1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp Luật Về Hối Phiếu

19 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 329,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo từ điển Luật Black năm 1991 Mỹ : “Hối phiếu là lệnh bằng văn bản của một bên ra lệnh cho bên khác trả một khoản tiền cho bên thứ ba” hay “Hối phiếu là lệnh thanh toán không điều k

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ HỐI PHIẾU

TUẦN 1 (4 tiết)

I KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, PHÂN LOẠI HỐI PHIẾU (2 tiết)

1 Khái niệm và bản chất của Hối phiếu (1 tiết)

Thương mại phát triển kéo theo sự gia tăng nhu cầu về vốn; các thương nhân có thể vay vốn ngân hàng hoặc vay các thương nhân khác thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá trên cơ sở lòng tin giữa các thương nhân, các thương nhân cũng phải sáng tạo ra phương thức thanh toán mới mà không sử dụng cách trả tiền ngay như thông thường

Thương phiếu được biết đến như những văn bản ghi nhận nợ khi các thương gia mua bán chịu hàng hóa thực chất đây là quá trình “chứng chỉ hóa các hợp đồng mua bán chịu giữa các thương nhân”

Vào cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII Hối phiếu được sử dụng phổ biến với tư cách công cụ thanh toán có thể chuyển nhượng Đến khoảng thế kỷ XIV, XV các thương nhân đã sử dụng hối phiếu đòi nợ và hối phiếu dùng thanh toán bù trù giữa các khoản vay và cho vay với nhau trên cơ sở thương phiếu Khi đó, hối phiếu được sử dụng như một công cụ thanh toán trong quan hệ mua bán trả chậm, vừa là công cụ tín dụng Ở Việt Nam, hối phiếu xuất hiện khá muộn, vào thời gian Việt Nam là thuộc địa của Pháp Thời kỳ này, hối phiếu được sử dụng chủ yếu trong quan hệ đối ngoại, thường là được sử dụng để trả nợ nước ngoài

Sau này, ngay cả khi đã giành được độc lập thì hối phiếu không được nhắc đến Bởi vì trong cơ chế cũ, Nhà nước không thừa nhận tín dụng thương mại hay “quan hệ mua bán chịu hàng hóa”, vì nền kinh tế kế hoạch hóa là nền kinh

tế có mục tiêu, kế hoạch cụ thể, tất cả thực hiện theo kế hoạch Thậm chí có người cho rằng tín dụng thương mại là loại quan hệ chiếm dụng vốn lẫn nhau Tuy nhiên, trên thực tế trong quan hệ thương mại và dân sự vẫn có những quan

hệ mua bán chịu nhưng nó thường được ghi nhận bằng các giấy ghi nợ và nếu xảy ra tranh chấp thì sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

* Khái niệm Hối phiếu

Cho đến hiện nay vẫn còn có những quan điểm, cách hiểu khác nhau về nội hàm của khái niệm hối phiếu

Theo cách hiểu thông thường : Hối phiếu là giấy nợ được lập ra trong một quan hệ thương mại giữa các thương

nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân với những người không phải thương nhân

Bộ Luật Thương mại Mỹ năm 1972, hối phiếu là công cụ có thể chuyển nhượng được người lập hoặc người

ký phát- phát hành chứa đựng cam kết hoặc lệnh thanh toán không điều kiện trả một khoản tiền xác định cho người cầm hoặc trả theo lệnh của người này vào thời điểm theo yêu cầu hoặc được xác định tương ứng

Theo Điều 3 Luật Hối phiếu Anh năm 1882, hối phiếu là một lệnh thanh toán bằng văn bản được một người phát hành ký và gửi cho người khác, yêu cầu người này trả khi có yêu cầu hoặc sau một thời gian có thể xác định trong tương lai một khoản tiền nhất định cho một người xác định hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm hối phiếu

- Theo từ điển Tài chính – Ngân hàng của Peter Collin Publishing năm 1994 (Anh): “Hối phiếu là một tài liệu được một người ký phát, yêu cầu người khác trả tiền không điều kiện một khoản tiền cho một người nhất định vào một ngày xác định”

- Theo từ điển Luật của Steven H.Gifis năm 1991 (Mỹ): “Hối phiếu là lệnh trả tiền bằng văn bản của người lập ra lệnh cho một người khác trả một số tiền nhất định cho người có tên” hoặc “Hối phiếu là một loại công cụ có thể chuyển nhượng, trong đó người lập cam kết trả một số tiền xác định tại một thời điểm nhất định”

- Theo từ điển Luật Black năm 1991 (Mỹ ): “Hối phiếu là lệnh bằng văn bản của một bên ra lệnh cho bên khác trả một khoản tiền cho bên thứ ba” hay “Hối phiếu là lệnh thanh toán không điều kiện của một người lập hay người ký phát yêu cầu người khác trả một khoản tiền nhất định theo yêu cầu hoặc vào một thời điểm ấn định hay tại thời điểm có thể xác định trong tương lai”

- Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 1995, “Hối phiếu là phiếu qua đó một người (chủ nợ) yêu cầu một người khác (con nợ) trả một món tiền theo kỳ hạn nhất định cho một người thứ ba”

- Theo Bộ Luật Thương mại Sài Gòn năm 1972, “Thương phiếu (gồm hối phiếu, lệnh phiếu, chi phiếu ) là một thứ phiếu có thể chuyển dịch được, dùng để xác nhận cho người cầm phiếu một trái quyền ngắn hạn”

- Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997, thương phiếu (gồm hối phiếu và lệnh phiếu) được hiểu là chứng từ ghi nhận sự thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định

- Theo Pháp lệnh Thương phiếu năm 1999: “Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định Thương phiếu bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu”

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì hối phiếu bao gồm hai loại là hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ, trong đó:

+ Hối phiếu đòi nợ: là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều

kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng

+ Hối phiếu nhận nợ: là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền

xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng

Nhìn một cách khái quát ta có thể thấy nội hàm chung của các khái niệm trên có những nét tương đồng sau:

Trang 2

Một là, hối phiếu là một chứng chỉ có giá, phương tiện thanh toán;

Hai là, hối phiếu ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác

định;

Ba là, thời hạn thanh toán của hối phiếu là khi có yêu cầu hoặc sau một thời hạn có thể xác định trong tương

lai

Về bản chất, Hối phiếu là một hành vi pháp lý đơn phương - để ràng buộc nghĩa vụ của mình đối với việc thanh

toán hối phiếu Tuy nhiên, chỉ khi hành vi pháp lý đơn phương ấy được thực hiện dưới hình thức và nội dung theo luật định thì nó mới ràng buộc nghĩa vụ thanh toán hối phiếu của chủ thể đó Hành vi pháp lý đơn phương bao gồm: Hành

vi ký phát hành, ký chấp nhận, ký bảo lãnh và ký chuyển nhượng hối phiếu của người ký phát hành, người bị ký phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng

- Điều kiện để được thừa nhận là một Hối phiếu:

+ Điều kiện về hình thức của Hối phiếu:

a Phải được lập bằng văn bản;

b Phải có cụm từ “Hối phiếu” trong văn tự diễn giải Hối phiếu đó;

c Phải có sự đồng nhất về ngôn ngữ giữa danh từ “Hối phiếu” với nội dung văn tự của Hối phiếu;

+ Điều kiện về nội dung của Hối phiếu:

a Phải ghi rõ một lệnh trả tiền hoặc cam kết trả tiền “vô điều kiện”;

b Phải ghi rõ số tiền được thanh toán cho người thụ hưởng, kể cả khoản lãi, nếu có (số tiền này phải được ghi

cả bằng chữ và bằng số) Đối với trường hợp Hối phiếu không ghi rõ thời hạn trả tiền thì khả năng phát sinh khoản lãi được ghi vào Hối phiếu như một điều khoản sinh lời

c Phải ghi rõ tên người thụ lệnh (người phải trả tiền) và địa chỉ cùng nơi cư ngụ của người đó

d Phải ghi rõ tên người thụ hưởng và địa chỉ nơi cư ngụ của người đó

e Phải ghi rõ tên, họ người phát lệnh và địa chỉ cư ngụ của người đó

f Phải ghi rõ thời hạn trả tiền;

g Phải ghi rõ địa điểm trả tiền;

h Phải ghi rõ ngày, tháng, năm và nơi lập Hối phiếu

i Phải có chữ ký tay trực tiếp của người lập Hối phiếu

- Hậu quả pháp lý của Hối phiếu không hội đủ các điều kiện nêu trên:

Hối phiếu bị vô hiệu trừ 3 trường hợp sau đây:

a Nếu không ghi thời hạn trả tiền thì được coi là trả tiền khi xuất trình

b Nếu không ghi địa điểm trả tiền thì được coi là trả tiền tại địa chỉ của người bị ký phát

c Nếu không ghi địa điểm lập hối phiếu thì được coi là lập tại địa chỉ của người, lập Hối phiếu (người ký phát, người phát hành)

2 Các đặc trưng của Hối phiếu (0,5 tiết)

Một là, Hối phiếu được nhìn nhận là trái vụ của một bên, do hối phiếu được hiểu là một lệnh trả tiền hoặc cam kết trả tiền vô điều kiện của người phát lệnh (người ký phát, người phát hành) cho người thụ hưởng Khi đó câu hỏi được đặt ra là: tính chất vô điều kiện của việc trả tiền được thiết lập đối với ai và thiết lập từ khi nào:

Đối với người ký phát : kể từ khi lập hối phiếu

Đối với người bị ký phát : kể từ khi chấp nhận hối phiếu

Đối với bảo lãnh : kể từ khi ký bảo lãnh

Đối với chuyển nhượng : kể từ khi hối phiếu được chuyển nhượng hợp lệ

Hai là, hối phiếu có tình trừu tượng Xuất phát từ hình thức và nội dung của hối phiếu, ta thấy trên hối phiếu chỉ

ghi số tiền phải trả hoặc cam kết trả mà không ghi nguyên nhân Trong lưu thông giá trị của hối phiếu không bị ràng buộc vào nguyên nhân phát sinh ra nó Điều đó có nghĩa là khi một hối phiếu được phát hành và chuyển giao cho người khác thì nó trở thành một chứng thư độc lập và được phép lưu thông mà không phụ thuộc vào việc có tồn tại hay không một giao dịch cơ sở, miễn là trong thời hạn còn hiệu lực

Ba là, Hối phiếu có tính lưu thông (là một công cụ có thể được chuyển nhượng) trong thời hạn hối phiếu có hiệu

lực, hối phiếu được mua bán trong giao lưu thương mại giữa các thương nhân hoặc giữa thương nhân với một ngân hàng

Bốn là , hối phiếu là một công cụ thanh toán Ngoài ra, hối phiếu còn là một loại công cụ tín dụng nó được sử

dụng rộng rãi trong thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Các thương nhân sử dụng hối phiếu thay cho tiền mặt

vì nhiều mục đích khác, có thể là trong quan hệ mua bán trả chậm có bảo đảm, có thể là nhằm tạo sự thuận lợi cho các bên trong quan hệ kinh doanh mà khi sử dụng tiền mặt để thanh toán sẽ không đạt được, vì hối phiếu có thể đem ra mua bán, trao đổi hay đem chiết khấu tại ngân hàng, hay lưu thông trong dân sự Chính đặc điểm này đã giúp hối phiếu ngày càng được sử dụng rộng rãi

Năm là, hối phiếu có thời hạn thanh toán ngắn, thường thì không quá ba tháng Việc quy định này trước hết là

nhằm đảm bảo quyền lợi cho người thụ hưởng, thời gian càng dài, rủi ro càng lớn, bởi vậy quy định một thời hạn thanh toán ngắn tạo nên một tâm lý an tâm cho thương nhân khi sử dụng và cầm giữ hối phiếu

2

Trang 3

Mặt khác, việc quy định một thời hạn thanh toán ngắn còn thúc đẩy sự lưu thông hối phiếu, qua đó việc sử dụng hối phiếu trở nên thông dụng hơn Thời hạn thanh toán ngắn giúp người cho người ký phát có thể chuyển nhượng hối phiếu với khả năng thanh khoản cao Ngoài ra, nó còn tác động đến kỹ năng thoả mãn yêu cầu của khách hàng (thỏa mãn yêu cầu về vốn và hàng hóa)

Phân biệt hối phiếu và séc:

Hối phiếu và séc đều là những phương tiện thanh toán chứa đựng lệnh yêu cầu thanh toán và là công cụ độc lập với quan hệ gốc, tuy nhiên hối phiếu và séc được phân biệt với nhau ở một số điểm sau:

- Đối với séc thì người bị ký phát và yêu cầu thanh toán luôn luôn được gửi cho ngân hàng, còn đối với hối phiếu thì người bị ký phát có thể là ngân hàng hoặc không

- Về cơ sở phát hành, việc phát hành và thanh toán séc luôn dựa trên cơ sở tài khoản tiền gửi của người phát hành séc tại ngân hàng, trong khi đó việc phát hành và lưu thông, sử dụng hối phiếu lại dựa trên hoạt động thương mại giữa các thương nhân là chủ yếu

- Trong quan hệ phát hành và thanh toán séc không đặt ra việc ngân hàng ký chấp nhận séc Ngân hàng có thể thanh toán hoặc từ chối thanh toán Nói cách khác ngân hàng với tư cách là người bị ký phát không bị ràng buộc nghĩa

vụ thanh toán tờ séc Còn đối với hối phiếu thì việc ký chấp nhận hối phiếu của người bị ký phát được xem như một cách tăng thêm độ an toàn cho khả năng thanh toán của hối phiếu

- Về thời hạn thanh toán, nếu như thời hạn thanh toán tối đa của một hối phiếu có thể lên tới ba tháng thì thời hạn thanh toán của séc là rất ngắn, thông thường chỉ khoảng 15 đến 30 ngày Vì lý do này mà séc thường chỉ được coi là công cụ thanh toán chứ không được biết đến với tư cách là công cụ tín dụng như hối phiếu

3 Phân loại Hối phiếu (0,5 tiết).

Hiện nay có rất nhiều tiêu chí phân loại hối phiếu, tuy nhiên người ta thường căn cứ vào một số tiêu chí sau :

- Căn cứ vào người tạo lập hối phiếu, hối phiếu bao gồm: hối phiếu đòi nợ do người ký phát lập và hối phiếu

nhận nợ do người phát hành lập

Hối phiếu đòi nợ là chứng chỉ có giá do người ký phát lập yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng hoặc trả theo lệnh của người này hay trả cho người cầm hối phiếu Trên cơ sở sự ràng buộc trách nhiệm của người bị ký phát thì hối phiếu đòi nợ bao gồm hai loại là:

+ Hối phiếu chưa được ký chấp nhận, trong trường hợp này người bị ký phát chưa bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán hối phiếu;

+ Hối phiều đã được người bị ký phát ký chấp nhận trong đó người bị ký phát trở thành người chấp nhận, ràng buộc mình với nghĩa vụ thanh tóan khi hối phiếu đó đáo hạn

Hối phiếu nhận nợ là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho người cầm hối phiếu Thông qua việc phát hành hối phiếu, người phát hành thừa nhận khoản

nợ của mình đồng thời cam kết thanh toán khi hối phiếu đến hạn thanh toán

- Căn cứ vào thời hạn trả, hối phiếu bao gồm: hối phiếu được thanh toán sau một thời hạn nhất định, hối phiếu

được thanh toán sau khi được chấp nhận và hối phiếu được thanh toán ngay sau khi xuất trình;

Hối phiếu được thanh toán sau một thời hạn nhất định là các hối phiếu mà trên đó ghi rõ hối phiếu sẽ được thanh tóan vào một ngày xác định hay sau một thời hạn nhất định, thông thường người phát hành có thể quy định thời hạn thanh toán theo một trong số các cách sau: “hối phiếu sẽ được thanh tóan vào ngày” hay “ hối phiếu được thanh toán sau 30 ngày kể từ ngày phát hành” hay “hối phiếu được thanh tóan sau 20 ngày kể từ ngày được chấp nhận”

- Căn cứ vào việc thanh toán có kèm chứng từ thương mại hay không, hối phiếu gồm;

Hối phiếu thanh toán có kèm bộ chứng từ và hối phiếu thanh toán không kèm bộ chứng từ; hình thức này được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế Trong đó hối phiếu thanh toán có kèm bộ chứng từ có phần nào giống với hình thức thanh toán bằng cách mở thư tín dụng L/C Vì kèm theo hối phiếu, nguời thụ hưởng, người cầm giữ phải có đầy đủ bộ chứng từ chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ của mình, sau đó hối phiếu mới được thanh toán

- Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng, hối phiếu bao gồm: hối phiếu có thể chuyển nhượng và hối phiếu

không thể chuyển nhượng Hối phiếu có thể chuyển nhượng là các hối phiếu mà trong đó không có các cụm từ như

“cấm chuyển nhượng” hoặc “không được chuyển nhượng” hay các cụm từ có ý nghĩa tương đương

- Căn cứ vào phạm vi sử dụng, hối phiếu bao gồm: hối phiếu nội địa và hối phiếu quốc tế

Hối phiếu nội địa là hối phiếu được phát hành và thanh toán trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hoặc được ký phát tại một quốc gia để đòi tiền một người khác trong cùng lãnh thổ quốc gia đó thì được coi là hối phiếu nội địa (hối phiếu trong nước)

Hối phiếu quốc tế là hối phiếu được phát hành và thanh toán tại hai quốc gia khác nhau hoặc được phát hành

để đòi tiền một người khác ở nước ngoài Việc xác định hối phiếu là hối phiếu nội địa hay hối phiếu quốc tế có ý nghĩa to lớn trong việc xác định luật điều chỉnh quan hệ pháp luật hối phiếu

- Căn cứ vào cơ sở hình thành: hối phiếu bao gồm: hối phiếu thực và hối phiếu khống Thực chất hiện nay

trong pháp luât các nước hầu hết không còn đề cập đến tiêu chí phân biệt này Tuy nhiên, trong một số học thuyết thì

Trang 4

đây là một căn cứ để phân biệt hối phiếu Theo đó, nếu trên cơ sở một giao dịch có thực xảy ra trước đó làm phát sinh quan hệ hối phiếu thì hối phiếu đó được coi là hối phiếu thực Mặt khác nếu hối phiếu không dựa trên một giao dịch

có thực theo quy định của pháp luật thì sẽ bị coi là hối phiếu khống

4 Vai trò của Hối phiếu

- Đối với các bên tham gia quan hệ thương mại:

+) Hối phiếu với vai trò là công cụ thanh toán sẽ giúp cho người bán, bán được hàng (chủ nợ) có ngay được tài sản tài chính (“công cụ nợ”có thể lưu thông hoặc dùng vật cầm cố bảo đảm cho nghĩa vụ trong các giao dịch khác) người sở hữu nó có thể thanh khoản dễ dàng

Hối phiếu còn tạo cơ hội cho người muốn mua hàng có thể thỏa mãn nhu cầu của mình ngay cả khi không có tiền thanh toán ngay

Hối phiếu còn đảm bảo quyền lợi cho người thụ hưởng (tính bất khả kháng, khả năng truy đòi, trách nhiệm liên đới của người có liên quan đến việc thanh toán tiền trên hối phiếu

Hối phiếu với tư cách là công cụ tín dụng giúp các thương nhân có thể huy động được thêm vốn kinh doanh với

ưu thế riêng, vì thời hạn linh hoạt, điều kiện và thủ tục đơn giản;

Đối với ngân hàng, hối phiếu giúp các ngân hàng có mở rộng hơn phạm vi, đối tượng cấp tín dụng thông qua hình thức chiết khấu hoặc cho vay cầm cố hối phiếu Việc cấp tín dụng của các TCTD dựa trên cơ sở có hối phiếu thì mức độ an toàn trong việc cấp tín dụng cũng được bảo đảm hơn Ngoài ra, việc sử dụng hối phiếu giúp ngân hàng đòi

nợ dễ dàng hơn đối với những món nợ đã cho vay (ngân hàng là người ký phát)

Việc sử dụng hối phiếu giúp ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ được dễ dàng hơn Bởi vì có hối phiếu NHTW thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn ngắn hạn (dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu hoặc cho vay cầm cố hối phiếu); nghiệp vụ thị trường mở thuận tiện hơn trong thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của mình Hối phiếu có vai trò thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội,

Do hối phiếu được hình thành chủ yếu trong quan hệ mua bán chịu hàng hóa nên thúc đẩy quan hệ thương mại phát triển –lưu thông hàng hoá đẩy nhanh kích thích sản xuất kinh doanh làm lành mạnh hoá quan hệ thanh toán trong nền kinh tế

Việc sử dụng hối phiếu sẽ làm giảm áp lực về vốn đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế đồng thời giúp các doanh nghiệp có thể bổ sung nguồn vốn thực của mình khi có nhu cầu làm tăng cơ hội kinh doanh cho các thương nhân, vì cơ hội mua hàng không chỉ thuộc về các thương nhân có tiền mà cơ hội được san sẻ cho cả các thương nhân tạm thời không có khả năng thanh toán ngay tiền hàng

Việc sử dụng hối phiếu còn góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm và độ tin tưởng lẫn nhau giữa các thương nhân Ưu điểm này được thể hiện rõ nét trong quá trình phát hành và thanh toán hối phiếu có kèm bộ chứng

từ Theo đó, người thụ hưởng hay người cầm giữ muốn được thanh toán thì phải đảm bảo đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên thì việc sử dụng hối phiếu cũng chứa đựng nhiều rủi ro, cụ thể như:

Một là, do hối phiếu có tính độc lập tương đối đối với các giao dịch cơ sở nên dễ tạo khe hở cho những hối

phiếu khống Đây là việc phát hành hối phiếu không trên cơ sở quan hệ mua bán hàng hóa giữa các thương nhân mà các bên thỏa thuận phát hành hối phiếu nhằm mục đích đem chiết khấu tại ngân hàng để lấy tiền

Hai là, đối với những hối phiếu không có bảo lãnh hay khả năng tài chính của người có nghĩa vụ thanh toán

không rõ ràng cũng có thể đem đến những rủi ro trong thanh toán đối với người nhận chuyển nhượng, người thụ hưởng hối phiếu

1.1 Khái quát chung pháp luật về hối phiếu.

Cùng với sự phát triển của các quan hệ thương mại, trước nhu cầu thực tiễn của việc sử dụng hối phiếu ngày càng rộng rãi, đòi hỏi cần có những quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh chứ không đơn thuần là

áp dụng các tập quán thương mại

Các quy định về hối phiếu đầu tiên ở Đức với Pháp lệnh Humburg năm 1603 được xây dựng trên cơ sở các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng hối phiếu Pháp lệnh chung về hối phiếu năm 1874; Anh với Luật hối phiếu năm 1882 Công ước Giơ-ne-vơ về hối phiếu năm 1930 đã dẫn đến việc hàng loạt các nước lần lượt ban hành luật hối phiếu của quốc gia mình

Sự cần thiết phải có pháp luật về hối phiếu ở nước ta.

Trước năm 1986, do yếu tố lịch sử chi phối tín dụng thương mại chưa phát triển và nếu có thì cũng bị coi là bất hợp pháp Bởi vậy, hối phiếu chưa được sử dụng trong thời gian này Sau năm 1986, các doanh nghiệp sử dụng hối phiếu qua hai kênh là hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động vay nợ nước ngoài Tất cả các giao dịch này đều được thực hiện theo thông lệ quốc tế, còn trong thanh toán nội địa, các doanh nghiệp chưa sử dụng hối phiếu như một công cụ thanh toán Nguyên nhân do nước ta chưa ban hành pháp luật về hối phiếu, nên không cơ sở pháp lý tồn tại của quan hệ thanh toán bằng hối phiếu

Trong thời gian gần đây, khi thương mại hàng hóa ngày càng được mở rộng, số lượng hàng hóa cung cấp ngày càng nhiều, trong khi đó số thương nhân có nhu cầu mua ngày càng ít; không ít thương nhân phải chấp nhận việc trả chậm, trả gối đầu để có thể bán được hàng Việc sử dụng hối phiếu trong thanh toán đã phần nào đảm bảo được quyền lợi cho các thương nhân bán hàng trả chậm Đi đôi với việc sử dụng hối phiếu, cần thiết phải có một cơ sở pháp

4

Trang 5

lý vững chắc để nâng cao độ an toàn cho hối phiếu bởi vậy nhà nước phải ban hành đầy đủ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về hối phiếu

Mặt khác, nền kinh tế nước ta đang từng bước vận hành theo cơ chế thị trường, do đó việc ban hành các quy định pháp luật về hối phiếu là một trong những đòi hỏi khách quan để có được một hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế thị trường

Ngoài ra, việc có một hệ thống quy phạm pháp luật về hối phiếu còn là cơ sở để tạo nên một môi trường công bằng cho tất cả các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật về hối phiếu Trong hoàn cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh việc đưa hối phiếu vào nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ thanh toán, công cụ tín dụng hối phiếu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Vì vậy, xây dựng hoàn thiện pháp luật về hối phiếu còn góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam với nền kinh tế thế giới

Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hối phiếu ở VN chưa nhiều;

Trước đây ở Miền nam Việt Nam pháp luật về hối phiếu được quy định trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn

1973, (chương VII: Những thương phiếu) Sau khi đất nước thống nhất do yếu tố lịch sử và quan niệm ý thức hệ - xây nền kinh tế XHCN theo cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung chi phối, nên tín dụng thương mại không được thừa nhận, hối phiếu chưa được sử dụng trong thời gian này

khi có đường lối đổi mới hối phiếu đã được đề cập đến trong một văn bản pháp luật ở nước ta như trong Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng Hợp tác tín dụng và công ty tài chính ngày 24/05/1990;

- Năm 1997 Luật Thương mại ban hành trong đó có dành chương III quy định về thương phiếu với 3 điều Trong Luật ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 có đề cập đến việc chiết khấu, tái chiết khấu các thương phiếu

Sau đó, ngày 24 tháng 12 năm 1999 Pháp lệnh Thương phiếu được ban hành Trên cơ sở pháp lệnh đó Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2001/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh Thương phiếu;

Luật các công cụ chuyển nhượng được Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 để thay thế cho Pháp lệnh thương phiếu ngày 24 tháng 12 năm 1999 và các văn bản quy phạm pháp luật khác về thương phiếu Trên cơ sở luật công cụ chuyển nhượng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành gồm:

-Quyết định số 44/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 05 tháng 09 năm 2006 ban hành quy định về thủ tục nhờ thu hối phiếu qua người thu hộ

-Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 29 tháng 12 năm 2006 ban hành quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Với sự ra đời của Luật công cụ chuyển nhượng, đây được xem là một bước tiến lớn tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho các quan hệ pháp luật về hối phiếu phát triển, đồng thời cũng tạo ra sự tương thích của pháp luật hối phiếu ở Việt nam với luật pháp và thông lệ quốc tế

Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của pháp luật về hối phiếu

Như vậy, pháp luật về hối phiếu là tổng hợp các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện, giải quyết tranh chấp phát sinh và các quan hệ về thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về hối phiếu

* Những đặc trưng cơ bản trong pháp luật về hối phiếu

Trước hết, pháp luật về hối phiếu là một bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện về hối phiếu Có thể nói pháp luật về hối phiếu có đối tượng và phạm vi điều chỉnh khá rộng, các quan hệ được pháp luật hối phiếu điều chỉnh bao gồm:

-Quan hệ phát hành hối phiếu, là việc lập và ký trên hối phiếu của người ký phát hành rồi chuyển giao cho

người thụ hưởng để thực hiện nghĩa vụ của mình

- Quan hệ chấp nhận hối phiếu, quan hệ này chỉ xuất hiện trong hối phiếu nhận nợ Đây thực chất là quan hệ

giữa người ký phát và người bị ký phát Theo đó người ký phát yêu cầu người bị ký phát chấp nhận thanh toán khi hối phiếu được xuất trình Bằng việc chấp nhận người bị ký phát đồng ý thanh tóan hối phiếu khi đến hạn

- Quan hệ bảo lãnh hối phiếu, là quan hệ giữa người bảo lãnh, người được bảo lãnh, và người thụ hưởng về

vấn đề đảm bảo khả năng thanh toán của hối phiếu

- Quan hệ chuyển nhượng hối phiếu là quan hệ phát sinh giữa người chuyển nhượng và người nhận chuyển

nhượng Người chuyển nhượng phải là người sở hữu hối phiếu chuyển giao cho người được chuyển nhượng để đổi lâý tiền hay để thực hiện một nghĩa vụ nào đó đối với người được chuyển nhượng

- Quan hệ cầm cố hối phiếu, là quan hệ phát sinh khi người thụ hưởng chuyển giao hối phiếu cho chủ thể

khác để bảo đảm cho một nghĩa vụ của mình trên cơ sở sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên

- Quan hệ nhờ thu hối phiếu, là quan hệ chuyển giao hối phiếu từ người thụ hưởng cho người thu hộ (thường

là tổ chức tín dụng) để nhờ thu số tiền ghi trên hối phiếu thông qua văn bản uỷ quyền về việc thu hộ

- Quan hệ thanh toán hối phiếu, lµ việc người bị ký phát hoặc người phát hành hối phiếu thực hiện việc trả số

tiền ghi trên hối phiếu cho người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn thanh toán tại địa điểm thanh toán được ghi trên hối phiếu

Trang 6

- Quan hệ truy đòi hối phiếu, là quan hệ giữa người thụ hưởng với những người chịu trách nhiệm liên đới

trong việc thanh toán hối phiếu khi hối phiếu đến hạn mà không được thanh toán hoặc người bị ký phát không chấp nhận

- Quan hệ khởi kiện hối phiếu, là quan hệ giữa những người có trách nhiệm liên đới đối với hối phiếu trong việc

người thụ hưởng yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo về quyền lợi theo hối phiếu của mình

Thứ hai, cơ cấu chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hối phiếu khá đa dạng với nhiều nhiều loại chủ thể khác nhau, có thể khái quát về chủ thể chủ yếu tham gia quan hệ hối phiếu bao gồm:

Người phát hành: trong quan hệ hối phiếu đòi nợ thì người phát hành có thể là người bán hàng lập hối phiếu

để hòi nợ người mua hoặc cũng có thể là người mua lập hối phiếu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình thanh toán tiền cho người bán Còn trong quan hệ hối phiếu nhận nợ thì người phát hành là người mua hàng và ký phát hối phiếu một mặt thừa nhận khoản nợ đồng thời cam kết thanh toán khỏan nợ đó tại một thời điểm xác định

Người bị ký phát: là người bị người ký phát yêu cầu trả tiền theo hối phiếu cho người thụ hưởng Nghĩa vụ

của người bị ký phát chỉ được xác lập khi người bị ký phát chấp nhận hối phiếu, thông thường thì người bị ký phát là người nhận ủy thác thanh toán thay cho người có nghĩa vụ hoặc có sự chuyển giao nghĩa vụ để thực hiện một nghĩa vụ

bù trù nào đó Để hiểu rõ quan hệ này ta xem xét ví dụ sau:

Ví dụ1:

Doanh nghiệp A bán hàng cho doanh nghiệp B, doanh nghiệp B có tài khoản tại một ngân hàng C Khi mua hàng, doanh nghiệp B không trả tiền mặt cho doanh nghiệp A mà sẽ lập một hối phiếu yêu cầu ngân hàng C là ngân hàng phục vụ mình sẽ thay mặt doanh nghiệp B tiến hành việc thanh toán cho doanh nghiệp A theo thời hạn ghi trên hối phiếu Nói cách khác ngân hàng đã nhận ủy thác của doanh nghiệp A để thanh tóan cho doanh nghiệp B

Ví dụ 2:

Doanh nghiệp A nợ doanh nghiệp B một khoản tiền là 300 triệu, doanh nghiệp B mua hàng của doanh nghiệp

C một lượng hàng hóa trị giá 300 triệu, khi đó doanh nghiệp B thay vì tự mình trả 300 triệu có thể lập một hối phiếu yêu cầu doanh nghiệp A trả tiền cho doanh nghiệp C tại một thời điểm xác định và khi doanh nghiệp A thực hiện nghĩa vụ thay doanh nghiệp B thì tức là đã có một sự thanh toán bù trừ về nghĩa vụ

Người thụ hưởng: là người hưởng lợi từ hối phiếu, việc nắm giữ hối phiếu một cách hợp pháp là cơ sở quan

trọng để đảm bảo quyền hưởng lợi của người thụ hưởng Người thụ hưởng là người được người ký phát ghi tên trên hối phiếu hoặc là những người được chuyển nhượng hối phiếu theo các trường hợp mà pháp luật cho phép

Người bảo lãnh: là người tham gia quan hệ bảo lãnh hối phiếu thông qua hành vi ký bảo lãnh hối phiếu, có

nhiều hình thức bảo lãnh hối phiếu như bảo lãnh cho người phát hành, bảo lãnh cho người chuyển nhượng…với các phạm vi bảo lãnh khác nhau như bảo lãnh toàn bộ giá trị hối phiếu hay bảo lãnh một phần giá trị hối phiếu…Người bảo lãnh ràng buộc trách nhiệm thanh toán với phần giá trị hối phiếu mà mình bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật

Người chuyển nhượng là người thụ hưởng chuyển nhượng hối phiếu của mình cho người khác để đổi lấy tiền

hoặc để thanh toán nghĩa vụ trả tiền của mình đối với người được chuyển nhượng

Một vấn đề cần được đề cập khi nhắc tới các chủ thể tham gia quan hệ hối phiếu đó là năng lực chủ thể Hiện nay ở các nước có các quy định rất khá nhau về vấn đề này, một số nước thì quy định chủ thể của quan hệ trên phải là thương nhân, một số nước khác thì chỉ yêu cầu chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi Sở dĩ có sự khác biệt này là do cách nhìn nhận nguyên nhân phát hành và sự lưu thông của hối phiếu là chỉ thuộc lĩnh vực thương mại hay thuộc cả lĩnh vực thương mại và dân sự Theo quy định của pháp luật VN, Luật Thương mại nêu rõ “ thương nhân là cá nhân có đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; pháp nhân; tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện kinh doanh thương mại được cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” Theo đó, chủ thể phát hành hối phiếu có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình Trong phạm vi khóa luận này, tác giả xin phép được sử dụng từ “người” hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các chủ thể trên

Thứ ba, về căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp lụât hối phiếu: xuất phát từ đặc điểm của hối

phiếu ta thấy căn cứ phát sinh quan hệ hối phiếu là hành vi pháp lý đơn phương, cam kết ràng buộc nghĩa vụ với mình đối với việc thanh toán hối phiếu Tuy nhiên, chỉ khi hành vi pháp lý đơn phương ấy được thực hiện dưới hình thức và nội dung theo luật định thì nó mới trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hối phiếu Theo quy định của pháp luật về hối phiếu thì căn cứ phát sinh quan hệ hối phiếu chính là hành vi ký phát hành, ký chấp nhận, ký bảo lãnh và

ký chuyển nhượng hối phiếu của người ký phát hành, người bị ký phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng Cụ thể

là, việc ký phát hành hối phiếu của người phát hành chỉ làm phát sinh trách nhiệm của người ký phát hành hối phiếu khi việc phát hành hối phiếu tuân thủ các quy định về hình thức như các yếu tố bắt buộc phải có như về họ tên, địa chỉ của người ký phát, số tiền phải trả…Ngoài ra nó phải được phát hành trên cơ sở giao dịch được phép phát hành hối phiếu và chủ thể phát hành có đủ năng lực chủ thể Tương tự như vậy đối với các hành vi còn lại

Quan hệ hối phiếu chấm dứt khi người có nghĩa vụ thanh toán thực hiện đầy đủ việc thanh toán, khi người chấp nhận trở thành người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ hoặc người phát hành trở thành người thụ hưởng đối với hối phiếu nhận nợ, người thụ hưởng hủy bỏ hối phiếu

Thứ tư, Về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hối phiếu: các chủ thể tham gia quan hệ hối

phiếu vào các giai đoạn khác nhau, do đó mỗi chủ thể cũng có những quyền và nghĩa vụ không giống nhau, tùy thuộc

6

Trang 7

vào quan hệ cụ thể pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ riêng cho từng chủ thể trong quan hệ hối phiếu đó Chẳng hạn:

Đối với người thụ hưởng, người thụ hưởng có quyền yêu cầu các bên có nghĩa vụ liên quan tới hối phiếu thanh toán hối phiếu khi đến hạn; chuyển nhượng hối phiếu; khởi kiện các đối tượng có liên quan khi quyền lợi của mình bị xâm phạm Bên cạnh đó, người thụ hưởng có nghĩa vụ xuất trình hối phiếu cho người bị ký phát để chấp nhận khi việc xuất trình để chấp nhận là bắt buộc nhằm xác định thời hạn thanh toán của hối phiếu; xuất trình hối phiếu khi hối phiếu được quy định phải được xuất trình

Đối với người ký phát hối phiếu đòi nợ: bằng việc ký phát hành hối phiếu đòi nợ, người ký phát cam kết hối phiếu sẽ được người bị ký phát chấp nhận và thanh toán đầy đủ khi hối phiếu được xuất trình đúng hạn và theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định

Đối với người phát hành hối phiếu nhận nợ: bằng việc ký phát hành và chuyển giao hối phiếu cho người thụ hưởng, người phát hành cam kết thanh toán hối phiếu cho người thụ hưởng theo đúng nội dung của hối phiếu

Đối với người chấp nhận hối phiếu đòi nợ: với tư cách là người chấp nhận, người chấp nhận có nghĩa vụ chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ mà đã cam kết thực hiện khi hối phiếu đến hạn thanh toán

Đối với người chuyển nhượng: cần phân biệt hai trường hợp chuyển nhượng là chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng và chuyển nhượng bằng chuyển giao Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng là việc người chuyển nhượng có nghĩa vụ cam kết hối phiếu sẽ được chấp nhận thanh toán phù hợp với nội dung của hối phiếu khi được xuất trình Nếu việc chuyển nhượng không đúng theo các quy định của pháp luật mà gây thiệt hại cho người nhận chuyển nhượng thì người chuyển nhượng phải bồi thường Chuyển nhượng bằng chuyển giao là trường hợp hối phiếu thuộc loại được thanh toán cho người cầm giữ hối phiếu Trong trường hợp này nghĩa vụ của người chuyển nhượng không bị ràng buộc nặng nề như trường hợp chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng

Người bảo lãnh: người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình (thanh toán hối phiếu) có quyền yêu cầu người được bảo lãnh, người có nghĩa vụ ghi trên hối phiếu hoàn trả số tiền mà người bảo lãnh đã thanh toán thay cho người có nghĩa vụ Cơ sở của quyền này là khi người bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ thay người có nghĩa vụ thì sẽ trở thành người thế quyền và có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình

Thứ năm, nguồn pháp luật điều chỉnh các quan hệ hối phiếu bao gồm cả nguồn luật quốc gia và nguồn luật quốc tế Tuỳ từng loại hối phiếu và từng hợp cụ thể có thể xác định nguồn luật nào sẽ điều chỉnh

1.2.4 Cấu trúc pháp luật về hối phiếu

Pháp luật điều chỉnh quan hệ hối phiếu được ban hành dưới nhiều hình thức văn bản khác nhau; một số quốc gia thì các quy định về hối phiếu được bó gọn trong một chương của Bộ Luật Thương mại như : Chương về thương phiếu trong Bộ Luật Thương mại Mỹ hay chương X trong Bộ Luật Thương mại Sài Gòn Tuy nhiên, ở một số nước khác thì lại lựa chọn cách thức ban hành một đạo luật riêng vê hối phiếu như Luật Hối phiếu của Anh năm 1882, Luật Hối phiếu của Đức năm 1933; và Việt Nam hiện nay cũng nằm trong số nhóm các nước này Pháp luật về hối phiếu bao gồm nhiều nội dung, tùy thuộc vào các tiêu chí mà ta có thể phân chia pháp luật về hối phiếu thành nhiều bộ phận khác nhau:

* Nếu căn cứ vào quan hệ mà pháp luật hối phiếu điều chỉnh thì pháp luật về hối phiếu chia thành các bộ phận pháp luật sau:

- Bộ phận pháp luật quy định chung về hối phiếu như: cơ sở phát hành hối phiếu, mối quan hệ giữa hối phiếu

và giao dịch cơ sở để phát hành hối phiếu, các quy định về hình thức và nội dung của hối phiếu, các trường hợp vô hiệu của hối phiếu, nguyên tắc áp dụng Luật đối với mỗi loại hối phiếu, cách thức xử lý đối với các trường hợp hối phiếu bị hư hỏng hoặc bị mất, các hành vi bị cấm …

- Bộ phận pháp luật quy định cụ thể về các quan hệ phát sinh liên quan đến hối phiếu như: phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện …

- Bộ phận pháp luật quy định về quản lý nhà nước đối với hối phiếu như trách nhiệm thanh tra xử lý các vi phạm pháp luật về hối phiếu của các cơ quan nhà nước

* Nếu căn cứ vào nội dung các quy phạm pháp luật thì pháp luật hối phiếu chia ra thành các bộ phận pháp luật sau:

- Bộ phận pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ pháp luật về hối phiếu;

- Bộ phận pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thực hiện họat động trong các quan hệ về hối phiếu

* Nếu căn cứ vào nguồn hình thành các quy phạm pháp luật về hối phiếu thì pháp luật về hối phiếu chia thành các bộ phận sau:

- Pháp luật quốc gia, bao gồm: các QPPL trong các văn bản pháp luật chuyên biệt và các QPPL trong các văn bản pháp luật khác có để cập đến hối phiếu;

- Pháp luật quốc tế, bao gồm các điều ước quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế, điển hình như Công ước Giơnevơ 1930 về thương phiếu

Về cơ bản thì pháp luật về hối phiếu của các nước không có nhiều sự khác biệt, chủ yếu là khác biệt về thời hạn và thủ tục truy đòi; ở một số nước thì có thêm một số quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn cho khả năng thanh toán của hối phiếu như: yêu cầu về tài sản bảo đảm, yêu cầu về sự tín nhiệm của chủ thế lập hối phiếu…

II CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HỐI PHIẾU (1 tiết)

Trang 8

1 Luật trong nước: Luật công cụ chuyển nhượng, Quyết định về Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng 2 Luật quốc tế: Luật Hối phiếu năm 1930 của Liên minh châu Âu, Hiệp ước về Hối phiếu đòi nợ và

Hối phiếu nhận nợ quốc tế của UNCITRAL năm 1988

3 Sự tương đồng và khác biệt của các hệ thống pháp lý về Hối phiếu

- Sự tương đồng.- Sự khác biệt

4 Các nguyên tắc áp dụng pháp luật về Hối phiếu- Nguyên tắc 1:- Nguyên tắc 2:- Nguyên tắc 3:

III NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ HỐI PHIẾU - TUẦN 2 (4 TIẾT)

1 Phát hành Hối phiếu (1 tiết)

1.1 K/N: Phát hành là việc người ký phát hoặc người phát hành lập, ký và chuyển giao hối phiếu lần đầu cho người

thụ hưởng.

*Giao dịch cơ sở phát hành hối phiếu 1

Người ký phát, người phát hành được phát hành hối phiếu trên cơ sở các giao dịch:

- Mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ,

- Cho vay giữa các tổ chức, cá nhân với nhau;

- Giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân;

- Giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật

* Mối quan hệ giữa hối phiếu và giao dịch cơ sở phát sinh hối phiếu

Điều 3, khoản 2: quy định : “Quan hệ hối phiếu độc lập, không phụ thuộc vào giao dịch cơ sở phát hành hối

phiếu”

Việc ký phát hành và chuyển giao hối phiếu cho người thụ hưởng đồng thời tạo ra hai nghĩa vụ song song tồn tại: nghĩa vụ theo hợp đồng gốc và nghĩa vụ theo hối phiếu Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán hối phiếu của người bị ký phát (hoặc người phát hành đối với hối phiếu nhận nợ) là căn cứ để xác định nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng gốc đã được hoàn thành

Dù vậy, hối phiếu vẫn có tính độc lập tương đối, người chủ hối phiếu không cần quan tâm tới việc khoản nợ trên hối phiếu xuất phát từ giao dịch cơ sở nào Hay nói cách khác, khoản nợ thanh toán trên hối phiếu là độc lập và không phụ thuộc vào thương vụ cơ sở như hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là căn cứ phát sinh việc ký phát hành hối phiếu hay ký chấp nhận hối phiếu

1.2 Chủ thể phát hành hối phiếu.

- Chủ thể phát hành hối phiếu đòi nợ thường là bên bán, bên cung cấp dịch vụ, bên cho vay Tuy nhiên có thể

có trường hợp chủ thể phát hành hối phiếu đòi nợ là bên mua, bên vay Chẳng hạn: A bán hàng cho B, C đang nợ B khoản tiền, B có thể ký phát hối phiếu đòi nợ, trong đó người bị ký phát là C người thụ hưởng là A

- Chủ thể phát hành hối phiếu nhận nợ thường là bên trả tiền như: bên mua, bên vay, bên tặng cho, có thể chủ

thể phát hành là bên thứ ba Ví dụ A bán hàng cho B, C đồng ý cho B vay tiền để trả cho A, C phát hành hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng là A

* Điều kiện đối chủ thể phát hành hối phiếu

- Có đủ năng lực chủ thể

- Người ký phát hay người phát hành có đủ năng lực thẩm quyền theo quy định của PL

- Phải có đủ khả năng thanh toán

1.3 Cách thức phát hành hối phiếu.

Sau khi giao dịch cơ sở được các bên thoả thuận xác lập, chủ thể phát hành hối phiếu sẽ thực hiện việc lập và

ký hối phiếu

Việc lập hối phiếu bằng văn bản với ngôn ngữ sử dụng được lập bằng tiếng Việt, trừ trường hợp quan hệ hối phiếu có yếu tố nước ngoài thì hối phiếu có thể được lập bằng tiếng nước ngoài theo thoả thuận của các bên

- Về nội dung của hối phiếu phải có các nội dung sau đây:

1- Cụm từ “Hối phiếu đòi nợ”hoặc “Hối phiếu nhận nợ” được ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ;

2) Yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;

- Số tiền thanh toán trên hối phiếu phải được ghi bằng số và bằng chữ

- Khi số tiền trên hối phiếu được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán

1

§iÒu 3 kho¶n 1

8

Trang 9

- Hối phiếu ghi trả bằng ngoại tệ được thanh toán bằng ngoại tệ khi người thụ hưởng cuối cùng được phép thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối Còn nếu người thụ hưởng cuối cùng là người không được phép thu ngoại tệ thì số tiền được thanh toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán hoặc theo tỷ giá kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán công bố tại thời điểm thanh toán, trong trường hợp ngân hàng thực hiện việc thanh toán

3) Thời hạn thanh toán: Thời hạn thanh toán cụ thể của từng hối phiếu do người ký phát, người phát hành xác

định và ghi trên hối phiếu theo một trong các thời hạn sau đây:

Một là, “Ngay khi xuất trình” - Hối phiếu này phải được xuất trình để thanh toán trong thời hạn chín mươi

ngày, kể từ ngày ký phát

Hai là, “Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được chấp nhận”

Ba là, Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày ký phát;

Bốn là, Vào một ngày được xác định cụ thể.

Lưu ý:

+ Nếu thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu thì hối phiếu sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình + Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu ghi nhiều thời hạn thanh toán hoặc ghi thời hạn không đúng quy định trên

Thông thường, khi quy định về thời hạn phải sử dụng các cách trên, tuy nhiên trong trường hợp hối phiếu không xác định cụ thể ngày thanh toán thì sẽ được coi là thanh toán ngay khi xuất trình

4) Địa điểm thanh toán; ghi rõ ràng, đầy đủ, cụ thể Nếu địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu

thì hối phiếu sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát ( hối phiếu đòi nợ) hoặc địa chỉ của người phát hành (hối phiếu nhận nợ)

5) Tên (họ đối với cá nhân), địa chỉ của người bị ký phát (đối với hối phiếu đòi nợ)

Đây là yếu tố bắt buộc đối với hối phiếu đòi nợ nhằm đảm bảo cho người thụ hưởng có thể xác định được tên

và điạ chỉ phải xuất trình hối phiếu đề nghị chấp nhận

6)Tên của người thụ hưởng được người lập, ký hối phiếu chỉ định hoặc ghi thanh toán hối phiếu theo lệnh của

người thụ hưởng có tên là… hoặc thanh toán hối phiếu cho người cầm giữ;

Người thụ hưởng là người ký phát hối phiếu đòi nợ nếu trên hối phiếu có cụm từ “yêu cầu trả cho tôi số tiền” hay các cụm từ khác có ý nghĩa tương đương,

Người thụ hưởng là người thứ ba nếu trên hối phiếu có ghi cụm từ “cho cho ông/bà…” và người thụ hưởng có thể là người do người có tên trên hối phiếu chỉ đinh, trong trường hợp này trên hối phiếu sẽ ghi “trả theo lệnh của…”

Vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đảm bảo khả năng chuyển nhượng của hối phiếu vì một trong những điều kiện để người thụ hưởng có thể chuyển nhượng hối phiếu đó là hối phiếu phải thể hiện rõ được trả theo lệnh của người thụ hưởng

7) Địa điểm và ngày ký phát hành: Nếu địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu thì hối phiếu

được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát hoặc địa chỉ người phát hành

Tuy nhiên, hầu hết các nước đều có quy định trong trường hợp trên hối phiếu không ghi rõ địa điểm phát hành hối phiếu thì địa chỉ của người ký phát được coi là địa điểm phát hành, vì vậy trong trường hợp một hối phiếu đồng thời không ghi địa điểm phát hành và địa chỉ của người ký phát thì hối phiếu đó sẽ không có giá trị thanh toán Sở dĩ yếu tố này được coi là bắt buộc vì nó làm tăng độ an toàn cho hối phiếu, mặt khác trong trường hợp hối phiếu quốc tế thì nó còn liên quan đến vấn đề chọn luật và thẩm quyền xét xử

8) Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát hoặc người phát hành

Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát, người phát hành cũng phải được ghi rõ ràng trên hối phiếu Chữ ký

là chữ ký bằng tay trực tiếp trên hối phiếu Chữ ký của người đại diện của tổ chức trên hối phiếu phải kèm theo việc đóng dấu

Yêu cầu này nhằm đảm bảo quy định người ký phát, người ký phát hành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phát hành hối phiếu và cũng là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thanh toán hối phiếu trong trường hợp hối phiếu không được thanh toán theo các điều kiện do luật định

Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không có đủ chỗ để viết, hối phiếu đòi nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu Người đầu tiên lập

tờ phụ phải gắn liền tờ phụ với hối phiếu và ký tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu

1.4 Bản chất pháp lý của hành vi phát hành hối phiếu.

- Phát hành hối phiếu thực chất là xác nhận quyền sở hữu số tiền ghi trên hối phiếu hay xác lập quyền đòi nợ

số tiền ghi trên hối phiếu cho người thụ hưởng Đồng thời xác lập nghĩa vụ thanh toán số tiền trên hối phiếu cho một chủ thể xác định Tuy nhiên, đối với người lập và ký hối phiếu đòi nợ vẫn chịu trách nhiệm ràng buộc đối với hối phiếu mà mình ký phát hành PL quy định về nghĩa vụ của người ký phát như sau:

Trang 10

- Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán Nếu người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh đã thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng sau khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán thì người ký phát có nghĩa vụ thanh toán cho người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh số tiền ghi trên hối phiếu đó

* Nghĩa vụ của người phát hành

Người phát hành có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng khi đến hạn thanh toán và có các nghĩa vụ khác như người chấp nhận hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này

2 Chấp nhận hối phiếu (1 tiết) ( quan hệ này chỉ có trong hối phiếu đòi nợ)

- Chấp nhận hối phiếu là gì?

- Vì sao phải có thủ tục chấp nhận hối ?

- Chủ thể tham gia gồm những ai?

- Chấp nhận hối phiếu có bắt buộc đối với mọi hối phiếu đòi nợ hay không?

- Trình tự thủ tục thực hiện nó như thế nào?

* Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối

phiếu đòi nợ khi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quy định của PL

* Lý do cần đến thủ tục chấp nhận hối phiếu.

Ký phát hành hối phiếu là hành vi pháp lý đơn phương, người ký phát thường không phải là người có nghĩa

vụ thanh toán tiền trên hối phiếu mà là người bị ký phát Bởi vậy, có nhiều trường hợp người bị ký phát có thể do cố ý hoặc vô ý mà không nhớ đến nghĩa vụ thanh toán của mình đối với chủ nợ trước đây hoặc họ cần có thời gian chuẩn

bị tiền và cần biết mình sẽ trả tiền cho ai? (Chính chủ nợ trước đây của mình hay chủ nợ mới khi quyền đòi nợ đó đã được chuyển giao) nên cần có sự xác nhận của người này để bảo đảm quyền lợi cho người thụ hưởng Thậm chí do người ký phát lợi dụng ký chỉ định người bị ký phát không có thật hoặc họ không hề có giao dịch nào làm phát sinh nghĩa vụ phải thanh toán một số tiền nào đó cho chính người ký phát Thực chất người ký phát không có quyền đòi nợ nào mà lại ký phát để chuyển quyền đòi nợ đó cho người thụ hưởng để đòi tiền người không có nghĩa vụ thanh toán

Việc người bị ký phát ký chấp nhận trên hối phiếu cũng đồng nghĩa với việc họ chấp nhận là con nợ của người ký phát và cho người bị ký phát biết rõ quyền đòi nợ đã chuyển giao từ chủ nợ cũ cho chủ thể mới và mình phải thanh toán khoản nợ đó cho ai, bao giờ và ở đâu? tức là ràng buộc trách nhiệm của người bị ký phát đối với người thụ hưởng ghi trên thương phiếu

Xuất phát từ đặc thù ấy nên để bảo đảm quyền lợi cho mình, tránh thủ tục phiền hà về sau, người thụ hưởng

sẽ thực hiện việc xuất trình hối phiếu để yêu cầu người bị ký phát xác nhận

Tuy nhiên, không phải mọi hối phiếu đòi nợ đều phải thực hiện việc ký xác nhận hối phiếu PL quy định những trường hợp sau thì người thụ hưởng bắt buộc phải xuất trình hối phiếu để ký chấp nhận:

Một là, Người ký phát đã ghi trên hối phiếu đòi nợ là hối phiếu này phải được xuất trình để yêu cầu chấp

nhận;

Hai là, hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán sau khoảng thời gian nào đó kể từ khi người bị ký phát ký

chấp nhận thì người thụ hưởng phải xuất trình để yêu cầu chấp nhận trong thời hạn một năm kể từ ngày ký phát

Trong 2 trường hợp trên tính chất trả tiền vô điều kiện chưa được thiết lập,vậy cần thiết lập tính chất đó thông qua ký chấp nhận Bởi vậy, đối với trường hợp hối phiếu bắt buộc phải xuất trình để chấp nhận mà người thụ hưởng không xuất trình hối phiếu theo quy định thì người ký phát, người chuyển nhượng và người bảo lãnh cho những người này không có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ, trừ người bảo lãnh cho người bị ký phát

* Chủ thể trong quan hệ chấp nhận hối phiếu người bị ký phát và người thụ hưởng.

- Người bị ký phát (người có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ) là ký chấp nhận trên hối

phiếu Người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối phiếu đòi nợ gọi là người chấp nhận Khi đó họ có quyền và nghĩa

vụ giống như người phát hành trong hối phiếu nhận nợ

Người thụ hưởng là người xuất trình hối phiếu để yêu cầu người bị ký phát ký chấp nhận

* Trình tự, thủ tục chấp nhận hối phiếu.

Khi cần có sự chấp nhận của người bị ký phát người thụ hưởng mang hối phiếu đến yêu cầu chấp nhận

- Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận được coi là hợp lệ khi hối phiếu đòi nợ được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình đúng địa điểm thanh toán, trong thời gian làm việc của người bị ký phát và chưa quá hạn thanh toán

- Hối phiếu đòi nợ có thể được xuất trình để chấp nhận dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng Ngày xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận trong trường hợp này được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm

10

Ngày đăng: 01/12/2015, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w