Có thể nói, chính trong lĩnh vực pháp luật đã bộc lộ một cách khá rõ nét sự liên kết giữa nhà bác học và người làm quan, giữa nhà tư tưởng và con người - hành động Lê Quý Đôn.. Cũng
Trang 1BAN VE MAN NC vi
TRONG TU TUNG PHAP
LE Quy Pou là một nhà bác học
lớn thé ki XVIII, thoi Lé - Trinh tham gia
chính trường làm tới chức bồi tụng (Phó
té tướng) Lê Quý Đôn là một nhà tư
tưởng đồng thời là một con người hành
động Hai phương diện đó của con người
Lê Quý Đôn hội tụ ở một điểm điển hình
là pháp luật Có thể nói, chính trong lĩnh
vực pháp luật đã bộc lộ một cách khá rõ
nét sự liên kết giữa nhà bác học và người
làm quan, giữa nhà tư tưởng và con người -
hành động Lê Quý Đôn Tuy nhiên, tư
tưởng pháp luật của nhân vật lịch sử đặc
sắc này lại là đề tài chưa mấy được
nghiên cứu
Tư tưởng pháp luật và những hành vi
có liên quan đến pháp luật của Lê Quý
Đôn rất phong phú và đặc sắc Trong bài
này, trên cơ:sở nghiên cứu về phương
diện tư tưởng mà trước hết tìm hiểu một
số ý tưởng, quan điểm đã đóng vai trò là
tiền để tư tưởng pháp luật của Lê Quý
Đôn, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ý
kiến ban đầu phân tích về một số đặc
điểm của tư tưởng pháp luật Lê Quý Đôn
I NHŨNG TIỀN ĐỀ TƯT ƯỞNG CHUNG
1 Lê Quý Đôn là nhà dai trí thức nho
học nhập thế tích cực, như lời tự bạch của
chính Lê Quý Đôn: "Cứ Khổng sản
ÌI(UIÍ((TIWN
PGS.PTS LE MINH TÂM *
Trinh" là nơi ông vun trồng trí tuệ và tri
thức, còn khoa cử nho học thì đã giúp ông trở thành danh tài
Trong thế kỉ XVII, thế kỉ có nhiều biến
động hết sức phức tạp, những trí thức nho học đậu đạt như Lê Quý Đôn không phải
là ít nhưng lí tưởng và hành động của họ
“bị tấn phát đi theo nhiều hướng khác
nhau Xét theo quan điểm "chính ta",
“chân ngụy” thì mười ông chân, mười ông nguy, mười ông chân ngụy Đó là sự tán phát đến là khôi hài của những trí thức nho học đậu đạt Còn xét theo quan điểm “hành tàng", "xuất xử” thì cũng phải có đến mười ông yếm thế, mười ông xuất thế và mười ông nhập thế Trong mười ông nhập thế thì cũng phải có đến một nửa là nhập thế tiêu cực, và chỉ một nửa là nhập thế tích cực
Lê Quý Đôn ở trong số ít di những người nhập thế tích cực đó Nét tích cực,
tiêu biểu nhất ở ông 1a: “Trau gidi tri
thức để mà hành động, đưa tri thức vào trong hành động” (trí hành hợp nhất) Hành động ở đây theo quan niệm của Lê
Quý Đôn, cũng giống như những kẻ sĩ
đương thời, là giúp vua trị nước” Tuy
nhiên, tư tưởng về trị nước của cũng có
* Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
NX of
những nét riêng đó là “tri nuwdc" luôn gắn
liền với "yêu dân" Vì vậy, Lê Quý Đôn
luôn nghĩ đến vấn đề trị nước trên cơ sở
tìm hiểu, phân tích một cách kĩ lưỡng
nhân tình thế thái để mà đề xuất chính
sách, tìm kiếm biện pháp và hành động
cho "hop lé" Cé thể nói, thống kê trong
kho tàng ngôn từ thể hiện trong các bản
văn đầy ắp mà ông để lại, những thuật
ngữ như: "¡ nước”, “đạo trị nước”,
“thuật trị nước" đã được ông sử dụng
nhiều lần và là những điều mà ông dầy
công tìm kiếm, suy xét, luận giải và kiến
nghị Đồng thời, xét về phương diện hành
động, ông đã có rất nhiều hành vi thể
hiện những quan điểm, tư tưởng của mình
và quyết tâm thực hiện tư tưởng đó Cũng
chính từ tư tưởng trị nước - yên dân của
nhà trí thức nho học nhập thế tích cực
này, ta tìm thấy con đường và cái gạch
nối dẫn đến cách tư duy, sự hành động và
những đề xuất cụ thể phản ánh tư tưởng
pháp luật của Lê Quý Đôn
2 Xuất thân từ một gia đình đại quan
liêu và chịu ảnh hưởng của nho học, tư
tưởng trị nước của Lê Quý Đôn mặc dù
vẫn có điểm xuất phát từ cái vị thế đứng
trên nhưng từ thực tế của cuộc sống đời
thường luôn gần gũi, quan tâm tới nhân
dân, từ những trách nhiệm và công vụ:
Cai trị, thanh tra, cứu trợ nhân dân
thuộc rất nhiều tầng lớp, hoàn cảnh và ở
nhiều địa phương khác nhau của mình, từ
những kinh nghiệm và bài học rút ra được
từ kho tàng sách vở cổ kim mà ông hằng
nghiền ngẫm, Lê Quý Đôn là người có tư
tưởng vì dân rất rõ nét
Tư tưởng vì dân của Lê Quý Đôn vừa
hình thành và phát triển trong cái thuận lí
của cặp phạm trù nho học đồng thời luôn
là cái hoài bão díu đôi của người kẻ sĩ
muốn “7? nước - yên dân", nó hình thành
và phát triển trong cái nghịch lí của thời
cuộc đương thời: Nhân dân vì quá khổ
cực nên không chịu yên Vì thế, khuynh
hướng biểu hiện chủ yếu của tư tưởng vì
đân ở Lê Quý Đôn là "hương dân" và "lo
dân" Trong Thư kinh diên nghĩa ông
viết: "Ïhuên tứ cùng các quan đại phu
hàng ngày ăn mặc đều lấy ở dân Người
nông ddan suốt năm cẩn cà lao động không được nghỉ ngơi Những hạt cơm trên mâm đều là tân khổ của nông dân"
Ông cũng vạch rõ rằng: "Muốn hưởng mệnh trời lâu dài mà không chăm lo đến
đời sống nhân dân thì thật không hiểu lễ phdi la gi vay"
Chính là từ lòng ưu ái xót xa cho dân
chúng đương thời đồng thời lo lắng sợ hãi trước cái thế "/hổ băng" do dân gây nên
mà ta thấy Lê Quý Đôn đã suy nghĩ và
tìm kiếm nhiều giải pháp, trong đó có vấn
đề quan trọng là sử dụng pháp luật, thiết
định pháp chế Tư tưởng pháp luật của Lê
Quý Đôn có tiền đề ở tư tưởng vì dân của ông
3 Lê Quý Đôn là mot trong số ít
người Việt Nam ở thé ki XVIII, néu
không phải là người độc nhất đương thời,
nhờ trí tuệ uyên bác và sự khổ công của mình đã đón đường và bắt nhập được vào trào lưu phát triển của văn hóa - khoa học nhân loại khi ấy, để có được một phương
thức tư duy lí tính Ông "Ở2 người đâu tiên trong lịch sử nước ta đã có ý thức tiếp thụ kiến thức của toàn nhân loại với nội dung mới nhất của từ này"), Ông đã - vượt lên trên tất cả các nhà nho học
đương thời, đã nhìn thấy nhân tố duy vật
trong vũ trụ, dám tách ra khỏi Tống nho
Trang 3để chỉ ra rằng: "Đẩy rẩấy trong khoảng
trời đất đều là khí cả "Lí" là ý nói có
thật chớ không phải không có Lí không
có hình tích, nhân khí mà hiện ra Vậy lí
tức ở trong khí"“) Với tư duy lí tính của
mình, Lê Quý Đôn một mặt đã đạt được
tới tính hệ thống, tính chính xác trong
phương pháp tư tưởng; mặt khác ở ý chí,
thái độ, ông tỏ ra là người yêu thích, sự
rành rẽ (công minh) và lẽ phải (công
bằng) Đây là một trong những tiền đề rất
quan trọng để hình thành và phát triển tư
tưởng pháp luật của ông
4 Lê Quý Đôn về tư tưởng cũng như :
trong hành động luôn gần gũi với thực tế,
coi trọng thực tiễn Trong Phú biên tap
lục, ông viết: "Kẻ sĩ ra làm quan hành
chính, có phải chỉ ung dung ở chốn miếu
đường, bàn bạc văn nhã và tỏ ra đức
vọng thôi đâu Có khi phải tuần xét biên
giới mà chịu trách nhiệm một phương thì
cũng phải làm sao để vỗ về bình nông,
dấy lợi trừ hại, tuyên bố giáo điều (điều
răn dạy), dời đổi phong tục, hết khả năng
tâm lực mà làm điều chức phận nên
lam " Va ông đã làm đúng như vậy
Ông luôn luôn nay đi nơi này, mai đi nơi
khác, hết sức tìm hiểu thực tế, gần gũi
thực tế Cũng chính từ sự gần gũi với thực
tế và quan điểm tôn trọng thực tiễn mà
Lê Quý Đôn luôn có quan điểm khách
quan trong tư duy và hành động
II TƯ TƯỞNG CỦA LÊ QUÝ ĐÔN VỀ PHÁP
LUẬT
Mặc dù trong kho tàng trước thuật
sách vở đồ sộ của mình, Lê Quý Đôn
không có một công trình riêng nào về
pháp luật Nhưng rải rác trong hầu hết
các tác phẩm của Lê Quý Đôn đều có thể
tìm thấy nhiều trang, dòng, hoặc liên
quan đến vấn đề pháp luật, hoặc trực tiếp
nói về pháp luật Đặc biệt quan trọng là
sự kiện năm 1764, Lê Quý Đôn đã có han một văn bản (tờ sớ) dâng lên chúa Trịnh,
để biểu đạt một chủ trương lớn về pháp
luật: "Xin thiết định pháp chế" Chính ở
đây và ở nhiều điểm khác khi ông luận bàn về pháp luật mà giữa những Lê Quý
Đôn - nhà sử học, Lê Quý Đôn - nhà địa
lí học, Lê Quý Đôn - nhà chính trị học,
Lê Quý Đôn - nhà tư tưởng, Lê Quý Đôn-
nhà thơ, Lê Quý Đôn - nhà nông học ,
chúng ta có thể nhận thấy đã hiển hiện
một Lê Quý Đôn - nhà luật học
Cần phải có sự nghiên cứu một cách toàn điện, có hệ thống mới có thể đánh giá được một cách đẩy đủ những giá trị tư tưởng và những cống hiến của ông về
phương diện luật học Tuy nhiên, bước
đầu hệ thống lại những tư tưởng của Lê Quý Đôn về pháp luật, chúng tôi thấy tư
tưởng pháp luật của ông có một số đặc
điểm cơ bản sau đây:
1 Lê Quý Đôn chủ trương kết hợp pháp trị với đức trị
Cách đây khoảng ba chục năm vào
những năm 60, trong một đợt tập trung
nghiên cứu về Lê Quý Đôn, thấy có mấy
ý kiến liên quan đến vần đề pháp luật
trong cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn mà sau đó, được tóm lược giới thiệu lại ở cuộc hội thảo khoa học ki niệm 250 năm, ngày sinh Lê Quý Đôn (1976) như
sau:
Ông Văn Tân trong bai Ki niém 250 năm ngày sinh Lê Quý Đôn khẳng định:
"Lê Quý Đôn là một nhà chính trị có những hòai bão lớn, muốn làm cho nước giàu dân mạnh bằng một con đường mới
là con đường pháp trị" Ông Tạ Ngọc
Trang 4NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Liễn trong một bài nghiên cứu về Nguyễn
Thiếp cũng cho rằng "Lê Quý Đôn chủ
trương trị nước theo đường lối pháp trị"
Theo cụ Cao Xuân Huy thì: "Về chính trị,
Lê Quý Đôn muốn tổng hợp cái thuyết
đức trị của nho gia và cái thuyết pháp trị
của pháp gia mà nặng về pháp gia "
Ông Nguyễn Tài Thư cũng cho rằng
đường lối trị nước của Lê Quý Đôn là đức
trị kết hợp với pháp trị nhưng càng về sau
tư tưởng pháp trị càng chiếm ưu thế
Trong bài viết gần đây nhất, ông Văn Tân
vẫn khẳng định rằng "Chủ trương của Lê
Quý Đôn là kết hợp pháp trị với đức trị
nhưng ông nặng về pháp trị rất nhiều "
Ông Hà Thúc Minh phản đối ý kiến đó và
cho rằng: “Đường lối chính trị của Lê
Quý Đôn không phải là đường lối chính
trị của pháp gia" Sau này, thấy thêm ý
kiến của Trần Bá Chí về vấn đề này cho
rằng, Lê Quý Đôn có ý đề cao pháp trị
ông đã coi hiệu lực trị nước của pháp trị
hơn hẳn đức trị Tuy vậy, tìm điểm xuất-
phát của tư tưởng pháp trị của ông, ta
thấy có những nét độc đáo so với các
pháp gia đời trước
Như vậy, bước đầu bàn qua về tư
tưởng pháp luật của Lê Quý Đôn giữa các
nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác
nhau, nhưng đa số tác giả đều đã cho
rằng ông chủ trương pháp trị, hoặc kết
hợp đức trị với pháp trị nhưng nặng về
pháp trị và thiên về phái pháp gia
Qua việc nghiên cứu những tiền đề tư
tưởng, những quan điểm và hành vi pháp
luật của Lê Quý Đôn, chúng tôi thấy ông
luôn chủ trương kết hợp đức trị với pháp
trị một cách hợp lí Điều đó thể hiện ở
một số điểm cơ bản sau đây:
Lê Quý Đôn luôn có ý thức nghiên
cứu và đề cao vai trò của pháp luật, mong
muốn dùng pháp luật để trị nước, yên dân Ông đã nghiên cứu một cách hết sức công phu về nhà nước và pháp luật qua
các triều đại ở Việt Nam cũng như các triéu dai Trung Hoa Ong đã dày công khảo cứu, bàn luận và đưa ra nhiều nhận
xét rất xác đáng về pháp luật, pháp chế Ông cũng đã để nhiều tâm sức để tìm hiểu và vận dụng thuyết pháp trị và tư
tưởng của các pháp gia Có lẽ tên tuổi của tất cả các pháp gia điển hình đều được ông nhắc tới trong các tác phẩm của
mình Mặc dù dò lại các trang dòng trong
di sản thư tịch và văn bản của Lê Quý Đôn để lại, chúng tôi không thấy có lần
nào ông dùng đến chữ "pháp rrị" (ngay
cả trong Sớ xin thiết định pháp chế của _ Lê Quý-Đôn; tai liệù thể hiện rõ nhất tư
| fuong phap đuầt bu n cũng không có từ này) Những tim hiểu kĩ nội dung Sớ _ xin thiết định pháp chế cũng như các văn bản khác mà Lê Quý Đôn bàn về pháp luật, pháp chế và những hành vi cụ thể
của ông có liên quan đến pháp luật, cho
thấy rõ ông là người có tư tưởng pháp trị,
muốn dùng pháp luật để trị nước, yên
dân Trong bài Sớ xin thiết định pháp
chế, Lê Quý Đôn viết: "Nhân tâm thì không định, thế biến thì không thường, do
đó trị nước là một việc rất khó, và chỉ có một cách để ước thử nhân tâm và chế ngự thế biến, đó là: pháp chế mà thôi" Rõ
ràng đây là tư tưởng đề cao pháp luật và tác dụng của nó trong đời sống nhà nước
và đời sống xã hội
Tuy nhiên, Lê Quý Đôn không phải là
một pháp gia, không đứng hẳn về phía pháp gia Ông cho rằng vai trò của pháp luật trước hết là để định quốc và giáo
Trang 5hóa Ông đã tự giải thích hai chữ "Pháp
chế” của mình như sau: "Gọi là pháp chế,
cũng chỉ là thiết lập quan chức, phân
định văn võ, lập pháp thi lệnh một cách
nghiên cẩn, quy định học pháp, giáo
pháp, làm thế nào cho ở bên trong thì
triéu đình, ở bên ngoài thì phương trấn,
giao lưu chằng chịt với nhau như một
thân thể" của quốc gia Trong sách Kiến
văn tiểu lực, ông cũng đã nhận xét về
nguyên tắc tổ chức nhà nước ở triều Lê,
` r? A’ a % a
la “Đại để phỏng theo chế độ nhà Trần,
A
ss
Y o> — 153 t Cri¢ ala
⁄
ah đơn vị to nhỏ giữ gìn lân
nhau, cấp trên cấp dưới ràng buộc với
nhau” Như thế, trong tư tưởng pháp luật
của Lê Quý Đôn, ta thấy ông coi pháp
luật như một chất keo gắn bó các yếu tố
(bộ phận) của nhà nước (quốc gia) để tạo
nên sự thống nhất và ổn định, trong đó,
sự tôn trọng pháp luật chính là nhân tố
quan trọng để chất keo đó phát huy tác
dụng: "Kể làm dân thì vì phải kính nể
pháp luật mà có chí hướng nhất định
hoặc tuy có biến động bên ngoài mà
trong cối cũng không đến nôi phân ly và
phan loan" (Nguyên văn trong S& xin
thiét dinh phap ché)
Thuyết pháp trị, sản phẩm của văn
minh va lịch sử Trung Hoa khởi tự
Thương Ưởng đời nhà Tần với chủ thuyết
"pháp", đặc trưng bằng việc dùng hình
phạt nặng (cái hà khắc về hình phạt này
đã giết chết ngay chính Thương Ưởng),
được người cùng thời là Thân Bất Hại
góp thêm tư tưởng "/h¿f" (biện pháp dé
chế ngự kẻ dưới), rồi Thận Đáo hoàn
chỉnh bằng nguyên tắc "?hế” (sức mạnh
quyền lực) và cuối cùng, Hàn Phi Tử liên
kết cả "pháp”,“thuật","thế" thành hệ
thống pháp trị thì các đại diện hợp thành
phái pháp gia ấy đều tập trung lại và cùng
đứng về phía cá nhân kẻ thống trị tối thượng và giai cấp phong kiến, ở vị trí và quyền lợi đối kháng với nhân dân Ở mục đích và ý nghĩa ban đầu của nó, pháp fr¡
là một chủ thuyết về phương thức trị quốc, trị dân bằng các "biện pháp cứng", nhằm bảo vệ nhà vua và chế độ phong
kiến
Mặc dù Lê Quý Đôn chưa thoát khỏi
hệ tư tưởng phong kiến, những chủ
trương và kiến nghị của ông về cải cách, thiết định pháp chế, coi trọng pháp luật vẫn nhằm bảo vệ chế độ phong kiến
đương thời nhưng ông có phương pháp
riêng dựa trên cơ sở kết hợp pháp trị với đức trị Ông không quá thiên về VIỆC SỬ
dụng các hình phạt nặng Theo Lê Quý Đôn: "Muốn cho dân không oán thù, nguyén rua, thi phai lam thế nào? Duy có giảm hình phạt, đánh nhẹ tô thuế mà
thôi" (Thư kinh diện nghĩa) Từ chỗ
"thương dân" và "lo dân” ông luôn luôn
tìm cách an dân (làm cho dân yên ổn) để giữ được hòa khí Trong Quản thư khảo
biện ông viết: "Đặt ra hình phạt rõ nặng
để đe dân và bắt những người có liên quan, làm lụy đến nhiều người thì sẽ hại
đến hòa khí"
Một trong những cột trụ của phái pháp gia là Tuân Tử còn cho hệ thống
pháp trị một "hạt nhân trr tưởng” là quan
mệm “nhân chỉ tính ác” (tính người vốn
ác) chứ không phải "nhân chỉ sơ tính bản
thiện"(tính người vốn thiện) để làm cơ sở
lí luận cho việc thi hành pháp trị Lê Quý
Đôn thì lại khác Ông không những không theo thuyết "nhân chỉ tính ac"
cũng không tin hẳn vào thuyết "hân chỉ
sơ tính bản thiện" Theo ông, "con người
sinh ra, khí bẩm không đều, có người cũng
lương thiện, có kẻ hung ác "- Đây chính
Trang 6NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
là lí do để Lê Quý Đôn trình bày trong S$ớ
xin thiết định pháp chế năm 1764 Một
lần nữa ta lại thấy Lê Quý Đôn không
phải hoàn toàn nghiêng về phái pháp gia
mà ông đã có những nét riêng trong cách
tiếp cận vă thể hiện tư tưởng của mình về
vấn đề pháp trị
Mặc dù đã nhiều lần Lê Quý Đôn nói
về những đại diện của phái pháp gia,
phan tich những tư tưởng của họ Chẳng
hạn, trong Vân đài loại ngữ , các tư tưởng
của Quản Trọng, Thương Ưởng, Thân
Bất Hại, Tuân Tử, Hàn Phi Tử đều thấy
được Lê Quý Đôn nhắc đến Nhưng thiết
nghĩ cũng nên hiểu ông nói về các đại
diện của phái pháp gia này cũng như là
đã tham khảo 688 tên người và 712 tên
sách để viết nên bộ Bách khoa toàn thư
này mà thôi Không những thế, còn có
trường hợp ông chống lại, phê phán chính
ngay Hàn Phi và Thần Bất Hại Chẳng
hạn, khi ông dùng hình ảnh của thời khí
ấm áp hay gay gat dé đả kích tính cực
đoan, nghiệt ngã trong học thuyết của các
pháp gia họ Hàn, họ Thân: "Khí xuân ấm
áp, khí thu nghiêm khốc là đi đôi với
nhau, nhưng khí nghiêm khốc của mùa
thu là để giúp cho mùa xuân, đó là đạo
"trời Hê nghiêm khốc của mùa thu quá
thịnh thì khí dương hòa bị chuyển động
mà không phát tiết được, đó là họ Thân,
họ Hàn sở dĩ đã làm hại thiên hạ" “2
Tư tưởng kết hợp đức trị với pháp trị
của ông thể hiện rõ ở phương châm cai trị
của ông: “Quá cứng thi gay, quá mềm thì
hỏng, chỉ có vừa cứng vừa mềm cho thích
hợp điều ứng dụng mới nên"?) Là một
nhà nho học, Lê Quý Đôn trước sau vẫn
là người luôn coi trọng đến đức trị, coi đó
là một giá trị cần phải gìn giữ, phát huy
và là cơ sở bổ sung cho pháp luật Trong
Vân đài loại ngữ ông viết: "Chính trị nhân đức của thánh hiển như không khí
êm hòa, như gió xuân mát mẻ, lòng dạ
của thánh hiên như thanh thiên bách
nhật Thánh hiển đật ra pháp luật ở nơi
này mà nhân dân biết sợ ở chốn kia"™
Nhưng mặt khác là một nhà khoa học, một nhà chính trị, Lê Quý Đôn cũng nhận thức rất rõ vai trò của pháp luật và luôn có hòai bão dung hợp lễ nhạc với pháp độ để trị quốc, an dân và ông coi đó
là những yếu tố văn hóa của loài người:
"Lê nhạc và pháp độ là văn vẻ của loài người",
2 Pháp luật phải phù hợp với thực tiễn
và phải thuận tiện cho nhân dân Sau khi dâng sớ xin thiết định pháp chế năm 1764, Lê Quý Đôn tiếp tục có
nhiều phát kiến mới, nhất là thông qua các hoạt động công vụ cu thể, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, ông đã có nhiều đề xuất thể hiện rõ tư tưởng pháp luật của
mình Ví dụ, năm 1770 sau khi đi khám
duyệt hộ khẩu ở Thanh Hóa trở về kinh
đô tâu trình bốn điều về trị đạo, trong đó
có hai điều về sửa đổi quan chế; năm
1772 đi điều tra tình hình ở xứ Lạng Sơn, ông báo về triều đình việc tham nhũng của đốc trấn Doãn Thân; năm 1774 đi
Thuận Hóa, với cương vị lư thủ kinh đô,
Lê Quý Đôn đã công bố "24 điều khoản thêm sức đồn phòng"; năm 1776 khi làm hiệp trấn ở Thuận hóa, ông đã "đặt đề lại,
định lệ kiện, việc nào huyện xét, Việc
nào trấn xét đều có quy chế" Hào Bằng tư
duy của một nhà bác học và với kinh nghiệm thực tiễn trong các hoạt động có liên quan đến pháp luật, Lê Quý Đôn đã
có bước phát triển mới trong tư tưởng pháp luật của mình Vào khoảng năm
1773, trong phần "Vựng điển" của sách
Trang 7PEE
Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn đã viết:
"Các đời đặt ra pháp chế, hoặc thêm
hoặc bớt, hoặc giảm hoặc phiến, tuy
không giống nhau nhưng đều lấy hợp thời
tiện dân làm phải".°®
"Hợp thời" tức là phải thích hợp với
thời thế, là biện chứng và thực tiễn Còn
"tién dân” tức là thuận tiện cho dân, mà
muốn vậy thì người đặt ra luật phải hiểu
dân và dân cũng phải được biết và hiểu
được pháp luật Lê Quý Đôn cho rằng, để
tiện cho dân, pháp luật dễ đi vào cuộc
ng thì "Lập pháp cốt giản mà đủ, dùng
người cốt ít mà tỉnh Pháp luật giản dị thì
dễ kê cứu, người làm ít thì không những
nhiễu"°”) Ông cũng phê phán một cách
găy gắt tính hình thức xa rời thực tế của
pháp luật: "Nếu đặt ra pháp luật văn hoa
để tăng vẻ một thời, mà khiến dân vì đấy
mà mất cả sinh nghiệp thì cũng chẳng
cân dàng như thế làm gì"°” Có thể coi
đây là luận điểm rất quan trọng trong tư
tưởng về pháp luật của Lê Quý Đôn, nó
đã thể hiện rõ tính khoa học, tính thực
tiễn đồng thời còn phản ánh tư — vì
dân của ông
3 Pháp luật phải thích ứng với phong
tục, tập quán và truyền thống
Trong tư tưởng pháp luật của Lê Quý
Đôn có một điểm một điểm rất đáng lưu
ý là ông rất chú trọng tới mối quan hệ
giữa pháp luật với phong tục, tập quán và
truyền thống Theo ông, khi san định
pháp luật, thực thi pháp chế phải chú ý tới
mối quan hệ này, phải làm cho pháp luật
thích ứng, thâm chí trong 1 những trường
kinh nnhasse= ——.-.——— BEES at SÔNG hệ)
hợp nhất ch phải ' 'nhượng bộ" nhềng
tục tập quán của nhân dân Ông viết:
"Thói tục trong thiên hạ môi nơi một
khác Vua, Thiên tử sửa sang pháp cai
trị, miễn là dân nơi đâu đều yên phong
tục nơi ấy thay đổi phép tắc, tự ý độc
đoán, trái cả tình thương của dân, thì cũng chẳng nên lam" Tuy nhién, Lé
Quý Đôn cũng là người luôn đề cao: tính sáng tạo, mạnh dạn cải rời cái cũ, bổ sung cái mới; ông khuyến khích việc huỷ
bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, thay bằng những điều quy định mới "hợp
thời" hơn, tiện dụng hơn Trong cuộc đời làm quan, nghiên cứu và viết sách, ông
đã nhiều lần đề xuất hoặc trực tiếp thực thi những biện pháp nhằm cách tân phong
tục tân quán tục tập quán, hoặc sửa đối pháp luật cho hoặc sửa đổi pháp luật cho
phù hợp với phong tục tập quán Chẳng
hạn, năm 1777, khi ông làm tả thị lang
bộ lại, ông đã đề nghị lên triều đình bốn điều sửa đổi, trong đó có hai điều liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân là,
sửa đổi về thuế khóa và sửa đổi phong tục
thế nào cho thích hợp với dân
Yếu tố truyền thống, mà ông thường
gọi là “các đời”, "đời trước”, cũng được ©
ông hết sức quan tâm nghiên cứu để kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng về kết hợp đức trị với pháp trị, dung hòa giữa lễ nhạc và pháp độ Trong Ván đài
loại ngữ ông đã viết: "Phép tắc của người đời trước đặt ra, gọi là điển; được người đời sau noi theo, gọi là lệ Việc trị nước, quí ở vô vi Lập pháp cốt ở Nhân theo doi trubc?
Có lẽ vì có tư tưởng tôn trọng truyền
thống, muốn kế thừa và phát huy truyền
thống mà trong suốt cuộc đời mình Lê
Quý Đôn đã say sưa học tập, nghiên cứu
một cách hết sức kĩ lưỡng để hệ thống
hóa lại những tri thức và kinh nghiệm của
các đời, trong đó có những tri thức về pháp luật và pháp luật thực định của các: triều đại Ông đã nhiều lần để xuất các
biện pháp để trị quốc, yên dân trên cơ sở
Trang 8
kế thừa truyền thống của ông cha Năm
1773, nhân hạn hán kéo dài, Lê Quý Đôn
đã trình lên chúa Trịnh năm điều, trong
đó có câu: "Phương pháp của cổ nhân là
đem lại hòa khí, dẹp tai biến, cốt lấy lễ
mà cầu phúc ở thần, lấy đức mà khoan
sức cho dân" Ông coi đó như là tôn chỉ
của mọi thời và cũng là tôn chỉ cho việc
định chế và thực hành pháp luật Tổng
kết kinh nghiệm của các đời trước, Lê
Quý Đôn chỉ ra rằng: "Tờ xưa, lập pháp
cốt giản mà đủ, dùng người cốt ít mà
tinh" Nắm vững tư tưởng của Khúc Hạo
về "Khoan - Giải - An - Lạc", hiểu rõ lời
phàn nàn của vua Trần Nhân Tông thế kỉ
XII vé su céng kénh cua bộ máy quan
liêu: "Sao một đất nước chỉ bằng bàn tay
mà lắm quan lại thế", ông đã nghiên cứu
và thống kê ra một cách tỉ mi số quan '
nha, thuộc lại buổi đầu triều đại nhà Lê
chỉ có 5398 người, liên hệ để phê phán
chế độ quan chế, chỉ ra căn nguyên của
sự rối ren xã hội đương thời và đề xuất
những kiến nghị hữu ích
4 Làm chính sự phải giữ điều công
bằng, pháp luật phải công khai,
Trong Quần thư khảo biện, trên cơ sở
phê phán một cách nghiêm khấc tình
trạng xã hội rối ren, kỉ cương lỏng lẻo
dẫn đến sự bất công của xã hội đương
thời: "”Veày nay, thiên hạ có người không
may phải khiếu tố thì việc khiếu tố ấy như
khiếu tố với trời cao; bất đắc dĩ phải bái
kiến thì việc bái kiến ấy như bái kiến với
quỷ thân"°” Lê quý Đôn đã đề xuất một
nguyên tắc quan trọng cho hoạt động lập
pháp và hành pháp là: "Láp pháp cốt giản
mà đủ, dùng người cốt ít mà tỉnh" đồng
thời, ông đã chỉ ra sự cần thiết phải thiết
lập sự công bằng và bảo đảm tính công
khai của pháp luật Theo Lê Quý Đôn, bảo đảm sự công bằng không những là yêu cầu thực tiễn của xã hội, là cái "!Z
chính đáng của pháp luật, pháp chế mà còn là điều kiện tiên quyết của cả công việc chính sự quan trọng" Vì vậy, ở tập
HI cuốn Quản thự khảo biện, ông đã
dành cả một mục (mục số 90) với nhan
đề "Làm chính sự phải giữ điều công bằng" để bàn về việc này
Từ cách đặt vấn đề nên lựa chọn tỉnh thần khoan dung hay nghiêm khấc khi làm chính sự, Lê Quí Đôn giải đấp ngay rằng vấn đề không phải ở chỗ nên khoan dung hay nghiêm khắc mà cái “lí lế chính
đáng (chuẩn mực) ở đây là: "Phải giữ
điều công bằng, vì một việc mới chi du
định trong óc thôi đã không tránh khỏi có
điều lệch lạc rồi, thế thì sao có thể tốt lành hết thảy được" Lê Quí Đôn giải
trình như sau: "Xé/ ra, luật pháp là những qui định chung cho cả thiên hạ Cần phải
định ra điều luật trước, mà nặng nhẹ, lớn nhỏ, đều phải thỏa đáng, rồi công bố rõ ràng cho thiên hạ biết Sau, cứ theo đó
mà xử quyết" Trên cơ sở đó, ông yêu cầu
cụ thể: "Vua không định tội theo ý riêng
Bề tôi không tùy tiện tha, hoặc buộc tội
HGHỜI `
_ Ông cho rằng, điều đạo lí cốt yếu của
sự công bằng là: "Nếu cứ lấy lòng trung
hậu, công bằng, thẳng thắn mà làm, thì
chính sự sẽ thấu lí; nhân sự sẽ đạt tình, sẽ không còn dấu vết cho người bới móc,
`không còn tự ý để người rach roi Ban
_ thưởng, phạt tội, đêu thỏa đáng, giết hoặc tha, đêu để làm răn, (như thế thì) dân trong thiên hạ đều hòa hợp ở đạo người"
Lê Quý Đôn không những chỉ nêu ra
tư tưởng công bằng, công khai, nghiêm
minh mà trong suốt cuộc đời mình ông
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 21
Trang 9đã hành động theo tư tưởng đó Đối với
ông, sự bất công, cửa quyền, tham nhũng,
hối lộ là những cái thuộc phạm trù
khuất tất, là đối tượng tấn công, khắc
phục của ông Các năm 1756, 1764,
1772 khi đi liêm phóng, đốc đồng tại
các địa phương, ông đã điều tra và lôi ra
ánh sáng hàng loạt vụ tham ô, ức hiếp
dân nghèo, đã đề nghị xử lí hoặc trực tiếp
xử lí nghiêm khắc nhiều quan lại tham
nhũng đương thời, trong đó có cả những
quan to như Trịnh Thu, Lê Doãn
Như vậy, bước đầu tìm hiểu về tư
tưởng pháp luật của Lê Quý Đôn, chúng
ta thấy ông là người luôn mong muốn kế
thừa và phát huy truyền thống văn hóa,
pháp lí của dân tộc đồng thời cũng luôn
có ý thức tiếp thu tính hoa của văn minh
nhân loại Ông chủ trương kết hợp đức trị
với pháp trị; ông đề xuất tư tưởng về tính
phù hợp, tính thực tiễn, tính công bằng,
công khai, nghiêm minh của pháp luật;
đồng thời ông cũng đã nêu ra luận điểm
quan trọng về việc phải làm cho pháp luật
thích ứng với phong tục, tập quán và
truyền thống
Trong các công trình của mình, ông
còn trích dẫn khá nhiều điển tích, quan
điểm của các nhà tư tưởng khác, nhận
xét, bình luận và nói rõ mục đích của sự
trích dẫn nhằm làm luận cứ cho tư tưởng
của ông Nhưng điều quan trọng là ở đây
ta gặp được tư tưởng của chính Lê Quý
Đôn - những sản phẩm trí tuệ của ông
Hơn thế, đa phần những tư tưởng này của
ông đã được ông vận dụng trong hành
của ông về pháp luật không những có
nghĩa về lí luận mà còn có ý nghĩa cả về
mặt thực tiễn nữa Và thật lí thú, những
tư tưởng này đã được ông nêu ra cách đây
hơn hai thế kỉ nhưng ngày này đọc lại ta
vẫn thấy hiển hiện những giá trị rất lớn của chúng đối với xã hội đương đại Việt
Nam Vì vậy, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ hơn tư tưởng pháp luật của
Lê Quý Đôn, kế thừa và phát triển những
giá trị khoa học của tư tưởng đó và vận dụng vào việc xây dựng và phát triển
khoa học pháp lí, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, làm cho dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, văn minh là một trong những hướng nghiên cứu của khoa học pháp lí./
(1) Lê Quý Đôn đỗ dầu khoa thi tiến sĩ năm Nhâm
tuất (1752) với học vị "Bang nhan" véi dé thi: "Binh
trị là trách nhiệm cúa bề tôi phụ chính" Nghĩa là ông đã quan tâm và hiểu vấn đề trị nước từ rất sớm
(2) Lé Quy Dén nha bac hoc thé ki XVII Ty van héa thong tin Thai Binh, 1995, tr 23
(3) Lịch sứ tư tưởng Việt Nam Nxb.Khoa học xã hội
H.1993, tr 431
(4) Lê Quý Đôn: Ván đài loại ngữ, Tập I Nxb.Văn hóa thông tin, H.1995, tr.37
(5) Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I Nxb.Khoa hoc x4
hội H.1997, tr.27
(6) Lé Quy Don nha bac hoc thé ki XVII Sdd, tr.38 (7) Lê Quý Đôn: Ván đài loại ngữ, Tập II Nxb.Văn
hóa thông tin H.1995, tr.88
(8) Lê Quý Đôn: Sdd, Tập II, tr.12
(92) Lê Quý Đôn: Sdd, Tập II; Nxb.Vàan hóa thông tin H.1995, tr.9 - 10
(10) Lê Quý Đôn: Sdd; tr.27
(11) Lê Quý Đôn toàn tập, Sdd, Tập I, Tr.28
(12) Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ, Tập I Nxb.Vàn
hóa H.1960, tr.211 (Bản dịch của Trần Văn Giáp)
(13) Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I Nxb.Khoa học xã hội H.1977, tr.134
(14) ,(15)Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục
học 1972, Quyển nhị, tr.IO1
(16) Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ, Tập I Nxb.Văn
hóa thông tin HI.1995, tr.30, (bản dịch của Tạ Quang
Phát), chữ “vó v?" được dịch giả ghi là:
đức mà hóa dân, không cân dến hình pháp và chính
sự”
Trong bản dịch của Trần Văn Giáp, Nxb.Văn hóa, H.1960, chữ “vô v” được giải nghĩa là “bới việc”
Có lẽ nghĩa nay dung hon
(17) Lê Quý Đôn: Quần thư khảo biện Nxb.Khoa
học xã hội H.1995, tr.444
Viện sử
“tô vị, lây