1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Bàn về mấy đặc điểm trong tư tưởng pháp luật của Lê Quý Đôn" ppt

9 543 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về mấy đặc điểm trong tư tưởng pháp luật của Lê Quý Đôn
Trường học University of Social Sciences and Humanities
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 14,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, chính trong lĩnh vực pháp luật đã bộc lộ một cách khá rõ nét sự liên kết giữa nhà bác học và người làm quan, giữa nhà tư tưởng và con người - hành động Lê Quý Đôn.. Cũng

Trang 1

BAN VE MAN NC vi

TRONG TU TUNG PHAP

LE Quy Pou là một nhà bác học

lớn thé ki XVIII, thoi Lé - Trinh tham gia

chính trường làm tới chức bồi tụng (Phó

té tướng) Lê Quý Đôn là một nhà tư

tưởng đồng thời là một con người hành

động Hai phương diện đó của con người

Lê Quý Đôn hội tụ ở một điểm điển hình

là pháp luật Có thể nói, chính trong lĩnh

vực pháp luật đã bộc lộ một cách khá rõ

nét sự liên kết giữa nhà bác học và người

làm quan, giữa nhà tư tưởng và con người -

hành động Lê Quý Đôn Tuy nhiên, tư

tưởng pháp luật của nhân vật lịch sử đặc

sắc này lại là đề tài chưa mấy được

nghiên cứu

Tư tưởng pháp luật và những hành vi

có liên quan đến pháp luật của Lê Quý

Đôn rất phong phú và đặc sắc Trong bài

này, trên cơ:sở nghiên cứu về phương

diện tư tưởng mà trước hết tìm hiểu một

số ý tưởng, quan điểm đã đóng vai trò là

tiền để tư tưởng pháp luật của Lê Quý

Đôn, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ý

kiến ban đầu phân tích về một số đặc

điểm của tư tưởng pháp luật Lê Quý Đôn

I NHŨNG TIỀN ĐỀ TƯT ƯỞNG CHUNG

1 Lê Quý Đôn là nhà dai trí thức nho

học nhập thế tích cực, như lời tự bạch của

chính Lê Quý Đôn: "Cứ Khổng sản

ÌI(UIÍ((TIWN

PGS.PTS LE MINH TÂM *

Trinh" là nơi ông vun trồng trí tuệ và tri

thức, còn khoa cử nho học thì đã giúp ông trở thành danh tài

Trong thế kỉ XVII, thế kỉ có nhiều biến

động hết sức phức tạp, những trí thức nho học đậu đạt như Lê Quý Đôn không phải

là ít nhưng lí tưởng và hành động của họ

“bị tấn phát đi theo nhiều hướng khác

nhau Xét theo quan điểm "chính ta",

“chân ngụy” thì mười ông chân, mười ông nguy, mười ông chân ngụy Đó là sự tán phát đến là khôi hài của những trí thức nho học đậu đạt Còn xét theo quan điểm “hành tàng", "xuất xử” thì cũng phải có đến mười ông yếm thế, mười ông xuất thế và mười ông nhập thế Trong mười ông nhập thế thì cũng phải có đến một nửa là nhập thế tiêu cực, và chỉ một nửa là nhập thế tích cực

Lê Quý Đôn ở trong số ít di những người nhập thế tích cực đó Nét tích cực,

tiêu biểu nhất ở ông 1a: “Trau gidi tri

thức để mà hành động, đưa tri thức vào trong hành động” (trí hành hợp nhất) Hành động ở đây theo quan niệm của Lê

Quý Đôn, cũng giống như những kẻ sĩ

đương thời, là giúp vua trị nước” Tuy

nhiên, tư tưởng về trị nước của cũng có

* Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 2

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

NX of

những nét riêng đó là “tri nuwdc" luôn gắn

liền với "yêu dân" Vì vậy, Lê Quý Đôn

luôn nghĩ đến vấn đề trị nước trên cơ sở

tìm hiểu, phân tích một cách kĩ lưỡng

nhân tình thế thái để mà đề xuất chính

sách, tìm kiếm biện pháp và hành động

cho "hop lé" Cé thể nói, thống kê trong

kho tàng ngôn từ thể hiện trong các bản

văn đầy ắp mà ông để lại, những thuật

ngữ như: "¡ nước”, “đạo trị nước”,

“thuật trị nước" đã được ông sử dụng

nhiều lần và là những điều mà ông dầy

công tìm kiếm, suy xét, luận giải và kiến

nghị Đồng thời, xét về phương diện hành

động, ông đã có rất nhiều hành vi thể

hiện những quan điểm, tư tưởng của mình

và quyết tâm thực hiện tư tưởng đó Cũng

chính từ tư tưởng trị nước - yên dân của

nhà trí thức nho học nhập thế tích cực

này, ta tìm thấy con đường và cái gạch

nối dẫn đến cách tư duy, sự hành động và

những đề xuất cụ thể phản ánh tư tưởng

pháp luật của Lê Quý Đôn

2 Xuất thân từ một gia đình đại quan

liêu và chịu ảnh hưởng của nho học, tư

tưởng trị nước của Lê Quý Đôn mặc dù

vẫn có điểm xuất phát từ cái vị thế đứng

trên nhưng từ thực tế của cuộc sống đời

thường luôn gần gũi, quan tâm tới nhân

dân, từ những trách nhiệm và công vụ:

Cai trị, thanh tra, cứu trợ nhân dân

thuộc rất nhiều tầng lớp, hoàn cảnh và ở

nhiều địa phương khác nhau của mình, từ

những kinh nghiệm và bài học rút ra được

từ kho tàng sách vở cổ kim mà ông hằng

nghiền ngẫm, Lê Quý Đôn là người có tư

tưởng vì dân rất rõ nét

Tư tưởng vì dân của Lê Quý Đôn vừa

hình thành và phát triển trong cái thuận lí

của cặp phạm trù nho học đồng thời luôn

là cái hoài bão díu đôi của người kẻ sĩ

muốn “7? nước - yên dân", nó hình thành

và phát triển trong cái nghịch lí của thời

cuộc đương thời: Nhân dân vì quá khổ

cực nên không chịu yên Vì thế, khuynh

hướng biểu hiện chủ yếu của tư tưởng vì

đân ở Lê Quý Đôn là "hương dân" và "lo

dân" Trong Thư kinh diên nghĩa ông

viết: "Ïhuên tứ cùng các quan đại phu

hàng ngày ăn mặc đều lấy ở dân Người

nông ddan suốt năm cẩn cà lao động không được nghỉ ngơi Những hạt cơm trên mâm đều là tân khổ của nông dân"

Ông cũng vạch rõ rằng: "Muốn hưởng mệnh trời lâu dài mà không chăm lo đến

đời sống nhân dân thì thật không hiểu lễ phdi la gi vay"

Chính là từ lòng ưu ái xót xa cho dân

chúng đương thời đồng thời lo lắng sợ hãi trước cái thế "/hổ băng" do dân gây nên

mà ta thấy Lê Quý Đôn đã suy nghĩ và

tìm kiếm nhiều giải pháp, trong đó có vấn

đề quan trọng là sử dụng pháp luật, thiết

định pháp chế Tư tưởng pháp luật của Lê

Quý Đôn có tiền đề ở tư tưởng vì dân của ông

3 Lê Quý Đôn là mot trong số ít

người Việt Nam ở thé ki XVIII, néu

không phải là người độc nhất đương thời,

nhờ trí tuệ uyên bác và sự khổ công của mình đã đón đường và bắt nhập được vào trào lưu phát triển của văn hóa - khoa học nhân loại khi ấy, để có được một phương

thức tư duy lí tính Ông "Ở2 người đâu tiên trong lịch sử nước ta đã có ý thức tiếp thụ kiến thức của toàn nhân loại với nội dung mới nhất của từ này"), Ông đã - vượt lên trên tất cả các nhà nho học

đương thời, đã nhìn thấy nhân tố duy vật

trong vũ trụ, dám tách ra khỏi Tống nho

Trang 3

để chỉ ra rằng: "Đẩy rẩấy trong khoảng

trời đất đều là khí cả "Lí" là ý nói có

thật chớ không phải không có Lí không

có hình tích, nhân khí mà hiện ra Vậy lí

tức ở trong khí"“) Với tư duy lí tính của

mình, Lê Quý Đôn một mặt đã đạt được

tới tính hệ thống, tính chính xác trong

phương pháp tư tưởng; mặt khác ở ý chí,

thái độ, ông tỏ ra là người yêu thích, sự

rành rẽ (công minh) và lẽ phải (công

bằng) Đây là một trong những tiền đề rất

quan trọng để hình thành và phát triển tư

tưởng pháp luật của ông

4 Lê Quý Đôn về tư tưởng cũng như :

trong hành động luôn gần gũi với thực tế,

coi trọng thực tiễn Trong Phú biên tap

lục, ông viết: "Kẻ sĩ ra làm quan hành

chính, có phải chỉ ung dung ở chốn miếu

đường, bàn bạc văn nhã và tỏ ra đức

vọng thôi đâu Có khi phải tuần xét biên

giới mà chịu trách nhiệm một phương thì

cũng phải làm sao để vỗ về bình nông,

dấy lợi trừ hại, tuyên bố giáo điều (điều

răn dạy), dời đổi phong tục, hết khả năng

tâm lực mà làm điều chức phận nên

lam " Va ông đã làm đúng như vậy

Ông luôn luôn nay đi nơi này, mai đi nơi

khác, hết sức tìm hiểu thực tế, gần gũi

thực tế Cũng chính từ sự gần gũi với thực

tế và quan điểm tôn trọng thực tiễn mà

Lê Quý Đôn luôn có quan điểm khách

quan trong tư duy và hành động

II TƯ TƯỞNG CỦA LÊ QUÝ ĐÔN VỀ PHÁP

LUẬT

Mặc dù trong kho tàng trước thuật

sách vở đồ sộ của mình, Lê Quý Đôn

không có một công trình riêng nào về

pháp luật Nhưng rải rác trong hầu hết

các tác phẩm của Lê Quý Đôn đều có thể

tìm thấy nhiều trang, dòng, hoặc liên

quan đến vấn đề pháp luật, hoặc trực tiếp

nói về pháp luật Đặc biệt quan trọng là

sự kiện năm 1764, Lê Quý Đôn đã có han một văn bản (tờ sớ) dâng lên chúa Trịnh,

để biểu đạt một chủ trương lớn về pháp

luật: "Xin thiết định pháp chế" Chính ở

đây và ở nhiều điểm khác khi ông luận bàn về pháp luật mà giữa những Lê Quý

Đôn - nhà sử học, Lê Quý Đôn - nhà địa

lí học, Lê Quý Đôn - nhà chính trị học,

Lê Quý Đôn - nhà tư tưởng, Lê Quý Đôn-

nhà thơ, Lê Quý Đôn - nhà nông học ,

chúng ta có thể nhận thấy đã hiển hiện

một Lê Quý Đôn - nhà luật học

Cần phải có sự nghiên cứu một cách toàn điện, có hệ thống mới có thể đánh giá được một cách đẩy đủ những giá trị tư tưởng và những cống hiến của ông về

phương diện luật học Tuy nhiên, bước

đầu hệ thống lại những tư tưởng của Lê Quý Đôn về pháp luật, chúng tôi thấy tư

tưởng pháp luật của ông có một số đặc

điểm cơ bản sau đây:

1 Lê Quý Đôn chủ trương kết hợp pháp trị với đức trị

Cách đây khoảng ba chục năm vào

những năm 60, trong một đợt tập trung

nghiên cứu về Lê Quý Đôn, thấy có mấy

ý kiến liên quan đến vần đề pháp luật

trong cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn mà sau đó, được tóm lược giới thiệu lại ở cuộc hội thảo khoa học ki niệm 250 năm, ngày sinh Lê Quý Đôn (1976) như

sau:

Ông Văn Tân trong bai Ki niém 250 năm ngày sinh Lê Quý Đôn khẳng định:

"Lê Quý Đôn là một nhà chính trị có những hòai bão lớn, muốn làm cho nước giàu dân mạnh bằng một con đường mới

là con đường pháp trị" Ông Tạ Ngọc

Trang 4

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Liễn trong một bài nghiên cứu về Nguyễn

Thiếp cũng cho rằng "Lê Quý Đôn chủ

trương trị nước theo đường lối pháp trị"

Theo cụ Cao Xuân Huy thì: "Về chính trị,

Lê Quý Đôn muốn tổng hợp cái thuyết

đức trị của nho gia và cái thuyết pháp trị

của pháp gia mà nặng về pháp gia "

Ông Nguyễn Tài Thư cũng cho rằng

đường lối trị nước của Lê Quý Đôn là đức

trị kết hợp với pháp trị nhưng càng về sau

tư tưởng pháp trị càng chiếm ưu thế

Trong bài viết gần đây nhất, ông Văn Tân

vẫn khẳng định rằng "Chủ trương của Lê

Quý Đôn là kết hợp pháp trị với đức trị

nhưng ông nặng về pháp trị rất nhiều "

Ông Hà Thúc Minh phản đối ý kiến đó và

cho rằng: “Đường lối chính trị của Lê

Quý Đôn không phải là đường lối chính

trị của pháp gia" Sau này, thấy thêm ý

kiến của Trần Bá Chí về vấn đề này cho

rằng, Lê Quý Đôn có ý đề cao pháp trị

ông đã coi hiệu lực trị nước của pháp trị

hơn hẳn đức trị Tuy vậy, tìm điểm xuất-

phát của tư tưởng pháp trị của ông, ta

thấy có những nét độc đáo so với các

pháp gia đời trước

Như vậy, bước đầu bàn qua về tư

tưởng pháp luật của Lê Quý Đôn giữa các

nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác

nhau, nhưng đa số tác giả đều đã cho

rằng ông chủ trương pháp trị, hoặc kết

hợp đức trị với pháp trị nhưng nặng về

pháp trị và thiên về phái pháp gia

Qua việc nghiên cứu những tiền đề tư

tưởng, những quan điểm và hành vi pháp

luật của Lê Quý Đôn, chúng tôi thấy ông

luôn chủ trương kết hợp đức trị với pháp

trị một cách hợp lí Điều đó thể hiện ở

một số điểm cơ bản sau đây:

Lê Quý Đôn luôn có ý thức nghiên

cứu và đề cao vai trò của pháp luật, mong

muốn dùng pháp luật để trị nước, yên dân Ông đã nghiên cứu một cách hết sức công phu về nhà nước và pháp luật qua

các triều đại ở Việt Nam cũng như các triéu dai Trung Hoa Ong đã dày công khảo cứu, bàn luận và đưa ra nhiều nhận

xét rất xác đáng về pháp luật, pháp chế Ông cũng đã để nhiều tâm sức để tìm hiểu và vận dụng thuyết pháp trị và tư

tưởng của các pháp gia Có lẽ tên tuổi của tất cả các pháp gia điển hình đều được ông nhắc tới trong các tác phẩm của

mình Mặc dù dò lại các trang dòng trong

di sản thư tịch và văn bản của Lê Quý Đôn để lại, chúng tôi không thấy có lần

nào ông dùng đến chữ "pháp rrị" (ngay

cả trong Sớ xin thiết định pháp chế của _ Lê Quý-Đôn; tai liệù thể hiện rõ nhất tư

| fuong phap đuầt bu n cũng không có từ này) Những tim hiểu kĩ nội dung Sớ _ xin thiết định pháp chế cũng như các văn bản khác mà Lê Quý Đôn bàn về pháp luật, pháp chế và những hành vi cụ thể

của ông có liên quan đến pháp luật, cho

thấy rõ ông là người có tư tưởng pháp trị,

muốn dùng pháp luật để trị nước, yên

dân Trong bài Sớ xin thiết định pháp

chế, Lê Quý Đôn viết: "Nhân tâm thì không định, thế biến thì không thường, do

đó trị nước là một việc rất khó, và chỉ có một cách để ước thử nhân tâm và chế ngự thế biến, đó là: pháp chế mà thôi" Rõ

ràng đây là tư tưởng đề cao pháp luật và tác dụng của nó trong đời sống nhà nước

và đời sống xã hội

Tuy nhiên, Lê Quý Đôn không phải là

một pháp gia, không đứng hẳn về phía pháp gia Ông cho rằng vai trò của pháp luật trước hết là để định quốc và giáo

Trang 5

hóa Ông đã tự giải thích hai chữ "Pháp

chế” của mình như sau: "Gọi là pháp chế,

cũng chỉ là thiết lập quan chức, phân

định văn võ, lập pháp thi lệnh một cách

nghiên cẩn, quy định học pháp, giáo

pháp, làm thế nào cho ở bên trong thì

triéu đình, ở bên ngoài thì phương trấn,

giao lưu chằng chịt với nhau như một

thân thể" của quốc gia Trong sách Kiến

văn tiểu lực, ông cũng đã nhận xét về

nguyên tắc tổ chức nhà nước ở triều Lê,

` r? A’ a % a

la “Đại để phỏng theo chế độ nhà Trần,

A

ss

Y o> — 153 t Cri¢ ala

ah đơn vị to nhỏ giữ gìn lân

nhau, cấp trên cấp dưới ràng buộc với

nhau” Như thế, trong tư tưởng pháp luật

của Lê Quý Đôn, ta thấy ông coi pháp

luật như một chất keo gắn bó các yếu tố

(bộ phận) của nhà nước (quốc gia) để tạo

nên sự thống nhất và ổn định, trong đó,

sự tôn trọng pháp luật chính là nhân tố

quan trọng để chất keo đó phát huy tác

dụng: "Kể làm dân thì vì phải kính nể

pháp luật mà có chí hướng nhất định

hoặc tuy có biến động bên ngoài mà

trong cối cũng không đến nôi phân ly và

phan loan" (Nguyên văn trong S& xin

thiét dinh phap ché)

Thuyết pháp trị, sản phẩm của văn

minh va lịch sử Trung Hoa khởi tự

Thương Ưởng đời nhà Tần với chủ thuyết

"pháp", đặc trưng bằng việc dùng hình

phạt nặng (cái hà khắc về hình phạt này

đã giết chết ngay chính Thương Ưởng),

được người cùng thời là Thân Bất Hại

góp thêm tư tưởng "/h¿f" (biện pháp dé

chế ngự kẻ dưới), rồi Thận Đáo hoàn

chỉnh bằng nguyên tắc "?hế” (sức mạnh

quyền lực) và cuối cùng, Hàn Phi Tử liên

kết cả "pháp”,“thuật","thế" thành hệ

thống pháp trị thì các đại diện hợp thành

phái pháp gia ấy đều tập trung lại và cùng

đứng về phía cá nhân kẻ thống trị tối thượng và giai cấp phong kiến, ở vị trí và quyền lợi đối kháng với nhân dân Ở mục đích và ý nghĩa ban đầu của nó, pháp fr¡

là một chủ thuyết về phương thức trị quốc, trị dân bằng các "biện pháp cứng", nhằm bảo vệ nhà vua và chế độ phong

kiến

Mặc dù Lê Quý Đôn chưa thoát khỏi

hệ tư tưởng phong kiến, những chủ

trương và kiến nghị của ông về cải cách, thiết định pháp chế, coi trọng pháp luật vẫn nhằm bảo vệ chế độ phong kiến

đương thời nhưng ông có phương pháp

riêng dựa trên cơ sở kết hợp pháp trị với đức trị Ông không quá thiên về VIỆC SỬ

dụng các hình phạt nặng Theo Lê Quý Đôn: "Muốn cho dân không oán thù, nguyén rua, thi phai lam thế nào? Duy có giảm hình phạt, đánh nhẹ tô thuế mà

thôi" (Thư kinh diện nghĩa) Từ chỗ

"thương dân" và "lo dân” ông luôn luôn

tìm cách an dân (làm cho dân yên ổn) để giữ được hòa khí Trong Quản thư khảo

biện ông viết: "Đặt ra hình phạt rõ nặng

để đe dân và bắt những người có liên quan, làm lụy đến nhiều người thì sẽ hại

đến hòa khí"

Một trong những cột trụ của phái pháp gia là Tuân Tử còn cho hệ thống

pháp trị một "hạt nhân trr tưởng” là quan

mệm “nhân chỉ tính ác” (tính người vốn

ác) chứ không phải "nhân chỉ sơ tính bản

thiện"(tính người vốn thiện) để làm cơ sở

lí luận cho việc thi hành pháp trị Lê Quý

Đôn thì lại khác Ông không những không theo thuyết "nhân chỉ tính ac"

cũng không tin hẳn vào thuyết "hân chỉ

sơ tính bản thiện" Theo ông, "con người

sinh ra, khí bẩm không đều, có người cũng

lương thiện, có kẻ hung ác "- Đây chính

Trang 6

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

là lí do để Lê Quý Đôn trình bày trong S$ớ

xin thiết định pháp chế năm 1764 Một

lần nữa ta lại thấy Lê Quý Đôn không

phải hoàn toàn nghiêng về phái pháp gia

mà ông đã có những nét riêng trong cách

tiếp cận vă thể hiện tư tưởng của mình về

vấn đề pháp trị

Mặc dù đã nhiều lần Lê Quý Đôn nói

về những đại diện của phái pháp gia,

phan tich những tư tưởng của họ Chẳng

hạn, trong Vân đài loại ngữ , các tư tưởng

của Quản Trọng, Thương Ưởng, Thân

Bất Hại, Tuân Tử, Hàn Phi Tử đều thấy

được Lê Quý Đôn nhắc đến Nhưng thiết

nghĩ cũng nên hiểu ông nói về các đại

diện của phái pháp gia này cũng như là

đã tham khảo 688 tên người và 712 tên

sách để viết nên bộ Bách khoa toàn thư

này mà thôi Không những thế, còn có

trường hợp ông chống lại, phê phán chính

ngay Hàn Phi và Thần Bất Hại Chẳng

hạn, khi ông dùng hình ảnh của thời khí

ấm áp hay gay gat dé đả kích tính cực

đoan, nghiệt ngã trong học thuyết của các

pháp gia họ Hàn, họ Thân: "Khí xuân ấm

áp, khí thu nghiêm khốc là đi đôi với

nhau, nhưng khí nghiêm khốc của mùa

thu là để giúp cho mùa xuân, đó là đạo

"trời Hê nghiêm khốc của mùa thu quá

thịnh thì khí dương hòa bị chuyển động

mà không phát tiết được, đó là họ Thân,

họ Hàn sở dĩ đã làm hại thiên hạ" “2

Tư tưởng kết hợp đức trị với pháp trị

của ông thể hiện rõ ở phương châm cai trị

của ông: “Quá cứng thi gay, quá mềm thì

hỏng, chỉ có vừa cứng vừa mềm cho thích

hợp điều ứng dụng mới nên"?) Là một

nhà nho học, Lê Quý Đôn trước sau vẫn

là người luôn coi trọng đến đức trị, coi đó

là một giá trị cần phải gìn giữ, phát huy

và là cơ sở bổ sung cho pháp luật Trong

Vân đài loại ngữ ông viết: "Chính trị nhân đức của thánh hiển như không khí

êm hòa, như gió xuân mát mẻ, lòng dạ

của thánh hiên như thanh thiên bách

nhật Thánh hiển đật ra pháp luật ở nơi

này mà nhân dân biết sợ ở chốn kia"™

Nhưng mặt khác là một nhà khoa học, một nhà chính trị, Lê Quý Đôn cũng nhận thức rất rõ vai trò của pháp luật và luôn có hòai bão dung hợp lễ nhạc với pháp độ để trị quốc, an dân và ông coi đó

là những yếu tố văn hóa của loài người:

"Lê nhạc và pháp độ là văn vẻ của loài người",

2 Pháp luật phải phù hợp với thực tiễn

và phải thuận tiện cho nhân dân Sau khi dâng sớ xin thiết định pháp chế năm 1764, Lê Quý Đôn tiếp tục có

nhiều phát kiến mới, nhất là thông qua các hoạt động công vụ cu thể, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, ông đã có nhiều đề xuất thể hiện rõ tư tưởng pháp luật của

mình Ví dụ, năm 1770 sau khi đi khám

duyệt hộ khẩu ở Thanh Hóa trở về kinh

đô tâu trình bốn điều về trị đạo, trong đó

có hai điều về sửa đổi quan chế; năm

1772 đi điều tra tình hình ở xứ Lạng Sơn, ông báo về triều đình việc tham nhũng của đốc trấn Doãn Thân; năm 1774 đi

Thuận Hóa, với cương vị lư thủ kinh đô,

Lê Quý Đôn đã công bố "24 điều khoản thêm sức đồn phòng"; năm 1776 khi làm hiệp trấn ở Thuận hóa, ông đã "đặt đề lại,

định lệ kiện, việc nào huyện xét, Việc

nào trấn xét đều có quy chế" Hào Bằng tư

duy của một nhà bác học và với kinh nghiệm thực tiễn trong các hoạt động có liên quan đến pháp luật, Lê Quý Đôn đã

có bước phát triển mới trong tư tưởng pháp luật của mình Vào khoảng năm

1773, trong phần "Vựng điển" của sách

Trang 7

PEE

Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn đã viết:

"Các đời đặt ra pháp chế, hoặc thêm

hoặc bớt, hoặc giảm hoặc phiến, tuy

không giống nhau nhưng đều lấy hợp thời

tiện dân làm phải".°®

"Hợp thời" tức là phải thích hợp với

thời thế, là biện chứng và thực tiễn Còn

"tién dân” tức là thuận tiện cho dân, mà

muốn vậy thì người đặt ra luật phải hiểu

dân và dân cũng phải được biết và hiểu

được pháp luật Lê Quý Đôn cho rằng, để

tiện cho dân, pháp luật dễ đi vào cuộc

ng thì "Lập pháp cốt giản mà đủ, dùng

người cốt ít mà tỉnh Pháp luật giản dị thì

dễ kê cứu, người làm ít thì không những

nhiễu"°”) Ông cũng phê phán một cách

găy gắt tính hình thức xa rời thực tế của

pháp luật: "Nếu đặt ra pháp luật văn hoa

để tăng vẻ một thời, mà khiến dân vì đấy

mà mất cả sinh nghiệp thì cũng chẳng

cân dàng như thế làm gì"°” Có thể coi

đây là luận điểm rất quan trọng trong tư

tưởng về pháp luật của Lê Quý Đôn, nó

đã thể hiện rõ tính khoa học, tính thực

tiễn đồng thời còn phản ánh tư — vì

dân của ông

3 Pháp luật phải thích ứng với phong

tục, tập quán và truyền thống

Trong tư tưởng pháp luật của Lê Quý

Đôn có một điểm một điểm rất đáng lưu

ý là ông rất chú trọng tới mối quan hệ

giữa pháp luật với phong tục, tập quán và

truyền thống Theo ông, khi san định

pháp luật, thực thi pháp chế phải chú ý tới

mối quan hệ này, phải làm cho pháp luật

thích ứng, thâm chí trong 1 những trường

kinh nnhasse= ——.-.——— BEES at SÔNG hệ)

hợp nhất ch phải ' 'nhượng bộ" nhềng

tục tập quán của nhân dân Ông viết:

"Thói tục trong thiên hạ môi nơi một

khác Vua, Thiên tử sửa sang pháp cai

trị, miễn là dân nơi đâu đều yên phong

tục nơi ấy thay đổi phép tắc, tự ý độc

đoán, trái cả tình thương của dân, thì cũng chẳng nên lam" Tuy nhién, Lé

Quý Đôn cũng là người luôn đề cao: tính sáng tạo, mạnh dạn cải rời cái cũ, bổ sung cái mới; ông khuyến khích việc huỷ

bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, thay bằng những điều quy định mới "hợp

thời" hơn, tiện dụng hơn Trong cuộc đời làm quan, nghiên cứu và viết sách, ông

đã nhiều lần đề xuất hoặc trực tiếp thực thi những biện pháp nhằm cách tân phong

tục tân quán tục tập quán, hoặc sửa đối pháp luật cho hoặc sửa đổi pháp luật cho

phù hợp với phong tục tập quán Chẳng

hạn, năm 1777, khi ông làm tả thị lang

bộ lại, ông đã đề nghị lên triều đình bốn điều sửa đổi, trong đó có hai điều liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân là,

sửa đổi về thuế khóa và sửa đổi phong tục

thế nào cho thích hợp với dân

Yếu tố truyền thống, mà ông thường

gọi là “các đời”, "đời trước”, cũng được ©

ông hết sức quan tâm nghiên cứu để kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng về kết hợp đức trị với pháp trị, dung hòa giữa lễ nhạc và pháp độ Trong Ván đài

loại ngữ ông đã viết: "Phép tắc của người đời trước đặt ra, gọi là điển; được người đời sau noi theo, gọi là lệ Việc trị nước, quí ở vô vi Lập pháp cốt ở Nhân theo doi trubc?

Có lẽ vì có tư tưởng tôn trọng truyền

thống, muốn kế thừa và phát huy truyền

thống mà trong suốt cuộc đời mình Lê

Quý Đôn đã say sưa học tập, nghiên cứu

một cách hết sức kĩ lưỡng để hệ thống

hóa lại những tri thức và kinh nghiệm của

các đời, trong đó có những tri thức về pháp luật và pháp luật thực định của các: triều đại Ông đã nhiều lần để xuất các

biện pháp để trị quốc, yên dân trên cơ sở

Trang 8

kế thừa truyền thống của ông cha Năm

1773, nhân hạn hán kéo dài, Lê Quý Đôn

đã trình lên chúa Trịnh năm điều, trong

đó có câu: "Phương pháp của cổ nhân là

đem lại hòa khí, dẹp tai biến, cốt lấy lễ

mà cầu phúc ở thần, lấy đức mà khoan

sức cho dân" Ông coi đó như là tôn chỉ

của mọi thời và cũng là tôn chỉ cho việc

định chế và thực hành pháp luật Tổng

kết kinh nghiệm của các đời trước, Lê

Quý Đôn chỉ ra rằng: "Tờ xưa, lập pháp

cốt giản mà đủ, dùng người cốt ít mà

tinh" Nắm vững tư tưởng của Khúc Hạo

về "Khoan - Giải - An - Lạc", hiểu rõ lời

phàn nàn của vua Trần Nhân Tông thế kỉ

XII vé su céng kénh cua bộ máy quan

liêu: "Sao một đất nước chỉ bằng bàn tay

mà lắm quan lại thế", ông đã nghiên cứu

và thống kê ra một cách tỉ mi số quan '

nha, thuộc lại buổi đầu triều đại nhà Lê

chỉ có 5398 người, liên hệ để phê phán

chế độ quan chế, chỉ ra căn nguyên của

sự rối ren xã hội đương thời và đề xuất

những kiến nghị hữu ích

4 Làm chính sự phải giữ điều công

bằng, pháp luật phải công khai,

Trong Quần thư khảo biện, trên cơ sở

phê phán một cách nghiêm khấc tình

trạng xã hội rối ren, kỉ cương lỏng lẻo

dẫn đến sự bất công của xã hội đương

thời: "”Veày nay, thiên hạ có người không

may phải khiếu tố thì việc khiếu tố ấy như

khiếu tố với trời cao; bất đắc dĩ phải bái

kiến thì việc bái kiến ấy như bái kiến với

quỷ thân"°” Lê quý Đôn đã đề xuất một

nguyên tắc quan trọng cho hoạt động lập

pháp và hành pháp là: "Láp pháp cốt giản

mà đủ, dùng người cốt ít mà tỉnh" đồng

thời, ông đã chỉ ra sự cần thiết phải thiết

lập sự công bằng và bảo đảm tính công

khai của pháp luật Theo Lê Quý Đôn, bảo đảm sự công bằng không những là yêu cầu thực tiễn của xã hội, là cái "!Z

chính đáng của pháp luật, pháp chế mà còn là điều kiện tiên quyết của cả công việc chính sự quan trọng" Vì vậy, ở tập

HI cuốn Quản thự khảo biện, ông đã

dành cả một mục (mục số 90) với nhan

đề "Làm chính sự phải giữ điều công bằng" để bàn về việc này

Từ cách đặt vấn đề nên lựa chọn tỉnh thần khoan dung hay nghiêm khấc khi làm chính sự, Lê Quí Đôn giải đấp ngay rằng vấn đề không phải ở chỗ nên khoan dung hay nghiêm khắc mà cái “lí lế chính

đáng (chuẩn mực) ở đây là: "Phải giữ

điều công bằng, vì một việc mới chi du

định trong óc thôi đã không tránh khỏi có

điều lệch lạc rồi, thế thì sao có thể tốt lành hết thảy được" Lê Quí Đôn giải

trình như sau: "Xé/ ra, luật pháp là những qui định chung cho cả thiên hạ Cần phải

định ra điều luật trước, mà nặng nhẹ, lớn nhỏ, đều phải thỏa đáng, rồi công bố rõ ràng cho thiên hạ biết Sau, cứ theo đó

mà xử quyết" Trên cơ sở đó, ông yêu cầu

cụ thể: "Vua không định tội theo ý riêng

Bề tôi không tùy tiện tha, hoặc buộc tội

HGHỜI `

_ Ông cho rằng, điều đạo lí cốt yếu của

sự công bằng là: "Nếu cứ lấy lòng trung

hậu, công bằng, thẳng thắn mà làm, thì

chính sự sẽ thấu lí; nhân sự sẽ đạt tình, sẽ không còn dấu vết cho người bới móc,

`không còn tự ý để người rach roi Ban

_ thưởng, phạt tội, đêu thỏa đáng, giết hoặc tha, đêu để làm răn, (như thế thì) dân trong thiên hạ đều hòa hợp ở đạo người"

Lê Quý Đôn không những chỉ nêu ra

tư tưởng công bằng, công khai, nghiêm

minh mà trong suốt cuộc đời mình ông

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 21

Trang 9

đã hành động theo tư tưởng đó Đối với

ông, sự bất công, cửa quyền, tham nhũng,

hối lộ là những cái thuộc phạm trù

khuất tất, là đối tượng tấn công, khắc

phục của ông Các năm 1756, 1764,

1772 khi đi liêm phóng, đốc đồng tại

các địa phương, ông đã điều tra và lôi ra

ánh sáng hàng loạt vụ tham ô, ức hiếp

dân nghèo, đã đề nghị xử lí hoặc trực tiếp

xử lí nghiêm khắc nhiều quan lại tham

nhũng đương thời, trong đó có cả những

quan to như Trịnh Thu, Lê Doãn

Như vậy, bước đầu tìm hiểu về tư

tưởng pháp luật của Lê Quý Đôn, chúng

ta thấy ông là người luôn mong muốn kế

thừa và phát huy truyền thống văn hóa,

pháp lí của dân tộc đồng thời cũng luôn

có ý thức tiếp thu tính hoa của văn minh

nhân loại Ông chủ trương kết hợp đức trị

với pháp trị; ông đề xuất tư tưởng về tính

phù hợp, tính thực tiễn, tính công bằng,

công khai, nghiêm minh của pháp luật;

đồng thời ông cũng đã nêu ra luận điểm

quan trọng về việc phải làm cho pháp luật

thích ứng với phong tục, tập quán và

truyền thống

Trong các công trình của mình, ông

còn trích dẫn khá nhiều điển tích, quan

điểm của các nhà tư tưởng khác, nhận

xét, bình luận và nói rõ mục đích của sự

trích dẫn nhằm làm luận cứ cho tư tưởng

của ông Nhưng điều quan trọng là ở đây

ta gặp được tư tưởng của chính Lê Quý

Đôn - những sản phẩm trí tuệ của ông

Hơn thế, đa phần những tư tưởng này của

ông đã được ông vận dụng trong hành

của ông về pháp luật không những có

nghĩa về lí luận mà còn có ý nghĩa cả về

mặt thực tiễn nữa Và thật lí thú, những

tư tưởng này đã được ông nêu ra cách đây

hơn hai thế kỉ nhưng ngày này đọc lại ta

vẫn thấy hiển hiện những giá trị rất lớn của chúng đối với xã hội đương đại Việt

Nam Vì vậy, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ hơn tư tưởng pháp luật của

Lê Quý Đôn, kế thừa và phát triển những

giá trị khoa học của tư tưởng đó và vận dụng vào việc xây dựng và phát triển

khoa học pháp lí, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, làm cho dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, văn minh là một trong những hướng nghiên cứu của khoa học pháp lí./

(1) Lê Quý Đôn đỗ dầu khoa thi tiến sĩ năm Nhâm

tuất (1752) với học vị "Bang nhan" véi dé thi: "Binh

trị là trách nhiệm cúa bề tôi phụ chính" Nghĩa là ông đã quan tâm và hiểu vấn đề trị nước từ rất sớm

(2) Lé Quy Dén nha bac hoc thé ki XVII Ty van héa thong tin Thai Binh, 1995, tr 23

(3) Lịch sứ tư tưởng Việt Nam Nxb.Khoa học xã hội

H.1993, tr 431

(4) Lê Quý Đôn: Ván đài loại ngữ, Tập I Nxb.Văn hóa thông tin, H.1995, tr.37

(5) Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I Nxb.Khoa hoc x4

hội H.1997, tr.27

(6) Lé Quy Don nha bac hoc thé ki XVII Sdd, tr.38 (7) Lê Quý Đôn: Ván đài loại ngữ, Tập II Nxb.Văn

hóa thông tin H.1995, tr.88

(8) Lê Quý Đôn: Sdd, Tập II, tr.12

(92) Lê Quý Đôn: Sdd, Tập II; Nxb.Vàan hóa thông tin H.1995, tr.9 - 10

(10) Lê Quý Đôn: Sdd; tr.27

(11) Lê Quý Đôn toàn tập, Sdd, Tập I, Tr.28

(12) Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ, Tập I Nxb.Vàn

hóa H.1960, tr.211 (Bản dịch của Trần Văn Giáp)

(13) Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I Nxb.Khoa học xã hội H.1977, tr.134

(14) ,(15)Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục

học 1972, Quyển nhị, tr.IO1

(16) Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ, Tập I Nxb.Văn

hóa thông tin HI.1995, tr.30, (bản dịch của Tạ Quang

Phát), chữ “vó v?" được dịch giả ghi là:

đức mà hóa dân, không cân dến hình pháp và chính

sự”

Trong bản dịch của Trần Văn Giáp, Nxb.Văn hóa, H.1960, chữ “vô v” được giải nghĩa là “bới việc”

Có lẽ nghĩa nay dung hon

(17) Lê Quý Đôn: Quần thư khảo biện Nxb.Khoa

học xã hội H.1995, tr.444

Viện sử

“tô vị, lây

Ngày đăng: 21/02/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w