1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập nhóm án lệ (pháp luật về quyền con người)

71 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Nhóm Quyền Con Người Tóm Tắt Án Lệ
Tác giả Apirana Mahuika, 18 Cá Nhân Khác
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Pháp Luật Về Quyền Con Người
Thể loại Bài Tập Nhóm
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 94,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM QUYỀN CON NGƯỜI TÓM TẮT ÁN LỆ Vụ việc giữa Mahuika và New Zealand a Các bên đương sự Nguyên đơn Apirana Mahuika và 18 cá nhân khác Bị đơn New Zealand b Nội dung bản án 1 Bị đơn Apirana Mahuika và 18 cá nhân khác, thuộc tộc người Maori của New Zealand Họ tự nhận là nạn nhân của việc New Zealand vi phạm các điều 1, 2, 16, 18, 26 và 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị Tại phiên họp thứ 55 của mình, Ủy ban Nhân quyền đã xem xét việc chấp nhận đơn khởi kiện Tuy nhiên.

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM QUYỀN CON NGƯỜI

TÓM TẮT ÁN LỆ

Vụ việc giữa Mahuika và New Zealand

a Các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Apirana Mahuika và 18 cá nhân khác

- Bị đơn: New Zealand

b Nội dung bản án

1 Bị đơn Apirana Mahuika và 18 cá nhân khác, thuộc tộc người Maori của NewZealand Họ tự nhận là nạn nhân của việc New Zealand vi phạm các điều 1, 2,

16, 18, 26 và 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

Tại phiên họp thứ 55 của mình, Ủy ban Nhân quyền đã xem xét việc chấp nhậnđơn khởi kiện Tuy nhiên, Ủy ban tuyên bố không chấp nhận các tuyên bố theocác điều 16, 18 và 26 của nguyên đơn vì không chứng minh được rằng quyềncủa họ đã bị vi phạm

→ Các vấn đề còn lại sẽ được xem xét chấp nhận theo điều 14 và 27 cùng vớiđiều 1

2 Sự kiện thực tế

Người Maori ở New Zealand là bộ tộc lâu đời, có nhiều đóng góp cũngnhư có nền văn hóa đặc sắc ảnh hưởng đến NZ hiện nay Năm 1840, ngườiMaori và người tiền nhiệm của Chính phủ New Zealand, Hoàng gia Anh, đã kýHiệp ước Waitangi, trong đó khẳng định các quyền của người Maori, bao gồmquyền tự quyết của họ và quyền kiểm soát nghề cá của các bộ lạc Điều II củaHiệp ước Waitangi đảm bảo cho người Maori: “Quyền sở hữu hoàn toàn không

Trang 2

bị xáo trộn đối với đất đai, rừng, nghề cá và các tài sản khác của họ mà họ cóthể sở hữu chung hoặc riêng miễn là họ muốn và mong muốn được giữ nguyênthuộc sở hữu của họ"

Vào năm 1840, điều này hầu như chỉ đề cập đến đánh bắt cá ven biển quy

mô nhỏ, nhưng theo thời gian, ngành đánh bắt cá của New Zealand đã có sựphát triển mạnh mẽ Chính phủ đã ra lệnh cấm cấp giấy phép mới và loại bỏnhững người đánh cá bán thời gian khỏi ngành này Biện pháp này có tác dụngngoài ý muốn là loại bỏ nhiều ngư dân Maori khỏi ngành thương mại

Năm 1986, Chính phủ New Zealand sửa đổi Đạo luật Thủy sản hiện hành

và đưa ra hệ thống quản lý hạn ngạch đối với việc sử dụng và khai thác thủy sản

vì mục đích thương mại Tại khoản 2 điều 88 của Đạo luật quy định rằng

"không có điều gì trong Đạo luật sẽ ảnh hưởng đến quyền đánh bắt của ngườiMaori” Năm 1987, các bộ lạc Maori đệ đơn lên Tòa án Tối cao New Zealand,tuyên bố rằng việc thực hiện hệ thống hạn ngạch sẽ ảnh hưởng đến các quyềncủa Hiệp ước bộ lạc của họ, trái với khoản 2 điều 88 của Đạo luật

Sau khi đàm phán với đại diện của người Maori, chính phủ đã thông quamột giải pháp tạm thời bằng cách thông qua Đạo luật nghề cá Maori năm 1989.Theo Đạo luật này, 10% hạn ngạch được chuyển ngay lập tức cho Ủy ban nghề

cá Maori

Vào tháng 2/1992, người Maori đã đề xuất rằng Chính phủ cung cấp tàitrợ cho việc mua cổ phần Sealords như một phần của việc giải quyết các yêusách của Hiệp ước về nghề Sau các cuộc đàm phán, chính phủ đồng ý sẽ cungcấp cho người Maori số tiền cần thiết để cổ phần của công ty này

Các nhà đàm phán nghề cá Maori đã kêu gọi sự ủy quyền từ Maori chothỏa thuận được nêu trong biên bản ghi nhớ Bản ghi nhớ đã được tranh luận tạihội nghị của bộ lạc tại quốc gia và tại 23 hội nghị theo phong tục của bộ lạcMaori trong cả nước Báo cáo đàm phán giữa người Maori có nhiều luồng quan

Trang 3

điểm (phần đông số người ủng hộ, đồng ý) Trên cơ sở báo cáo này, Chính phủNew Zealand và đại diện người Maori đã ký kết 1 chứng thư Căn cứ vàoChứng thư, Chính phủ trả cho các bộ lạc Maori một số tiền để phát triển nghềđánh bắt và cho họ 20% hạn ngạch mới cho các loài Quyền đánh bắt cá củangười Maori sẽ không còn hiệu lực trước tòa nữa và sẽ được thay thế bằng cácquy định.

Nguyên đơn nhận thấy rằng một trong những khó khăn của việc xác định

số lượng chính xác các bộ lạc đã ký vào Chứng thư Hòa giải, liên quan đến việcxác minh thẩm quyền thay mặt cho các bộ lạc để ký và cho rằng là một số bộtộc không có thẩm quyền đã ký Sau khi Chứng thư được ký kết, nguyên đơn đãkhởi xướng thủ tục pháp lý tại Tòa án cấp cao của New Zealand với mong muốn

có 1 lệnh tạm thời để ngăn cản Chính phủ thực hiện Chứng thư theo luật định

Họ cho rằng các hành động của Chính phủ đã vi phạm Đạo luật về Quyền củaNew Zealand 1990

Tuy nhiên sau khi các khiếu nại được đưa ra tòa án thì tòa án chỉ có thểđưa ra các khuyến nghị như là hủy bỏ các lợi ích của hiệp ước đối với nghề cáthương mại và phi thương mại là không phù hợp Pháp luật không có quy định

về việc loại bỏ các lợi ích thương mại đối với nghề cá thương mại và pháp luật,trên thực tế các lợi ích đó đã được các dân tộc chấp nhận tuy nhiên thì các quyđịnh và chính sách về nghề cá có thể được xem xét lại tại các Tòa án chống lạiHiệp ước về các nguyên tắc và các trường hợp khiếu nại trong tương lai gây ảnhhưởng đến luật quản lý cá thương mại

Quan hệ giữa người đứng đầu đối với người Maori sẽ thông qua thỏathuận để có thể giải quyết đầy đủ các vấn đề về quyền đánh bắt cá thương mạicủa dân tộc Maori nhằm không phát sinh đối với các quyền bằng tiếng Maorihoặc các nghĩa vụ đối với người đứng đầu nhà nước vẫn có hiệu lực pháp luật

và tộc Maori vấn sẽ phải tuân theo Hiệp ước Waitangi và làm phát sinh nghĩa vụđối với người đứng đầu

Trang 4

Trong phần 9 có nêu rõ rằng tất cả các vấn đề của người Maori về đánhbắt cá thương mại … cuối cùng đã được giải quyết và ngoài ra còn nhận đượckhoản trợ cấp 150tr $ Và cuối cùng thì tất cả 2 bên đều đã thống nhất ý chí vềvấn đề đánh bắt cá thương mại và phát triển văn hóa đối với người Maori Vàkhông Tòa án hay trọng tài nào có thẩm quyền xét hỏi tính hợp lệ hay sự tổn tạicác quyền và lợi ích của người Maori trong việc đánh bắt cá thương mại, hoặcđịnh lượng chúng etc.

Hiệu quả của việc giải quyết các quyền và lợi ích đánh bắt cá phi thươngmại của người Maori sẽ tiếp tục làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của Hiệpước đối với người đứng đầu và các quy định này sẽ tiếp tục phát huy nhằm bảođảm cho người Maori thu thập lương thực theo phong tục

đề này thì họ được nhận lại một phần hạn ngạch đánh bắt

Mâu thuẫn về hệ thống quản lý hạn ngạch đối với Hiệp ước Waitangi đãđược Tòa án Waitangi phát hiện Vì nó đã trao quyền hạn đánh bắt cá độc lậpcho những cá nhân không phải người dân tộc Maori, ngoài ra Tòa án cấp caoNew Zealand và tòa phúc thẩm trong những năm 1987 - 1990 đã có quyết định

Trang 5

về việc hạn chế hệ thống quản lý hạn ngạch vì nó đã vi phạm bất hợp pháp cácquyền đánh bắt của người Maori Tuy nhiên với việc ban hành Đạo luật giảiquyết trong Hiệp ước Waitangi thì quyền đánh bắt cá của người Maori đã khôngcòn được bảo vệ nữa.

Một số cá nhân của bộ tộc cho rằng không có bất kỳ thông báo ngừnghợp tác được ký bởi người đại diện bộ hoặc tiểu bộ lạc của họ liên quan đếnkhiếu nại nghề cá đang được chờ để xử lý trước tòa án và đã bị dừng theo luậtđịnh mà không có sự chấp thuận từ phía người đại diện của bộ lạc hay tiểu bộlạc Nó đã vi phạm Điều 14(1) theo Công ước Họ có đệ trình lên Tòa ánWaitangi và được Tòa án xem xét song những quyền hạn của Tòa án chỉ mangtính chất khuyến nghị

Ban hành Đạo luật giải quyết theo Hiệp ước Waitangi 1992 đã làm mất điquyền tiếp cận tòa án của họ một cách công bằng và công khai theo Điều 14(1)của công ước Trước đó thì họ có thể dựa theo Điều 88 của Bộ luật thủy sản để

có thể bảo vệ, xác định tính chất, mức độ thực thi luật chung của họ và Hiệpước về quyền và lợi ích đánh bắt cá Waitangi để có thể bảo vệ mình

c Kết luận: Ủy ban cho rằng New Zealand đã không vi phạm các nghĩa vụ của

mình theo Công ước đối với các tác giả trong vụ việc này

Ý KIẾN LẬP LUẬN CÁC BÊN

1 Ý kiến khiếu nại của Bộ tộc Với vai trò là luật sư của bộ tộc Maori,

chúng tôi nhận thấy rằng:

1 Đạo luật giải quyết của Hiệp ước Waitangi (Yêu sách về Thủy sản) đã

vi phạm nghĩa vụ của Quốc gia thành viên theo Hiệp ước Waitangi khi tịch thutài nguyên đánh bắt, từ chối quyền tự do xác định địa vị chính trị của bộ tộc vàcản trở quyền tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của bộ tộc

Trang 6

Bộ tộc Maori cho rằng quyền tự quyết theo điều 1 của Công ước chỉ có hiệulực khi mọi người có quyền truy cập và kiểm soát các nguồn lực của họ.

2 Hành động của Chính phủ đang đe dọa cuộc sống của và văn hóa của

bộ tộc, vi phạm điều 27 của Công ước

+ Đánh bắt cá là một trong những yếu tố chính của văn hoá truyền thống;

họ có sở thích đánh bắt cá và mong muốn mạnh mẽ thể hiện văn hóa của họthông qua đánh bắt đến mức tối đa của lãnh thổ truyền thống của họ

+ Văn hóa truyền thống của bộ tộc bao gồm các yếu tố thương mại vàkhông phân biệt rõ ràng giữa đánh bắt cá thương mại và đánh bắt cá khác

+ Hiệp ước Waitangi (Yêu sách về Thủy sản) tước bỏ quyền theo đuổiđánh bắt truyền thống của bộ tộc => hạn chế được luật bảo tồn và khía cạnhthương mại của đánh bắt đang bị từ chối đối với bộ tộc để đổi lấy phần hạnngạch đánh bắt

3 Hệ thống quản lý hạn ngạch (QMS)

+ Trao quyền sở hữu độc quyền tài sản trong đánh bắt cho những ngườikhông phải là người Maori; đồng thời trong một số quyết định của Tòa án cấpcao và Tòa phúc thẩm New Zealand từ năm 1987 đến năm 1990 đã hạn chế việcthực hiện thêm QMS trên cơ sở "có thể lập luận rõ ràng rằng QMS đã vi phạmbất hợp pháp các quyền đánh bắt của người Maori, được bảo vệ bởi điều 88 (2)của Đạo luật Thủy sản 1983

+ Với việc ban hành Đạo luật giải quyết của Hiệp ước Waitangi (Khiếunại về Thủy sản) năm 1992, QMS tuyên bố bãi bỏ điều 88 (2) của Đạo luậtThủy sản 1983, quyền đánh bắt của người Maori không còn được bảo vệ nữa

Trang 7

 Điều này mâu thuẫn với Hiệp ước Waitangi (khẳng định các quyền củangười Maori, bao gồm quyền tự quyết của họ và quyền kiểm soát nghề cácủa các bộ lạc) được Toà án phát hiện.

4 Không có Thông báo ngừng hợp tác nào được ký thay mặt cho bộ lạchoặc tiểu bộ lạc của họ liên quan đến các khiếu nại về nghề cá đang chờ xử lýtrước tòa án và các thủ tục này đã bị chấm dứt theo luật định mà không có sựđồng ý của bộ lạc hoặc tiểu bộ lạc theo điều 11 (2) (g) và (i) của Đạo luật giảiquyết Hiệp ước Waitangi (Yêu sách về Thủy sản) năm 1992:

Vi phạm quyền Điều 14 (1) của Công ước vì quyền đánh bắt cá của ngườiMaori rõ ràng là "quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật" theo nghĩacủa Điều 14 (1) Trước khi ban hành Đạo luật giải quyết của Hiệp ước Waitangi(Yêu sách về Thủy sản) năm 1992, người Maori đã đệ đơn lên tòa án nhiều yêusách về đánh bắt cá Các tác giả đệ trình Điều 14 (1) của Công ước đó đảm bảocho các tác giả, và bộ lạc hoặc bộ tộc con của họ, quyền được xác định nhữngtranh chấp bởi một trọng tài tuân thủ tất cả các yêu cầu của Điều 14

5 Bộ tộc có quyền tiếp cận với tòa án hoặc trọng tài dựa trên điều 88 củaĐạo luật Thủy sản trước khi ban hành Đạo luật giải quyết theo Hiệp ướcWaitangi (Yêu sách về Thủy sản) 1992, để bảo vệ, xác định tính chất và mức

độ, và để thực thi luật chung của họ và Hiệp ước về quyền hoặc lợi ích đánh bắt

2 Quan điểm, lập luận của phía đại diện New Zealand:

1 Đối với yêu sách của các tác giả theo Điều 27, Quốc gia thành viênchấp nhận rằng việc thụ hưởng văn hóa Maori bao gồm quyền tham gia vào các

Trang 8

hoạt động đánh bắt và họ chấp nhận rằng mình có nghĩa vụ tích cực để đảm bảorằng các quyền này được công nhận tuy nhiên quốc gia thành viên lưu ý rằngcác quyền của người thiểu số nêu trong Điều 27 không phải là vô hạn Chúng cóthể phải tuân theo quy định hợp lý và các biện pháp kiểm soát hoặc hạn chếkhác, miễn là các biện pháp này có lý do hợp lý và khách quan, phù hợp với cácquy định khác của Công ước và không dẫn đến việc từ chối quyền

2 Quốc gia thành viên cho rằng việc dàn xếp là đưa ra chính sách quốcgia mới vì lợi ích của các bộ lạc, để hoàn thiện các quyền hơn là hạ bệ chúng vàvới sự bảo vệ cho vị trí theo phong tục, chúng tôi cho rằng dàn xếp này có thểđược xử lý không chỉ ở cấp độ iwi, nhưng ở cấp độ pan iwi, trong đó sự đồng ýthực tế của mỗi iwi không phải là điều kiện tiên quyết và có thể dựa vào sựđồng thuận chung

3 Đối với sự chỉ trích của các tác giả đối với Hệ thống Quản lý Hạnngạch, Quốc gia thành viên tuyên bố rằng hệ thống này được đưa ra do cần cócác biện pháp hữu hiệu để bảo tồn nguồn đánh bắt ven bờ đang cạn kiệt Trongbối cảnh này, Quốc gia thành viên tuyên bố rằng mình có nghĩa vụ đối với tất cảngười dân New Zealand là bảo tồn và quản lý tài nguyên cho các thế hệ tươnglai

4 Đối với tuyên bố của Ủy ban khi tuyên bố thông tin được thừa nhậnrằng chỉ khi xác định được giá trị của vụ việc, Ủy ban mới có thể xác định mức

độ liên quan của Điều 1 với các tuyên bố của tác giả theo Điều 27, Quốc giathành viên đệ trình rằng sẽ lo ngại nhất nếu Ủy ban rời khỏi vị trí đã được cácQuốc gia thành viên của Công ước chấp nhận và bởi chính Ủy ban cho rằng Uỷban không có thẩm quyền xem xét các khiếu nại liên quan đến các quyền nêutrong Điều 1 Những quyền đó từ lâu đã được công nhận là quyền tập thể Do

đó, họ không nằm ngoài nhiệm vụ của Ủy ban là xem xét các khiếu nại của các

cá nhân, và việc các cá nhân cố tình đại diện cho người Maori nêu ra cáo buộc

vi phạm các quyền tập thể nêu trong Điều 1

Trang 9

5 Còn đối với khiếu nại của các tác giả rằng họ là nạn nhân của việc viphạm Điều 14 của Công ước, New Zealand cho rằng khiếu nại của tác giả về cơbản là hiểu sai và cố gắng đưa vào Điều một nội dung mà không phù hợp vớingôn ngữ của Điều khoản và không có mục đích tại thời điểm Công ước đượcsoạn thảo; khiếu nại của các tác giả tìm cách che khuất yếu tố trung tâm củaThỏa thuận dàn xếp năm 1992.

=> Như vậy, phía đại diện New Zealand khẳng định rằng: Giải quyết Nghề cá không vi phạm quyền của các tác giả, hoặc của bất kỳ người Maori nào khác.

Ngược lại, Thỏa thuận dàn xếp nên được coi là một trong những thành tựu tíchcực nhất trong những năm gần đây trong việc đảm bảo việc công nhận cácquyền của người Maori phù hợp với các nguyên tắc của Hiệp ước Waitangi.Quốc gia thành viên tuyên bố rằng họ cam kết giải quyết và giải quyết các khiếunại của người Maori một cách danh dự và công bằng

3 Ý kiến Ủy ban nhân quyền

Thay mặt Uỷ ban tôi cho rằng New Zealand đã không vi phạm các nghĩa

vụ của mình theo công ước đối với các tác giả Vì:

Theo như lập luận của New Zealand thì giải quyết nghề đánh cá không viphạm quyền của tác giả hoặc bất kì người Maori nào khác theo Công ước Quốcgia thành viên tuyên bố rằng họ cam kết giải quyết các khiếu nại của ngườiMaori 1 cách danh dự và công bằng

Ngược lại, Thỏa thuận dàn xếp nên được coi là một trong những thànhtựu tích cực nhất trong những năm gần đây trong việc đảm bảo việc công nhậncác quyền của người Maori phù hợp với các nguyên tắc của Hiệp ước Waitangi.Quốc gia thành viên tuyên bố rằng họ cam kết giải quyết và giải quyết các khiếunại của người Maori một cách danh dự và công bằng Thật vậy, rõ ràng là từphản ứng của công chúng vào thời điểm đó rằng một tỷ lệ đáng kể người NewZealand không phải là người Maori đã phản đối Thỏa thuận dàn xếp và không

Trang 10

chấp nhận rằng người Maori nên được trao các quyền đặc biệt đối với nghề cá

Ivan Kitok là một công dân Thụy Điển thuộc gia đình Sami đã hoạt động nuôi tuần lộchơn 100 năm Ông cho rằng mình có “quyền dân sự” đối với đất và nước ở làng tuy nhiênông đã bị từ chối vì ông được cho là đã mất tư cách thành viên làng Sami Thụy Điển và cơquan thừa phát lại của Lap đã nhấn mạnh: nếu một người Sami làm bất kỳ ngành nghề nàokhác trong khoang thời gian ba năm thì sẽ bị xóa tên khỏi danh sách làng Sami Như vậytuyên bố của Thụy Điển đã phủ nhận quyền vô hạn của dân tộc thiểu số Sami trong đó cóIvan Kitok

Chính phủ Thụy Điển cho rằng tài liệu do Ivan Kitok trình bày liên quan đến Sami là

vô cùng khó hiểu Chính phủ không có ý kiến thêm về đơn và chính phủ cho rằng ngườiSami không tạo thành một “dân tộc” theo điều 1 công ước nên điều 1 không được áp dụngnên khiếu nại của Ivan không được chấp nhận theo điều 3 công ước quốc tế về quyền dân

sự chính trị Các nước thành viên coi người Sami là một dân tộc thiểu số ở Thụy Điển và họđược bảo vệ theo điều 27 của Công ước

Tuy nhiên Ivan Kitok cáo buộc Thụy Điển vi phạm điều 27, vậy cần phải xem xét làluật pháp Thụy Điển và quyết định của toà án có tước quyền chăn nuôi tuần lộc của Ivan và

vi phạm điều 27 hay không Theo luật hiện hành tư cách thành viên làng Sami là do thành

Trang 11

viên làng Sami cấp Một người đã bị từ chối tư cách thành viên trong làng Sami có thểkhiếu nại quyết định lên Ban Hành chính Quận Kháng cáo chống lại quyết định của Hộiđồng về vấn đề này có thể được đưa ra Tòa án hành chính phúc thẩm và cuối cùng là lênTòa hành chính tối cao Ivan Kitok bị từ chối tư cách thành viên của làng Sami nhưng Hộiđồng quản trị của hội đồng Sami tuyên bố răng Ivan Kitok là chủ sở hữu của những contuần lộc thuần hóa Ivan Kitok cũng được phép săn bắt và câu cá miễn phí trong khu vựcđồng cỏ của cộng đồng Như vậy không thể nói rằng Ivan Kitok bị hạn chế quyền lợi củamình trong cộng đồng Chính phủ đệ trình rằng trong trường hợp hiện tại không chỉ ra sựtồn tại của vi phạm Điều 27 Khiếu nại nên được tuyên bố là không thể chấp nhận được làkhông có căn cứ rõ ràng.

Kết luận, với tư cách là người lai Sami, "không thể tận hưởng nền văn hóa của riêngmình vì quyền nuôi tuần lộc, săn bắn và đánh bắt của anh ta có thể bị xóa bỏ bởi một cuộc

bỏ phiếu không dân chủ Câu hỏi chính trước Ủy ban là liệu tác giả của thông tin liên lạc cóphải là nạn nhân của việc vi phạm Điều 27 của Công ước hay không Do đó, Ủy ban đượckêu gọi xem xét các hạn chế theo luật định ảnh hưởng đến quyền của một dân tộc Samiđược trở thành thành viên của một làng Sami Cần lưu ý thêm rằng ông Kitok luôn giữ một

số mối liên kết với cộng đồng Sami, luôn sống trên vùng đất Sami và tìm cách quay lại toànthời gian nuôi tuần lộc ngay khi có khả năng tài chính, trong hoàn cảnh cụ thể của ông

Sau khi xem xét cẩn thận tất cả các yếu tố liên quan đến vụ án này, Ủy ban cho rằngkhông có vi phạm điều 27 của Quốc gia thành viên Trong bối cảnh này, Ủy ban lưu ý rằngông Kitok được phép, mặc dù không đúng, được phép chăn thả và nuôi tuần lộc, săn bắt vàđánh cá

2 Nhận định của Luật sư

Trên cương vị là luật sư đại diện cho Ivan Kitok và Thụy Điển có thể thấy rằng

“quyền được hưởng thụ văn hóa truyền thống” của thân chủ tôi đã có sự vi phạm nghiêm

trọng theo Điều 27 của Công ước ICCPR “Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về

Trang 12

sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ”.và

tế Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi những phương tiện sinh tồncủa một dân tộc

3 Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý cácLãnh thổ uỷ trị và các Lãnh thổ Quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dântộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc

Sau đâu tôi xin trình bày một số lý do quyền thân chủ của tôi bị xâm phạm sau đây:

+ Về bản chất có thể thấy rằng, Ivan Kitok sinh ra và có nguồn gốc dân tộc là ngườiSami Tuy nhiên anh ấy đã tham gia vào một ngành nghề khác trong ba năm, và theo quyđịnh của pháp luật Thuỵ Điển thì một người tham gia vào ngành nghề khác trong 3 năm sẽ

bị gạch tên trong danh sách thành viên của Lappy Do vậy nguồn gốc Sami của Kitok chỉcòn “một nửa”, hay nói cách khác không hoàn toàn đầy đủ quyền như một người Sami thựcthụ Theo đó, Kitok là người không có quyền tham gia săn bắn, câu cá hoặc chăn tuần lộcnhư người Sami khi vốn dĩ rằng anh ấy đã không có sự xem xét tình trạng người Sami từlàng Sami bởi sự vắng mặt chưa đủ lý do

Trang 13

+ Một số những bất lợi đưa ra đã khẳng định Kitok mất tư cách thành viên trong làngSami, nhưng thực tế Kitok vẫn luôn luôn giữ sự liên kết với cộng đồng Sami, luôn luônsống trên vùng đất Sami Vì vậy không thể chắc chắn và đưa ra kết luận anh ấy vắng mặtlâu dài, làm việc khác dẫn đến mất đi tư cách người trong làng Sami, và không được hưởngquyền hưởng thụ văn hóa của người Sami.

+ Quyền hợp pháp đối với việc săn bắn, đánh bắt cá và chăn nuôi tuần lộc truyềnthống áp dụng cho người Sami sống ở các làng Sami là tất yếu hơn bao giờ hết Bởi lẽnhững hoạt động được trình bày trên là hoạt động thuộc một phần văn hóa của cộng đồng

mà họ thuộc về và liên quan đến hoạt động kinh tế xã hội Điều đó có nghĩa rằng, đó lànhững hoạt động chính của họ, ảnh hưởng đến quá trình lao động, sản xuất, không thể táchrời và một phần văn hóa không thể thiếu đối với dân tộc bản địa

+ Một cá nhân có thể thực hiện quyền trong cộng đồng với các thành viên khác trongnhóm của họ Quyền liên quan đến cơ sở vật chất cho văn hóa của họ, do đó cho phép cácthành viên của nhóm như vậy, liên quan đến quyền tham gia vào việc ra quyết định có liênquan Như vậy, Ivan Kitok là thành viên của làng Sami, có nguồn gốc Sami, chưa mất hoàntoàn tư cách là một người Sami nên anh ta có quyền hưởng thụ phần văn hóa đó Nhữnghoạt động sinh hoạt của Kitok - một người dân bản địa chưa mất hoàn toàn tư cách ngườiSami và các hoạt động kinh tế truyền thống: săn bắn, đánh bắt cá, chăn thả tuần lộc là điềukhông thể thiếu trong văn hóa cộng đồng người Sami, đặc biệt với Ivan Kitok

+ Thụy Điển đã từ chối quyền hưởng thụ văn hóa của người Sami đối với Ivan Kitokliệu có thật sự hợp lý khi mà tư cách là người Sami của Kitok vẫn còn “một nửa” và chưamất đi quyền hoàn toàn của một công dân trên lãnh thổ của làng Sami? Văn hóa không chỉdừng lại đơn thuần dừng lại ở việc cá nhân thuộc các nhóm thiểu số không bị loại trừ quyềnhưởng thụ, nền văn hóa gắn với các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ mà còn phải

có sự nhìn nhận rộng ra hơn nếu như những hoạt động kinh tế chính là hoạt động thiết yếutrong văn hóa của một cộng đồng nhóm dân tộc thiểu số Sự từ chối quyền hưởng thụ văn

Trang 14

hóa của người Sami đối với Ivan Kitok đã quá mở rộng phạm vi và ảnh hưởng nghiêmtrọng đến nhóm quyền dân sự của một công dân.

+ Việc Thụy Điển đưa ra những những tuyên bố và cáo buộc khi chưa có sự lập luận

rõ ràng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của Ivan Kitok - một trong nhữngngười thuộc nhóm dân tộc thiểu số Gây ra những bất lợi cho sự toàn vẹn và tồn tại văn hóađối với một cá nhân trong một cộng đồng, nhóm người Tóm lại vụ việc này, Thuỵ Điển đã

vi phạm quyền được hưởng thụ văn hoá truyền thống, theo điều 27 của công ước ICCPR

3 Tòa án và Uỷ ban nhân quyền đã đưa ra nhận định với vụ việc trên:

* Tòa nhận định

- Tôi với cương vị của tòa xin nhận định, Về việc Ivan Kitok cho rằng mình bị vi phạmquyền tự quyết theo Điều 1 của ICCPR, Tòa nhận định Ivan Kitok với tư cách là một cánhân, không thể tự xưng là nạn nhân của sự vi phạm quyền tự quyết được ghi trong Điều 1của Công ước Bởi Điều 1 của Công ước đề cập đến quyền được trao cho dân tộc: “ Khoản

1 Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết địnhthể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá.”

- Tuy nhiên, Tòa nhận thấy rằng ivan kitok đã thực hiện một nỗ lực hợp lý để chứng minhcác cáo buộc đối với mình rằng: anh ta là nạn nhân của hành vi vi phạm quyền được hưởngcác quyền tương tự như các thành viên khác của cộng đồng Sami theo điều 27 của công ướcnên được xem xét phù hợp với giá trị của vụ việc Trong điều này, những quyền của nhómthiểu số hiểu một cách đơn giản là việc các cá nhân thuộc các nhóm thiểu số không bị loạitrừ quyền hưởng thụ, một mình hoặc cùng các thành viên khác đối với nền văn hóa, sinhhoạt tôn giáo, ngôn ngữ riêng của cộng đồng họ Không nhất thiết họ phải là công dân củaquốc gia đó và họ cũng không cần phải đăng ký thường trú Điều này là không thể phủnhận

* Ủy ban xem xét:

Trang 15

Tôi với cương vị của Ủy ban nhân quyền xin nhận định về hoạt động chăn nuôi tuần lộc củaIvan Kitok và vấn đề công nhận tư cách là thành viên của cộng đồng Sami Căn cứ:

- Điều 27 Công ước nêu rõ: “Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo

và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo

và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ” Ủy ban cho

rằng đối với trường hợp này quyền được hưởng nền văn hóa của chính mình trong cộngđồng với các thành viên khác của nhóm phải được đặt trong bối cảnh cụ thể Khi xem xétliệu việc chăn nuôi tuần lộc của Ivan Kitok bị cấm theo Luật về quản lý tuần lộc năm 1971,

Ủy ban xem xét rằng: “Quy định về một hoạt động kinh tế thường chỉ thuộc phạm vi quyếtđịnh của một quốc gia Tuy nhiên, khi hoạt động đó là các thành tố thiết yếu trong văn hóacủa một cộng đồng sắc tộc, việc áp dụng nó đối với cá nhân có thể thuộc phạm vi điều 27của Công ước” Cụ thể, trong bối cảnh này, văn hoá không chỉ là tôn giáo, ngôn ngữ màvăn hóa còn bao gồm cả các hoạt động kinh tế, xã hội đã trở thành truyền thống của mộtdân tộc Nếu như hoạt động chăn nuôi tuần lộc là hoạt động truyền thống, lâu đời của ngườiSami thì việc săn bắn, đánh cá và chăn nuôi tuần lộc cũng được coi là hoạt động văn hóacần phải bảo vệ theo Điều 27 Công ước Đồng thời cần cân nhắc việc Kitok luôn sống, gắn

bó và chăn thả tuần lộc trên vùng đất Sami Điều này đã dần hình thành nên mối liên kếtkhăng khít của anh ta đối với cộng đồng Sami

Sau khi xem xét cẩn thận những yếu tố liên quan vụ việc, Ủy ban nhận định có vi

phạm điều 27 Công ước ICCPR của Thụy Điển và anh Ivan Kitok vẫn sẽ được phép chănthả, nuôi tuần lộc và săn bắt, đánh cá trên vùng đất Sami

NHÓM 5

Trang 16

1 Tóm tắt:

Angela poma poma là một công dân Peru, tuyên bố là nạn nhân của việc

bị Peru vi phạm một số quyền trong công ước ICCPR: điều 1 khoản 2 - quyềnsinh kế; điều 2 đoạn 3 (a) - quyền được hưởng một biện pháp khắc phục hiệuquả; điều 14 đoạn 1 - quyền về xét xử công bằng; điều 17 - quyền được bảo vệđời tư Bà và các con là chủ sở hữu trang trại Alpaca và hoạt động này chính làphương tiện sống duy nhất của họ Vào những năm 1950, chính phủ Peru đãchuyển hướng dòng chảy của sông uchusuma, một biện pháp làm mất đi nguồnnước mặt của các vùng đất ngập nước nằm trong trang trại của bà Poma để duytrì các đồng cỏ nơi động vật của bà ấy chăn thả Vào những năm 1970, chínhphủ đã khoan giếng (được gọi là giếng Ayro) để lấy nước ngầm ở patajpujo,điều này đã làm giảm đáng kể nguồn cung cấp nước cho đồng cỏ và các khuvực lấy nước cho con người và động vật Trong những năm 1980, Nhà nướctiếp tực dự án chuyển hướng dòng nước từ dãy Andes đến bờ biển Thái BìnhDương để cung cấp nước cho thành phố Tacna Vào đầu những năm 1990,chính phủ đã phê duyệt một dự án mới mang tên dự án Tacna đặc biệt dưới sựgiám sát của viện phát triển quốc gia Dự án này liên quan đến việc xây dựng 12giếng mới ở vùng Ayro, và kế hoạch xây thêm 50 giếng sau đó Poma nhận xétrằng biện pháp này đã đẩy nhanh tốc độ thoát nước và sự suy thoái của 10.000

ha đồng cỏ của Aymaras và gây ra cái chết của một lượng lớn gia súc Năm

1994, các thành viên khác nhau của cộng đồng Ayrama đã tổ chức các cuộcbiểu tình ở vùng Ayro, bị cảnh sát và lực lượng vũ trang phá vỡ 6 trong số 12giếng được xây dựng ở Ayro đã bị đóng cửa sau các cuộc phản đối và đơn khiếunại, bao gồm cả giếng số 6, được cho là đặc biệt có hại cho lợi ích cộng đồngbản địa Giếng này được chuyển giao cho EPS Tacna, một bộ phận của chínhquyền thành phố Vào năm 2002, công ty đã ở lại giếng số 6 để lấy thêm nước,sau đó bà Poma đã đệ đơn khiếu nại hình sự lên Văn phòng Công tố số 1 Tacna

Trang 17

chống lại người quản lý của EPS Tacna về tội môi trường, chiếm đoạt trái phápluật và gây thiệt hại; đơn khiếu nại đã bị công tố bác bỏ.

2 Công tố viên

Tôi với tư cách là công tố viên bác bỏ những cáo buộc của phía nguyênđơn về việc Nhà nước Peru đã có những vi phạm về nhân quyền đối với bàAngela Poma Poma dựa trên những căn cứ sau:

Nguyên đơn cho rằng việc nhà nước Peru vi phạm điều 1 khoản 2 vì việcchuyển dòng nước ngầm từ đất của mình đã phá hủy hệ sinh thái của altiplacogây ra sự suy thoái của đất và làm khô cạn các vùng đất ngập nước Do cáckhuyến nghị của Thanh tra viên, PET đã giao cho INRENA nhiệm vụ thực hiệnđánh giá tác động môi trường, và các khuyến nghị và biện pháp kỹ thuật màPET đưa ra đã được PET áp dụng từ năm 199 Một báo cáo từ Sở Nông nghiệpVùng Tacna ngày 12 tháng 7 năm 2001 xác nhận rằng mặc dù việc lấy nướcngầm của EPS Tacna là bất hợp pháp, nhưng cách nó được thực hiện không ảnhhưởng đến các khu bảo tồn thiên nhiên và rằng các nguồn nước được đề cập làmột nguồn thiết yếu Để đáp ứng các yêu cầu về nước sinh hoạt và nước nôngnghiệp của thung lũng Tacna, do đó việc rút nước sẽ tiếp tục Các giếng đangđược PET vận hành phù hợp với Hiến pháp và luật pháp có hiệu lực ở Peru, vàvới Hiệp ước Văn phòng thanh tra đã chỉ ra rằng, sau khi xây dựng các giếngNhà nước đã thông qua luật về sự cần thiết phải thực hiện các đánh giá tác độngmôi trường, và do đó không phát hiện ra bất kỳ sự vi phạm quyền cơ bản nàocủa nhà nước

Về việc nguyên đơn cáo buộc rằng cô ấy đã bị tước quyền hưởng một biệnpháp khắc phục hậu quả, vi phạm điều 2 khoản 3 (a) của công ước Cô cáo buộcrằng việc thực hiện dự án PET đã can thiệp vào cuộc sống và sinh hoạt của giađình cô Việc thiếu nước đã gây ảnh hưởng đến phương tiện sinh sống duy nhấtcủa họ Chúng tôi cho rằng do không được chứng minh về mặt kỹ thuật nênkhiếu nại này đã bị bác bỏ Điều đó không phải là vi phạm quyền với biện phạm

Trang 18

khắc phục hậu quả mà là một yêu cầu tố tụng liên quan tới bản chất của hành vi

vi phạm và do pháp luật quy định Hơn nữa, thiệt hại bị cáo buộc gây ra cho hệsinh thái chưa được chứng minh về mặt kỹ thuật hoặc pháp lý Vì vậy, việc viphạm quyền của nguyên đơn, gia đình côm ấy và các thành viên khác của cộngđồng Ancomarca chưa được xác lập

Nguyên đơn cho rằng các cơ quan chính trị và tư pháp đã không quan tâmđến các lập luận do cộng đồng và đại diện của cộng đồng đưa ra vì họ là ngườibản địa, do đó đã vi phạm quyền ình đẳng của họ theo điều 14, khoản 1 Theo

đó, ngày 20/2/2006, văn phòng thanh tra đã thông báo cho nguyên đơn các bước

đã thực hiện và các biện pháp được PET áp dụng để tuân thủ, đánh giá tác độngmôi trường Và vào ngày 20/3/2006 văn phòng thanh tra đã thông báo chonguyên đơn rằng vụ án đã được khép lại Điều này có nghĩa rằng các cơ quanchính trị và tư pháp đã tôn trọng yêu cầu của phía nguyên đơn trong quá trìnhgiải quyết Bên phái nhà nước Peru đã giải đáp các thắc mắc cũng như trình bàybiện pháp mà PET áp dụng để đánh giá tác động môi trường cũng như thôngbáo tình hình vụ án cho nguyên đơn Vì vậy, không có căn cứ cho rằng Nhànước Peru đã vi phamjq uyền

3 Nhà nước

Chúng tôi cho rằng đã thực hiện đúng cam kết tinh thần Công ước vàkhông vi phạm quyền con người của bà Angela Poma Thay mặt nhà nước,chúng tôi có quan điểm như sau: Chúng tôi nhận thấy rằng việc rút nước bằngEPS Tacna được thực hiện theo quy mô ưu tiên được thiết lập trong Đạo luật vềnước chung Đạo luật này đưa ra thứ tự ưu tiên trong việc sử dụng nước, đặtviệc cung cấp nước uống cho công chúng là ưu tiên sử dụng Ngoài ra, hầu hếtcác giếng đã bị đánh chìm trước khi Bộ luật Môi trường và Tài nguyên có hiệulực, Nghị định số 613 ban hành vào tháng 9 năm 1990, quy định yêu cầu đánhgiá tác động môi trường trước khi tiến hành bất kỳ công việc nào

Dự án Tacna Đặc biệt( PET) giúp phát triển kinh tế, đáp ứng các yêu cầu

về nước sinh hoạt và nước trong quá trình canh tác nông nghiệp của thung lũng

Trang 19

Tacna Đây là việc làm cần thiết và hết sức chính đáng Sau khi được các thanhtra viên khuyến nghị, chúng tôi đã thực hiện đánh giá tác động môi trường, việcnày được giao cho bên INRENA chịu trách nhiệm xử lý và được áp dụng từnăm 1997 Không những vậy, đến tháng 12 năm 2000 nó đã được cập nhật vàgiao cho bên INRENA tiếp tục áp dụng Chúng tôi nhận thấy rằng việc cácgiếng đang được PET vận hành là phù hợp với Hiến pháp và pháp luật hiệnhành ở Peru cũng như là với Hiệp ước Chúng tôi không nhận thấy bất kì saiphạm nào liên quan đến quyền cơ bản của cá nhân hay cộng đồng Trong trườnghợp chúng tôi cho rằng tác hại đó là do kết quả của các hoạt động do PET thựchiện, các báo cáo và khiếu nại đã được xử lý một cách nhanh chóng và hợp lý.

Chúng tôi đã tiến hành gửi thư thông báo cho Nguyên đơn về tiến trìnhcủa vụ việc, quá trình thực hiện đánh giá tác động đối với môi trường của dự án

Do đó không thể coi như chúng tôi đã bỏ qua yêu cầu, hay vi phạm quyền.Những cáo buộc về thiệt hại mà phía Nguyên đơn phải gánh chịu chưa được xácnhận về mặt pháp lý cũng như kiểm chứng rõ ràng nên đã bị bác bỏ, khôngđúng với trình tự thủ tục pháp luật Do đó, không thể tiến hành bồi thường theoyêu cầu của Nguyên đơn

họ Cuộc sống riêng tư và gia đình của họ bao gồm các phong tục tập quán,

Trang 20

các mối quan hệ xã hội, ngôn ngữ Aymara và các phương pháp chăn thả vàchăm sóc động vật Tất cả điều này đã bị ảnh hưởng bởi sự chuyển hướngcủa nước Cô Poma cũng bị tước đoạt quyền được hưởng một biện phápkhắc phục hiệu quả theo điều 2 khoản 3a công ước Thân chủ của tôi phànnàn rằng trong Bộ luật hình sự không có điều khoản nào về nào về tội chiếmđoạt vùng nước mà người bản địa sử dụng cho các hoạt động truyền thốngcủa họ, và tuyên bố rằng cô đã hết các biện pháp khắc phục trong nước Bêncạnh đó, cô Poma cáo buộc rằng các sự kiện được mô tả trên đã can thiệpvào cuộc sống và sinh hoạt của gia đình cô, vi phạm điều 17 của Công ướcCuối cùng, Cô Poma còn cho rằng các cơ quan chính trị và tư pháp đãkhông tính đến các lập luận do cộng đồng và đại diện của cộng đồng đưa ra

vì ở đây, họ là người bản địa, do đó vi phạm quyền bình đẳng của họ trướctòa án theo điều 14, khoản 1.Tôi xin hết

5 Ủy ban nhân quyền

Ủy ban đã xem xét và trao đổi thông tin này dựa trên tất cả các thông tin

mà các bên cung cấp Theo đó điều 27 được thiết lập và công nhận một quyềnđược trao cho các cá nhân thuộc các nhóm thiểu số và bổ sung cho các quyềnkhác mà tất cả mọi người đều có quyền được hưởng Ủy ban đã công nhận rằngcác quyền được bảo vệ ở điều 27 là quyền của mọi người trong cộng đồng, đượctham gia vào các hoạt động kinh tế và xã hội Ángela Poma Poma là người dântộc thiểu số và việc nuôi lạc đà alpaca là một hình thức sinh sống và truyềnthống của tổ tiên để lại, bản thân Ángela Poma Poma cũng tham gia vào hoạtđộng này Ủy ban cho rằng việc tham gia vào quá trình ra quyết định phải cóhiệu quả, không chỉ yêu cầu tham vấn mà cần có sự đồng ý trước Ngoài ra, cácbiện pháp phải tôn trọng nguyên tắc để không gây nguy hiểm cho chính sự sốngcòn của cộng đồng và các thành viên trong cộng đồng Trường hợp này, ủy bancho rằng Ángela Poma Poma không được quốc gia thành viên tham khảo ý kiến

về xây dựng giếng, Nhà nước không yêu cầu một cơ quan độc lập có thẩmquyền thực hiện các nghiên cứu để xác định tác động của việc xây dựng giếng

Trang 21

đối với hoạt động kinh tế truyền thống, cũng như không đưa ra các biện phápgiảm thiểu hậu quả tiêu cực và sửa chữa tác hại đã gây ra, Ángela Poma đãkhông thể tiếp tục hưởng lợi từ hoạt động kinh tế truyền thống của mình do đấtđai bị khô và mất gia súc, do vậy Ủy ban cho rằng hoạt động của nhà nước đãlàm tổn hại cơ bản đến lối sống văn hóa của Ángela Poma Poma Ủy ban kếtluận rằng các hoạt động do Quốc gia thành viên thực hiện vi phạm quyền củaAngela Poma được hưởng nền văn hóa riêng của họ cùng với các thành viênkhác trong nhóm của mình, theo điều 27 của Công ước Theo cáo buộc củaAngela Poma Poma ủy ban nhận định Quốc gia thành viên đã từ chối quyềnđược khắc phục hiệu quả đối với việc vi phạm các quyền của cô ấy được ghinhận trong Công ước, như được quy định trong điều 2, khoản 3 (a), Điều 27.Theo đó, quốc gia thành viên phải biện pháp khắc phục, sửa chữa thiệt hại và cónghĩa vụ thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các vi phạm tương

tự không xảy ra trong tương

Case Mukong v Cameroon, 458 HRC 1991 (1994).

(Mukong kiện Cameroon, số 458 - Ủy ban Nhân quyền năm 1991(1994))

I Case Brief (Tóm tắt vụ án).

1.1 Case fact - Những thông tin cơ bản:

- Nguyên đơn: Albert Womah Mukong1 (đại diện bởi luật sư), đã đệ đơn lên Ủyban Nhân quyền vào ngày 26/2/1991

- Bị đơn: Nhà nước thành viên – Cameroon2

- Ngày tiếp nhận đơn kiện là ngày 8/7/1992, tại phiên họp thứ 45 Ngày chấpnhận chính thức là 21/7/1994, tại phiên họp thứ 51

1 Mukong sinh năm 1933, là công dân của Cameroon Ông là một nhà báo, nhà văn và là một người phản đối chế độ 1 Đảng ở Cameroon Ông thường xuyên công khai ủng hộ nền dân chủ đa đảng và nỗ lực hướng tới việc thành lập một đảng chính trị mới Các tác phẩm của ông đều bị cấm xuất bản và lưu hành

2 Cameroon là quốc gia rộng thứ 53 trên thế giới (475.442 km 2 ), thuộc Tây Phi Thủ đô của nước này là

Yaounde Quốc gia này thường được gọi là "châu Phi thu nhỏ" do đa dạng về địa chất và văn hóa So với các quốc gia khác tại châu Phi, Cameroon có ổn định tương đối cao về chính trị và xã hội

Trang 22

- Chủ đề: Sự bắt bớ và sách nhiễu nhà báo vì các hoạt động chính trị bởi các nhàchức trách Nhà nước.

1.2 The facts as submitted by the author - Các sự kiện được trình bày bởi Mukong:

⮚ Ngày 23/4/1988: Mukong tham gia 1 buổi phỏng vấn với phóng viên của

BBC Tại đây, ông đã đưa ra những cáo buộc và chỉ trích cả Tổng thống vàChính phủ Cameroon, do đó ông đã bị bắt vào ngày 16/6/1988 Trong thờigian bị giam giữ, ông bị thẩm vấn và bị đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo Cụ thể:

từ 18/6-10/8/1988, ông bị giam trong căn phòng không có thiết bị vệ sinhrộng khoảng 25m2 cùng với 25 đến 30 người khác Mukong không có thức ăntrong vài ngày, cho đến khi bạn bè và gia đình tìm thấy ông

⮚ 13/7-10/8/1988, Mukong bị giam trong phòng giam với tội phạm thông

thường Tại đây, ông ko được phép giữ quần áo của mình và phải ngủ trênsàn bê tông Sau 2 tuần, ông đã bị viêm phế quản Lúc này, Mukong mớiđược phép mặc quần áo của mình và sử dụng thùng giấy cũ làm chiếu ngủ

⮚ 5/5/1989, Mukong được trả tự do, đến ngày 26/2/1990, ông lại bị bắt vì đã

tham gia thảo luận công khai về nên dân chủ đa đảng trong Cameroon

⮚ 26/2-23/3/1990, Mukong bị giam tại Trại Mbope3 Tại đây, ông không đượcphép gặp luật sư, vợ hoặc bạn bè của mình; đồng thời ông ta đã bị đe dọa vàtra tấn tinh thần Ông còn bị nhốt trong phòng giam suốt 24h, chịu đựng cáinóng trên 40° C, thậm chí còn bị quản giáo đánh đập khi ông không chịu ăn

⮚ Mukong cho rằng ông nên được coi là đã tuân thủ các yêu cầu tại điểm b,

khoản 2, Điều 5, Nghị định thư tùy chọn4

⮚ 2 lần Mukong bị bắt giam đều căn cứ theo Sắc lệnh 62/OF/18 Dù Sắc lệnh

này đã bị hủy bỏ vào 19/12/1990 nhưng tại thời điểm đó, việc bày tỏ ý kiếncủa người dân vẫn bị coi là 1 tội ác

⮚ Theo lệnh ngày 25/1/1989, Thẩm phán của Tòa án Bafoussam đã đặt ông

dưới quyền tài phán quân sự Tuy nhiên, Mukong cho rằng, thẩm phán nàykhông đưa ra quyết định về việc có tội hay không đối với ông, mà dường như

là đang kéo dài thời gian giam giữ và đặt Mukong dưới quyền tài phán củaquân đội

⮚ Luật sư của Mukong đã 2 lần nộp đơn lên Tòa án Tối cao Cameroon về các văn bản của habeas corpus5 (/ˈheɪbiəs ˈkɔːrpəs/ ) nhưng đều bị bác bỏ với lý

3 Trại Mbope của Lữ đoàn Mobile Mixte ở Douala.

4 Nghị định thư tùy chọn có hiệu lực với Cameroon vào ngày 27/9/1984.

5Habeas corpus là một biện pháp xử lý theo luật mà qua đó một người có thể báo cáo việc giam giữ hoặc bỏ tù

bất hợp pháp lên tòa án và yêu cầu tòa án ra lệnh cho đại diện cơ quan quản thúc người đó, thường là viên chức

trại giam, đưa người tù này ra tòa, để xác định xem việc giam giữ có đúng luật hay không.Văn bản của habeas

corpus được gọi là "văn bản tuyệt vời và hiệu quả trong mọi cách thức giam giữ bất hợp pháp" Đó là lệnh triệu

Trang 23

do: vụ việc đã được đưa ra trước Tòa án quân sự và không có văn bản nào

của habeas chống lại các cáo buộc do tòa án quân sự xác định

⮚ Đối với các biện pháp chống lại sự đối xử và tra tấn tàn bạo, vô nhân đạo …

Mukong cho rằng Công tố viên chỉ có thể truy tố 1 đơn kiện dân sự về hành

vi đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục nhân danh một người là bị cáotrong 1 vấn đề hình sự đang chờ xử lý (Theo Sắc lệnh 72/5 ngày 26/8/1972)

⮚ Mukong cũng trích dẫn và tán thành kết luận trong 1 báo cáo của Tổ chức Ân

xá Quốc tế rằng: “Trong những năm gần đây không có cáo buộc tra tấn nào

về cuộc điều tra chính thức ở Cameroon Các nhà chức trách dường như đã ngăn chặn các hành động dân sự đối với những thiệt hại mà những người bị bắt giữ trước đây nộp lên tòa án " Và Mukong nhận định rằng nếu ông bắt

đầu các thủ tục tố tụng như vậy thì ông sẽ bị quấy rối thêm

1.3 Applied law? Reasoning - Các quyền nào bị vi phạm? Tại sao?:

- Điều 7:

Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạohoặc hạ thấp nhân phẩm Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm

y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó

Trong quá trình giam giữ lần 1, Mukong đã bị thẩm vấn và đối xử tàn nhẫn,

vô nhân đạo, cụ thể: Từ 18/ 12/7: ông bị giam ở căn phòng nhỏ, nhiều người,

- Điều 9:

1 Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắthoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tướcquyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định

2 Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những

lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối vớihọ

3 Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớmđưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tưpháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do Việc tạmgiam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắctập có hiệu lực của lệnh tòa án; nó được gửi đến người quản lý (một viên chức nhà tù chẳng hạn) và yêu cầu đưa một tù nhân ra trước tòa, và người quản thúc phải xuất trình bằng chứng về thẩm quyền, cho phép tòa án xác định xem người quản thúc có thẩm quyền hợp pháp để giam giữ tù nhân hay không Nếu người quản lý hành động vượt quá thẩm quyền của họ, thì tù nhân phải được trả tự do Bất kỳ tù nhân nào, hoặc một người khác

thay mặt họ, có thể yêu cầu tòa án, hoặc thẩm phán, cho một văn bản habeas

Trang 24

chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm

họ sẽ có mặt tại tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kếttội

4 Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêucầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết địnhkhông chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho

họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp

5 Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợppháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường

Điều 9 đã bị vi phạm vì Mukong không được tống đạt6 về lệnh bắt giữ vàongày 16/6/1988 Hơn nữa, tòa án quân sự được chỉ định thụ lý vụ án của ông đãhoãn việc xét xử vụ án nhiều lần cho đến ngày 5/5/1989, họ thông báo rằng họ

đã được lệnh của Nguyên thủ quốc gia rút lại các cáo buộc và trả tự do cho ông.Một lần nữa, trong vụ bắt giữ vào ngày 26/2/1990 cũng không có lệnh nào đượctống đạt Thêm nữa, các cáo buộc đã không được nộp cho đến 1 tháng sau đó

- Khoản 4 Điều 12:

4 Không ai bị tước đoạt một cách tuỳ tiện quyền được trở về nước mình

Mukong hiện bị ngăn cản trở lại đất nước của mình Ông ta đã được cảnh báorằng nếu quay trở lại Cameroon, các nhà chức trách sẽ ngay lập tức bắt giữ ông

ta Điều này được cho là do vào tháng 10 năm 1990, ông đã gửi một có gửi 1bản kiến nghị đến Tổng thư ký LHQ, yêu cầu cơ quan này buộc các cơ quanchức năng quốc gia thành viên tuân thủ và tôn trọng Văn kiện Đại hội đồng

- Khoản 1 và 3 Điều 14:

1 Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán Mọi ngườiđều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩmquyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định

về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền vànghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự Báo chí và công chúng có thểkhông được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên tòa vì lý do đạođức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vìlợi ích cuộc sống riêng tư của các bên tham gia tố tụng, hoặc trong chừng mựccần thiết, theo ý kiến của toà án, trong những hoàn cảnh đặc biệt mà việc xét xửcông khai có thể làm phương hại đến lợi ích của công lý Tuy nhiên mọi phánquyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự phải được tuyên công khai, trừtrường hợp vì lợi ích của người chưa thành niên hay vụ việc liên quan đếnnhững tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em

6 Tống đạt là việc giao các văn bản liên quan của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trang 25

3 Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền đượchưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu sauđây:

a) Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đóhiểu về bản chất và lý do buộc tội mình;

b) Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ vớingười bào chữa do chính mình lựa chọn;

c) Được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý;

d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợgiúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa

có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trongtrường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đónếu không có đủ điều kiện trả;

e) Được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình, vàđược mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và thẩm vấn họ tại toàvới những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tộimình;

f) Được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ

sử dụng trong phiên toà;

g) Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phảinhận là mình có tội

Mukong không được cung cấp bất kỳ chi tiết nào về các cáo buộc chống lạiông ta; ông ta cũng không có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa củamình Ông phản ánh rằng Tòa án quân sự không độc lập và cũng không côngbằng, vì nó rõ ràng chịu ảnh hưởng của các quan chức Chính phủ cấp cao Đặcbiệt, vì các thẩm phán là sĩ quan quân đội, họ phải tuân theo thẩm quyền củaTổng thống Cameroon

- Điều 19:

1 Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp

2 Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm,tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hìnhthức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệthuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựachọn của họ

3 Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo nhữngnghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn

Trang 26

chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật

và là cần thiết để:

a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,

b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của

xã hội

Mukong nhấn mạnh rằng các vụ bắt giữ ông vào ngày 16/6/1988 và ngày26/2/1990 có liên quan đến các hoạt động của ông với tư cách là người ủng hộdân chủ đa đảng và tuyên bố rằng đây là những nỗ lực của Chính phủ nhằm trấn

áp bất kỳ hoạt động đối lập nào, điều này vi phạm Điều 19 của Công ước Điều

này cũng áp dụng cho lệnh cấm của Chính phủ, vào năm 1985, đối với 1 cuốnsách do tác giả viết "Tù nhân không phạm tội", trong đó ông mô tả việc giamgiữ mình trong các nhà tù địa phương từ năm 1970 đến năm 1976

1.4 Holding - Quyết định của Ủy ban Nhân quyền:

● Ủy ban Nhân quyền nhận thấy việc Mukong đã phải chịu sự đối xử tàn bạo

và vô nhân đạo trong thời gian bị giam giữ đã vi phạm Điều 7 ICCPR Ủy

ban không chấp nhận lời biện minh của Quốc gia thành viên (vì mục đíchchính đáng hay vì ANQG) bởi thực tế vẫn có nhiều biện pháp đối xử khác

● Trong lần giam thứ nhất, Mukong bị giam trong căn phòng không có thiết bị

vệ sinh và không được tiếp cận với thực phẩm trong vài ngày Ở lần giam thứ

2, ông phải chịu sự đe dọa và tra tấn tinh thần Như vậy, Quốc gia thành viên

đã vi phạm nặng nề các quy tắc 10, 12, 17, 19, 20 về “ Các quy tắc tiêu chuẩn

điều kiện giam giữ không đáp ứng đủ do sự kém phát triển của Cameroon

● Ủy Ban từ chối lập luận của chính quyền Cameroon và đồng ý với khiếu nạicủa Mukong Quan điểm của Ủy Ban là biện pháp của chính quyềnCameroon trong vụ việc này (bắt bỏ tù người phát ngôn vì lý do cho rằng

phát ngôn của họ “không được chứng minh đầy đủ”, và “ảnh hưởng đến

công cuộc đấu tranh thống nhất dân tộc”) là không cần thiết cho mục đích

bảo vệ đoàn kết dân tộc nhất là với dân tộc được xem là dễ bị tổn thương.Bên cạnh đó, chính quyền Cameroon chỉ ra những hạn chế với quyền tự dongôn luận theo Điều 19 ICCPR nhưng không thỏa đáng Bởi Ủy ban cũngcho rằng bóp nghẹt chủ trương đa đảng để đạt mục tiêu chính trị không thể làbiện pháp hợp lý đối với Mukong Theo như phía Quốc gia thành viên thìMukong đã đưa ra những cáo buộc vô căn cứ đối với Tổng thống và Chínhphủ Nhưng cũng cần dựa trên cơ sở tình hình đất nước Cameroon lúc bấygiờ: khủng hoảng kinh tế diễn ra, giá dầu thô giảm, hoạt động quản lý yếukém, xuất hiện tham nhũng nhiều, không được tín nhiệm từ người dân Vì

Trang 27

vậy, Mukong nói riêng và nhân dân Cameroon nói chung có quyền lên tiếngđối với chính quyền hiện tại và lựa chọn con đường chính trị đối mà họ chorằng phù hợp.

● Ủy ban sau khi kiểm tra cẩn thận bằng chứng và tài liệu trước đó, quyền củaMukong được xét xử công bằng đã không bị vi phạm Đối với Điều 9 của

ICCPR, Ủy ban lưu ý rằng các tài liệu và bằng chứng trước đó không đủ để

đưa ra kết luận, và đối với Điều 12, Ủy ban nhận thấy Mukong không bị nhàchức trách của Quốc gia thành viên buộc lưu vong như đồn đại Việc Mukong

đã không tận dụng các biện pháp tư pháp đối với các tuyên bố về sự đối xử tệbạc, vô nhân đạo không thể đổ lỗi cho riêng ông Bởi các biện pháp mà chínhquyền Cameroon đưa ra không hiệu quả, không đạt được thành công mà chỉmang tính tồn tại liệt kê, tính hình thức Và trách nhiệm chứng minh về cácđối xử không chỉ thuộc về Mukong mà còn cả Quốc gia thành viên vì quyềntiếp cận thông tin là không giống nhau và tác giả đã trình bày chi tiết cách đối

xử tệ bạc mà ông phải chịu còn Quốc gia thành viên chỉ đẩy trách nhiệmchứng minh cho ông

II Đóng vai.

2.1 Luật sư.

1 Thân chủ tôi là ông Mukong cáo buộc Cameroon vi phạm Điều 7 ICCPR về

cách đối xử mà ông phải chịu trong khoảng thời gian từ ngày 18/ 6 đến ngày10/8/1988, và trong thời gian bị giam giữ tại Trại Mbope

- Thân chủ tôi trong thời gian bị giam không chỉ bị thẩm vấn về cuộc phỏng vấnvới phóng viên BBC mà còn bị đối xử tàn nhẫn vô nhân đạo, liên tục bị giamtrong phòng giam không có thiết bị vệ sinh, từ chối cho ăn (không có thức ăntrong vài ngày) => những điều trên vi phạm những quy định trong điều 7 củaICCPR) => hơn nữa đây có thể cho là hành vi vi phạm đến quyền sống của conngười đối với thân chủ tôi

2 Thân chủ tôi cáo buộc Cameroon vi phạm Điều 9 ICCPR, vì ông không nhận

được lệnh tống đạt Các cáo buộc không được đưa ra cho đến gần 2 tháng sau

đó Hơn nữa, tòa án quân sự được chỉ định thụ lý vụ án của ông đã hoãn việc xét

xử vụ án nhiều lần cho đến ngày 5/5/1989, họ thông báo rằng họ đã được lệnhcủa Nguyên thủ quốc gia rút lại các cáo buộc và trả tự do cho tác giả Một lầnnữa, vụ bắt giữ vào ngày 26/2/1990 xảy ra mà không có lệnh nào được tống đạt.Vào dịp này, các cáo buộc đã không được nộp cho đến một tháng sau đó

- Trong cả 2 lần Mukong bị bắt giam, Cameroon đã không gửi thông báo haylệnh tống đạt nào Việc giam giữ này được cho là vô cớ bởi không có thông báo

Trang 28

từ nhà nước Do đó, đã tước đi quyền tự do và an toàn cá nhân của Mukong căn

cứ theo khoản 1 Điều 9 ICCPR

- Sự chậm trễ trong việc xét xử vụ án của Cameroon không chỉ vi phạm khoản 3

“Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm

họ sẽ có mặt tại toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội” ảnh hưởng đến quyền được trả tự do hợp pháp; mà NN còn vi phạm về

việc “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền

yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp” thuộc khoản 4 công ước trên ảnh

hưởng đến việc xét xử của Ủy ban là hợp pháp hay bất hợp pháp

🡺 Thân chủ tôi hoàn toàn có quyền được hưởng đầy đủ những quyền và lợi íchhợp pháp của mình được quy định ở công ước trên

3 Có thông tin thêm rằng các nhà chức trách của Quốc gia thành viên đã vi

phạm điều 14, khoản 1 và 3 => Thân chủ tôi không được cung cấp bất kỳ chitiết nào về các cáo buộc chống lại ông ta; đồng thời ông cũng không có thờigian để chuẩn bị đầy đủ cho việc bào chữa của mình Mukong phản ánh rằngđây là một tòa án quân sự không độc lập vì nó rõ ràng chịu ảnh hưởng của cácquan chức chính phủ cấp cao Đặc biệt, vì các thẩm phán là sĩ quan quân đội, họphải tuân theo thẩm quyền của Tổng thống Cameroon

🡺 Tòa án vi phạm đến quyền được xét xử công bằng và công khai đối vớiMukong bởi Tòa án có thẩm quyền

=> Trong tgian giam giữ từ 26/2 - 23/3, thân chủ tôi ko được phép gặp luật sư,

vợ con hay bạn bè của mình trong khi đó khoản 3 Điều 14 được quy định rằng:Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng

một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng về “Có đủ thời gian và điều kiện thuận

lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn” (điểm b), “Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả” (điểm d)

Trang 29

4 Trong khiếu nại, thân chủ tôi lưu ý rằng các vụ bắt giữ ông vào ngày 16 tháng

6 năm 1988 và ngày 26 tháng 2 năm 1990 có liên quan đến các hoạt động củaông với tư cách là người ủng hộ dân chủ đa đảng, và tuyên bố rằng đây là những

nỗ lực của Chính phủ nhằm trấn áp bất kỳ hoạt động chống đối nào, vi phạmĐiều 19 của Công ước Điều này cũng áp dụng cho lệnh cấm của Chính phủ,vào năm 1985, đối với một cuốn sách do tác giả viết ("Tù nhân không phạmtội"), trong đó ông mô tả việc giam giữ mình trong các nhà tù địa phương từnăm 1970 đến năm 1976

=> Có thể thấy rằng, Cameroon đã vi phạm đến quyền giữ quan điểm của mình

mà không bị an can thiệp thuộc điều 19 công ước Ở đây Mukong hoạt động với

tư cách là người ủng hộ đa đảng, và Chính phủ dường như đã có những độngthái can thiệp và không tôn trọng đến quyền tự do ngôn luận của Mukong

5 Cuối cùng, thân chủ tôi đã bị xâm phạm điều 12, khoản 4, vì ông hiện bị ngăn

cản trở lại đất nước của mình Ông đã được cảnh báo rằng nếu quay trở lạiCameroon, các nhà chức trách sẽ ngay lập tức bắt giữ ông Điều này được cho

là do vào tháng 10 năm 1990, ông đã gửi một bản kiến nghị tới Tổng thư kýLHQ, yêu cầu các cơ quan chức năng của Quốc gia thành viên tuân thủ và tôntrọng Văn kiện Đại hội đồng về Báo cáo của Hội đồng Ủy thác ("Câu hỏi vềTương lai của Lãnh thổ Ủy thác của người Cameroon thuộc Chính quyềnVương quốc Anh")

🡺 Việc Nhà nước ngăn cản trở lại đất nước và cảnh báo về việc quản thúc thânchủ tôi nếu trở lại, tuyên bố trên đã vi phạm đến quyền dân sự như quyền được

tự do đi lại, cư trú trong lãnh thổ quốc gia, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giamgiữ hay lưu đày tùy tiện,

2.2 Quốc gia thành viên: Cameroon

1 Ngày 23/4/1988: Mukong tham gia 1 buổi phỏng vấn với phóng viên của

BBC Ông đã đưa ra những cáo buộc vô căn cứ mà ngay chính bản thân ôngcũng không có bằng chứng chứng minh, để chỉ trích cả Tổng thống và Chínhphủ Cameroon Ví dụ, Mukong cáo buộc rằng sự khủng hoảng kinh tế của đấtnước phần lớn là do Nhà nước Cameroon, ông cũng ám chỉ đến nạn tham nhũng

và biến thủ ngân sách của các lãnh đạo cấp cao trong Chính phủ mà vẫn ko bịtrừng phạt Những hành động và phát ngôn của Mukong được Nhà nước cho là

“làm say mê công luận trong nước và quốc tế”, có tính chất lật đổ chính quyền(theo Sắc lệnh số 62/OF/18 ngày 12/3/1962)

Trang 30

🡺 Do đó, ngày 5/1/1989, theo lệnh của trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,Mukong bị thẩm phán Tòa án quân sự Bafoussam buộc tội lật đổ chính quyền.Ngày 4/5/1989, Trợ lý Bộ trưởng ra quyết định dừng các cuộc điều tra đối vớiMukong và quyết định này được thông báo đến ông vào 5/5/1989.

🡺 Việc Mukong bị bắt giữ ko phải là sự tùy tiện mà vì có liên quan đến các hoạtđộng bất hợp pháp, chống lại chế độ 1 Đảng của Mukong, cụ thể là vượt quágiới hạn của quyền tự do ngôn luận để chống lại chính quyền hiện hành

2 Về cơ sở pháp lý: Mukong bị bắt dựa trên Sắc lệnh 62/OF/18 ngày

12/3/1962 Dù sắc lệnh này đã bị hủy bỏ bởi Luật số 090/046 ngày 19/12/1990nhưng thời điểm Mukong bị bắt giữ là vào năm 1988 và 1990, vẫn trong thờigian Sắc lệnh này có hiệu lực

3 Mukong kiện Cameroon đã vi phạm Điều 7 ICCPR: “Không ai có thể bị tra

tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó” Tuy nhiên, trong suốt quá

trình đó, Mukong đã không sử dụng các biện pháp tư pháp đối với các tuyên bố

về sự đối xử tệ bạc, vô nhân đạo và hạ thấp nhân phẩm trong trại giam Căn cứ

vào khoản 1 Điều 1 của Công ước chống tra tấn: “Khái niệm tra tấn không bao

gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp” và căn cứ vào tình hình thực tế: điều

kiện các nhà tù phải phù hợp với sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước,Cameroon khẳng định không có sự tra tấn hay đối xử tàn bạo với Mukong vìcác nhà quản lý nhà tù ở Douala thực sự đã tìm cách cải thiện điều kiện nhà tùsau khi Mukong bị bắt

4 Mukong cáo buộc rằng ông bị cấm quay lại đất nước, tuy nhiên Cameroon lại

cho rằng cáo buộc này là không có cơ sở, việc Mukong rời Cameroon là theo ýmuốn của ông vào mùa hè năm 1990, và không có luật hoặc quy định hoặcthông lệ nào của Nhà nước ngăn cản ông quay trở lại Cameroon Thực tế,Mukong thừa nhận ông đã có thể trở về nước của mình vào 4/1992

LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

BÀI TẬP NHÓM: Lantsova v The Russian Federation, 763 HRC 1997 (2002)

1 Tình huống thực tế:

Lanstov sau khi phạm tội gây thương tích cho người khác nên đã bị buộctội, đồng thời bị tạm giam chờ xét xử tại trại tạm giam Tishina Tuy nhiên, chỉ

Trang 31

sau một thời gian ngắn thì Lanstov đã qua đời ngay tại trại giam Giấy chứng tửxác định nguyên nhân tử vong là do suy tim/suy tuần hoàn cấp tính, viêm phổi

do phế cầu khuẩn loét hai bên, xẹp phổi khu trú dẫn đến suy tim mạch hô hấp,suy mòn không rõ nguyên nhân

Mẹ của Lanstov thì không cho rằng như vậy, bà cho rằng con trai mìnhtrước khi vào nhà tù vẫn còn khỏe mạnh nhưng do điều kiện trong tù quá tồi tệnên ngay sau thời gian được đưa đến nhà tù thì tình trạng sức khỏe của con trai

bà mới xấu đi đã khiến con bà tử vong Những người bạn tù của Lanstove cũngxác nhận rằng khi sức khỏe của Lanstove xuống dốc, rất nhiều lần họ yêu cầuđược hỗ trợ về mặt y tế cho Lanstov nhưng chỉ được đáp ứng qua loa một lầnđầu tiên, còn sau đó thì không có sự giúp đỡ nào cả Hậu quả chính là cái chếtcủa ông Lanstove

Mẹ của Lanstov cho rằng con trai mình bị xâm phạm các quyền conngười cơ bản, vậy nên bà làm đơn kiện nhà nước Liên Bang Nga lên Ủy BanNhân quyền nhằm đấu tranh đòi công lý

*Sự kiện pháp lý:

Vladimir Albertovich Lantsov chết trong nhà tù

*Các quyền bị vi phạm theo Công ước quốc tế về dân sự và chính trị.

- Vi phạm quyền sống trong Khoản 1 Điều 6

- Vi phạm quyền được đối xử nhân đạo và được tôn trọng nhân phẩm củanhững người bị tước tự do theo Khoản 1 Điều 10

*Nguyên nhân xảy ra sự kiện pháp lý:

 Nhà tù quá đông đúc (số lượng phạm nhân trong trại giam gấp 5 lần sovới sức chứa theo quy định trại giam)

 Hệ thống thông gió trong trại giam kém

 Thực phẩm không đầy đủ

 Môi trường vệ sinh tệ, không đủ đáp ứng

 Quá tải hệ thống chăm sóc sức khỏe với tỉ lệ mắc bệnh cao

 Nạn nhân chỉ được điều trị y tế trong tuần đầu bị giam Những tuần sau,mặc dù đã yêu cầu nhiều lần nhưng không nhận được sự chăm sóc y tế vàchỉ nhận được sự chăm sóc vào 15 phút cuối trước khi tử vong

 Giấy chứng tử xác định: Bệnh lý tim mạch cấp tính trên nền bệnh nhânsuy tuần hoàn và hội chứng suy mòn không rõ nguyên nhân Viêm phổi,màng phổi hai bên do phế cầu, biến chứng xẹp phổi, suy hô hấp, suy tuầnhoàn

Trang 32

2 Diễn án

*ĐẠI DIỆN LUẬT SƯ

- Tôi cáo buộc quốc gia thành viên đã vi phạm khoản 1 điều 6, điều

7, khoản 1 điều 10 ICCPR Cụ thể: quốc gia thành viên đã để cho tình trạng tù

giam không phù hợp với quy định hiện hành, đặc biệt là vì quá đông đúc, hệthống thông gió kém, thức ăn không đầy đủ và các điều kiện chăm sóc cho tù

nhân quá kém => Tất cả điều đó cho thấy quốc gia thành viên đang xâm phạm

đến quyền được sống, quyền không bị tra tấn, đối xử nhân đạo

- Căn cứ vào khoản 1 điều 6 ICCPR: “ Mọi người đều có quyền cố hữu

là được sống Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước

mạng sống một cách tuỳ tiện” Cái chết của ông Lantsov được giám định pháp y

cho thấy nguyên nhân tử vong là do viêm phổi, màng phổi hai bên do phế cầu,biến chứng xẹp phổi, suy hô hấp, suy tuần hoàn, bệnh lý tim mạch cấp tính trênnền bệnh nhân suy tuần hoàn, say và hội chứng suy mòn không rõ nguyên nhân.Tôi cho rằng một thanh niên 25 tuổi trẻ khỏe không thể nào bị các căn bệnhnặng như vậy trong vòng mấy ngày mà không do tác động của các điều kiệnkhách quan khác Nguyên nhân chính của cái chết Lanstov là do bệnh nhânkhông được hỗ trợ y tế và các điều kiện trong nhà tù, đã góp phần gây ra cái

chết nhanh chóng Điều này cho thấy quốc gia thành viên vì sự chủ quan đã tước đi tính mạng, quyền được sống của nạn nhân trong khi quyền sống là quyền không ai có thể bị tước đoạt một cách tùy tiện.

- Căn cứ điều 7 ICCPR : “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng

phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm Đặc biệt, không ai

có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng

ý tự nguyện của người đó” Ông Lantsov bị đối xử 1 cách vô nhân đạo: môi

trường trong trại giam vô cùng tệ, thức ăn không đầy đủ, các dịch vụ chăm sóc

sức khỏe cơ bản không đáp ứng,… quốc gia thành viên đã xem nhẹ tính mạng của tù nhân Điều đó khiến cho ông Lantsov rơi vào tình trạng nguy kịch, khi đưa đi chữa trị thì không qua khỏi

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 10 ICCPR: “Những người bị tước tự do phải

được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người” Ông

Lantsov đang bị giam giữ vì đã gây thương tích cho người khác Mặc dù bịgiam giữ và bị hạn chế một số quyền, tuy nhiên Lantsov vẫn có quyền conngười, ông phải được đối xử nhân đạo, và không bị coi là người đáng bị trừng

phạt mà nhẫn tâm tước đoạt đi các quyền của ông Hành xử của quốc gia thành viên đã vi phạm nghiêm trọng ICCPR.

*ĐẠI DIỆN NHÀ NƯỚC

Trang 33

Tôi đại diện Nhà nước Liên Bang Nga đồng ý với cáo buộc của phía Luật sư đại diện nguyên đơn là: Quốc gia thành viên đã vi phạm Khoản

1 Điều 6 và Khoản 1 Điều 10 ICCPR Chúng tôi thừa nhận rằng tại thờiđiểm ông Lantsov bị bắt, các trại giam đã giam giữ nhiều hơn gấp đôi sovới công suất thiết kế của họ, do đó các điều kiện giam giữ không phùhợp với các quy định hiện hành và nhận thấy sự hạn chế của nhà tù, gây

ra tình trạng bệnh tình nguy hiểm và dẫn đến cái chết của anh Lantsov Theo thực tiễn thì đây là tình hình khó khăn ở Nga, các vấn đề về trạigiam giữ vẫn được từng bước cải thiện Một loạt các biện pháp cải cách

hệ thống nhà tù đã được thiết lập, nhằm cải thiện điều kiện trong các trạigiam và đưa chúng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về đối xử với tùnhân Sự gia tăng số lượng các trung tâm giam giữ và nhà tù đang đượctiến hành, nhưng đang bị cản trở bởi những khó khăn về tài chính Do đó,chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thiện một cách nhanh nhất

Tôi không đồng ý với cáo buộc của phía đại diện luật sư bên nguyên đơn rằng: quốc gia thành viên vi phạm Điều 7 ICCPR Bởi khi được

đưa vào trại tạm giam, Lantsov đã được kiểm tra y tế theo đúng quy trình

đã lập Vào thời điểm đó, anh ta không phàn nàn nào về sức khỏe củamình, không có bất thường nào về thể chất được ghi nhận và kết quảkiểm tra lồng ngực bằng huỳnh quang cho thấy không có bệnh lý Hơnnữa, ban quản lý trại tạm giam xác nhận không dùng bất kỳ hình thức tratấn hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo đối với tù nhân Việc Lanstov bị tạmgiam là do phạm lỗi và điều đó sẽ được xét xử đúng theo quy định củapháp luật Liên Bang Nga Tôi khẳng định lại với đại diện luật sư và Ủyban Nhân quyền: quốc gia thành viên không và sẽ không bao giờ đối xử

vô nhân đạo hay dùng bất kỳ hình thức tra tấn, xử phạt nào khác đối với

tù nhân

*QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN QUYỀN

 Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định thư Ủy ban Nhânquyền đã xem xét đơn khởi kiện này

 Sau khi xem xét, Ủy ban nhận thấy việc giam giữ tù nhân Lanstov trongcác điều kiện áp dụng tại nhà tù trong thời gian đó, quốc gia thành viên

đã vi phạm các quyền của anh ta theo Khoản 1 Điều 10 của ICCPR

 Nhà nước Liên Bang Nga đã không thực hiện các biện pháp thích hợp đểbảo vệ tính mạng của ông Lantov trong thời gian ông ở trong trại giambởi vậy Ủy ban Nhân quyền kết luận Nhà nước Liên Bang Nga đã viphạm khoản 1 Điều 6 ICCPR Nhà nước phải có đền bù thích đáng chogia đình nạn nhân

 Ủy ban nhận thấy quốc gia thành viên không vi phạm Điều 7 ICCPR.Bởi, quốc gia thành viên không có áp dụng hình thức tra tấn hay đối xử

Trang 34

tàn ác, vô nhân đạo đối với tù nhân Lanstov.

THÔNG BÁO SỐ 182/1984 (NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1987)

I PHẦN TÓM TẮT

- Bà Zwaan de Wries thất nghiệp vào tháng 2 năm 1979 và đã nhận trợ cấp thấtnghiệp từ đó đến tháng 10 năm 1979 Tuy nhiên, bà đã bị từ chối tiếp tục hỗ trợtheo Đạo luật Trợ cấp Thất nghiệp (WWW) với lý do bà là một phụ nữ đã cógia đình và không phải là “trụ cột gia đình” Bà Zwaan de Wries tuyên bố bà đã

bị từ chối quyền lợi vì tình trạng hôn nhân và tình dục của mình và việc này đã

vi phạm vào điều 26, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị(ICCPR) Chính phủ tuyên bố rằng việc cấm phân biệt đối xử trong điều 26không áp dụng cho lĩnh vực kinh tế, xã hội văn hóa như các điều ước quốc tếkhác đề cập đến những vấn đề này (ví dụ: quyền được đảm bảo an sinh xã hộitrong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa)

- Ủy ban nhận thấy rằng các quy định của ICCPR phải được áp dụng đầy đủtheo các điều khoản của riêng họ Điều 26 yêu cầu rằng tất cả các luật khôngđược phân biệt đối xử Điều này không yêu cầu Quốc gia phải cung cấp an sinh

xã hội, mà chỉ để đảm bảo rằng bất kỳ luật nào được ban hành đều không có sựphân biệt đối xử Sự phân biệt đối xử sẽ được phát hiện nếu sự đối xử khác biệttrong luật pháp không dựa trên các tiêu chí hợp lý và khách quan Luật pháptrong trường hợp này là phân biệt đối xử dựa trên giới tính vì Đạo luật yêu cầuphụ nữ đã kết hôn phải đáp ứng một điều kiện không áp dụng cho đàn ông đãkết hôn, khuyến nghị người khiếu nại phải có biện pháp khắc phục thích hợp

II PHẦN KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA

Kết quả:

Trang 35

Ngày 29 tháng 4 năm 1985, luật đã sửa đổi về việc loại bỏ điều 13(1) yêu cầuphụ nữ đã kết hôn chứng minh họ là trụ cột gia đình hoặc có chồng đã mất.

Ý nghĩa:

Đây là minh chứng cho việc áp dụng các chuẩn mực không phân biệt đối xử vàbình đẳng đối với các quyền kinh tế, xã hội Quyết định này cũng tạo cơ sở choBình luận chung của Ủa ban Nhân quyền về điều 26, trong đó đưa ra cách giảithích mở rộng về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử theo ICCPR

III QUYỀN BỊ VI PHẠM

- Khoản 1 Điều 2 :1 Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng vàbảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán củamình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sựphân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểmchính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thànhphần xuất thân hoặc địa vị khác

- Điều 3: Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết đảm bảo quyền bìnhđẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị

mà Công ước đã quy định

- Điều 26, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR): Mọingười đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ mộtcách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào Về mặt này, phápluật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo

hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc,màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác,nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vịkhác

IV NHẬN XÉT

Ngày đăng: 05/06/2022, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w