Các hàng hóa và dịch vụ công có thể thu hồi vốn một cách trực tiếp thông quaviệc thu phí, lệ phí của người trực tiếp hưởng lợi hoặc thu hồi vốn một cách gián tiếpthông qua việc phân phối
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Đề tài: PHÁP LUẬT VỀ PHÍ VÀ LỆ PHÍ
Sinh viên thực hiện: Nhóm số 4Giảng viên hướng dẫn: ThS Phan Phương Nam
Thành phố Hồ Chí MinhNgày 30/3/2018
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Thu Ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trìnhNhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hộidưới hình thức giá trị, nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Như vậy,thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhànước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước, đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhànước
Thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếuhụt của ngân sách Đứng về phương diện pháp lí, thu ngân sách nhà nước bao gồmnhững khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu củaNhà nước Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tàichính, để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhucầu chi tiêu của mình Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỉ trọng không lớntrong tổng quan nguồn thu của ngân sách nhà nước, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng vì
nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội
Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm chúng em sẽ đi sâu vào phân tích cụ thể vềviệc thu ngân sách từ phí và lệ phí, từ đó đưa ra một cách tổng quan nhất về nhữngquy định của pháp luật ngân sách nhà nước đối với vấn đề phí và lệ phí là như thế nào
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÍ VÀ LỆ PHÍ 1
1.1 Khái quát về phí và lệ phí 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Lịch sử hình thành, phát triển của phí và lệ phí 2
1.2 Vai trò của phí, lệ phí 3
1.3 So sánh phí, lệ phí và thuế 4
1.3.1 Giống nhau 4
1.3.2 Khác nhau 4
1.4 Phân loại phí và lệ phí 6
1.4.1 Căn cứ vào đối tượng cung cấp: Chia làm hai loại 6
1.4.2 Căn cứ vào thẩm quyền ban hành: Chia làm hai loại 6
1.4.3 Căn cứ vào hình thức thu nộp: Chia là 2 loại 6
1.4.4 Căn cứ vào tính hoàn trả: chia làm 2 loại 7
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÍ VÀ LỆ PHÍ 8
2.1 Đối tượng điều chỉnh 8
2.2 Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quản lý phí và lệ phí8 2.2.1 Thẩm quyền của UBTVQH 8
2.2.2 Thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ 8
2.2.3 Thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ tài chính 9
2.2.4 Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ 9
2.2.5 Thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 10
2.2.6 Thẩm quyền và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 10
2.3 Nguyên tắc xác định mức thu, miễn, giảm phí và lệ phí 10
2.3.1 Nguyên tắc xác định mức thu phí, lệ phí 10
2.3.2 Nguyên tắc xác định miễn, giảm phí, lệ phí 11
2.4 Kê khai, thu nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí 12
2.4.1 Kê khai, nộp phí, lệ phí của người nộp phí, lệ phí 12
2.4.2 Tổ chức thu phí, lệ phí thực hiện kê khai, nộp phí, lệ phí thu được 13
2.4.3 Đồng tiền thu nộp phí, lệ phí 14
2.4.4 Quản lí và sử dụng phí, lệ phí 14
Trang 62.5 Quyền, trách nhiệm của tổ chức thu và người nộp phí lệ phí 17 2.5.1 Trách nhiệm của tổ chức thu phí và lệ phí 17 2.5.2 Quyền và trách nhiệm của người nộp phí lệ phí 18
Trang 7Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa và dịch vụ công cộng do nhà nước và tưnhân cung cấp Tuy nhiên việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ công đòi hỏi chiphí sản xuất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, tỷ suất lợi nhuận thấp, thậm chí không cólãi Do đó, đa số hàng hóa và dịch vụ công là do nhà nước sản xuất và cung cấp cho xãhội Các hàng hóa và dịch vụ công có thể thu hồi vốn một cách trực tiếp thông quaviệc thu phí, lệ phí của người trực tiếp hưởng lợi hoặc thu hồi vốn một cách gián tiếpthông qua việc phân phối lại của cãi xã hội mà chủ yếu là thuế (như an ninh, quốcphòng,…)
Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra được những đặc điểm cơ bản của phí, phí là mộtkhoản thu của ngân sách nhà nước do cá nhân, tổ chức nộp vào quỹ ngân sách nhànước khi thụ hưởng lợi ích từ hàng hoá, dịch vụ công cộng được cung cấp bởi nhànước Phí khác với thuế ở chỗ, có một số loại phí có tính đối giá và hoàn trả trực tiếp,
Trang 8trong khi đó, thuế không có các đặc điểm này.Phí nhà nước chỉ có mục đích nhằm bùđắp những khoản đầu tư, bảo dưỡng các công trình công cộng và duy trì hoạt độngdịch vụ công (y tế, giáo dục, v.v.) của nhà nước Chỉ có các cơ quan nhà nước do phápluật quy định mới được quyền ban hành phí.
Về Lệ phí, tại khoản 2 của Điều này quy định:
“2 Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này”
Lệ phí được thu gắn với việc cung cấp dịch vụ hành chính của Nhà nước hoặcNhà nước ủy quyền cho một tổ chức nào đó thực hiện Việc thu lệ phí có tính pháp lýcao đi đôi với việc cung cấp các thủ tục hành chính, pháp lý mà Nhà nước đảm nhậngắn với chức năng quản lý Nhà nước, không nhằm mục đích bù đắp chi phí
1.1.2 Lịch sử hình thành, phát triển của phí và lệ phí
Phí và lệ phí nước ta ra đời từ thời bao cấp và phát triển phụ thuộc vào diễn biếnkinh tế - xã hội qua mỗi thời kỳ, quan điểm quản lý Nhà nước ở mỗi lĩnh vực và quanđiểm động viên Ngân sách nhà nước qua mỗi giai đoạn lịch sử
Ở thời kỳ đầu mới ra đời, đối tượng thu phí, lệ phí còn hẹp, mức thu nhỏ, chủ yếu
là học phí, viện phí, thủy lợi phí, Đa số các dịch vụ công cộng do Nhà nước cungcấp miễn phí Sau Đại hội Đảng lần thứ IV (1986) nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạchhóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước dần xóa
bỏ bao cấp, xã hội hóa hầu hết các lĩnh vực mà Nhà nước và nhân dân có thể cùng làmnhư: giáo dục, y tế, văn hóa, điện, nước, Từ đó làm phát sinh nhiều loại phí, lệ phí.Thời kỳ trước năm 1990, tính tự phát của việc thu phí và lệ phí phát triển mạnhnhưng không có văn bản pháp quy điều chỉnh đồng bộ, rõ ràng làm cho việc thu phí
và lệ phí không thông nhất, có nhiều loại phí, lệ phí ra đời khác nhau giữa các địa
Trang 9phương, các ngành, và thậm chí có những loại phí, lệ phí vô lý làm ảnh hưởng tiêucực đến nền kinh tế, xã hội
Trước tình hình đó ngày 28/7/1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 276/CT “Về việc thống nhất các loại phí, lệ phí” nhằm đưa công tác ban hành,
quản lý phí, lệ phí đi vào nề nếp, xóa bỏ tính tùy tiện trong việc ban hành, quản lý phí,
lệ phí Tuy nhiên, tính pháp lý của Quyết định này chưa cao, vẫn chưa có sự thốngnhất giữa một số ngành địa phương, nhiều loại phí làm cản trở sự phát triển kinh tế,gây bất bình đẳng về nghĩa vụ nộp
Vì vậy, ngày 30/1/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/1999/NĐ - CP
“Phí, lệ phí thuộc Ngân sách nhà nước” Sau một thời gian thực hiện Nghị định này đãđạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế
về tính pháp lý, tính đồng bộ giữa phí, lệ phí của Nhà nước; phí, lệ phí của tư nhân;thẩm quyền ban hành chưa rõ ràng, cơ chế quản lý thu nộp chưa phù hợp
Do đó, ngày 28/8/2001, Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 10 đã ban hành Pháplệnh số 38/2001/PL - UBTVQH10 “Pháp lệnh phí và lệ phí”, Nghị định của Chínhphủ số 57/2002/NĐ - CP ngày 3/6/2002 hướng dẫn thi hành pháp lệnh phí và lệ phí;Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 13/2002/CT - TTg ngày 11/6/2002 về việc triểnkhai thực hiện pháp lệnh phí, lệ phí và thông tư của Bộ tài chính số 63/2002 của Chínhphủ Từ đó, việc thu phí và lệ phí đã thống nhất được quyền ban hành, mức thu, cáchthức quản lý phí, lệ phí trên toàn quốc cả hai khu vực: khu vực nhà nước và khu vực
tư nhân
Năm 2006, Chính phủ tiếp tụ ban hành Nghị định số 24/2006/NĐ - CP, ngày06/3/2006 và Bộ tài chính ban hành Thông tư số 45/2006/TT - BTC, ngày 5/5/2006,sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí Ngày 25/11/2015 nhằm đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất với hệ thống phápluật thuế và ngân sách nhà nước, trong đó, phản ánh đầy đủ, kịp thời nguồn thu từ phí,
lệ phí vào ngân sách nhà nước, đảm bảo sự minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồnthu từ phí, lệ phí, Quốc hội ban hành Luật số 97/2015/QH13 Luật phí và lệ phí
Trang 101.2 Vai trò của phí, lệ phí
Thứ nhất, phí nhằm mục tiêu tạo nguồn thu để bù đắp chi phí và tạo nguồn thu
cho Ngân sách nhà nước, trong đời sống xã hội luôn tồn tại nhu cầu sử dụng các hànghóa, dịch vụ công cộng, vì vậy cần phải có sự bù đắp chi phí khi nhà nước đầu tưnhiều tiền của và sức lực để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ công cho người dân sử
dụng Bù đắp chi phí là mục tiêu thường được nhìn nhận phổ biến nhất của phí
Thứ hai, phí được sử dụng để bảo đảm công bằng, một mục tiêu quan trọng khác
của phí chính là đảm bảo công bằng Phí được dựa trên nguyên tắc người hưởng lợihay người sử dụng trả tiền Nói một cách đơn giản, ai dùng thì người đó trả
Thứ ba, phí và lệ phí góp phần giúp nhà nước thực hiện quản lý, kiểm tra giám
sát có hiệu quả các hoạt động kinh tế, xã hội theo pháp luật
1.3 So sánh phí, lệ phí và thuế
1.3.1 Giống nhau
- Cả phí, lệ phí và thuế đều là khoản thu ngân sách nhà nước;
- Phí, lệ phí và thuế đều gắn với quyền lực nhà nước và có tính pháp lí cao, cụ thể
chúng đều được quy định bởi các luật riêng do Quốc hội ban hành và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước;
- Phí, lệ phí và thuế đều là những công cụ phục vụ cho công tác quản lí điều hành xã hội của nhà nước;
- Phí, lệ phí và thuế đều do cơ quan có thẩm quyền thực hiện thu đối với các cơ quan,
tổ chức, cá nhân là đối tượng phải đóng góp
1.3.2 Khác nhau
Thuế là khoản thu bắt buộc
mang tính cưỡng chế bằng sức Phí là khoản thu mang tính chất bùđắp chi phí thường xuyên hoặc bất
Trang 11Khái niệm
mạnh của nhà nước mà các tổchức, cá nhân có nghĩa vụ phảinộp vào ngân sách nhà nước khi
có đủ những điều kiện nhất định
Các khoản thu này không mangtính đối giá và hoàn trả trực tiếpcho người nộp thuế
thường như phí về xây dựng, bảodưỡng, duy tu của Nhà nước đối vớinhững hoạt động phục vụ người nộpphí
Lệ phí là khoản thu vừa mang tính
chất phục vụ cho đối tượng nộp lệphí về việc thực hiện một số thủ tụchành chính vừa mang tính chất độngviên sự đóng góp cho ngân sách Nhànước
Nhằm điều chỉnh các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, quản lý vàđịnh hướng phát triển kinh tế vàđảm bảo sự bình đẳng giữanhững chủ thể kinh doanh vàcông bằng xã hội
Như vậy, thuế có tác động lớnđến toàn bộ qúa trình phát triểnkinh tế – xã hội của một quốcgia, đồng thời thuế là một bộphận rất quan trọng cấu thànhchính sách tài chính quốc gia
Là khoản thu phụ, không đáng kể,chỉ đủ chi dùng cho các hoạt độngphát sinh từ phí nguồn thu nàykhông phải dùng đáp ứng nhu cầuchi tiêu mọi mặt của Nhà nước, màtrước hết dùng để bù đắp các chi phíhoạt động của các cơ quan cung cấpcho xã hội một số dịch vụ công cộngnhư: dịch vụ công chứng, dịch vụđăng ký quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan…
Tính đối giá Không mang tính đối giá vàhoàn trả trực tiếp Mang tính đối giá rõ ràng và hoàntrả trực tiếp
Tính bắt buộc
Mang tính bắt buộc đối với cảngười nộp thuế và cơ quan thuthuế
Chỉ bắt buộc khi chủ thể nộp lệ phí,phí thừa hưởng trực tiếp những dịch
vụ do Nhà nước cung cấp
Tên gọi và Mỗi luật thuế đều có mục đích Mục đích của từng loại phí, lệ phí rất
Trang 12mục đích
riêng, tên gọi các sắc thuếthường phản ánh đối tượng tínhthuế
rõ ràng, tên gọi của loại phí, lệ phíphản ánh đầy đủ mục đích sử dụngcủa loại phí, lệ phí đó
Phạm vi áp
dụng
Không có giới hạn, không có sự khác biệt giữa các đối tượng, cácvùng lãnh thổ
Áp dụng hầu hết đối với các cá nhân, tổ chức
Mang tính địa phương, địa bàn rõ rang
Chỉ những cá nhân tổ chức có yêu cầu “Nhà nước” thực hiện một dịch
vụ nào đó
1.4 Phân loại phí và lệ phí
1.4.1 Căn cứ vào đối tượng cung cấp: Chia làm hai loại
Phí, lệ phí của Nhà nước: Là những loại phí, lệ phí do Nhà nước ban hành và tổ
chức quản lý thu nộp trong danh mục phí, lệ phí thuộc Luật Phí và lệ phí
Phí của tư nhân: Là những loại phí thuộc danh mục phí do Nhà nước ban hành,
nhưng tư nhân tổ chức quản lý nhằm bù đắp chi phí và thu lợi nhuận do đầu tư vàolĩnh vực được phép thu phí mà Nhà nước quy định Việc thu phí của tư nhân thì phảinộp thuế như kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thông thường
1.4.2 Căn cứ vào thẩm quyền ban hành: Chia làm hai loại
Phí, lệ phí trung ương: Là phí, lệ phí thuộc danh mục phí, lệ phí do Nhà nước
ban hành nhưng do chính quyền trung ương định đoạt mức thu và tổ chức quản lý thunộp
Phí, lệ phí địa phương: Là phí, lệ phí thuộc danh mục phí, lệ phí do Nhà nước
ban hành nhưng do cơ quan Nhà nước địa phương quản lý thu nộp
1.4.3 Căn cứ vào hình thức thu nộp: Chia là 2 loại
Trang 13Phí, lệ phí nộp 100% cho Ngân sách nhà nước: là phí, lệ phí mà cơ quan thu
không được hưởng trực tiếp số tiền thu được từ phí, lệ phí, kinh phí tổ chức thu nộpđược cấp theo luật ngân sách Nhà nước
Phí, lệ phí để lại một phần cho người quản lý: là phí, lệ phí mà tổ chức, cá nhân
thu được để lại số tiền thu được từ phí, lệ phí để chi tiêu, trang trải chi phí thu nộp,mức để lại tùy thuộc vào dự toán năm về phí, lệ phí thu được và dự toán chi phí cầnthiết cho việc thu phí, lệ phí
1.4.4 Căn cứ vào tính hoàn trả: chia làm 2 loại
Phí, lệ phí có tính chất thuế: là Phí lệ phí không có tính ngang giá, không có tính
chất hoàn trả trực tiếp, số thu được định đoạt không được xác định trên cơ sở chi phí
bỏ ra để cung cấp hàng hóa, dịch vụ thu phí, lệ phí mà dựa trên quan điểm quản lýNhà nước về lĩnh vực thu phí, lệ phí đó, chẳng hạn như lệ phí trước bạ, phí bảo vệ môitrường…
Phí, lệ phí có tình chất bù đắp chi phí: là những loại phí, lệ phí nằm trong danh
mục phí, lệ phí do Nhà nước ban hành, việc đầu tư vào lĩnh vực được phép thu phí, lệphí được thu hồi thông qua cơ chế giá phí, lệ phí Mức thu phí, lệ phí dựa trên lợi íchmang lại cho người sử dụng hàng hóa, người được cung cấp dịch vụ, thời gian dự địnhthu hồi vốn đầu tư
Trang 14CHƯƠNG II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÍ VÀ LỆ PHÍ
2.1 Đối tượng điều chỉnh
Phí và lệ phí trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến những loại phí và lệphí thuộc Ngân sách nhà nước được quy định tại Luật số 97/2015/QH13 Luật vềphí và lệ phí, không bao gồm phí của tư nhân, không điều chỉnh các phí: Phí bảohiểm xã hội, phí bảo hiểm y tế, các loại phí bảo hiểm khác, hội phí, nguyệt liễm,niên liễm thu theo Điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, câu lạc bộ, cước phí vận tải, cước phí bưuchính viễn thông, phí thanh toán, chuyển tiền của các tổ chức tín dụng
2.2 Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quản lý phí và lệ phí
Về thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quản lý phí và lệ phí, được quy định từ Điều 17 đến điều 22 trong luật Phí và lệ phí, bao gồm thẩm quyền và trách nhiệm của những cơ quan sau:
2.2.1 Thẩm quyền của UBTVQH 1
Giữa hai kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các khoản phí, lệ phí theo đề nghị của Chính phủ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất
Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Về quy định này thì được hướng dẫn cụ thể bởi Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14
2.2.2 Thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ 2
Chính phủ phải thống nhất quản lý nhà nước về Phí, lệ phí
Giữa hai kì họp Quốc hội Chính phủ phải trình Ủy ban thường vụ Quốc hộixem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các khoản phí, lệ phí
1 Điều 17, Luật số 97/2015/QH13 Luật phí và lệ phí