1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục pháp luật thông qua phiên toà hình sự ở toà án quân sự khu vực 1 QK5

32 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 115 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua các phiên toà xét xửlưu động công khai ở các cơ quan đơn vị và địa phương đãgóp phần nâng cao ý thức pháp luật cho nhiều đốitượng, việc chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội củacác q

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã tiến hànhcông cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện trên nhiều lĩnhvực chính trị, kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân, vớimục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải thựchiện nhiều nhiệm vụ rất nặng nề và cấp bách, trongđó có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổbiến giáo dục pháp luật, tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa đặt ra những yêu cầu mới trong việc xâydựng pháp luật, và tổ chức thực hiện pháp luật

Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục phápluật có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội.Chính vì vậy, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng,chính sách của Nhà nước đã nhiều lần đề cập đếnvấn đề này Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ VIII củaĐảng đã khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật, huy động lực lượng củacác đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp, cácphương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vậnđộng thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt độngthường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theopháp luật trong cơ quan Nhà nước và xã hội”

Xuất phát từ tầm quan trọng và yêu cầu của côngtác tuyên truyền, giáo dục pháp luật., Thủ tướng chínhphủ đã ra Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 vềtăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật tronggiai đoạn hiện nay, Quyết định số 03/QĐ-TTg về banhành kế hoạch triển khai công tác phổ biến giáo dụcpháp luật từ năm 1998 đến 2002 và thành lập Hộiđồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật

Thực hiện những yêu cầu trên, những năm qua,nhiều cấp, nhiều ngành ở trung ương và địa phươngcũng như trong quân đội đã tích cực triển khai, tổ chứcviệc phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dânvà quân nhân, đã thu được nhiều kết quả tốt, góp phầnnâng cao ý thức pháp luật, đáp ứng yêu cầu tăng cườngquản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật

Trang 2

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hình thức, phươngpháp phổ biến, giáo dục pháp luật có đa dạng, phongphú nhưng chưa đồng bộ, kế hoạch phối hợp chưachặt chẽ giữa các cấp, các ngành; còn ít những đề tàinghiên cứu về lý luận và thực tiễn về hình thức,phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó cóhình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua phiêntoà hình sự ở các Toà án, để tìm ra những luận cứkhoa học vừa nâng cao chất lượng xét xử vừa tăngcường hiệu quả giáo dục pháp luật

Phiên toà hình sự là một “kênh” tuyên truyền, phổbiến, giáo dục pháp luật rất hiệu quả Các Toà án nóichung và Toà án quân sự nói riêng, là cơ quan xét xử củaNhà nước XHCN Việt Nam, Toà án nhân danh Nhà nước ranhững bản án quyết định những vấn đề có liên quantrực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổchức, cơ quan đơn vị và các công nhân; đến sinh mạngchính trị, quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của conngười Mặt khác, xét xử là một dạng đặc biệt củahoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước do Hộiđồng xét xử tiến hành công khai dưới sự giám sát củađông đảo quần chúng nhân dân, theo một trình tự và thủtục hết sức chặt chẽ Các trình tự và thủ tục tốdụng trong giai đoạn xét xử một mặt bảo đảm sựnghiêm trang của hoạt động xét xử, vừa thể hiện bảnchất dân chủ, sự bình đẳng và công minh của pháp luậtxã hội chủ nghĩa

Tại phiên toà hình sự, qua xét hỏi công khai đã làmrõ tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của hành viphạm tội Qua đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các quyđịnh của BLHS, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạmtội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để quyếtđịnh hình phạt Hình phạt do toà án tuyên không chỉtrừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trởthành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo phápluật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn chặn họphạm tội mới Đồng thời, hình phạt còn có mục đíchlớn hơn là giáo dục những người khác tôn trọng phápluật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

Có thể nói, phiên toà xét xử công khai nên rất bổích và hiệu quả trong giáo dục pháp luật, là hình thức

Trang 3

giáo dục pháp luật cụ thể, trực tiếp nhất đối vớiđông đảo người dự phiên toà Qua các phiên toà xét xửlưu động công khai ở các cơ quan đơn vị và địa phương đãgóp phần nâng cao ý thức pháp luật cho nhiều đốitượng, việc chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội củacác quân nhân ở nhiều đơn vị có chuyển biến tích cực,tình hình an ninh trật tự xã hội ở các địa phương đượccủng cố và tăng cường.

Toà án quân sự là cơ quan xét xử của Nhà nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được tổ chứctrong quân đội, hoạt động xét xử của Toà án quân sựphải thường xuyên quan hệ, tiếp xúc với bị cáo, cácđương sự, với các cơ quan đơn vị, địa phương và côngdân, được cán bộ chiến sĩ ở các đơn vị và nhân dân,giám sát Điều đó đòi hỏi Toà án Quân sự phải thườngxuyên coi trọng nâng cao chất lượng xét xử và hiệu quảgiáo dục pháp luật trong quá trình thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của mình

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và hoàn thànhtốt nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới, việc nghiêncứu giáo dục pháp luật qua phiên toà hình sự là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính cấp thiết cảtrước mắt và lâu dài của Toà án Quân sự Với những lý

do trên, việc chọn và thực hiện đề tài: “Giáo dục phápluật thông qua phiên toà hình sự ở Toà án Quân sự khuvực 1 - QK5” là cần thiết

2 Phạm vi nghiên cứu:

Với phạm vi của đề tài, khoá luận chỉ nghiên cứu,khảo sát hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thôngqua phiên toà hình sự ở Toà án quân sự cấp khu vực.Trên cơ sở thực trạng hoạt động xét xử của Toà ánquân sự khu vực 1 - QK5 từ năm 1995 đến nay, qua đóđề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng caochất lượng xét xử và hiệu quả giáo dục pháp luật tạicác phiên toà hình sự

3 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương phápluận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhànước ta về công tác giáo dục pháp luật, tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa vùng với các phương pháp

Trang 4

cụ thể: điều tra xã hội học; so sánh, phân tích, tổngkết kinh nghiệm kết hợp với khảo sát thực tiễn

4 Kết cấu của đề tài:

Ngoài lời mở đầu và kết luận, nọi dung đề tàiđược thể hiện trong 3 chương và các tiểu mục:

- Chương I: Công tác phổ biến giáo dục pháp luậtthông qua phiên toà hình sự ở Toà án quân sự khu vực

- Chương II: Thực trạng giáo dục pháp luật quaphiên toà hình sự ở Toà án quân sự khu vực 1 - QK5

- Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăngcường hiệu quả giáo dục pháp luật tại phiên toà hìnhsự

Sau đây là nội dung của khoá luận

Trang 5

CHƯƠNG I GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ

1 Giáo dục pháp luật - Một số vấn đề cơ bản:

1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật:

Pháp luật XHCN là hệ thống các quy tắc xử xựmang tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản, do Nhà nước XHCN ban hành và đảm bảothực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, trênquan điểm giáo dục và thuyết phục

Xuất phát từ sự đa dạng của khái niệm giáo dục,có thể có nhiều cách hiểu không hoàn toàn giống nhauvề giáo dục pháp luật

Giáo dục pháp luật là một hoạt động định hướngcó những nét đặc thù khác một cách tương đối với cácdạng giáo dục khác Trước hết, giáo dục pháp luật cómục đích riêng, đó là hoạt động nhằm hình thành trithức, tình cảm và thói quen xử xự phù hợp với quyđịnh của pháp luật, làm cho công dân tự giác tuân thủpháp luật, có ý thức pháp luật cao góp phần tăngcường hiệu quả của pháp luật Đồng thời, giáo dụcpháp luật có nội dung riêng, đó là sự tác động có địnhhướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức củanhân loại nói chung và của một quốc gia nói riêng, vềNhà nước và pháp luật Xét trên các yếu tố chủ thể,đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục phápluật có đặc thù riêng So với các dạng giáo dục khác thìgiáo dục pháp luật là quá trình tác động thường xuyên,liên tục và lâu dài chứ không phải là sự tác động mộtlần của chủ thể đối với đối tượng giáo dục Nhân tốcon người với hành vi hợp pháp đóng vai trò chủ đạotrong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dụcpháp luật (chủ thể) với người được giáo dục (đốitượng) Cho nên, chủ thể giáo dục pháp luật phải hiểubiết trình độ, đặc biệt là đặc điểm nhân thân của đốitượng được giáo dục Đồng thời, chủ thể giáo dụcphải nắm vững tri thức pháp luật, biết chuyển tải nó

Trang 6

cho phù hợp với từng loại đối tượng giáo dục phápluật

Như vậy có thể nói: giáo dục pháp luật là hoạtđộng định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thểgiáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cáchcó hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hìnhthành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi phùhợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành

Giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật là 2 phạmtrù có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải làmột Hoạt động giáo dục pháp luật là sự tác độngcủa nhân tố chủ quan, là hoạt động định hướng có tổchức, có chủ định thành 1 hệ thống của nhiều chủ thể.Sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của cảảnh hưởng điều kiện khách quan lẫn sự tác động địnhhướng của nhân tố chủ quan Thực tiễn cho thấy kếtquả giáo dục chỉ đạt được khi xác định đúng đắn nộidung, hình thức, và phương pháp giáo dục, đồng thời cónghệ thuật khéo léo định hướng các yếu tố đó phùhợp với từng loại đối tượng giáo dục khác nhau

Do đó, giáo dục pháp luật chỉ là một yếu tố củaquá trình hình thành ý thức pháp luật ở cá nhân conngười và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình ấy Haikhái niệm giáo dục pháp luật và ý thức pháp luậtkhông đồng nhất về bản chất, nhưng có quan hệ mậtthiết với nhau Khái niệm ý thức pháp luật có nội hàmrộng hơn khái niệm giáo dục pháp luật Việc phân biệtnày đối với điều kiện nước ta hiện nay có ý nghĩa cảvề mặt lý luận và thực tiễn, khi mà tri thức, tình cảmvà thói quen xử sự theo pháp luật chưa có điều kiệnvề mặt khách quan đầy đủ và thuận lợi thì vai trò củanhân tố chủ quan hết sức quan trọng Không thể chờđợi, ỷ vào các điều kiện khách quan mà phải nổ lựccủa chủ quan - tức là bằng hoạt động có tổ chức, cóđịnh hướng, có ý thức tự giác cao của chủ thể giáodục, nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quenpháp luật ở các đối tượng giáo dục Vì vậy, trong điềukiện ở nước ta hiện nay, việc trang bị tri thức phápluật, bồi dưỡng tình cảm, thói quen pháp luật và địnhhướng hành vi cho nhân dân là trách nhiệm của các tổchức Đảng, của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước vàtổ chức xã hội

Trang 7

Giáo dục pháp luật có quan hệ với giáo dục chínhtrị, tư tưởng, giáo dục đạo đức và các dạng giáo dụckhác Tuy nhiên, giáo dục pháp luật có bản chất riêng,khác biệt với các dạng giáo dục khác, nhưng nó phảiđược xem xét là một dạng giáo dục trong hệ thốnggiáo dục.

Đối với các cơ quan, tổ chức chuyên trách làm côngtác giáo dục đào tạo giáo dục pháp luật đòi hỏi phảisử dụng kiến thức, phương pháp nội dung đặc thù choquá trình giáo dục

Đối với các cơ quan, tổ chức có chức năng kinh tế xã hội bắt buộc phải định hướng giáo dục pháp luậttrong quá trình thực hiện chức năng của mình

-Đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư phápphải đem nội dung hoạt động của mình định hướng giáodục pháp luật Các hoạt động lập pháp, lập quy, ápdụng và bảo vệ pháp luật nếu định hướng hoạt độngcủa mình vào việc giáo dục pháp luật thì đây là những

“Kênh” cung cấp tri thức, bồi dưỡng tình cảm và hướngdẫn hành vi hợp pháp tốt nhất cho mọi đối tượnggiáo dục pháp luật

1.2 Mục đích của giáo dục pháp luật:

Phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật làmột việc làm cần thiết, thường xuyên nhằm nâng cao ýthức pháp luật, phòng ngừa vi phạm pháp luật, đồngthời cũng là biện pháp tích cực đấu tranh chống lạinhững hành vi vi phạm pháp luật

Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng,có tổ chức, có chủ định thành 1 hệ thống của Đảng,của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội với mụcđích thiết lập ý thức pháp luật cho các đối tượngdưới dạng lòng tin, thói quen, động cơ của hành vi tíchcực pháp luật của con người

Mục đích của giáo dục pháp luật phản ánh đượcmong đợi cụ thể của xã hội, phù hợp với các điềukiện khách quan và chủ quan của xã hội để khả năngđạt được nó là hiện thực, phản ánh mối quan hệtrực tiếp với thực tiễn hoạt động giáo dục phápluật giúp cho việc xác định và nâng cao hiệu quả hoạtđộng đó

Trang 8

Trước hết giáo dục pháp luật phải đạt được mụcđích cung cấp, trang bị, bồi dưỡng nhận thức, mở rộnghệ thống tri thức pháp luật cho các đối tượng giáodục pháp luật.

Nhìn chung, trong điều kiện xã hội nước ta hiện nayvẫn ở trong tình trạng kém hiểu biết về pháp luật thìmục đích giáo dục pháp luật về nhận thức pháp luậtcho các đối tượng là yêu cầu quan trọng hàng đầu Bởi

vì, sự am hiểu pháp luật đóng vai trò quyết định trongviệc đảm bảo sjư phát triển ý thức pháp luật, tư duypháp lý và hình thành tính tich cực pháp luật ở mỗi conngười Vì vậy, mở rộng khối lượng tri thức và từngbước nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho mọingười là yếu tố hết sức quan trọng của mục đíchnhận thức trong giáo dục pháp luật

Mục đích hình thành lòng tin pháp luật hay còn gọilà mục đích cảm xúc của giáo dục pháp luật

Mục đích xây dựng thói quen xử sự theo nhữngquy định của pháp luật (định hướng hành vi) cũng có vaitrò đặc biệt

Kết quả cuối cùng của pháp luật phải được thểhiện ở hành vi xử sự theo pháp luật của các đốitượng được giáo dục Mục đích nhận thức pháp luật,tình cảm pháp luật nói ở trên là để phục vụ cho mụcđích hình thành động cơ và hành vi của r con người Cungcấp tri thức, giáo dục lòng tin và sự cần thiết phảituân theo một cách tự nguyện những quy định của phápluật là yếu tố quan trọng nhằm hình thành động cơ vàhành vi hợp pháp

Sự định hướng hành vi, tuân theo những quy địnhcủa pháp luật trở thành thói quen là biểu hiện của lòngtin và xử sự phù hợp với những đòi hỏi của pháp luậttrên cơ sở của tính tự giác

Giữa các mục đích của giáo dục pháp luật có sựđan xen, quan hệ chặt chẽ với nhau: từ tri thức phápluật đến tính tự giác; từ tính tự giác tới tính tíchcực và từ tính tích cực tới thói quen xử sự theo phápluật Vì vậy, khi tiến hành giáo dục pháp luật phảidựa trên sự tác động qua lại, phải phối hợp đồngbộ, khoa học giữa các mục đích trên thì mới đạt hiệuquả của công tác giáo dục pháp luật

Trang 9

1.3 Các hình thức giáo dục pháp luật:

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là khâuđầu tiên, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào đờisống, bởi vì thực hiện pháp luật với hình thức nào:tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật cũngđều phải thông qua giáo dục pháp luật, nếu không côngtác xây dựng pháp luật có tốt đến mấy thì cũng khôngđạt được hiệu quả thực thi pháp luật

Giáo dục pháp luật là phương tiện quan trọng hàngđầu để thực hiện quản lý Nhà nước, quản lý xã hộibằng pháp luật, nó giúp cho mọi công dân có tri thứcpháp luật, tình cảm pháp luật đúng đắn và thực hiệnhành vi hợp pháp Là tiền đề cho việc sử dụng quyềnlực Nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ,mở rộng quyền tự do của con người

Để thực hiện những yêu cầu trên, hoạt động phổbiến giáo dục pháp luật cần phải sử dụng đồng bộ,phối hợp tất cả các phương tiện, phương pháp, hìnhthức giáo dục pháp luật nhằm nhanh chóng xoá nạn

“mù” pháp luật trong xã hội ta Đây là yêu cầu cấp báchcủa sự nghiệp đổi mới và dân chủ hoá

Thông thường có các hình thức phổ biến, giáo dụcpháp luật chủ yếu sau:

- Giáo dục pháp luật qua hoạt động xây dựng, sửađổi pháp luật

- Giáo dục pháp luật thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng

- Hình thức giáo dục pháp luật thông qua đào tạo,bồi dưỡng tri thức pháp luật

- Giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tưpháp

Ngoài các hình thức chủ yếu trên, giáo dục phápluật còn có các hình thức khác: tuyên truyền phổ biến,giáo dục pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chứcxã hội, Tư vấn pháp lý, các chuyên mục Hỏi - Đáp phápluật; tổ chức thi tìm hiểu pháp luật tuy nhiều dạngkhác nhau nhưng các hình thức giáo dục pháp luật đềunhằm mục đích giáo dục, chuyển tải tri thức pháp luậtcho mọi đối tượng

Trang 10

2 Giáo dục pháp luật thông qua phiên toà hình sự của Toà án quân sự:

2.1 Một số đặc điểmvề tri thức, chức năng, nhiệm vụ củ toà án quân sự:

* Vị trí:

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật Tổchức Toà án nhân dân năm 1992 và Pháp lệnh tổ chứcToà án quân sự năm 1993 thì các toà án quân sự là cơquan xét xử của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam, được tổ chức trong quân đội Đây là đặc thùphản ánh những đặc điểm về chức năng, nhiệm vụ vàthẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự

Là cơ quan xét xử của Nhà nước, hoạt động củaToà án quân sự phải tuân theo những quy định chung củapháp luật và các nguyên tắc tổ chức Toà án nhân dân,đồng thời các Toà án quân sự còn là một tổ chứctrong quân đội nên phải chịu sự lãnh đạo, quản lý củaBộ Quốc phòng và chấp hành mọi chế độ, điều lệnh,quy định của quân đội Như vậy, các Toà án quân sự có

vị trí đặc biệt trong hoạt động của mình - Toà án quânsự chỉ trực thuộc Bộ Quốc phòng về cơ cấu tổchức Đảng trong quân đội, về hành chính quân sự, còntrong hoạt động xét xử các Toà án quân sự chịu sựgiám đốc xét xử của Toà án nhân dân tối cao

* Chức năng, nhiệm vụ của Toà án quân sự:

Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự quy định: chứcnăng của toà án quân sự là xét xử những vụ án hìnhsự thuộc thẩm quyền, “trong phạm vi chức năng củamình các Toà án quân sự có nghĩa vụ bảo vệ chế độXHCN và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ an ninhquốc phòng, kỷ luật của quân đội, bảo vệ tài sản Nhànước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tàisản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, côngnhân, nhân viên quốc phòng và của các công dân khác.Bằng hoạt động của mình, các toà án quân sự gópphần giáo dục quân nhân và công nhân, nhân viên quốcphòng trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnhpháp luật, điều lệnh của quân đội, tôn trọng những quytắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống vàphòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác”

Trang 11

Như vậy, pháp lệnh quy định rõ các khách thể màToà án quân sự cần bảo vệ gồm những khách thểchung cho các Toà án và những khách thể riêng phản ánhđặc thù của quân đội như: bảo vệ an ninh quốc phòng;kỷ luật quân đội, bảo vệ tính mạn, sức khoẻ củaquân nhân, công nhân, nhân viên quốc phòng

2.2 Đặc trưng và thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự:

Khác với thẩm quyền của các toà án khác, các Toàquân sự chỉ xét xử các vụ án hình sự mà bị cáo làcác đối tượng: quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viênquốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trunghuấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiếnđấu; dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quânđội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ docác đơn vị quân đội trực tiếp quản lý

Với những đối tượng trên dù họ phạm bất cứ tội

gì được quy định trong BLHS và phạm tội ở đâu (tronghay ngoài đơn vị, khi đi công tác hay nghỉ phép, tranh thủ, ởtrong nước hay nước ngoài ) đều thuộc thẩm quyềnxét xử của Toà án quân sự

Ngoài ra, những người không thuộc các đối tượngtrên mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sựhoặc gây thiệt hại cho quân đội (tài sản, trang bị củaquân đội và tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự nhânphẩm của các quân nhân, công nhân, nhân viên, quốcphòng) Các trường hợp phạm tội trong khu vực cấm,khu vực bảo vệ các công trình quan trọng về an ninh q

uốc phòng do quân đội quản lý cũng được coi là gâythiệt hại cho quân đội

Đối với những người không còn phục vụ trong quânđội nghỉ hưu, nghỉ mất sức, phục viên, xuất ngũ màphát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thờigian phục vụ quân đội hoặc những người đang phụcvụ trong quân đội, thì phát hiện tội phạm của họđược thực hiện trước khi vào quân đội Thì Toà ánquân sự xét xử những tội phạm có liên quan đếnbímật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội; nhữngtội phạm khác do Toà án nhân dân xét xử Trong trườnghợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩmquyền xét xử của Toà án nhân dân, thì Toà án quân sự

Trang 12

xét xử toàn bộ vụ án (chỉ được tách vụ án để xétxử riêng nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việcxác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án).

Riêng những vấn đề dân sự phát sinh trong vụ ánhình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quânsự thì toà án quân sự phải giải quyết cùng với việcxét xử về hình sự trong vụ án đó (Bồi thường thiệthại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản )

Như vậy, theo quy định của pháp luật, các Toà ámquân sự là cơ quan duy nhất trong quân đội có quyềnnhân danh Nhà nước để xét xử và ra bản án, quyết địnhđối với một tổ chức hoặc cá nhân; có quan hệ trựctiếp đến sinh mạng chính trị, tính mạng, tự do, nhânphẩm, danh dự và tài sản của con người; đến tâm tư,tình cảm của người phạm tội, đến gia đình họ vànhững đối tượng khác

Như đã trình bày, thông qua hoạt động xét xử tạiphiên toà là một hình thức giáo dục pháp luật Là hìnhthức giáo dục đặc thù, có tác dụng trực tiếp, mạnhmẽ đối với nhiều đối tượng nhằm nâng cao ý thứcpháp luật, đồng thời là biện pháp hữu hiệu, tích cựcđấu tranh phòng, chống tội phạm, duy trì trật tự xãhội, kỷ luật quân đội

2.3 Nội dung, yêu cầu giáo dục pháp luật thông qua phiên toà hình sự:

Thông qua hoạt động xét xử và trên cơ sở mục đíchcủa giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luậttại phiên toà hình sự của Toà án quân sự cần đạtđược nội dung và yêu cầu sau:

+ Bồi dưỡng và tăng cường hiểu biết pháp luậtcho các đối tượng tham gia tố tụng và tham gia phiêntoà chủ yếu về BLHS, BLTTHS, BLDS, các tri thức khác cóliên quan thông qua hoạt động xét xử tại phiên toà

+ Từ đó, tác động tích cực vào ý thức pháp luật,định hướng hành vi cho mọi đối tượng thể hiện quathái độ: phê phán, ủng hộ, tự kiềm chế Qua hànhđộng: tham gia phòng, chống tội phạm, chấphànhnghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội

Trang 13

Ý thức pháp luật và thái độ đối với pháp luật củacác đối tượng có mối quan hệ qua lại và tác độnglẫn nhau.

Thực tế cho thấy, (qua điều tra XH học), có ngườiđã dự nhiều phiên toà, có người dự một vài phiên toànhưng cũng có không ít người chưa một lần tham sựphiên toà nào Do vậy, nhiều trường hợp chưa hiểubiết chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và quan hệ giữacác cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hànhtố tụng; về quyền và nghĩa vụ của những người thamgia tố tụng trong quá trình điều tra xét xử vụ án, trìnhtự thủ tục tại phiên toà Mặt khác, vì điều kiện sinhsống hoặc thực hiện nhiệm vụ, nhiều quân nhân ởbiên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa, các đơn vị quân độithường đóng quân rải rác ở xa đô thị, các đối tượngquân nhân thực hiện nghĩa vụ quân sự thời hạnthường chỉ phục vụ 2 năm trong quân đội nên điềukiện hiểu biết về pháp luật có hạn chế Nhiều ngườichưa biết nhiệm vụ của BLHS, của BLTTHS, nhiệm vụvà phạm vi điều chỉnh của BLDS, cũng như các ngànhluật khác trong hệ thống pháp luật nước ta có nội dung

cơ bản như thế nào, nhằm điều chỉnh các nhóm quanhệ xã hội nào

Vì vậy, thông qua hoạt động xét xử nhằm bồidưỡng và tăng cường nhận thức về pháp luật nóichung và việc thực hiện, áp dụng các quy định củaBLHS, BLTTHS và BLDS, cũng như các tri thức khác có liênquan Từ đó, tác động tích cực vào ý thức pháp luậtvà định hướng hành vi cho các đối tượng tham gia tốtụng và tham dự phiên toà, là yêu cầu, nội dung quantrọng, là hình thức đặc thù của công tác giáo dục phápluật thông qua phiên toà hình sự

Toà án tiến hành xét xử công khai trên cơ sở thựchiện các nguyên tắc cơ bản của các bộ luật nên có điềukiện thu hút đông đảo các lực lượng xã hội tham dựphiên toà, đảm bảo hiệu quả giáo dục pháp luật cao,tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, nâng cao ýthức tôn trọng pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội.Đồng thời, tạo điều kiện để mọi người giám sát hoạtđộng xét xử xủa toà án nói chung, của HĐXX, công tố,thư ký, luật sư nói riêng, trước công chúng

Trang 14

Đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm và nângcao ý thức pháp luật cho mọi đối tượng là một vấnđề bức thiết trong xã hội

Trình tự thủ tục tố tụng trong phiên toà hình sự

sơ thẩm gồm các nọi dung: thủ tục bắt đầu phiên toà,thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nghị án vàtuyên án Trong quá trình xét xử vụ án phải được xemxét một cách khách quan, toàn diện, xác định bị cáo bịđiều tra, truy tố có đúng không? Có phạm tội hay không?Trong giai đoạn này, nhiệm vụ trung tâm của HĐXX làchứng minh tại phiên toà, là quá trình nhận thức đượcthực hiện bằng hoạt động xét xử nhằm kiểm tra, sửdụng, đánh giá các chứng cứ, tài liệu cũng như cáctình tiết, sự kiện có liên quan để làm sáng tỏ sự thậtkhách quan của vụ án

Như vậy, hoạt động xét xử và áp dụng phápluật, điều hành phiên toà của HĐXX cũng như việc thựchiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụngkhông những bồi dưỡng, tăng cường hiểu biết phápluật, các tri thức khác có liên quan cho các đối tượng,mà còn tác động tích cực vào ý thức pháp luật, địnhhướng hành vi cho họ kể cả trong nhận thức và xử xựtrong các mối quan hệ xã hội Từ đó, ý thức pháp luậtvà thái độ đối với pháp luật sẽ có mối quan hệ và tácđộng lẫn nhau, giúp cho người phạm tội cũng nhưnhững người dự phiên toà hình thành ở họ tri thứcpháp luật, lòng tin pháp luật và thói quen xử sự, địnhhướng hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luậthiện hành

Qua phiên toà hình sự, chất lượng xét xử tốt thìhiệu quả giáo dục pháp luật càng cao

Thái độ phê phán đối với những hành vi tiêu cựcxâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảovệ, mà trước đó họ ít quan tâm hoặc không nhận thứcđược như thế là vi phạm, là sai trái (có thể còn cho làđúng, là quan hệ xã hội bình thường) Từ thái độ phêphán dẫn đến tạo điều kiện củng cố lòng tin vào cácgiá trị pháp luật, ủng hộ cái đúng, đồng tình với cáchành vi tích cực cũng như thoả mãn với việc xử lý cáisai, cái tiêu cực Đồng thời, bản thân các đối tượngcũng thể hiện thái độ tự kiềm chế trong các quan hệ

Trang 15

xử sự, tổ chức một cách có ý thức hành vi của mìnhvà kiểm tra hành vi từ các quy định, chuẩn mực pháplý, biết đánh giá một cách tin tưởng các sự kiện pháplý với hành vi nào đó là hợp pháp hay không hợp pháp.

Từ những thái độ trên, các đối tượng sẽ cónhững hành động tham gia đấu tranh phòng, chống tộiphạm tích cực trên cơ sở tự nguyện Mặt khác, sữhình thành động cơ hành vi và tự giác chấp hành, tuânthủ nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, xâydựng thói quen xử sự pháp luật

Trong hoạt động xét xử, giáo dục pháp luật thôngqua phiên toà hình sự cần phải đạt được các nội dung,yêu cầu và mục đích trên Ngoài ra, để nâng cao chấtlượng xét xử, hiệu quả giáo dục pháp luật còn phảikết hợp nhiều yếu tố khác, sẽ được thực hiện ởphần sau

Trang 16

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA PHIÊN TÒA HÌNH SỰ Ở TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 -

Theo quy định tại điều 146 Bộ luật TTHS và quyđịnh liên ngành Tòa án quân sự trung ương và Việnkiểm sát quân sự trung ương xác định thẩm quyền xétxử theo lãnh thổ của các Tòa án quân sự khu vực Căncứ địa giới các tỉnh, Thành phố và số lượng đầu mốicác đơn vị trong địa bàn, Quân khu 5 được phân chia thành

2 Tòa án khu vực Địa bàn xét xử của Tòa án Quân sựkhu vực 1 gồm 05 tỉnh và 01 Thành phố : các tỉnhQuảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum vàThành phố Đà Nẵng, trụ sở đặt tại Quy Nhơn, BìnhĐịnh Trên địa bàn quân khu 5, đa số các đơn vị thuộc BộQuốc phòng, các quan binh chủng và các đầu mối đơn vịcủa quân khu đều đóng quân ở các tỉnh, Thành phố nóitrên (Quân đoàn 3, Binh đoàn 15, các Sư đòan phòng không,không quân và hầu hết các Sư đoàn, Lữ đoàn, Trungđoàn của quân khu 5)

Với địa bàn rộng gồm nhiều tỉnh đồng bằng venbiển miền Trung và 2 tỉnh Tây nguyên các đầu mối đơn

vị nhiều tình hình tội phạm diễn biến phức tạp nênphải giải quyết của Tòa án quân sự khu vực 1 - QK5hàng năm luôn cao nhất trong số 17 Tòa án quân sự khuvực của tòan quân

Mặt khác, 100% số vụ án được Tòa án quân sựkhu vực 1 tổ chức xem xét xử lưu động tại các đơn vị,địa phương nơi tội phạm xảy ra Có vụ án phải đi xa

Ngày đăng: 16/03/2016, 21:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ VỤ ÁN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ VÀ - Giáo dục pháp luật thông qua phiên toà hình sự ở toà án quân sự khu vực 1   QK5
BẢNG THỐNG KÊ VỤ ÁN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ VÀ (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w