: Liberal Democractic Party – Đảng Dân chủ Tự Do Nhật Bản
DPJ: Democractic Party of Japan – Đảng Dân chủ Nhật Bản
WTO: World Trade Organization – Tổ chức Thương mại Thế giới
EAC: East Asian Community – Cộng đồng Đông Á
SLOC: Sea Lines of Communication – Tạm dịch: Các tuyến đường liên lạc trên biển
Trang 31 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN TRONG GIAI ĐOẠN 2001 – 2016
1.1 Kinh tế
Nền kinh tế Nhật Bản trong thập niên đầu thế kỷ XXI đã chịu ảnh hưởng rấtnhiều của sự suy thoái kinh tế trong nước những năm 1990 và khủng hoảng tài chínhchâu Á 1997-1998 Ưu tiên cao nhất của Nhật Bản những năm đầu của thế kỷ XXI làgiải quyết các khoản nợ xấu và đưa nền kinh tế trở lại quĩ đạo tăng trưởng tốt và bềnvững
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi một cách cơ bản các nền kinh
tế lạc hậu và phụ thuộc ở Đông Nam Á, từ chỗ lệ thuộc vào phương Tây chuyển sang
tự nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật công nghệ thích ứng Với đặc trưng là nền
kinh tế hướng ngoại, xuất - nhập khẩu trở thành hai lá phổi quan trọng của nền kinh tế
Nhật Bản Do đó việc mở rộng cơ hội thương mại và đầu tư tại các nước có nền kinh tếmới chuyển đổi ở Đông Nam Á, như Việt Nam, đã và đang tạo ra nhiều cơ hội cho cácdoanh nghiệp Nhật Bản Các nền kinh tế này sẽ giúp Nhật Bản đổi mới công nghệ, giatăng xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng chất xám cao bằng cách chuyển một bộ phậnnhà máy có công nghệ vừa phải ra nước ngoài và đóng vai trò là nhà cung cấp linhkiện, dây chuyền sản xuất hiện đại cho việc lắp ráp, sản xuất hàng xuất khẩu tại nước
đó Trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh kết hợp với xu thế liên kết khu vực, nhất là sựtrỗi dậy của Trung Quốc như “một công xưởng thế giới”, thì sự bổ sung giữa nền kinh
tế Nhật Bản với các nền kinh tế còn lại của Đông Á có ý nghĩa chiến lược với NhậtBản Hơn nữa, sự khan hiếm về mặt nhiên liệu, năng lượng cũng là một bài toán khócho Nhật Bản, buộc nước này phải tăng cường mối quan hệ hợp tác năng lượng vớicác quốc gia có tiềm năng về nguồn dự trữ tài nguyên trong khu vực
Chính vì vậy, chính sách “ngoại giao kinh tế”, trong đó có “ngoại giao ODA” kếthợp với “ngoại giao văn hóa” là hướng đi đang được người Nhật chú trọng, nhằmkhông chỉ duy trì, mà còn gia tăng lợi ích chiến lược kinh tế, chính trị của Nhật Bảntrên trường quốc tế
1.2 Đối ngoại
Nhật Bản nhận thấy rằng khi nền kinh tế phát triển mạnh, đồng thời mình lại làthành viên của châu Á, cho nên cần thực hiện chính sách quay trở lại châu Á để tìmkiếm vai trò chủ đạo ở khu vực Sự giảm sút ảnh hưởng của Mỹ sau chiến tranh ViệtNam, và Nga sau Chiến tranh Lạnh… là cơ hội để Nhật tăng cường ảnh hưởng đối với
Trang 4khu vực này Nhật Bản muốn nâng cao năng lực chính trị trong khu vực cho ngang tầmvới cường quốc về kinh tế của mình Trong đó, Đông Nam Á là “sân sau” ổn định hoàbình để an tâm phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, Nhật cũng điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cườngđộc lập và tích cực hơn trong việc thực hiện đa phương hoá chính sách đối ngoại, giảm
sự phụ thuộc vào Mỹ nhằm vươn lên thành cường quốc thống trị, phát huy vai trò, ảnhhưởng trên thế giới và vùng châu Á-Thái Bình Dương; hợp tác với các nước đang pháttriển và các nước đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế
Từ khi lên nắm quyền tháng 12/2012, Đảng cầm quyền Dân chủ tự do (LDP) đãtriển khai chính sách đối ngoại với ba (3) trụ cột là:
i Củng cố đồng minh Nhật-Mỹ
ii Coi trọng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng
iii Triển khai ngoại giao kinh tế để khôi phục kinh tế của Nhật Bản và theo phương
châm:
i Bảo đảm an ninh quốc gia, tạo dựng một môi trường hòa bình và ổn định
của khu vực;
ii Triển khai thuyết “ngoại giao giá trị” với tầm nhìn toàn cầu, tăng cường
liên kết với các nước có cùng giá trị cơ bản về tự do, dân chủ, sự chi phối của pháp luật đề hình thành một “vòng cung” bao vây, kiềm chế Trung Quốc;
iii Tạo điều kiện phát triển đất nước, nhất là đảm bảo an ninh năng lượng.
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Abe tích cực triển khai các hoạt động đối ngoại nhằm:
- Củng cố và đẩy mạnh quan hệ đồng minh an ninh Nhật-Mỹ để bảo vệ lợi ích quốc gia,coi đây là trụ cột của ngoại giao Nhật Bản;
- Đẩy mạnh quan hệ nhiều mặt với các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, coihòa bình ổn định hợp tác và phát triển tại khu vực này là yếu tố đảm bảo cho sự ổnđịnh về mặt an ninh chính trị và thúc đẩy hồi phục kinh tế của Nhật Bản;
Trang 5- Không chấp nhận Trung Quốc thay đổi hiện trạng bằng sức mạnh nhưng bình tĩnh ứngphó và sẵn sàng đối thoại; tăng cường năng lực bảo vệ an toàn vùng biển, vùng trời,đặc biệt ở khu vực Tây Nam (gần Trung Quốc); thúc đẩy quan hệ với Nga;
- Coi trọng quan hệ với Hàn Quốc, sử dụng phương châm “đối thoại và gây áp lực”nhằm yêu cầu Triều Tiên có hành động cụ thể hướng tới giải quyết toàn diện các vấn
đề bắt cóc, tên lửa và hạt nhân;
- Khẳng định ASEAN là đối tác của hòa bình, ổn định và thịnh vượng, ưu tiên tăngcường hợp tác kinh tế và an ninh-quốc phòng nhằm đối phó và kiềm chế Trung Quốcgia tăng hoạt động trên biển;
- Thúc đẩy hợp tác chính sách về an ninh và năng lượng với các nước Ấn Độ, Úc, TrungĐông, EU ;
- Coi Châu phi là “mặt trận mới” của ngoại giao Nhật Bản
Như vậy, đối với khu vực Châu Á, chủ yếu là khu vực Châu Á – Thái BìnhDương và ASEAN, Nhật Bản chủ trương triển khai các hoạt động với mục đích đẩymạnh quan hệ nhiều mặt với các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, coi hòabình ổn định hợp tác và phát triển tại khu vực này là yếu tố đảm bảo cho sự ổn định vềmặt an ninh chính trị và thúc đẩy hồi phục kinh tế của Nhật Bản Bên cạnh đó NhậtBản còn khẳng định ASEAN là đối tác của hòa bình, ổn định và thịnh vượng, ưu tiêntăng cường hợp tác kinh tế và an ninh-quốc phòng nhằm đối phó và kiềm chế TrungQuốc gia tăng hoạt động trên biển Để từ những mục đích này, Nhật Bản thực hiệnnhững chính sách đối ngoại phù hợp cho những mong muốn đã đặt ra
1.3 Quốc phòng – an ninh
Từ cuối những năm 2000, các nhà phân tích an ninh Nhật Bản đã âm thầm bày tỏmối quan ngại ngày càng tăng đối với các căng thẳng đang nổi lên ở Biển Đông xungquanh tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và ranh giới biển Tuy Nhật Bản không phải làmột bên tranh chấp, và không có tuyên bố chủ quyền với những đảo đó, nước này vẫn
bị bất an bởi hành vi ngày càng cứng rắn của Trung Quốc và khả năng các tuyến
đường liên lạc trên biển (SLOC) quan trọng bị gián đoạn Cũng quan trọng không kém
là việc Nhật Bản lo ngại rằng nếu Trung Quốc chiếm ưu thế trong tranh chấp với cácnước Đông Nam Á, các quy chuẩn luật pháp quốc tế sẽ bị làm suy yếu, và các lợi íchquốc gia ở Biển Đông và Hoa Đông sẽ bị thiệt hại
Trang 6Nói cách khác, Nhật Bản là một trong những nước nằm trên “vành đai địa - chínhtrị nhạy cảm, thiếu ổn định về an ninh” Điều này đã và đang tạo ra cả cơ hội lẫn tháchthức đối với lợi ích quốc gia - dân tộc của Nhật Bản cả hiện tại lẫn tương lai Với vị tríđịa - chính trị đặc biệt, án ngữ tuyến đường biển nối liền các khu vực có tiềm lực kinh
tế, chính trị và quân sự lớn như Đông Bắc Á, Trung Đông, Australia và một số quốcgia thuộc khu vực CA-TBD, khu vực Đông Nam Á đóng vai trò thiết yếu trong chiếnlược phát triển của nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản Đối với Nhật Bản, ĐNAđược coi là bàn đạp cho mục tiêu trở thành cường quốc khu vực của Nhật Bản, đồngthời nước này coi quan hệ với ASEAN là khâu đột phá mở rộng ảnh hưởng của Nhậttại khu vực CA-TBD cũng như trên toàn thế giới An ninh quốc gia của Nhật Bản phụthuộc rất lớn vào sự an toàn trên các tuyến đường biển quốc tế chảy qua lãnh hải củacác nước Đông Nam Á Không chỉ đảm nhận vai trò vận chuyển, xuất nhập khẩu hànghóa, nhu yếu phẩm cần thiết cho đời sống và sản xuất của người dân Nhật (có khoảnghơn 80% hàng hóa nhập khẩu của Nhật đi qua khu vực Biển Đông), các tuyến đườngbiển ở Đông Nam Á còn là cầu nối căn cứ quân sự của Mỹ ở Okinawa với các tuyếnphòng thủ do Mỹ lập ra để đảm bảo an ninh quân sự cho Nhật Bản ở Đông Á ĐôngNam Á thực sự là nơi Nhật Bản có thể tìm kiếm vai trò chính trị tương xứng với sứcmạnh kinh tế sau Chiến tranh Lạnh, trở thành một “cường quốc đầy đủ” trên thế giới.Bởi từ sau thế chiến thứ 2, Nhật trở thành “một kẻ khổng lồ về kinh tế” nhưng lại làmột “người lùn về chính trị” Trước tình hình đó, Chính phủ Nhật Bản xem việc pháttriển quan hệ với các nước trong khu vực ĐNA cũng như quan tâm đúng mức đến anninh – hòa bình trên biển Đông là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược ngoại giao “Quay
về Châu Á” của mình
Từ khi lên nắm quyền đến nay, Thủ tướng Abe đã tích cực triển khai chính sách
an ninh mới dưới tên gọi “Chủ nghĩa hòa bình tích cực” với bốn (4) nội dung chính
là: thứ nhất, thành lập Hội đồng an ninh quốc gia; thứ hai, xây dựng chiến lược an ninhquốc gia; thứ ba, sửa đổi Đại cương phòng vệ; cuối cùng là thúc đẩy xem xét việc thựchiện quyền phòng vệ tập thể và tham gia vào cơ chế an ninh tập thể của Liên HợpQuốc Điều này được nêu tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Nhật Bản vào tháng10/2013, nhằm đóng góp tích cực hơn nữa vào hòa bình, ổn định của khu vực và thếgiới, cải thiện môi trường an ninh, giảm thiểu đe dọa an ninh đối với Nhật Bản, tăngcường năng lực quốc phòng
2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2001 – 2016
2.1 Về an ninh chính trị - ngoại giao
Trang 7Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973.Sau năm 1975, hai bên trao đổi Đại sứ quán; ký thoả thuận về việc Chính phủ NhậtBản bồi thường chiến tranh với danh nghĩa viện trợ không hoàn lại của Chính phủNhật Bản đối với Việt Nam 13,5 tỷ Yên (khoảng 49 triệu USD)
Giai đoạn 1979 – 1990, do vấn đề Campuchia, Nhật Bản đông kết các khoản việntrợ đã thỏa thuận, lấy vấn đề rút quân Việt Nam khỏi Campuchia làm điều kiện mở lạiviện trợ; phối hợp với Mỹ và Phương Tây ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế (IMF,
WB, ADB…) cung cấp tài chính cho Việt Nam Quan hệ chính trị vào thời điểm đó rấthạn chế Đến năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam Từ đó đếnnay, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, giao lưu văn hoá… được mở rộng; sự hiểu biết
và tin cậy giữa hai nước từng bước được tăng lên
Nhật Bản là nước G7 đầu tiên đón Tổng Bí thư ta đi thăm (năm 1995), nước G7đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với ta (năm 2009), nước G7 đầu tiên côngnhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (năm 2011) và là nước G7 đầu tiênnguyên thủ gọi điện thoại cho Lãnh đạo cấp cao của ta ngay sau khi lên nắm quyền(năm 2012)
Mục tiêu của Nhật Bản trong chính sách đối ngoại với Việt Nam trên lĩnh vựcnày trong giai đoạn 2001-2016 không gì khác ngoài việc hợp tác ngày càng chặt chẽ
về việc giữ hòa bình ổn định trên biển Đông và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình
ở Đông Nam Á, không chỉ phục vụ cho mục tiêu cạnh tranh với Mỹ và Tây Âu mà bêncạnh đó còn để cạnh tranh với Trung Quốc, một cường quốc hiện đang bành trướng thếlực và gây ra nhiều biến động, căng thẳng trong khu vực
nước Đông Nam Á, ông đã có bài diễn thuyết quan trọng với tiêu đề “Nhật Bản và
ASEAN của Đông Á: Quan hệ đối tác cởi mở và thẳng thắn, trên cơ sở đối tác bình đẳng và tin tưởng lẫn nhau” Tuyên bố này có thể được coi là cơ sở của “Học thuyết Koizumi” trong hệ thống chính sách đối ngoại Nhật Bản, đặt nền tảng mới cho sự phát
triển mối quan hệ truyền thống Nhật Bản - ASEAN trong thế kỷ XXI Trên cơ sở “đối
Trang 8tác bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau”, đồng thời đưa ra khái niệm mới “Nhật Bản vàASEAN cùng tiến” Học thuyết Koizumi được cụ thể hóa qua bốn nội dung chính: 1) Nhật Bản ủng hộ ASEAN cải cách trên các lĩnh vực chính trị, luật pháp, cơ cấukinh tế và tài chính; tăng cường hợp tác khai thác khu vực sông Mêkông, công nghệthông tin và các ngành nghề liên quan;
2) Nhật Bản tích cực hợp tác với các nước ASEAN trong mục tiêu xóa bỏ đóinghèo, phòng ngừa phát sinh xung đột, thúc đẩy xây dựng cơ chế an ninh khu vực,tăng cường tìm kiếm sự ủng hộ trong cuộc chạy đua vào Hội đồng Bảo an Liên hợpquốc;
3) Nhật Bản đưa ra 5 ý tưởng cho mối quan hệ hợp tác Nhật Bản - ASEAN trongtương lai, bao gồm: hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực; lấy năm 2003 lànăm giao lưu Nhật Bản - ASEAN; tăng cường hợp tác kinh tế toàn diện; triệu tậpHội nghị Phát triển quốc tế Đông Á (IDEA) và tăng cường hợp tác an ninh;
4) Chính phủ của Thủ tướng Koizumi đặc biệt thể hiện sự quan tâm đến tiến trìnhliên kết khu vực Đông Á thông qua việc đề ra ý tưởng xây dựng “Một cộng đồngĐông Á cùng nhau hành động và cùng nhau phát triển” Theo ông: “Quá khứ củachúng ta có thể khác nhau nhưng tương lai của chúng ta có thể thống nhất và hỗ trợcho nhau”, vì vậy “cần phải mở rộng Hợp tác Đông Á dựa trên quan hệ Nhật Bản -ASEAN” trong đó “bước đầu tiên là phải tranh thủ tối đa khuôn khổ ASEAN+3”.Trong nhiệm kỳ của mình, thủ tướng Koizumi đã có chuyến thăm cấp cao chínhthức tới Việt Nam một lần, vào tháng 4 năm 2002 Đây là chuyến thăm cấp cao thứ 4của các thủ tướng Nhật tới Việt Nam kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh Theo đó,chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Việt Nam đã đạt được những thành tựu sau:
Từ quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài” (4/2002) lên quan hệ “Đối tác bềnvững” (7/2004) Tháng 11/2006, nhân chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng NguyễnTấn Dũng hai bên ký Tuyên bố chung về “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình vàphồn vinh ở Châu Á”
Từ năm 2001 đến 2006, Nhật Bản và Việt Nam đã tạo dựng được cơ chế đốithoại ở nhiều cấp Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao (từtháng 7/2004), hai bên đã xây dựng được cơ chế đối thoại kinh tế, an ninh và quốcphòng thường kỳ hàng năm Hệ quả của chính sách đối ngoại thời Koizumi, tháng5/2007, hai bên đã thành lập Ủy ban hợp tác Việt – Nhật do hai bộ trưởng Ngoại giaolàm đồng Chủ tịch phiên họp đầu tiên do đoàn tổ chức, nhân chuyến thăm chính thứcNhật Bản của Phó Thủ tướng Bộ trưởng Phạm Gia Khiêm (ngày 22 đến 26/5/2007)
Trang 9Nhật Bản cũng thể hiện việc ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam, hỗtrợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (vào APEC, WTO, ASEM, ARF ), coitrọng quan hệ với Việt Nam.
lại Tuyên bố chung “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”
được công bố ngày 19/10/2006; đồng thời hoan nghênh việc thực hiện có kết quả
“Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật
Bản” được công bố ngày 27/11/2007, nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Chủ
tịch nước Nguyễn Minh Triết
Kế thừa quan điểm của Học thuyết Fukuda “cha” (1977), tại Hội nghị “Tương laichâu Á” lần thứ 14 tổ chức tại Tokyo vào tháng 5-2008, Thủ tướng Fukuda đã cho thấynhững hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á
như sau: Thứ nhất, Nhật Bản tiếp tục duy trì Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ Hai là, Nhật
Bản mong muốn tăng cường hợp tác với ASEAN trên các lĩnh vực kinh tế, bảo vệ môitrường, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tăng cường nỗ lực đảm bảo an ninh
lương thực, “hợp tác đối phó thảm họa" Ba là, với mục tiêu thúc đẩy việc thành lập
Cộng đồng Đông Á, đẩy mạnh hợp tác với các nước Đông Nam Á, Nhật Bản ủng hộmạnh mẽ những nỗ lực của ASEAN nhằm thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm
2015 Bốn là, đưa Nhật Bản trở thành quốc gia thúc đẩy hòa bình; hình thành và củng
cố cơ sở hạ tầng cho việc hợp tác tri thức và giáo dục; đấu tranh với những vấn đề toàncầu như biến đổi khí hậu và bệnh lây nhiễm, tăng cường giao lưu con người trong khuvực Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 10Từ những đường hướng ưu tiên này trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản,quan hệ ngoại giao và quan hệ hợp tác phát triển kinh tế của Nhật Bản và Việt Nam đãđạt được những thành tựu nhất định Trong đó có những dự án đảm bảo an ninh lươngthực và bảo vệ môi trường, ứng biến trước những thảm họa thiên nhiên Thông quaviệc thiết lập những mối thân tình với Việt Nam, quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thêmgắn khít sẽ tạo điều kiện cho Nhật Bản thực hiện được hoài bão của mình là thành lậpmột Cộng đồng Đông Á lớn mạnh, tranh thủ được sự ủng hộ của các nước ASEAN,đặc biệt là Việt Nam, làm cơ sở cho việc gia tăng vị thế và tầm ảnh hưởng của Nhật,không chỉ trong khu vực ASEAN mà còn trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.Đây là một bước đệm để Nhật Bản – một “người lùn về chính trị”, không chỉ liên kếtcác nước trong khu vực mà còn dần vươn tới vị thế cao hơn trong Liên Hợp Quốc.Các nội dung chính trên được giới quan sát gọi là "Học thuyết Fukuda mới", là
sự nối tiếp "Học thuyết Fukuda" Tuy nhiên, không dừng lại ở việc kế thừa chính sáchcủa cha mình, Thủ tướng Y.Fukuda còn muốn mở rộng “Học thuyết Fukuda mới” racác nước Đông Bắc Á với khẳng định “Nhật Bản phải tìm kiếm quan hệ thâm tìnhkhông chỉ với các nước Đông Nam Á mà cả với Trung Quốc và Hàn Quốc” Đặc biệt,động thái tích cực nhất trong chính sách ngoại giao châu Á của Thủ tướng Y.Fukuda làviệc cải thiện mối quan hệ Trung - Nhật Theo quan điểm của ông, Cộng đồng Đông Á
sẽ là một ý tưởng viển vông nếu không có sự hòa giải lịch sử giữa Bắc Kinh và Tokyo
Và ông đã tạo ra ba sự thay đổi lớn: Thứ nhất, từ bỏ tính chất cực đoan trong chínhsách ngoại giao của ông Koizumi, thay đổi lời nói và hành động thăm đền Yasukuni,xoá bỏ rào cản chính trị trong quan hệ Trung - Nhật; thứ hai, kiên định quan điểm đốingoại tiếp tục nỗ lực cải thiện quan hệ Trung - Nhật, dù là cải cách hay bảo thủ đềucần phải duy trì quan hệ Trung - Nhật theo hướng ổn định, có kiểm soát; thứ ba, xâydựng một “Nội các hữu nghị Trung - Nhật”: thái độ phần lớn đều ôn hoà, có chừngmực, mong muốn tăng cường tình hữu nghị Trung -Nhật, không hài lòng với chínhsách ngoại giao mất cân bằng của Koizumi
Với Học thuyết Fukuda mới, quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Đông Bắc Á,đặc biệt là Trung Quốc, đang ngày càng ấm dần lên Thực hiện mục tiêu cải thiện quan
hệ với Đông Bắc Á, tiếp tục duy trì và thúc đẩy mối quan hệ truyền thống với cácnước ASEAN, Học thuyết Fukuda mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thành công củatiến trình liên kết Đông Á
Tiếp đến, từ khi lên nắm chính quyền (2008), Thủ tướng Aso Taro đã có nhữngchính sách ngoại giao nhằm đẩy mạnh cải cách kinh tế, tăng cường ngoại giao với cácnước nhằm khôi phục uy tín của đảng Dân Chủ Tự Do (LDP) và nội các mới Theo đó,Việt Nam và Nhật Bản - hai bên thống nhất sẽ hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề quan
Trang 11hệ song phương, cũng như trong các vấn đề của khu vực châu Á và Cộng đồng quốc
tế, trên cơ sở tin tưởng và lợi ích chung, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phồn vinh ởchâu Á Theo đó vào năm 2009, hai bên đã đưa ra Tuyên bố chung về "Quan hệ đối tácchiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở Châu Á", nhất trí đưa quan hệ hai nước lên tầmđối tác chiến lược (nhân chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnhtháng 4/2009) Như vậy, Nhật Bản là nước đầu tiên trong các nước G7 thiết lập quan
hệ đối tác chiến lược với ta
-cử của DPJ khẳng định sẽ theo đuổi “chính sách đối ngoại chủ động” Mục tiêu trongchiến lược của Nhật ở Châu Á - Thái Bình Dương là thông qua những hành độngngoại giao một cách tích cực, linh hoạt và có hiệu quả nhằm tạo ra môi trường kinh tế -chính trị thuận lợi ở khu vực Coi đó là cơ sở để Nhật Bản hiện thực hóa mục tiêu trởthành một cường quốc toàn diện, không chỉ phát triển về kinh tế mà còn vững mạnh vềchính trị Mục tiêu của DPJ được cụ thể thành những điểm sau:
1) DPJ sẽ xây dựng quan hệ đồng minh "gần gũi và bình đẳng" giữa Nhật Bản vàMỹ;
2) Củng cố các cơ chế hợp tác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hướngtới mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á;
3) Coi Trung Quốc là đối tượng ngoại giao quan trọng, thường xuyên điều chỉnhchính sách đối ngoại và giành thế chủ động trong quan hệ ngoại giao với nướcnày;
4) Coi đối tượng phòng thủ ở khu vực Đông Bắc Á là Nga và Bắc Triều Tiên.Thực hiện chính sách vừa cảnh giác, vừa cải thiện quan hệ với các nước này;5) Coi Đông Nam Á là khu vực chiến lược quan trọng cần được ra sức mở rộngcác quan hệ một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị và an ninh;
Trang 126) Đóng vai trò tích cực trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc;
tự do hóa thương mại và đầu tư; chống biến đổi khí hậu; đi đầu trong việc loại trừ
vũ khí hạt nhân và hiểm họa khủng bố
Như vậy, xu hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại dưới thời Chính phủ
Hatoyama có thể khái quát thành 3 điểm lớn: một là, tiếp tục tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ; hai là, cải thiện quan hệ với Trung Quốc; ba là, coi trọng hợp tác khu
vực đối với châu Á nói chung Nội dung cốt lõi trong chiến lược ngoại giao của Chínhphủ Hatoyama là mở rộng đối thoại chiến lược an ninh đa phương, thông qua đó xâydựng quan hệ cân bằng giữa đồng minh Nhật - Mỹ và ngoại giao châu Á, tạo bước độtphá để trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Đối với cácnước ASEAN, Nhật Bản luôn xác định đây là đối tác kinh tế, chính trị truyền thốngquan trọng trong mục tiêu thực hiện hiệu quả tiến trình liên kết Đông Á Riêng đối vớiViệt Nam, về cơ bản, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama sẽ không thay đổi chínhsách đối ngoại vì Việt Nam là quốc gia có vị trí địa chính trị mang tính chiến lược ởkhu vực Đông Nam Á nói chung và Đông Á nói riêng Có thể từ mối quan hệ thân tìnhvới Việt Nam mà gắn kết được với các quốc gia khác trong khu vực, trên cơ sở hỗ trợViệt Nam phát triển kinh tế là chủ yếu
Quan điểm “Xây dựng Cộng đồng Đông Á - EAC”: sau khi đắc cử, Chính phủ
của Thủ tướng Hatoyama đẩy nhanh việc thành lập Cộng đồng Đông Á dựa trên môhình Liên minh châu Âu, theo đúng chủ trương của đảng Dân chủ Nhật Bản là giảmphụ thuộc vào Mỹ và tăng cường hợp tác trong khu vực Có thể thấy, ý tưởng EAC làtâm điểm trong nền ngoại giao châu Á của Chính phủ mới do Đảng Dân chủ Nhật Bảnlãnh đạo, nó được thai nghén từ lâu trong DPJ Việc Nhật Bản khởi xướng ý tưởngthành lập Cộng đồng Đông Á không phải là điều quá ngạc nhiên Trong kỷ nguyên hậuchiến tranh lạnh, với sự thay đổi về địa chính trị, điều kiện kinh tế ở Đông Á, sụt giảmquyền lực của Mỹ, sự trỗi dậy của châu Á, Nhật Bản hơn bao giờ hết muốn thúc đẩy vịthế và lợi ích của mình ở khu vực này
Ngày 4/6/2010, Hạ viện Nhật Bản đã nhất trí bầu ông Naoto Kan làm thủTướng.Về mặt đường lối, nhất là về chính sách đối ngoại, chính phủ mới do Thủ tướngNaoto Kan sẽ tiếp tục thực hiện chính sách của cựu Thủ tướng Hatoyama Ngay saukhi được bầu làm thủ tướng, trong cuộc điện đàm chính thức đầu tiên với Tổng thống
Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Naoto Kan đã nhấn mạnh rằng “Liên minh Mỹ - Nhật
sẽ là một trọng tâm trong chính sách ngoại giao của Nhật Bản” Hai bên tái khẳng địnhquan hệ song phương, nhất trí thực thi thỏa thuận về vấn đề tái bố trí căn cứ quân sự
Mỹ tại Okinawa đã đạt được với nội các của ông Yukio Hatoyama cũng như cam kếthợp tác trong các vấn đề khu vực và thế giới Mặc dù nhấn mạnh rằng nền tảng trong
Trang 13chính sách đối ngoại của Nhật Bản là quan hệ đồng minh với Mỹ, nhưng Thủ tướngKan cũng không quên các lợi ích thương mại với Trung Quốc Ông khẳng định sẽ tiếptục theo đuổi mục tiêu thành lập Cộng đồng Đông Á Bản đang có một nội các trẻ hơn
và đầy nhiệt huyết với công việc Người Nhật hy vọng chính phủ mới sẽ vượt quanhững sóng gió để đưa đất nước theo quan điểm của Thủ tướng tiền nhiệm Hatoyama.Các nhà nghiên cứu nhận định, Nhật “mặt trời mọc” tiếp tục phát triển và thực hiệngiấc mơ cường quốc hàng đầu khu vực
Từ năm 2010, Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản về ngoại
giao-an ninh-quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao đã họp 4 phiên Năm 2010, "Tuyên bốchung Việt Nam-Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòabình và phồn vinh ở Châu Á" (nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật BảnNaoto Kan tháng 10/2010) Năm 2011, "Tuyên bố chung triển khai hành động trongkhuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” giữa Việt Nam vàNhật Bản đã được kí kết (nhân chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng tháng 10/2011) Từ tháng 11/2012, Đối thoại chính sách quốc phòng Việt - Nhật
cấp Thứ trưởng đã họp 2 phiên
2.1.4 Giai đoạn 2012-2016:
Thời kì này, Đảng Dân chủ Tự do trở lại nắm quyền chính trị, dưới quyền củaThủ tướng Shinzo Abe Sau khi tái đắc cử vào tháng 12/2012, Thủ tướng Abe tích cựctriển khai các hoạt động đối ngoại nhằm khẳng định ASEAN nói chung và Việt Namnói riêng là đối tác của hòa bình, ổn định và thịnh vượng, ưu tiên tăng cường hợp táckinh tế và an ninh-quốc phòng nhằm đối phó và kiềm chế Trung Quốc gia tăng hoạtđộng trên biển Lưu tâm đến các kết nối hàng hải và hàng không giữa Nhật Bản vàViệt Nam trong khu vực, Thủ tướng Shinzo Abe cho rằng không thể xem nhẹ bất kỳhành động mang tính đơn phương, cưỡng ép nào thách thức hoà bình và ổn định Thủtướng Shinzo Abe còn đánh giá cao các nỗ lực của Việt Nam hướng tới giải quyết cácvấn đề trên biển bao gồm lĩnh vực an ninh hàng hải dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp
luật Hai bên khẳng định hoà bình và ổn định trên biển là lợi ích chung của cả hai
nước cũng như cộng đồng quốc tế.
Tháng 8/2012, tại Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Nhật Bản lần thứ
hai, hai bên nhất trí tập trung vào các vấn đề lớn như an ninh phi truyền thống, vấn đề
hạt nhân, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, vấn đề an ninh biển, chống cướpbiển Liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo, hai bên khẳng định tính cần thiết củaviệc giải quyết các tranh chấp và khác biệt bằng biện pháp hòa bình, tránh xung đột vũtrang, kêu gọi các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc
về Luật biển (UNCLOS)
Trang 14Ban đầu, Tokyo không thể dùng ODA để mua tàu tuần tra cho Cảnh sát biển ViệtNam vì lực lượng này thuộc về quân đội nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, trở ngại này
đã không còn từ tháng 1/2013 với sự ra đời của một cơ quan chấp pháp dân sự trênbiển thuộc Tống cục Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Năm 2013,các quan chức quân sự Việt Nam đã tham dự các buổi hội thảo đào tạo về quân y của
Bộ Quốc phòng Nhật Bản
Tháng 1/2015, Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam – Nhật Bản lần thứ3đã diễn ra tại Hà Nội Hai bên thống nhất thời gian tới Bộ Quốc phòng hai nước tiếptục duy trì đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng, trao đổi đoàn các cấp, hỗtrợ lẫn nhau về hợp tác đào tạo nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với các thảmhọa thiên tai mà mỗi quốc gia có thế mạnh, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả bommìn sau chiến tranh… Hai bên cũng bày tỏ mong muốn tăng cường thúc đẩy hợp tácquốc phòng toàn diện vì lợi ích chung của nhân dân hai nước, góp phần giữ gìn, bảo vệhòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới Cũng từ năm 2015, Nhật Bảnchính thức bàn giao 6 tàu tuần dương đã qua sử dụng cho Việt Nam nhằm giúp ViệtNam tăng năng lực thực thi pháp luật trên biển trong khuôn khổ gói viện trợ khônghoàn lại trị giá 500 triệu Yên cho Việt Nam Ngoài ra Nhật cũng cung cấp cho ViệtNam xuồng cứu sinh và các phương tiện khác đi kèm tàu
Vào cuối năm 2016, Nhật Bản tiếp tục bày tỏ ý muốn đẩy mạnh chia sẻ côngnghệ và cấp thêm tàu tuần tra biển cho Việt Nam, tăng cường các cuộc tập trận chung
ở Biển Đông Ngày 29/11/2016, tại cuộc Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam –
Nhật Bản lần thứ 4 đã diễn ra tại Tokyo, Nhật Bản, hai bên đã bày tỏ sự hài lòng trước
việc hợp tác quốc phòng song phương đang phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực, phùhợp với khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng giữa Việt Nam và Nhật Bản vànhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực cứu hộ, cứu nạn trên biển; hợp tác giữa cáclực lượng thực thi luật pháp trên biển Tại cuộc đối thoại, phía Việt Nam và phía NhậtBản cũng thống nhất đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực khác như: đào tạo, tham giahoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, an ninh mạng…
Từ chính sách Đông Nam Á trong Học thuyết Fukuda (1977) đến ý tưởng xâydựng Cộng đồng Đông Á trong quan điểm Hatoyama (2009), quan điểm của Nhật Bản
về tiến trình liên kết Đông Á đã được tượng hình rất sớm Mặc dù chính trường NhậtBản có nhiều thay đổi, song qua từng thời kỳ, với những đời thủ tướng khác nhau,Nhật Bản vẫn luôn thể hiện sự quan tâm lớn tới tình hình khu vực thông qua đườnglối, chính sách đối ngoại của các đảng cầm quyền Bằng những hành động thiết thực,Nhật Bản đã có những đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy hợp tác các nước trong khu