Khái niệm Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ là tổng hợp các quy phạm phápluật điều chỉnh những quan hệ xã hội pháp sinh trong quá trình chào bán chứngkhoán trong một phạm vi, gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ Ở VIỆT NAM
Họ và tên:
MSSV:
Lớp: K – Luật học Giảng viên: PGS TS Lê Thị Thu Thủy
Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3A. Mở đầu
Nền kinh tế hiện đại ngày nay tồn tại đa dạng thị trường, mỗi thị trường đều
có hàng hóa và đối tượng giao dịch khác nhau Thị trường tiền tệ là nơi mua bán,trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, cácchứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được Thị trường ngoại hối là nơi diễn racác giao dịch mua bán, chuyển nhượng, vay và cho vay bằng ngoại tệ Còn trên thịtrường chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và cácchứng khoán phái sinh Các chứng khoán thường được chào bán theo 2 phươngthức: chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng Tuy chào bán chứng khoánriêng lẻ chưa được đề cập chính thức trong hệ thống pháp luật về chứng khoán vàthị trường chứng khoán của Việt Nam, nhưng pháp luật về chào bán chứng khoánriêng lẻ đang ngày càng được nhà nước quan tâm và là một phương thức quantrọng trong thị trường chứng khoán
B. Lý luận và thực tiễn về pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ ở Việt Nam
I. Những vấn đề chung về pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ
1. Chứng khoán và chào bán chứng khoán riêng lẻ
a. Chứng khoán
• Định nghĩa:
Theo nghĩa nguyên thủy nhất, chứng khoán là những chứng thư, chứng từthay thế tiền bạc chi tiêu trong các hành trình nhiều ngày trên biển Định nghĩa nàychỉ phù hợp với giai đoạn đầu khi thị trường chứng khoán mới hình thành, sốlượng hàng hóa còn hạn chế Ngày nay, thị trường chứng khoán đã phát triển vềquy mô và chất lượng, khái niệm về chứng khoán cũng có những thay đổi nhấtđịnh
Ngày nay, Chứng khoán ngoài việc là chứng từ có giá dài hạn hoặc bút toánghi sổ xác nhận các quyền, lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn hoặc tàisản của tổ chức phát hành; Nó còn là hàng hóa của thị trường chứng khoán Chứngkhoán có giá là hình thức biểu hiên của tư bản giả, bản thân không có giá trị độclập, là những bản sao bằng giấy tờ của tư bản thực Những chứng khoán có giámang lại thu nhập cho người sở hữu nên nó cũng là đối tượng mua bán và có giá
Trang 4cả Thông thường trên chứng khoán có giá không ghi tên người sở hữu, do đó, cóthể chuyển nhượng tự do từ người này sang người khác mà không cần có chữ kícủa người chuyển nhượng Trong lịch sử phát triển thị trường chứng khoán, lúc đầuchứng khoán được in bằng giấy nhưng dần dần được thể hiện dưới hình thức phivật thể thông qua nghiệp vụ ghi chép kế toán bằng phương tiện điện tử.
Một chứng khoán tức là một sản phẩm tài chính có thể giao dịch trên thịtrường
Chứng khoán là một công cụ tài chính có giá trị, có thể mua bán và nắm giữnhư tiền
Chứng khoán là xác nhận bằng chứng chỉ (certificate), bút toán sổ sách(book-entry) hay dữ liệu điện tử thể hiện quyền và lợi ích về sở hữu tài sản hoặcphần vốn đối với các công ty cổ phần
Chứng khoán thể hiện mối quan hệ sở hữu đối với công ty (được xem là cổphiếu), thể hiện mối quan hệ chủ nợ (trái phiếu…) hay chứng khoán lai (trái phiếuchuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi) hoặc các loại quyền chọn
Chứng khoán có các thuộc tính sau:
Thứ nhất, chứng khoán có tính thanh khoản, nghĩa là chứng khoán có thểđược chuyển đổi thành tiền mặt;
Thứ hai, chứng khoán có tính sinh lời, nghĩa là chứng khoán có khả năng tạothu nhập cho chủ sở hữu;
Thứ ba, chứng khoán có tính rủi ro, nghĩa là việc sở hữu, mua bán chứngkhoán có thể làm giảm thu nhập của chủ sở hữu
Một cách khái quát nhất, “chứng khoán” được hiểu là những chứng thư dướidạng vật chất hoặc dữ liệu điện tử (bút toán ghi sổ) xác nhận quyền, lợi ích hợppháp của chủ sở hữu chứng khoán đối với chủ thể phát hành và có thể mua bán,trao đổi
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 4 Luật chứng khoán 2019 quy định:
Trang 5“1 Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉlưu ký;
c) Chứng khoán phái sinh;
d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định.”
• Đặc điểm của Chứng khoán:
Chứng khoán là một tài sản tài chính có những đặc điểm cơ bản sau:
- Tính thanh khoản
Tính thanh khoản hay còn gọi là tính lỏng, là khả năng chuyển đổi tài sản đsthành tiền mặt Khả năng chuyển đổi này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời
gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi Chứng khoán có tính thanh khoản
cao hơn so với các loại tài sản khác và được thể hiện qua khả năng chuyển nhượngcao trên thị trường Mỗi loại chứng khoán khác nhau sẽ có khả năng chuyểnnhượng khác nhau
- Tính rủi ro
Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn củarủi ro gồm: rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống Rủi ro có hệ thống haycòn gọi là rủi ro thị trường là rủi ro chịu tác động của nền kinh tế chung như lạmphát, thay đổi về tỷ giá đối hoái, lãi suất,… và có tác động tới toàn bộ hoặc hầu hếtcác loại tài sản Rủi ro không có hệ thống thường liên quan đến điều kiện của nhàphát hành và chỉ tác động đến một tài sản hoặc một nhóm nhỏ các tài sản Các nhàđầu tư thường quan tâm đến việc xem xét, đánh giá các rủi ro liên quan để từ đóđưa ra các quyết định lựa chọn, giữ hay bán các loại chứng khoán Điều này cúngthể hiện mối quan hệ giữa lợi tức và rủi ro hay sự cân bằng về lợi tức, nghĩa là cácnhà đầu tư sẽ không chịu rủi ro tăng thêm trừ khi họ kỳ vọng được bù đắp bằng lợitức tăng thêm
Trang 6Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán chứng khoán trong phạm
vi một số nhà đầu tư nhất định, thông thường là những nhà đầu tư có tổ chức vớinhững điều kiện hạn chế, không tiến hành chào bán rộng rãi ra công chúng
• Đặc điểm:
- Chào bán chứng khoán riêng lẻ chỉ hướng tới một số lượng nhà đầu tư hạnchế, thông thường là những nhà đầu tư có tổ chức hay những nhà đầu tư cá nhân cótiềm lực kinh tế hoặc những người có mối quan hệ thân thiết với chủ thể phát hành
- Tùy theo từng hệ thống pháp luật mà chào bán chứng khoán riêng lẻ đượcquy định ở các văn bản khác nhau Ví dụ như ở hệ thống pháp luật Civil Law, hoạtđộng chào bán chứng khoán riêng lẻ do Luật chứng khoán và kinh doanh chứngkhoán điều chỉnh Ở Việt Nam, hoạt động này nằm rải rác ở các luật như luậtdoanh nghiệp, luật các tổ chức tín dụng
- Hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ thường gắn với việc thành lậpcông ty cổ phần và quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp
Trang 72 Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ
a Khái niệm
Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ là tổng hợp các quy phạm phápluật điều chỉnh những quan hệ xã hội pháp sinh trong quá trình chào bán chứngkhoán trong một phạm vi, giới hạn nhất định của tổ chức phát hành
Theo Khoản 20 Điều 4 Luật chứng khoán 2019 quy định:
“Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán chứng khoán không thuộctrường hợp quy định tại điểm a khoản 19 Điều này và theo một trong các phươngthức sau đây:
Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoánchuyên nghiệp;
Chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.”
Theo đó, nội dung “không sử dụng phương tiên thông tin đại chúng hoặcnternet” đã được loại bỏ khỏi định nghĩa và một trường hợp được thêm vào so vớiđịnh nghĩa về chào bán chứng khoán riêng lẻ trong Luật Chứng khoán 2006
b Nội dung pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ
• Điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ
– Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông quaphương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; xác định rõ đốitượng, số lượng nhà đầu tư
– Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bịhạn chế tối thiểu một năm; kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán; trừ trường hợpchào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty;chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoánchuyên nghiệp; chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoánchuyên nghiệp; theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của phápluật
Trang 8– Các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cáchnhau ít nhất sáu tháng.
– Chủ thể:
+ Chủ thể chào bán cổ phần: công ty cổ phần (trừ công ty đại chúng) và cácdoanh nghiệp (trừ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước) chuyển thành công ty cổphần
+ Chủ thể chào bán trái phiếu: Doanh nghiệp được tổ chức dưới dạng Công
ty cổ phần; Công ty Trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nước ngoài
– Ngoài ra, công ty chào bán trái phiếu riêng lẻ phải đáp ứng thêm điều kiện:+ Thời gian hoạt động tối thiểu: ít nhất 1 năm (để chứng minh khả năng kinhdoanh)
+ Đáp ứng yêu cầu minh bạch về tài chính: có báo cáo tài chính của nămliền kề phải được kiểm toán (bảo đảm cơ sở tin cậy để quyết định đầu tư)
+ Đáp ứng yêu cầu về năng lực kinh doanh: có lãi năm liền kề trước pháthành
– Đăng ký chào bán chứng khoán: áp dụng với chứng khoán chào bán là cổphần
• Thủ tục chào bán chứng khoán riêng lẻ:
– Tổ chức phát hành gửi hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu riêng lẻ tới cơquan nhà nước có thẩm quyền quản lý chào bán cổ phiếu riêng lẻ
– Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ và hợp lệ; trong thời hạn 10 ngày kể từngày nhận được hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần riêng lẻ, cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phải có ý kiến bằng văn bản yêu cầu tổ chức phát hành bổ sung, sửađổi hồ sơ Thời gian nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ được tính từ thời điểm tổ chứcphát hành hoàn thành việc bổ sung, sửa đổi hồ sơ
Trang 9– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợplệ; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo cho tổ chức đăng ký và công bốtrên trang thông tin điện tử về việc chào bán cổ phiếu riêng lẻ của tổ chức đăng ký.
• Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán riêng lẻ:
– Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu riêng lẻ;
– Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chào bán vàphương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán;
– Quyết định của Hội đồng quản trị thông qua tiêu chí và danh sách lựa chọnđối tượng được chào bán trong trường hợp được Đại hội đồng cổ đông ủy quyền;
– Tài liệu cung cấp thông tin về đợt chào bán cho nhà đầu tư (nếu có);
– Tài liệu chứng minh đáp ứng tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vàtuân thủ quy định về hình thức đầu tư trong trường hợp chào bán cho nhà đầu tưnước ngoài
– Văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cácdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện (nếu có)
– Hồ sơ, thủ tục đăng ký chào bán cổ phiếu riêng lẻ để chuyển đổi từ công tytrách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần được thực hiện theo quy định của phápluật về chuyển đổi doanh nghiệp
– Bản chính Báo cáo tài chính có kiểm toán gần nhất và tài liệu hợp lệ chứngminh nhà đầu tư có đủ nguồn vốn hợp pháp để bổ sung vốn điều lệ
• Công bố thông tin trước chào bán chứng khoán riêng lẻ:
– Trong thời hạn 90 ngày; trước và trong khi thực hiện việc chào bán riênglẻ; tổ chức chào bán không được quảng cáo việc chào bán trên các phương tiệnthông tin đại chúng; trừ trường hợp công bố thông tin theo pháp luật về chứngkhoán và pháp luật có liên quan Việc công bố thông tin không được chứa đựng nộidung có tính chất quảng cáo và mời chào về việc chào bán cổ phần riêng lẻ
– Tổ chức chào bán cung cấp thông tin về đợt chào bán cho nhà đầu tư
Trang 10II Thực trạng pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của Việt Nam hiện nay
1. Pháp luật đề cập tới Chào bán chứng khoán riêng lẻ
a. Pháp luật đề cập tới Chào bán chứng khoán riêng lẻ ở Việt Nam hiện nay:
Về cơ bản, có ba hình thức chào bán cổ phần, đó là chào bán cổ phần chocác cổ đông hiện hữu, chào bán cổ phần ra công chúng và chào bán cổ phần riênglẻ
• Luật Doanh nghiệp Việt Nam và Luật Đầu tư:
Luật Doanh nghiệp năm 2014 không giải thích thế nào là phát hành cổ phầnriêng lẻ, nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã làm rõ vấn đề này Theo đó, chàobán cổ phần riêng lẻ là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần, loại cổ phần đượcquyền chào bán để tăng vốn điều lệ và đáp ứng hai điều kiện: một là, không chàobán thông qua phương tiện thông tin đại chúng; hai là, chào bán cho dưới 100 nhàđầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc chỉ chào bán chonhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
Ví dụ, Công ty cổ phần ABC có 3 cổ đông là A, B, C được coi là phát hành
cổ phần riêng lẻ khi công ty này phát hành thêm cổ phần để một người ngoài(không phải là các cổ đông A, B, C) mua thêm cổ phần của Công ty và dẫn đến vốnđiều lệ của Công ty tăng lên Điểm khác biệt lớn nhất khi phát hành cổ phần riêng
lẻ so với các hình thức khác là vốn điều lệ của công ty tăng lên, có cổ đông mớitham gia và số lượng cổ đông mua cổ phần được hạn chế theo các điều kiện nhấtđịnh
Việc phát hành cổ phần riêng lẻ sẽ có hai lợi ích cơ bản là dòng tiền đầu tưcủa nhà đầu tư sẽ được chảy vào công ty mà không phải là các cổ đông của công tynhư hình thức chuyển nhượng vốn và nhà đầu tư/cổ đông cũng không phải chịuthuế khi thực hiện giao dịch
Trang 11Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, có 3 điểm thay đổi cơ bản
về việc phát hành cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty đạichúng
Thứ nhất, liên quan việc chào bán cổ phần riêng lẻ với cơ quan đăng ký kinhdoanh, theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong thời hạn 5 ngày làmviệc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phần riêng lẻ, công ty phải thông báoviệc chào bán cổ phần riêng lẻ với cơ quan đăng ký kinh doanh và chỉ có quyềnbán cổ phần sau 5 ngày làm việc, kể từ ngày gửi thông báo mà không nhận được ýkiến phản đối của cơ quan đăng ký kinh doanh
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bãi bỏ quy định này nhằm tạo thuận lợi chonhà đầu tư, doanh nghiệp rút ngắn thời gian để hoàn tất giao dịch M&A khi thựchiện thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ Doanh nghiệp chỉ phải thực hiện thủ tụcđăng ký tăng vốn điều lệ sau khi hoàn tất việc phát hành cổ phần riêng lẻ
Thứ hai, về quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông hiện hữu, theo quy địnhtại Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì việc thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần củacác cổ đông hiện hữu không được thể hiện rõ, mà được hiểu rằng, cổ đông hiệnhữu có thể được xem là đã từ bỏ quyền ưu tiên mua cổ phần mới khi nghị quyếtcủa đại hội đồng cổ đông chấp thuận việc phát hành thêm cổ phần được thông qua
Đến Luật Doanh nghiệp năm 2020, vấn đề này đã được làm rõ theo hướng:sau khi công ty quyết định phương án chào bán cổ phần riêng lẻ, thì cổ đông củacông ty phải thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần; trường hợp cổ đông và ngườinhận chuyển quyền ưu tiên mua không mua hết, thì số cổ phần còn lại mới đượcbán cho người khác theo phương án chào bán cổ phần riêng lẻ với điều kiện khôngthuận lợi hơn so với điều kiện chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp đại hộiđồng cổ đông có chấp thuận khác
Trên thực tế, khi công ty mục tiêu cần huy động vốn từ các nhà đầu tư, thì vịthế đàm phán của nhà đầu tư cũng khác so với vị thế của cổ đông hiện hữu Thôngthường, nhà đầu tư sẽ chỉ giải ngân dòng vốn khi công ty mục tiêu đảm bảo cácđiều kiện nhất định về cả khía cạnh pháp lý cũng như tài chính, thương mại Do đó,
Trang 12việc nhà làm luật cho phép đại hội đồng cổ đông công ty được chủ động đặt ra cácđiều kiện cho nhà đầu tư, kể cả thuận lợi hơn so với cổ đông hiện hữu, là việc rấtcần thiết, nâng cao sự chủ động cho doanh nghiệp và nhà đầu tư khi thực hiện giaodịch M&A theo thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ.
Thứ ba, về việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệpnăm 2014 không quy định rõ, trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thực hiệnM&A theo hình thức chào bán cổ phần riêng lẻ, thì có cần phải áp dụng thủ tục xinchấp thuận của sở kế hoạch và đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư hay không.Điều này đã gây ra một số lúng túng trong thời gian đầu khi thi hành Luật
Bằng việc khẳng định, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần chào bán riêng lẻphải làm thủ tục về mua cổ phần theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanhnghiệp năm 2020 đã xác định cụ thể các bước mà nhà đầu tư nước ngoài phải thựchiện, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho nhà đầu tư và doanh nghiệp khi áp dụng phápluật
Với những thay đổi mang tính đột phá, hy vọng rằng, Luật Doanh nghiệpnăm 2020 sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà đầu tư, doanh nghiệp yên tâmđầu tư, qua đó phát triển hơn nữa thị trường M&A ở nước ta, vốn còn rất nhiềutiềm năng và dư địa
Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;