1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm TIỂU THUYẾT LỊCH sử của hồ BIỂU CHÁNH

113 268 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Quan niệm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn ở đầu thế kỉ XX Biểu Chánh Chương II: Đặc điểm nội dung tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh điểm lịch sử 2.1.1 Tái hiện lịch s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN THÚY MI MSSV: 6095870

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong bốn năm học tập và rèn luyện trên giảng đường đại học, có thể nói luận văn tốt nghiệp là một công trình nghiên cứu có giá trị đầu tiên đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Công trình nghiên cứu này, còn là sự kiểm nghiệm lại kiến thức của mỗi sinh viên trong suốt bốn năm học vừa qua

Sau một thời gian học tập, tìm tòi, nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm tiểu thuyết

lịch sử của Hồ Biểu Chánh” thì đến nay chúng tôi đã được hoàn thành

Lời đầu tiên, người viết chân thành gởi lời cảm ơn đến cô Huỳnh Thị Lan Phương – người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi Trong thời gian vừa qua, cô đã tân tình giúp đỡ và động viên chúng tôi hoàn thành đề tài này Đồng thời, qua đây người viết xin chân thành cảm ơn quý thầy cô bộ môn Ngữ Văn đã nhiệt tình giảng dạy và truyển đạt những kiến thức bổ ích cho chúng tôi trong bốn năm học vừa qua

Tuy người viết đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Nên người viết rất mong được quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn

Người viết xin chân thành cảm ơn!!!

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thúy Mi

Trang 3

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU:

 Khái niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử

Trang 4

 Quan niệm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn ở đầu

thế kỉ XX

Biểu Chánh

Chương II: Đặc điểm nội dung tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

điểm lịch sử

2.1.1 Tái hiện lịch sử dân tộc 2.1.2 Tái hiện chân dung xã hội Việt Nam qua nhiều thời điểm lịch

sử 2.2 Khuynh hướng đạo lí trong tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

2.2.1 Những vấn đề đạo lí được thể hiện trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

2.2.2 Quan điểm đạo lí của Hồ Biểu Chánh qua tiểu thuyết lịch sử 2.3 Nội dung yêu nước trong tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

Trang 5

2.3.1 Thể hiện lập trường yêu nước và cứu nước tích cực của Hồ

Biểu Chánh 2.3.2 Thể hiện quan niệm về người anh hùng cứu nước

Chương III: Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

3.1 Ngôn ngữ

3.2 Nhân vật

3.3 Kết cấu, cốt truyện

3.4 Cách kể truyện

3.5 Chi tiết nghệ thuật

3.6 Thời gian và không gian nghệt thuật

PHẦN KẾT LUẬN

PHẦN MỞ ĐẦU

 Lý do chọn đề tài

Tiểu thuyết là một thể loại mà chắc hẳn ai cũng đã từng biết và đọc qua nó

Có chăng nó đã đi sâu vào tâm lí của mỗi người khi đọc một tác phẩm nào đó, hầu như nó đều đọng lại cho người đọc một cái nhìn về thực tại cuộc sống và cho cả chính mình Ban đầu mọi người tìm đến tiểu thuyết như một thứ vui chơi, giải khuây nhưng dần dần tiểu thuyết đã tự khẳng định mình là một thể loại văn học có

vị trí vô cùng quan trọng trong nền văn học và cả đời sống của người dân

Trang 6

Chắc hẳn ai cũng đã từng đọc tiểu thuyết và thấy được cái hay cái hấp dẫn

và sự thu hút của nó Để đến được với độc giả những quyển tiểu thuyết đặc sắc thì không ai khác hơn chính tác giả là người phải trải qua rất nhiều khổ luyện và khó khăn nhất để có thể ra đời một đứa con tinh thần của mình và làm sao để tác phẩm

đó thật sự gần gũi với mọi người hơn Và ở đây chúng tôi nói đến tiểu thuyết lịch

sử, là một mảng đề tài không mấy xa lạ là viết về lịch sử Nhưng điều đặc biệt làm sao thu hút mọi người khi đọc một quyển tiểu thuyết lịch sử mới là điều đáng nói

Tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc Nếu như Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản là những người mở đường thì Hồ Biểu Chánh là người đã góp phần bổ sung và phát triển Các tác phẩm của ông có nhiều

sự đổi mới đi vào khai thác nhiều đề tài khác nhau như về thế sự, về lịch sử… đặc biệt là trong giai đoạn này tiểu thuyết lịch sử đã có vai trò rất quan trọng, là sự đóng góp vào quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam Và chúng tôi nghiên cứu thể loại này – tiểu thuyết lịch sử để phát hiện thêm một nội dung tiêu biểu, nổi bật của Hổ Biểu Chánh nhằm khẳng định sự đóng góp của Hồ Biểu Chánh cũng như sự đóng góp của tiểu thuyết Nam Bộ đối với quá trình hình thành văn học

quốc ngữ Nam Bộ Vì thế chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của

Hồ Biểu Chánh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

 Lịch sử vấn đề

Đến với tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh, chúng ta mới nhận ra rằng sự đóng góp của ông đã được giới nghiên cứu phê bình ghi nhận và có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về mảng đề tài này lần lượt ra đời Và ở đây người viết cũng đã cố gắng khai thác vấn đề từ nhiều công trình nghiên cứu có liên quan

ít nhiều đến đề tài để tìm hiểu về “Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu

Chánh” Từ đó người viết tập hợp được những yếu tố có liên quan đến đề tài

nghiên cứu của mình

Trang 7

 Trước năm 1945

Đây là giai đoạn mà tiểu thuyết chữ quốc ngữ Nam Bộ hình thành phát triển

và chấm dứt vai trò mở đường của nó Do vậy, một công trình nghiên cứu chuyên

về tiểu thuyết chữ quốc ngữ Nam Bộ trong giai đoạn này là một điều khó thực hiện được vì chưa có một độ lùi thời gian nhất định Tuy nhiên, rải rác đây đó trên báo chí thời kì này có những bài điểm sách, phê bình, nhận xét hay thậm chí là quảng cáo sách… cũng giúp chúng ta thấy được diện mạo của tiểu thuyết một thời

Thiếu Sơn trong một bài viết trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 106 ngày 29/10/1931 có nêu tên Hồ Biểu Chánh là đại diện cho lối viết văn theo kiểu phê

bình nhân vật và không ngần ngại ca tụng: “Ông Hồ Biểu Chánh chẳng những đã

biết do sự quan sát mà sáng tạo ra được những nhân vật đúng với cái khuôn mẫu người đời, biết cho những nhân vật đó sống theo với cái tánh cách riêng, cái thái

độ riêng, trong mỗi hoàn cảnh riêng của họ, mà ông còn khéo léo cho những nhân vật đó hiệp thành một cái xã hội gần giống như cái xã hội của ta, cho kẻ giầu gặp

kẻ nghèo, người hèn đụng người sang, kẻ gian hùng quỷ quyệt với bực nữ sĩ anh hào, vị giai nhân tài nữ với kẻ vô học phàm phu, vì những sự xung đột về danh về lợi, về tư tưởng, tánh tình, về tinh thần khí tiết, mà quay cuồng, vật lộn, mà chiến đấu cạnh tranh gây nên cái vẻ hoạt động trong đời cho độc giả được thỏa lòng

nhạy về tác phẩm tiểu thuyết cho dù đó mới chỉ là những nhận xét nhìn trên đại lược nội dung: những lịch sử tiểu thuyết như của ông Nguyễn Tử Siêu ngoài Bắc, của ông Tân Dân Tử trong Nam thì mô phỏng theo truyện Tàu, mà bí mật như tiểu

Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan tuy là một công trình biên khảo

khá đầy đủ những gương mặt miền Bắc, nhưng ở miền Nam chỉ nhắc đến tên ba người là Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh và Đông Hồ Trương Vĩnh Ký được coi

là lớp nhà văn tiên phong, Đông Hồ là nhà thơ sau này, chỉ có Hồ Biểu Chánh là

Trang 8

người viết tiểu thuyết Tuy nhiên Vũ Ngọc Phan viết về Hồ Biểu Chánh còn rất sơ lược vì lí do là tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đăng nhiều ở báo Phụ Nữ Tân Văn nên được người ngoài Bắc biết đến chứ sách của ông từ lâu không được bày bán ở ngoài Bắc nữa

 Từ 1945 đến 1975

Năm 1962, trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập IV, Nguyễn

Đình Chú đã giới thiệu về Hồ Biểu Chánh Tuy nhiên, những nhận xét của Nguyễn Đình Chú về Hồ Biểu Chánh còn thận trọng và dè dặt, theo chuẩn mực của một giáo trình đại học

Có nhiều điều kiện thuận lợi về mặt tư liệu, nên các nhà nghiên cứu ở miền Nam có nhiều công trình, chuyên khảo đi sâu vào khảo cứu phần văn học tưởng đã

bị lãng quên này Nhưng không phải nhà nghiên cứu nào cũng có sự đánh giá đúng mức về mảng văn học Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Vẫn có những nhận xét hoặc là đề cao hoặc là hạ thấp quá mức giá trị của mảng văn học này Bên cạnh

đó lại có những quan điểm chỉ chú tâm vào một tên tuổi (chẳng hạn như tác giả Hồ Biểu Chánh)

Năm 1965 Phạm Thế Ngũ cho xuất bản cuốn Việt Nam văn học sử giản ước

tân biên Ở tập II, phần Văn học hiện đại 1862 – 1945, ông đã dành chương V để

viết về “Sự hình thành của tiểu thuyết mới” Nhưng trong phần này, sau khi đã

khảo cứu khá kỹ những nhà văn tiên phong ở miền Bắc, đến mảnh đất văn học miền Nam Phạm Thế Ngũ chỉ nhắc đến một tên tuổi duy nhất: Hồ Biểu Chánh Và

ông không ngần ngại khi cho rằng các nhà văn Nam Bộ viết văn với một “trình độ

ấu trĩ” để phục vụ cho một “công chúng hạ lưu dễ dãi” Tuy quan điểm của ông

có phần cứng nhắc nhưng qua đó cũng đã đánh dấu sự trưởng thành và từng bước

đi lên của tiểu thuyết Nam Bộ nói chung và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng, cũng đã phần nào đánh dấu sự đóng góp của Hồ Biểu Chánh vào nền văn học nước nhà

Trang 9

Trong cuốn Văn học sử Việt Nam (1967), Bùi Đức Tịnh có nhắc đến tác giả

Hồ Biểu Chánh và đưa ra một số nhận định có giá trị về sự đóng góp miệt mài của ông

Năm 1968, Huỳnh Phan Anh viết bài “Ghi nhận về Hồ biểu Chánh” được

in trong quyển Văn chương và kinh nghiệm hư vô Bài viết là sự khẳng định vị trí

của Hồ Biểu Chánh trên văn đàn Nam Bộ hồi đầu thế kỉ

Doãn Quốc Sỹ trong quyển Văn học và Tiểu thuyết (Sáng Tạo Xuất bản, Sài Gòn, 1973) đã giới thiệu một “Đồ biểu văn xuôi Việt Nam” từ xưa đến nay Nhưng trong Đồ biểu này, trong số các tác giả viết tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ

XIX đầu thế kỉ XX, Doãn Quốc Sỹ chỉ duy nhất ghi tên Hồ Biểu Chánh, nói lên sự đóng góp của ông khi viết tiểu thuyết

Chân dung Hồ Biểu Chánh (Lửa Thiêng Xuất bản, Sài Gòn, 1974) của

Nguyễn Khuê là một công trình nghiên cứu khá dày dặn về cuộc đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh Chính vì vậy, năm 1998, nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí

Minh đã in lại cuốn sách này Nguyễn Khuê trong phần Tổng kết cuốn sách đã khẳng định: “Là một nhà văn lớn ở miền Nam và có khuynh hướng đạo lí, Hồ Biểu

Chánh đã đi tiên phong và lập công đầu trong việc đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôi thai tiến đến giai đoạn thành lập và thịnh hành Tiểu thuyết Việt Nam

từ Hồ Biểu Chánh mới bắt đầu bước những bước vững chắc và ông là nhà tiểu

chúng ta nhận thấy sự đóng góp của Hồ Biểu Chánh với nhiều tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết cho nền văn học Nam Bộ trong giai đoạn này

Nhiều vấn đề xoay quanh về tiểu thuyết Nam Bộ nói chung và tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu in thành sách như đã giới thiệu ở trên Và bên cạnh những công trình lớn như thế, đi chuyên sâu còn có những bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo chuyên ngành,…

Trang 10

Tạp chí Văn số 80 ngày 15/04/1967 đã dành một số đặc biệt viết về Hồ

Biểu Chánh Tạp chí này đã đăng nhiều bài viết của người cầm bút ở Sài Gòn thời

bấy giờ Đến năm 1974, tờ Thời tập cũng dành một số chuyên đề về Hồ Biểu

Chánh Nói lên sự đóng góp một cách nhiệt tình và nghiêm túc của ông bằng những tác phẩm lần lượt đã ra đời, để lại cho độc giả một cách nhìn sâu sắc về thời cuộc, về đạo lí làm người và đặc biệt là viết về lịch sử của dân tộc

 Từ sau năm 1975 đến nay

Trong bộ Từ điển Văn học gồm hai tập do Nhà Xuất bản Khoa học xã hội

ấn hành trong hai năm 1983, 1984, chúng ta thấy có duy nhất một mục từ về tác giả tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỉ XX, lại chính là Hồ Biểu Chánh Các tác giả biên soạn từ điển đã bỏ qua nhiều tên tuổi trên văn đàn tiểu thuyết Nam Bộ

thời bấy giờ, để dành cho Hồ Biểu Chánh những lời đánh giá trân trọng: “Chủ yếu

đóng góp của ông vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai này là ở mấy phương diện: nội dung đề tài, xây dựng nhân vật, kết cấu ngôn ngữ”(9)

Văn học Nam Bộ từ đầu giữa thế kỉ XX (1900 – 1954) (1988) của Hoài

Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Thiệp là một công trình nghiên cúu tương đối dày dặn, tuy các tác giả khiêm tốn cho đó chỉ là sơ thảo Công trình đã đặc biệt lưu ý đến hoàn cảnh lịch sử, xã hội của miền Nam thời bấy giờ và sự tác động của nó đến tiến trình phát triển của tiểu thuyết Những tên tuổi được các nhà nghiên cứu nhắc đến cũng là những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản

Trong quyển Nhà Văn hiện đại tập 1 của Vũ Ngọc Phan – NXB Văn học –

1994 đã nói đến sự đóng góp không nhỏ của Hồ Biểu Chánh vào nền Văn học Việt Nam hiện đại Ông đã có những nhận xét tích cực về sự nghiệp văn chương của

Hồ Biểu Chánh và tiêu biểu là tiểu thuyết Ông cũng cho rằng Hồ biểu Chánh là

Trang 11

“Người bắt đầu cho nền tiểu thuyết được vững vàng” để dần dần khẳng định vị trí

trong nền văn học và cho đến ngày nay

Cao Xuân Mỹ trong quá trình chuẩn bị cho luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố hồ Chí Minh vào năm 2000 đã phối hợp với Mai Quốc

Liên cho ra mắt bộ sách hai tập Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX (NXB Văn

nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu Quốc học) Bộ sách này

đã in lại một số tác phẩm có giá trị của một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Nguyễn Bửu Mộc, Lê Hoằng Mưu…

Năm 2001, Hoài anh cho xuất bản quyển Chân dung Văn học (NXB Hội

Nhà văn) Đây là một tập sách tiểu luận phê bình Hoài Anh chỉ điểm qua chân dung của những cây bút văn chương Hoài Anh gọi Nguyễn Trọng Quản là

“Người khai phá lĩnh vực truyện hiện đại ở Nam Bộ” Lê Hoằng Mưu là “Người đi tiên phong trong tiểu thuyết hiện đại ở Nam Bộ”, Biên Ngũ Nhy là “Cây bút viết truyện trinh thám đầu tiên ở Nam Bộ”, Hồ Biểu Chánh là “Cây cầu nối những giá trị cổ truyền với con người hiện đại”, Tân Dân Tử là “Người mở đầu thể loại truyện lịch sử trong văn học Nam Bộ”,…

Mỗi vấn đề, mỗi thể loại văn học đều có lịch sử hình thành của nó, và để đến được với độc giả, công chúng như hiện nay, tiểu thuyết đã gặp không biết bao nhiêu khó khăn, trở ngại và thăng trầm của nó Nhưng điều đặc biệt là dù qua thời gian thì tiểu thuyết lịch sử vẫn luôn khẳng định và luôn có một giá trị nhất định không gì thay đổi được Và qua đó luôn nhắc nhở với thế hệ chúng ta rằng cần phải gìn giữ và phát huy hơn nữa những giá trị mà ông cha ta đã cố gắng và để lại những tác phẩm cao quý như vậy

Tuy có nhiều công trình lớn nghiên cứu về văn chương của Hồ Biểu Chánh, nhưng những vấn đề nghiên cứu này, người nghiên cứu chưa bàn cụ thể và bàn sâu

về vấn đề tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh Và hôm nay người viết sẽ đưa ra cái nhìn và đánh giá rõ ràng hơn, cụ thể hơn về tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu

Trang 12

Chánh để mọi người có thể nhìn nhận một cách đúng đắn về những đóng góp to lớn mà ông đã để lại

 Mục đích nghiên cứu

Do có nhiều ý kiến xoay quanh về vấn đề tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh Bên cạnh đó, nhiều người chưa thật sự quan tâm đến các tiểu thuyết viết về lịch sử của ông, có lẽ họ cho rằng thời đại đó đã qua và cũng không mấy hứng thú khi tìm hiểu lịch sử vì bản chất của lịch sử là khô khan, cứng nhắc

Qua việc nghiên cứu đề tài này, trước tiên chúng tôi muốn hiểu thêm về nội dung tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Ông không chỉ đi vào bàn về những vấn đề thế sự hay là bàn về vấn đề đạo lí mà qua tác phẩm của mình ông còn thể hiện niềm tự hào dân tộc, về lịch sử dân tộc, về đất nước và con người (đặc biệt là những người con Nam Bộ) với một tinh thần đáng tự hào Bên cạnh đó, những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, chúng ta thấy được Hồ Biểu Chánh và cũng như nhiều nhà văn Nam Bộ cùng thời phản ứng lại làn sóng dịch truyện Tàu Vì vậy họ đã khai thác đề tài lịch sử trong nước, đó là một hướng khai thác mới để thể hiện tinh thần dân tộc của những nhà văn Nam Bộ

Và qua việc tìm hiểu, giúp chúng tôi hiểu thêm về nội dung tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh, để từ đó thấy được giá trị và sự đóng góp không nhỏ của ông vào nền văn học Việt Nam hiện đại

 Phạm vi nghiên cứu

Hồ Biểu Chánh có một sự nghiệp văn chương vô cùng phong phú và đa dạng với nhiều thể loại như: Thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tuồng hát, bình luận, báo chí, dịch thuật… Nhưng chỉ đến với lĩnh vực tiểu thuyết ông mới thực sự gặt hái được nhiều thành công Cùng với thể loại tiểu thuyết, nhà văn không chỉ tạo được tiếng vang thu hút được đông đảo độc giả thuộc tầng lớp bình dân hưởng ứng

mà còn thu hút được sự tiếp nhận của nhiều nhà nghiên cứu phê bình Họ tìm đến

Trang 13

tiểu thuyết của ông với những đánh giá, nhận định khác nhau trên nhiều bình diện khác nhau, theo những quan điểm, lập trường, tư tưởng tiếp nhận cũng không giống nhau

Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tìm hiểu “Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Hồ

Biểu Chánh” thông qua đó giúp người đọc hiểu hơn về nội dung và nghệ thuật

trong tiểu thuyết lịch sử của ông, và hiểu hơn về con người Nam Bộ nơi đây

 Phương pháp nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu vấn đề, chúng tôi đã tổng hợp nhiều phương pháp để tìm hiểu đề tài được rõ ràng và chi tiết nhất Chúng tôi dùng phương pháp so sánh để thấy sự khác biệt giữa tiểu thuyết lịch sử của Hổ Biểu Chánh và của các nhà văn khác cùng thời khi viết về thể loại này Phương pháp phân tích giúp chúng tôi hiểu hơn về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông, đồng thời đem đến cho giới nghiên cứu một điểm nhìn mới hơn về Hồ Biểu Chánh Bên cạnh đó chúng tôi dùng phương pháp thống kê nhằm đem đến cho giới nghiên cứu có cái nhìn thật đầy đủ và rõ ràng hơn về sự đóng góp của ông trong mảng đề tài tiểu thuyết lịch

sử của mình Và cuối cùng chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp để đúc kết những kết luận chung về giá trị đóng góp của tiểu thuyết lịch sử Hồ Biểu Chánh đối với sự hình thành và phát triển thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại sau này

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

 Khái niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử

Khái niệm về tiểu thuyết

Trên tờ báo Nam Phong tạp chí (1917-1934) Phạm Quỳnh đã tập hợp lại, viết thành một bài báo có tính chất lý luận lấy nhan đề: Bàn về tiểu thuyết đăng trên Nam Phong số 43, tháng 1-1921 Có thể nói, sau này nhìn lại, mặc dù còn có

những hạn chế về nội dung khoa học, nhưng bài báo đã có tác dụng trực tiếp hướng dẫn các văn sĩ nước ta bước đầu có ý niệm về thể loại tiểu thuyết để sáng

tác tốt hơn Có thể xem đây là một bài viết lý luận về thể loại tiểu thuyết đầu tiên ở

nước ta Bài báo này là sự thể hiện đầy đủ nhất quan niệm của Nam Phong tạp chí

về thể loại tiểu thuyết, từ đó chi phối việc sáng tác của các văn sĩ cũng như việc

Trang 15

biên tập nội dung và cho đăng tác phẩm Trong bài viết này, ơng chủ bút Phạm

Quỳnh đã cĩ định nghĩa về tiểu thuyết như sau: “Tiểu thuyết là một truyện viết

bằng văn xuơi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc cĩ hứng thú” Thật ra, định nghĩa này ơng chủ bút Nam Phong tạp chí đã dịch thốt từ một định nghĩa về thuật ngữ “tiểu thuyết”

trong tự điển Lettré của Pháp như sau: “Tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt viết

bằng văn xuơi, trong đĩ tác giả hoặc mơ tả tình cảm, các phong tục, hoặc kể về những sự việc kỳ lạ cốt gây hứng thú cho độc giả” (Une histore peinte écrite en

prơse, ó l’auteur cherche à exciter l’interêt par la peinture des passions, des moeurs, ou par la singularité des aventures).[5]

Sau định nghĩa đĩ, Phạm Quỳnh giải thích thêm: “Như vậy thời phạm vi

của tiểu thuyết rộng lắm: phàm sách thì khơng phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thơ ca thời là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết cĩ khi lại gồm được cả các lối kia, vì trong một bộ tiểu thuyết cũng cĩ chỗ nghị luận, chỗ khảo cứu, chỗ ngâm vịnh, chỗ khuyên răn, cứ nghĩa hai chữ “tiểu thuyết” trong sách Tàu thời lại rộng lắm nữa, phàm sách gì khơng phải là “chính thư” (nghĩa là sách

để học như kinh, truyện, sử…) đều là tiểu thuyết cả, nhưng tiểu thuyết đây tức là tạp thuyết, cĩ khác với nghĩa tiểu thuyết bây giờ…” Và ơng chốt lại: “Nĩi tĩm lại thời tiểu thuyết là một truyện bịa đặt mà cĩ thú vị”, “Tiểu thuyết khéo bày đặt những truyện vui truyện lạ cho ai nấy phải mê”

Trong quyển Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập II, Phan Cự Đệ - NXB Đại

học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội – 1974 cĩ đoạn: Tiểu thuyết Đoạn

trường tân thanh đã phản ánh khá đầy đủ một số đặc trưng thẩm mỹ của thể loại

Tiểu thuyết là một thể loại văn học gần gũi tối đa với cuộc sống và cĩ khả năng phản ánh cuộc sống một cách rộng rãi nhất, quy mơ nhất Và tiểu thuyết chính là cuộc đời, nên trong tiểu thuyết cĩ rất nhiều màu sắc thẩm mỹ phong phú và đa dạng

Trang 16

Trước đây một số nhà lí luận tư sản đã cố gắng đưa ra những định nghĩa về tiểu thuyết, nhưng các định nghĩa đó không khỏi mang tính chất phiến diện, một

chiều, hình thức chủ nghĩa Họ cho rằng: “Tiểu thuyết là một câu chuyện về yêu

đương, không có nút tình yêu thì không có tiểu thuyết” và “Tiểu thuyết là một câu chuyện về cuộc sống riêng tư, sinh hoạt gia đình của con người”

Trong bộ Bách khoa từ điển văn học giản minh, xuất bản năm 1958 ở Hợp chủng Quốc Mỹ định nghĩa tiểu thuyết như sau: “Tiểu thuyết là một câu chuyện kể

bằng văn xuôi có quy mô lớn cũng giống như truyện (novel), tiểu thuyết khó lòng định nghĩa một cách chính xác, một phần vì tính chất dài ngắn bất định, một phần

vì nó bao gồm rất nhiều loại hình và dị dạng… vấn đề định nghĩa này làm cho việc xây dựng một lịch sử tiểu thuyết có được ít nhiều tính chân xác trở nên đặc biệt khó khăn, vì ta không thể biết chắc được những tác phẩm nào nằm trong tác phẩm

Trong quyển 150 thuật ngữ văn học của Lai Nguyên Ân (biên soạn) – NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa tiểu thuyết như sau: “Tiểu thuyết là tác phẩm

tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào một số phận, một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ờ đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách Belinski gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư", do chỗ nó miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người.”

Theo như quyển Lí luận Văn học do Hà Minh Đức (chủ biên) cũng đã bàn

về khái niệm tiểu thuyết và đưa ra khái niệm đó như sau: “Tiểu thuyết là một hình

thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có những khà năng riêng trong việc tái hiện với một quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch sử, của đạo đức, của phong tục… Nghĩa là tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động theo hướng tiếp cận trên cả bề rộng lẫn chiều sâu của nó.”

Trang 17

Trong quyển Lí luận văn học của Trần Đình Sử - Phương Lựu – Nguyễn

Xuân Nam, NXB Giáo dục – 1987 đã khái niệm tiểu thuyết như sau: “Tiểu thuyết

là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm trong hệ thống thể loại văn học cận đại, hiện đại.”

Qua nhiều định nghĩa của các nhà nghiên cứu về tiểu thuyết chúng tôi thấy rằng nhận định của Trần Đình Sử - Phương Lựu – Nguyễn Xuân Nam trong quyển

Lí luận văn học là hợp lí và được nhiều giới nghiên cứu thừa nhận Đó chính là sự

tìm tòi và học hỏi không ngừng nghĩ để chúng ta có được những giá trị đích thực

và hợp lí nhất cho những nghiên cứu sau này

Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử

Theo Đỗ Ngọc Thạch tiểu thuyết lịch sử là cái “Lò bát quái” thử sức, thử

tài nhà văn cả về tri thức và khả năng sáng tạo nghệ thuật Bởi ở đây nhà văn phải đồng thời là nhà sử học Ta có thể thấy, khi viết về đề tài lịch sử, nhà văn thường

“Khẳng định và ca ngợi hoặc “ phân tích” và “giải mã” lịch sử” Nói cách khác,

đó là hai mạch cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử hiện đại

Hoặc có thể nói, “lịch sử hóa” tiểu thuyết và “tiểu thuyết hóa” lịch sử là

hai khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử hiện đại Ở khuynh hướng thứ nhất, tiểu thuyết lịch sử thường tôn trọng sự chính xác của tư liệu lịch sử, bao quát hiện thực đời sống ở diện rộng với chiều kích vĩ mô của tư

duy “sử thi - anh hùng ca” Thực chất, tiểu thuyết lịch sử trong mô hình này là sự

cụ thể hóa, sinh động hóa những chân lí lịch sử - những “Trang sử Vàng” Công

việc của nhà tiểu thuyết trong trường hợp này xét đến cùng là dùng khả năng tưởng tượng của mình để lấp đầy chỗ trống giữa những dòng sử biên niên khô

Trang 18

khan để càng làm sống động và giàu thuyết phục những chân lí đã “rạng rỡ trong

sử sách” Lúc này, tiểu thuyết lịch sử “thiên về chất truyện kể” mà “ít chất tiểu thuyết “hư cấu” Ở khuynh hướng thứ hai, những tư liệu chính xác của lịch sử

được chuyển hóa thành tiểu thuyết, thành sản phẩm hư cấu của nghệ sĩ Chỉ với

một vài “điểm tựa” mong manh vào lịch sử, nhà tiểu thuyết có thể tưởng tượng,

sáng tạo một thế giới nghệ thuật riêng Nhà tiểu thuyết vừa làm sống lại lịch sử, vừa tạo cho nó một sức sống mới để lịch sử có thể song hành cùng hiện tại Đây là bước cách tân lớn trong mối quan hệ giữa lịch sử và tiểu thuyết

Thái Vũ từng “tuyên ngôn” rằng: “Viết tiểu thuyết lịch sử trước hết phải tôn

trọng lịch sử, không hư cấu, bịa đặt, tùy tiện Viết cuốn nào, mình cũng vẽ bản đồ khu vực diễn ra những sự kiện chính để tránh nhầm lẫn.…” Nhưng ông cũng đã

nói: là tiểu thuyết, dù là tiểu thuyết lịch sử, làm sao tránh được “hư cấu”

Trong quyển Tiểu thuyết Văn học Việt Nam hiện đại, tập 1 – Phan Cự Đệ -

NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội – 1974 khi nói về tiểu thuyết lịch sử Trong thời kỳ 1900 – 1930, tiểu thuyết lịch sử là một hình thái mới của văn học yêu nước và cách mạng Tiểu thuyết lịch sử tuy viết về quá khứ của dân

tộc nhưng lại mang một ý nghĩa rất hiện đại “Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn

những cái đã qua để chúng giải thích cho ta hiện tại và chỉ ra tương lai của ta”

(Bielinxki)

Hải Thanh trong Hội nhà văn Quân đội nhân dân Việt Nam đã bàn về tiểu

thuyết lịch sử như sau: “Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã

ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha

hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử” Và theo sự tìm hiểu nghiên cứu của nhóm chúng tôi,

chúng tôi đã quyết định thống nhất theo quan điểm trên về khái niệm tiểu thuyết lịch sử

Trang 19

 Vài nét về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX

Hoàn cảnh ra đời

Đầu thế kỉ XX đất nước ta đang chìm trong sự khó khăn dưới sự thống trị của thực dân Pháp Sau Hòa ước 1854, chủ quyền của Việt Nam nằm trong tay thực dân Pháp Trên thực tế, Việt Nam không còn là một đất nước thống nhất Với việc chia Việt Nam thành ba đơn vị hành chính (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ), chính sách chia để trị của thực dân Pháp đã được cụ thể hóa Nam Kỳ trở thành xứ thuộc Pháp với những nét riêng về chính trị, kinh tế, xã hội so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ Thật ra từ khi Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Kỷ (1867), ở Nam Bộ đã nảy sinh một biến chuyển xã hội quan trọng, đánh dấu những đổi thay khác biệt không chỉ về mặt chính trị, xã hội mà cả về mặt văn hóa so với địa phương khác

Về chính trị: Nhiều cuộc nổi dậy cưỡng lệnh triều đình, chống lại quân Pháp của các tướng lãnh và của các sĩ phu yêu nước như Hồ Huấn Nghiệp, Trương Định,… những người không có điều kiện trực tiếp theo nghĩa quân thì tự tay đốt

bỏ nhà cửa, ruộng vườn hoặc thực hiện kế sách “tị địa” di chuyển đến sinh sống ở những vùng không thuộc sự quản lí của chính quyền Pháp Đến năm 1880, Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ được thành lập, gồm 12 ủy viên người Pháp và 6 ủy viên người Việt Với âm mưu biến Nam Kỳ trở thành bàn đạp để đánh chiếm Bắc Kỳ

và Trung Kỳ Pháp tăng cường chuẩn bị lực lượng tuyển mộ lính và khai thác kinh

tế ở Nam Kỳ Đến khi tiến đánh Bắc Kỳ, chúng đã tuyển mộ và huấn luyện được

4000 lính mã tà Tuy thực dân bằng nhiều cách thức thắt chặt, cách cai trị nhưng nhân dân Nam Bộ lúc bấy giờ vẫn ngấm ngầm hoặc công khai phản kháng Chẳng hạn ngay sau khi có Hòa ước 1884, năm 1885 ở Gia Định đã mở ra cuộc khởi nghĩa của nhân dân 18 thôn Vườn Trầu

Về kinh tế: Pháp xây dựng Cảng Sài Gòn, mở đường xe hỏa Sài Gòn – Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ… để nắm nguồn lợi lúa gạo và lập nhiều công xưởng ở Sài Gòn, Chợ Lớn như đóng thuyền, vận tải đường sông, nhà máy xay

Trang 20

lúa… những cơ sở kinh tế ban đầu này khiến kinh tế Nam Kỳ lúc bấy giờ phát triển mạnh mẽ và là tiền đề tạo nên độ chênh về mặt kinh tế - xã hội giữa Nam Kỳ

so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ sau này

Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Sarraunt đã làm thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng Một bộ phận nông dân bị bần cùng hóa phải từ giã ruộng vườn kiếm kế sinh nhai ở nơi thị

tứ bằng đủ mọi nghề, mọi việc, hình thành nên tầng lớp dân nghèo thành thị, những người tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, sản xuất với các tiệm buôn, vựa lúa,… có xưởng sản xuất lớn, nhỏ tùy theo qui mô và sự thành đạt trở thành tầng lớp tiểu tư sản và tư sản dân tộc Tuy vậy, tầng lớp tư sản người Việt chỉ mới là số ít, phần lớn là người Pháp, người Hoa, người Ấn Độ Quá trình

đô thị hóa diễn ra khá nhanh chóng, đặc biệt là ở Sài Gòn và Chợ Lớn Dân số đô thị ngày càng đông, xã hội đô thị ngày càng phức tạp, thành phần dân cư ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác hẳn trước kia Năm 1863, dân số cả Sài Gòn - Gia Định chỉ mới gần hai vạn thì đến năm

1929 đã có trên ba mươi vạn người Trong đó gồm một nửa là những người lao động chân tay

Có thể nói rằng, trong các giai cấp và tầng lớp xã hội ấy, tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã giữ một vai trò khá đặc biệt về lĩnh vực văn hóa Việc thay đổi hình thức và nội dung thi cử từ năm 1906 đã quyết định chiều hướng phát triển của tầng lớp trí thức Sự tiếp xúc với văn hóa Phương Tây, cách thức đào tạo và thi cử mới

đã hình thành nên một đội ngũ trí thức khác hẳn với tầng lớp nho sĩ trước kia Những người này cùng với những viên chức làm việc trong chính quyền thực dân Pháp và chính quyền Nam triều (tham, phán, thông ngôn, ký lục…) trở thành tầng lớp tiểu tư sản trí thức lúc bấy giờ Tầng lớp này dù xuất thân từ những hoàn cảnh gia đình khác nhau nhưng về cơ bản đều có một nếp sống tương đối ổn định và đầy đủ trong một xã hội đang nhanh chóng thay đổi Họ có điều kiện để tiếp xúc

Trang 21

với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội và họ cũng có nhu cầu thể hiện tâm tư của mình về những vấn đề đó

Ngay sau khi nắm quyền ở Nam Kỳ, bên cạnh những hoạt động về chính trị

và kinh tế, thực dân Pháp cũng đặc biệt chú ý đến việc truyền bá văn hóa Pháp, hạn chế ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong đời sống người Việt Cụ thể, lĩnh vực giáo dục được người Pháp quan tâm trước nhất Kỳ thi Hương bị xóa bỏ ở Nam Kỳ sớm nhất Với quan niệm tầng lớp sĩ phu là một lực lượng chính trị có uy thế đối với đông đảo nhân dân, người Pháp đã dùng nhiều biện pháp để hạn chế ảnh hưởng của họ, bằng cả cách mua chuộc lẫn biện pháp đàn áp Chữ Quốc ngữ

La tinh bản thân nó chỉ là một hình thức chữ viết nhưng thoạt đầu đã được thực dân Pháp xem như là một phương tiện hữu hiệu để cách li người Việt khỏi nền văn hóa bản xứ và trước mắt chặt đứt ảnh hưởng của giới sĩ phu đối với nhân dân Nhiều trường công lập dạy chữ Quốc ngữ được dựng lên ở nhiều nơi đẩy lùi dần các lớp chữ Hán, chữ Nôm của các thầy đồ nơi thôn ấp Thế nhưng, thoạt đầu với quan niệm bất kể cái gì có liên quan đến Pháp đều là xấu, nhân dân không cho con

em đi học chữ Quốc ngữ Người Pháp đã dùng biện pháp cưỡng chế, bắt thiếu niên

đi học giống như bắt đi sưu; đồng thời thay chữ Hán trong công văn, giấy tờ bằng chữ Quốc ngữ Thời gian sau, phần lớn những người biết chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp đều dễ dàng có công ăn việc làm, thậm chí một số ít lại được chính quyền thực dân cho đi học tại các nước thuộc Pháp và cả Paris Vì vậy, một bộ phận không nhỏ đã tự tìm đến với chữ Quốc ngữ vì lợi ích giao tiếp của nó và cả vì lợi ích trong cuộc mưu sinh

Dần về sau, theo thời gian, với ưu thế dễ đọc dễ viết và tính hữu ích rõ rệt trong đời sống, chữ Quốc ngữ đã hoàn toàn chiếm ưu thế so với chữ Hán và chữ Nôm Hơn nữa, các nho sĩ trước những ưu thế mạnh mẽ của chữ Quốc ngữ cũng

đã dần dần tích cực ủng hộ cho việc truyền bá loại văn tự mới này thông qua hoạt động của các phong trào Duy Tân Và, cũng chính phong trào Duy Tân này lả một trong những động lực cơ bản của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ở

Trang 22

những thập niên đầu thế kỉ XX về cả phương diện hình thức lẫn phương diện tư tưởng Như vậy, có thể nói rằng chữ Quốc ngữ thực hiện được vai trò lịch sử của mình Chất xúc tác hữu hiệu của quá trình Việt Nam hội nhập với văn hóa Phương Tây

Không phải những tác phẩm văn chương mà báo chí mới chính là phương tiện đầu tiên phổ biến rộng rãi chữ Quốc ngữ ở Việt Nam Sài Gòn – Gia Định là mảnh đất màu mỡ của báo chí Chữ Quốc ngữ đến với Nam Bộ sớm hơn, nên báo chí Quốc ngữ trở thành một món ăn tinh thần thiết yếu của đông đảo độc giả thuộc nhiều tầng lớp khác nhau Chúng phục vụ mọi đối tượng, bất kể thành phần, tầng lớp xã hội Ấn tượng mà người đọc dễ dàng nhận thấy là báo chí Nam Bộ thời bấy giờ dung nạp tất cả mọi dạng thông tin, từ tác phẩm văn chương đến chuyện thương mại, khoa học, tôn giáo, y tế… Chúng thiên về hướng phổ thông, phổ cập chứ không chú ý đến hướng chuyên môn, chuyên ngành Định hướng nội dung là vậy, nên hình thức diễn đạt, lời văn câu chữ của báo chí Nam Bộ nói chung cũng gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của đông đảo quần chúng nhân dân Trên báo chí thời kì này đã thường xuyên xuất hiện các bài liên quan đến văn học thuộc các thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, dịch thuật, phê bình… Tiểu thuyết xuất hiện ở Nam Bộ thông thường dưới dạng các bài viết nhanh đăng nhiều kỳ trên báo, sau đó mới xuất bản thành sách Dĩ nhiên, vẫn có những ấn phẩm được gọi là tiểu thuyết xuất bản dưới dạng sách vài ba mươi trang in kèm những mục quảng cáo được phát hành rộng rãi với giá bình dân hoặc cho không Đây là một hình thức tiếp thị đặc biệt xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ, ít nhiều cũng phản ánh tính ham đọc của nhân dân xứ này

Trước khi xuất hiện rộng rãi những tác phẩm văn học bằng chữ Quốc ngữ của các tác giả người Việt, độc giả Việt Nam đã có một thời kì tiếp xúc với chữ Quốc ngữ văn học thông qua bản dịch các tác phẩm của văn học cận đại Việt Nam

và các tác phẩm văn học của Trung Hoa và Pháp Độc giả Nam Bộ đón nhận hầu như tất cả mọi loại “truyện Tàu”, “truyện Tây” được in làm nhiều kì trên báo hoặc

Trang 23

được xuất bản thành sách Nội dung của các tác phẩm này thuộc nhiều dạng, nhiều thể loại khác nhau

Tiếp thu vốn văn học truyền thống sẵn có mà cụ thể là văn học dân gian, văn học Hán Nôm địa phương và nguồn văn học dịch từ các tiểu thuyết Đông, Tây cùng với những chuyển biến mới về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,… như đã trình bày ở trên, một nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng đã hình thành ở mảnh đất Nam Bộ với những bước đi non trẻ nhưng vững chắc, mang trong lòng những nét bản sắc riêng của vùng miền và thời đại

Quan niệm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn ở đầu thế

kỉ XX

Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết lịch sử cần đảm bảo độ chính xác lịch sử với những sự kiện có tầm vóc, nhân vật có can dự trực tiếp vào biến cố lịch sử đóng vai trò nhân vật trung tâm và mục đích tái hiện lại lịch sử theo quan điểm chính thống

Các nhà văn Nam Bộ đã sáng tác tiểu thuyết lịch sử Họ kêu gọi đồng bào

bỏ những điều nhảm nhí mê tín dị đoan để cho dân trí kịp duy tân Trương Duy

Toản trong lời tựa cuốn tiểu thuyết lịch sử Phan yên ngoại sử – tiết phụ gian

truân (1910) đã viết : “Theo trí mọn của tôi nay phải bỏ những Lê Huê pháp thuật, Kim Đính thần thông, Khương Thương phong trần, Thế Hùng tróc quỷ, Chung Ly lập trận, Bồ Tát cứu Binh, Đại Thánh loạn thiên cung, Anh Đăng về trên cảnh mà sắp bày những chuyện chi mới, bây giờ mặc dầu, miễn là cho lánh khỏi cái nẻo dị đoan và báo ứng phân minh thì đủ rồi” Các nhà văn thấy rằng

người đọc ai cũng thông làu tên tuổi những nhân vật lịch sử Trung Quốc, trong lúc lịch sử Việt Nam đâu có kém gì? Tại sao không viết lịch sử Việt Nam cho

đồng bào xem Nhà văn Hồ Biểu Chánh trong Nặng gánh cang thường (1930) cho rằng: “Trung Hoa có sử rồi có truyện nữa Việt Nam cũng có sử há lại không

Trang 24

có truyện hay sao? Ấy vậy, một bộ truyện An Nam ví dầu không giúp vui cho độc giả được đi nữa thì cũng biên chép một đoạn sự tích của nước mình, làm như thế tưởng có lẽ không phải là một việc làm vô ích”

Các nhà văn không chỉ nói bằng lí thuyết suông mà họ còn chứng tỏ bằng việc sáng tác những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử lấy đề tài từ lịch sử dân tộc, thể hiện một tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống dân tộc, góp tiếng nói vào phong trào đấu tranh của nhân dân Trở về với quá khứ dân tộc, bằng cảm hứng yêu nước dạt dào, cảm hứng dân tộc sâu sắc, bằng việc ngợi ca những người anh hùng dũng cảm, những người phụ nữ thủy chung, các tác giả muốn đánh thức hiện tại, khích lệ lòng yêu nước, yêu quê hương, phong thổ, lòng tự hào dân tộc Trong tác phẩm của mình nhà văn đã tận dụng mọi cơ hội để ám chỉ thời cuộc, nói lên sự đau xót đối với đất nước bị giặc ngoại xâm Bằng tài năng của mình họ đã làm sống lại một số giai đoạn lịch sử Khắc hoạ được chân dung của nhiều nhân vật anh hùng có thật trong lịch sử Với tư cách là một thể loại, tiểu thuyết lịch sử Nam

Bộ đã đem lại cho văn học dân tộc một nội dung tích cực Trong hoàn cảnh bấy giờ, nó thực sự đã đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta

Nhà văn là con người sống trong xã hội, chịu sự tác động của quy luật xã hội Một khi ý thức xã hội phát triển, con người có nhu cầu thẩm định lại những thang bậc giá trị, thì văn học là nơi in dấu ấn đậm nét nhất Sự thay đổi này thể hiện trong lập trường sáng tác, trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn, trong đó

có quan niệm về con người Nhân vật lịch sử bước vào trang viết của các nhà văn với đầy đủ đặc tính của một con người bình thường Điều này khiến cho tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn Nam Bộ ít nhiều đổi khác so với lịch sử truyền thống Việc chú ý đến tính chất đời thường của nhân vật lịch sử đã trở thành một quan điểm thẩm mỹ tiến bộ của các nhà văn Nam Bộ, điều này không chỉ nằm trong ý đồ nghệ thuật của các tác giả mà nó còn là một đặc điểm thẩm mỹ của thể

Trang 25

loại tiểu thuyết Đó cũng là điểm mạnh của tiểu thuyết lịch sử so với khoa học lịch

sử

Bên cạnh đó, trong tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn Nam Bộ mức độ hư cấu nghệ thuật tương đối cao Mặc dầu còn có những yếu tố của văn học cũ trong xây dựng nhân vật, như xây dựng tính cách nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, giới thiệu tiểu sử, hành động Và các tác giả bắt đầu chú ý tới thủ pháp độc thoại nội tâm, miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật, hướng tới sự thể hiện đa dạng, phức tạp, phong phú trong cuộc sống của nhân vật Ngôn ngữ ngày càng giản dị, trong sáng, hướng tới đại chúng độc giả Mặc dầu ra đời khá sớm, nhưng tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ hướng tới đối tượng độc giả bình dân ham đọc sách nên tác giả không mấy chú trọng đến việc gọt giũa ngòi bút để nâng cao tính nghệ thuật của tác phẩm Do đó, số lượng tác phẩm tuy nhiều, thoả mãn nhu cầu của độc giả, nhưng không cao về chất lượng Ngược lại, đối tượng của tiểu thuyết lịch sử ở miền Bắc phần lớn là tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, nên đòi hỏi nhà văn phải không ngừng nâng cao chất lượng của tác phẩm, điều đó làm cho các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử ở miền Bắc có thể đứng vững được trên văn đàn mặc dù có

sự xuất hiện của Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, văn học hiện thực phê phán Các nhà văn Nam Bộ đã không vượt qua được chính mình để bắt kịp đà tiến lên của lịch sử văn học Điều này lý giải vì sao giai đoạn sau 1932, tiểu thuyết lịch

sử Nam Bộ ít dần và không còn gây được tiếng vang như giai đoạn đầu thế kỷ Mặc dầu vậy, những đóng góp của tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ là không nhỏ trong chặng đường khởi đầu của văn chương dân tộc, một di sản cần được chú tâm nghiên cứu và khám phá

Tình hình phát sinh và phát triển

Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân ta Những năm đầu thế kỷ XX, ở Nam Bộ có nhiều cuộc nổi dậy, tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa của Phan Xích Long (1913) Nhiều cuộc bãi công diễn

ra sôi nổi và quyết liệt Cuộc đình công năm 1912 của công nhân Ba Son, mấy

Trang 26

cuộc mít tinh lớn đã nổ ra ở Sài Gòn để phản đối Pháp trục xuất những người miền Trung và miền Bắc hoạt động chính trị ra khỏi Nam Kỳ, tố cáo âm mưu chia rẽ và chia cắt lãnh thổ của thực dân Pháp Năm 1925, toàn quyền Varenne tới Sài Gòn Nhân dân đã đứng lên đòi yêu sách dân chủ Cùng năm đó, Pháp bắt cóc Phan Bội Châu ở Thượng Hải và bí mật đưa về nước, định ám hại cụ Cả nước dấy lên phong trào đưa ân xá Phan Bội Châu Phong trào đang sôi sục thì cái chết của Phan Chu Trinh ngày 24 - 3 - 1926 lại gây nên xúc động mạnh cho nhân dân cả nước, dấy lên phong trào để tang Phan Chu Trinh Ở Sài Gòn hơn 14 vạn người đi đưa đám tang, biến thành cuộc biểu tình có trật tự, một cách bày tỏ thái độ chính trị của nhân dân với bộ máy thống trị Tiếng vang từ những sự kiện đó đã phả vào đời sống xã hội và văn học một luồng sinh khí mới làm tỉnh hẳn bộ mặt xã hội Việt Nam, khi mà hình ảnh của các sĩ phu yêu nước đột ngột hiện về sau bao nhiêu năm bị tù đày Những người cầm bút cảm thấy cần có một hướng đi mới trong sáng tác, ngoài những đề tài quen thuộc Đó là mong muốn được nói lên khát vọng của cả một dân tộc, muốn tìm lại “hồn nước” một thời được cất lên từ các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thời đại, trong điều kiện bấy giờ, để tránh sự kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù, không còn cách nào khác là lấy chuyện lịch sử ngày xưa để nói bóng nói gió sang chuyện đương thời Tái hiện quá khứ hào hùng của dân tộc là để ấp ủ lòng yêu nước, nhắc nhở quốc dân đồng bào đừng bao giờ quên quá khứ, và phải làm điều gì đó cho hiện tại, cái việc mà ông cha đã làm Như vậy sự ra đời và phát triển thành một khuynh hướng nổi bật của tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ có cơ sở khách quan từ yêu cầu thúc bách của đời sống đấu tranh sôi động của dân tộc, đồng thời tiểu thuyết lịch sử cũng có tác động không nhỏ trong việc cổ vũ động viên nhân dân đấu tranh giành độc lập

Nhìn chung tiểu thuyết lịch sử ở Nam Bộ có hai dạng chính, xuất hiện ở hai giai đoạn khác nhau Giai đoạn đầu tiểu thuyết lịch sử có tính chất “ngoại sử” Khi sáng tác, lịch sử chỉ được dùng như cái nền để tác giả đi sâu vào miêu tả cuộc sống đời tư của cá nhân, của con người cụ thể không có thật trong lịch sử Tiêu biểu cho

loại này là tác phẩm Phan yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân (1910) của Trương

Trang 27

Duy Toản, Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử, Tô Huệ Nhi ngoại sử của Lê

Hoằng Mưu Phan yên ngoại sử, Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử lấy bối

cảnh thời Pháp đô hộ, miêu tả cuộc đời chìm nổi của Phùng Kim Huê… Nhìn chung các tác phẩm tiểu thuyết “ngoại sử” này có nhiều tình tiết, diễn biến, mô tả quãng đời nhân vật, khung cảnh, cốt truyện đều rút ra từ thực tế đương thời Các tác phẩm vẫn còn sử dụng lối văn biền ngẫu có đối có vần lưu loát, kết thúc có hậu Đồng thời cũng có dấu hiệu của văn phong hiện đại trong một số đoạn miêu

tả, đặc biệt Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử có nhiều tình tiết ly kỳ hấp

dẫn, có tính chất trinh thám, phiêu lưu mạo hiểm, gây hứng thú cao cho độc giả

Trong những năm 1920 và đầu những năm 1930 tiểu thuyết lịch sử phát triển nhanh chóng với số lượng tác phẩm và tác giả ngày càng nhiều, chất lượng cũng cao hơn trước Nhiều tác phẩm đã gây được tiếng vang trong công chúng cả

nước như Giọt máu chung tình (1925) của Tân Dân Tử Tiền Lê vận mạt – Phạm

Minh Kiên (NXB Tín Đức thư xã, Sài Gòn 1932) là một tiểu thuyết lịch sử về sự

tích vua Lê Long Đỉnh Tiếp đến là Lê triều Lý thị - Phạm Minh Kiên (nhà in J

Viết, Sài Gòn 1931) là một tiểu thuyết hóa lịch sử về sự tích nhà vua khởi đầu nhà

Lý Theo tác giả Lý Công Uẩn là con người chẳng khác nào Triệu Khuông Dẫn

của Trung Quốc, đáng là “một đứng minh quân của nước nhà” Ở Miền Bắc thì có Nguyễn Tử Siêu với hàng loạt tác phẩm viết về đề tài lịch sử như: “Đinh Tiên

Hoàng, Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng ” Với những tác phẩm đó đã đóng góp một

phần không nhỏ vào văn chương của nền văn học nước nhà Tiểu thuyết lịch sử lúc này ít đi theo hướng “ngoại sử” mà chuyển sang hướng “dã sử” Đặc điểm của tiểu thuyết “dã sử” là: có nhân vật chính là những anh hùng dân tộc, nhân vật có thật trong lịch sử Nhân vật chính của tác phẩm là những nhân vật lịch sử có thật, sống động cụ thể, đầy đủ những tính cách và tình cảm của con người bình thường, với những băn khoăn, những nỗi vui buồn, kể cả những khát vọng cá nhân rất nhân bản của con người Ngoài ra con người còn được nhìn nhận từ nhiều phạm trù đối lập nhân cách: lòng yêu nước và sự phản bội, độc ác và lương thiện, giữa

Trang 28

cao thượng và thấp hèn Vì vây, nội dung tư tưởng của tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ giai đoạn này không những khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, mà còn mang đến cho độc giả những bài học về đạo đức, nhân cách hết sức sâu sắc

Bên cạnh đó, tiểu thuyết lịch sử ra đời cũng có nguyên nhân từ yêu cầu đa dạng về thể loại trong tiến trình hiện đại hóa văn học Một mặt khác không kém phần quan trọng, đó là sự phản ứng lại hiện tượng dịch thuật truyện Tàu Tính từ

1904 cho đến 1910 bước đầu đã thấy có 46 truyện Tàu được dịch và lưu hành ở Nam Bộ Theo Địa Chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ cho đến 1932 đếm sơ có gần 30 dịch giả có sách in, họ dịch trên 70 quyển khác nhau Trong số những truyện được dịch, không phải cuốn nào cũng tốt

cả về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật “Người đọc ở mọi tầng lớp, và họ tiêu thụ

ở những mức độ khác nhau Người ta làu thông tên tuổi của những anh hùng Trung Quốc có thật hay tưởng tượng nhiều hơn là tên tuổi các anh hùng liệt nữ Việt Nam” Trước tình hình đó, các nhà văn Nam Bộ đã phản ứng lại bằng cách

sáng tác tiểu thuyết lịch sử Và các nhà văn Nam Bộ muốn qua các tác phẩm của mình để thể hiện tinh thần dân tộc và muốn kêu gọi đấu tranh nhưng họ không dám bày tỏ trực tiếp mà họ tìm mọi cách để gửi gắm vào trong tiểu thuyết lịch sử của mình Để từ đó họ khơi gợi lại niềm tự hào dân tộc, cho người đọc có thể lấy những sự kiện lịch sử để liên hệ và so sánh với hiện tại Và chính họ tự nhận ra về thời cuộc và suy nghĩ về trách nhiệm, bổn phận của bản thân trong hoàn cảnh thời đại lúc bấy giờ Chính vì những lẽ trên mà các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử lần lượt

ra đời và để lại dấu ấn cho người đọc, cho cả thế hệ mai sau

Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết lịch sử ở đầu thế kỉ XX

Việc sáng tác tiểu thuyết lịch sử là do thời đại và những biến cố trong lịch

sử mà có Và việc các nhà văn phản ứng lại hiện tượng dịch truyện Tàu như đã nói

ở trên Vì thế, các nhà văn không chỉ nói không mà họ còn chứng tỏ bằng việc sáng tác những tiểu thuyết lịch sử lấy đề tài từ lịch sử dân tộc, thể hiện một tinh

Trang 29

thần yêu nước, tự hào về truyền thống dân tộc, góp tiếng nói vào phong trào đấu tranh của nhân dân

Tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ còn chịu ảnh hưởng lớn của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa tử ngôn ngữ, kết cấu cho đến cách xây dựng nhân vật, mặc dầu có một

số cách tân về nghệ thuật nhưng vẫn không đáng kể Nghệ thuật tiểu thuyết hiện

đại xuất hiện trong Truyện Thầy Lazarô Phiền, đến đầu thế kỷ XX vẫn chưa được

kế thừa và phát triển thêm Điều này cũng dễ dàng lý giải, những gì Nguyễn Trọng Quản làm đã quá mới mẻ, quá sớm so với thực tế đương thời Văn học 30 năm đầu thế kỷ XX là thời kỳ vận động chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học cận hiện đại, vì vậy nó có những bước quá độ, khập khiễng, không vững vàng, khiến cho bây giờ nhìn lại thấy có nhiều điều dường như “bảo thủ”, “trì trệ” so với yêu cầu đổi mới ngày càng nhanh của bản thân nền văn học Nhưng đó là một tất yếu, văn học không thể ngay lập tức biến đổi hoàn toàn Bởi cái mới không phải dễ dàng được chấp nhận, khi mà truyền thống văn học cũ đã ăn sâu vào tâm thức của nhà văn cũng như công chúng đón nhận Điều này lý giải sự kết thừa những yếu tố truyền thống cũ của văn học dân tộc trong thời kỳ mới, đặc biệt là văn học Nam

Trang 30

Hoa, chẳng hạn như tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí Đến nay, do yêu cầu

thực tế các nhà văn nam Bộ mượn lại hình thức đó cũng không có gì là lạ cả, điều quan trọng là nó đáp ứng được “khẩu vị” của độc giả, vừa với khả năng người cầm bút và điều đáng quý là nêu cao tinh thần tự hào về lịch sử dân tộc Bao nhiêu đó cũng đủ để tiểu thuyết lịch sử làm tròn được sứ mệnh lịch sử của nó và chống lại làn song dịch thuật ồ ạt truyện Tàu Dầu vậy, sự phản ứng đó biểu hiện bằng sáng tác chỉ ở mức độ đổi mới về nội dung phản ánh chứ về mặt hình thức thể hiện chưa điều gì mới mẻ và đặc sắc hơn

Nhìn chung tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn chưa thoát khỏi hình thức

kể chuyện chương hồi, lối kết cấu theo mạch lạc thời gian đơn tuyến, miêu tả ngoại hình để khắc họa tính cách nhân vật, người kể chuyện ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ theo lối biền ngẫu, kết thúc có hậu Và dần về sau, nhân vật chính của tác phẩm là những nhân vật lịch sử có thật, sống động cụ thể, đầy đủ những tính cách

và tình cảm của con người bình thường, với những băn khoăn, những nỗi vui buồn, kể cả những khát vọng cá nhân rất nhân bản của con người Vì vậy, nội dung tư tưởng của tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ giai đoạn này không những khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, mà cón mang đến cho độc giả những bài học về đạo đức, nhân cách hết sức sâu sắc

Trở về với quá khứ dân tộc, bằng cảm hứng yêu nước dạt dào, cảm hứng dân tộc sâu sắc, bằng việc ngợi ca những người anh hùng dung cảm, những người phụ nữ thủy chung, các tác giả muốn đánh thức hiện tại, khích lệ lòng yêu nước, yêu quê hương, phong thổ, lòng tự hào dân tộc Trong tác phẩm của mình nhà văn

đã tận dụng mọi cơ hội để ám chỉ thời cuộc, nói lên sự đau xót đối với đất nước bị giặc ngoại xâm Bằng tài năng của mình họ đã làm sống lại một số giai đoạn lịch

sử Khắc họa được chân dung của nhiều nhân vật anh hùng có thật trong lịch sử Với tư cách là một chủng loại, tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ đã đem lại cho văn học dân tộc một nội dung tích cực Trong hoàn cảnh bấy giờ, nó thực sự đã đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta

Trang 31

Trong tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn Nam Bộ mức độ hư cấu nghệ thuật tương đối cao Mặc dầu còn có những yếu tố của văn học cũ trong xây dựng nhân vật, như xây dựng tính cách nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, giới thiệu tiểu sử, hành động Bên cạnh đó các tác giả bắt đầu chú ý tới thủ pháp độc thoại nội tâm, miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật, hướng tới sự thể hiện đa dạng, phức tạp, phong phú trong cuộc sống của nhân vật Ngôn ngữ ngày càng giản dị, trong sáng, hướng tới đại chúng độc giả

1.3 Vài nét về Hồ Biểu Chánh và vấn đề sáng tác tiểu thuyết lịch sử của

Lúc còn nhỏ ông đã theo học chữ Nho, sau đó lại chuyển sang học chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp Ông thi đỗ bằng Thành Trung năm 1905

Từ năm 1906 đến năm 1941 ông đã làm việc cho Chính phủ Pháp, bắt đầu

từ chức Thông ngôn thăng dần đến chức Đốc phủ sứ Ông từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi, vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ

Cuối năm 1946, ông từ giã chính trường, thật sự sống cuộc đời hưu nhàn, giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương

Và ông mất ngày 04 tháng 11 năm 1958 tại Phú Nhuận

 Về sự nghiệp sáng tác

Trang 32

Hồ Biểu Chánh là người rất say mê với sự nghiệp sáng tác văn chương Từ năm 1922 trở đi ông viết rất liên tục, đều đặn

Tác phẩm của ông có nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, tuồng, cải lương, hát bội, văn tế, tác phẩm dịch,… Nhưng những tác phẩm thuộc các thể loại kể trên không ai còn nhớ đến Người ta chỉ còn nhớ đến Hồ Biểu Chánh với một thể loại duy nhất: Tiểu thuyết

Ông sáng tác được 64,5 quyển tiểu thuyết nhưng chỉ có 18 quyển ra đời trong giai đoạn 1912 – 1932 được xem là có đóng góp trong việc hình thành nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Trong số đó phải kể đến các tác phẩm tiêu biểu sau:

 Tiểu thuyết về thế sự: Ai làm được, Nhân tình ấm lạnh,Thầy thông

ngôn, Chút phận linh đinh, Vì nghĩa vì tình, Con nhà nghèo, Con nhà giàu, Cha con nghĩa nặng, Khóc thầm, Tỉnh mộng, Tại tôi,…

 Tiểu thuyết phóng tác: Chúa tàu Kim Quy (được phóng tác từ Bá tước

Monte Cristo của Alexandre Duma), Ngọn cỏ gió đùa (được phóng tác từ Những người khốn khổ của Victor Hugo), Cay đắng mùi đời (được phóng tác từ Không Gia đình của Hector Malot)

 Tiểu thuyết lịch sử: Nam cực tinh huy, Nặng gánh cang thường, Đỗ

Nương Nương báo oán, Đại nghĩa diệt thân

Quan niệm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

Trở lại với đóng góp của Hồ Biểu Chánh vào tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc vào những năm đầu thế kỷ XX, ngoài vấn đề đề tài, cốt truyện, điều đáng nói là một hệ thống nhân vật tương đối đa dạng, phong phú, trong đó có những nhân vật mới xuất hiện trong văn học Quan niệm sáng tác của ông luôn

nhất quán với quan điểm “Văn dĩ tải đạo”, nhân vật của ông chính tà phân minh,

ít có sự thay đổi và cái tình, cái “nghĩa” được coi trọng hơn hết trong tiểu thuyết lịch sử của mình Và trong cuộc mưu sinh cực nhọc lúc sa cơ lỡ vận thường được

những người hiền lành, tử tế giúp đỡ theo quan niệm “Ở hiền gặp lành” của cha

Trang 33

ông xưa Đó cũng là một lý do khiến cho độc giả thời bấy giờ yêu thích các sáng tác của ông

Hầu hết các nhân vật mà ông yêu mến và muốn cổ xuý đều hành động theo

mục đích duy nhất là “Thành nhân với Thủ nghĩa” như chữ dùng của nhà văn

Đây là truyền thống văn học đã từng có thành tựu rực rỡ trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Cái hay của Hồ Biểu Chánh cũng như của Nguyễn Đình Chiểu là ở đây đạo đức đã thành đạo lí, hạt giống nhân nghĩa của Khổng Mạnh đã mất đi màu sắc thánh hiền, trở thành cách sống, cách cư xử ở đời, thành đạo lí

nhân dân, đạo đức bình dân Cái tinh thần “gặp sự bất bình chẳng tha” trong Lục

Vân Tiên vậy

Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của ông là những đấng anh hùng, tài trí hơn người luôn luôn đặt chữ “nghĩa” lên hàng đầu Luôn đem tài trí, sức lực của mình ra phục vụ cho đất nước cho dân tộc Luôn có tinh thần hăng say, máu lửa khi tiêu diệt kẻ thù, không quản gian lao, dù hi sinh cũng không màng Họ luôn xem những chữ “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “trí”, “tín” là thước đo giá trị con người – người anh hùng lúc bấy giờ Có như vậy mới xứng đáng là người anh hùng của dân tộc và luôn luôn được người đời tôn kính

Khi đến với tiểu thuyết lịch sử, Hồ Biểu Chánh càng thể hiện quan niệm của mình mạnh mẽ và rõ ràng hơn nữa Và hầu hết trong tác phẩm viết về lịch sử của mình ông luôn thể hiện niềm tự hào dân tộc, lịch sử dân tộc đáng tự hào Và ông ca ngợi những người anh hùng trong nước, từ những bậc quan lớn trong triều đình đến những người dân áo vải, không phân biệt già, trẻ hay trai, gái… mà ai có lòng yêu nước thì đều được ông thể hiện vào trong tác phẩm của mình Chẳng hạn

như nhân vật Thanh Tòng – Nặng gánh cang thường, Ngô Quyền – Nam cực tinh

huy là những nhân vật xuất thân từ tầng lớp cao quý, đến những vị anh hùng áo vải

như Đỗ Thanh Nhân, Đỗ Thanh Xuân – Đỗ Nương Nương báo oán, cụ Thủ Khoa

Huân, ông Nhiêu Minh Giám, Chí Linh – Đại nghĩa diệt thân,… đều được ông thể

hiện rất chân thực và đời thường Chỉ bấy nhiêu, đã phần nào thể hiện được quan

Trang 34

niệm của ông trong sáng tác, ông rất công bằng không thiên vị ai, ai yêu nước, yêu dân thì những việc làm đó mới xứng đáng là anh hùng của dân tộc Đáng để người đời tôn kính và tự hào Ông còn quan niệm khi viết tiểu thuyết lịch sử là muốn đem những truyện nước mình để nhắc nhở, để ca ngợi, tự hào chứ không muốn gợi lại truyện của nước người, và ở đây là truyện của Trung Quốc Ông cho rằng người Việt Nam mình lịch sử chẳng thua kém ai, vậy tại sao không viết lịch sử về dân tộc mình, đất nước mình để cho họ thấy rằng lịch sử Việt Nam rất đáng tự hào

và ca ngợi

Hồ Biểu Chánh đã kiên trì theo đuổi khuynh hướng đạo lí trong suốt cuộc đời sáng tạo văn học của mình Các tác phẩm thuộc về tiểu thuyết lịch sử của ông

đã tái hiện thật đầy đủ về những giai đoạn, những chiến công, những trận đánh hào

hùng của dân tộc Bên cạnh đó, ông cũng phê phán việc làm “bất nghĩa bất trung”

mà thánh hiền đã dạy Qua đó, càng làm cho độc giả hiểu hơn về lịch sử dân tộc và đạo lí ở đời, hướng con người đến sự thánh thiện và thanh cao hơn

Những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

 Nam cực tinh huy (1924)

Tác phẩm lấy bối cảnh năm Mậu Tuất (938) nói về quan thứ sử Ngô Quyền

lo thời thế và vận mệnh nước nhà Quan thứ sử Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân chống lại quân trong nước và nước Lưu – Trung Quốc… đem lại chiến thắng vẻ vang trên sông Bạch Đằng… nhưng khi đất nước phồn thịnh thì việc cai quản lại không như mong muốn, do nghe lời quân thần, phản phúc… vì vậy mà ngai vàng không giữ được bao lâu, vỏn vẹn chỉ có 5 năm (939 – 944) … May nhờ thời thế, trời đất thương người tốt, đấng anh hùng nên dù thất thế lúc ban đầu nhưng về sau được nhiều người phò trợ, lòng dân yêu mến Những kẻ ban đầu phản phúc về sau cũng phò tá giúp dân giúp nước… triều đình họ Ngô ăn ở có phúc vì vậy mà về sau hai con là Xương Cấp và Xương Văn giành lại ngôi vua, đem lại cuộc sống an bình, hưởng lạc cho người dân… Một kết thúc có hậu về sau đem lại niềm tự hào của dân tộc, của nước nhà

Trang 35

 Nặng gánh cang thường (1930)

Bộ truyện kể về nhà Lê, nhằm triều vua Thánh Tôn, trong khoảng hai ba năm trước khi vua thăng hà Vua Thánh Tôn là con thứ của Thái Tôn Ngài tên là

Tư Thành Ngài có hai người anh: một Nghi Dân, hai Bang Cơ Vì bà Hoàng hậu

là mẹ của Nghi Dân bị tội nên vua Thái Tôn lập Bang Cơ lên làm Thái tử rồi phong Nghi Dân làm Lạng Sơn Vương, và Tư Thành làm Bình Nguyên Vương Khi vua Thái Tôn băng hà, triều đình tôn Thái tử Bang Cơ lên nối ngôi đặng 17 năm, rồi bị anh là Lạng Sơn Vương giết mà giành ngôi Ðến năm Canh Thìn (1460) các quan đại thần thấy Lạng Sơn Vương tàn bạo, mới hiệp nhau mà giết đi, rồi tôn Bình Nguyên Vương, tức là vua Thánh Tôn lên làm vua trị vì thiên hạ

Vua Thánh Tôn là một đứng hiền lương minh triết Khi ngài mới lên ngôi, thì ngài đặt niên hiệu là Quang Thuận Ðến năm Canh Dần (1470) ngài mới đổi niên hiệu lại là Hồng Ðức Ngài làm vua trong 36 năm đầu, thì ngài hằng lo kế chí vua Thái Tổ, vua Thái Tôn và vua Nhơn Tôn mà giữ gìn biên giới, khai hóa thần dân, bởi vậy ngoài ải thì lân quốc kỉnh đức kiêng oai, trong nước thì sĩ thứ an cư lạc nghiệp Nước Việt Nam hồi đời ấy cũng đáng gọi là đời thạnh trị

Lễ bộ Thượng thơ Thân Nhơn Trung và Thái úy Lê Niệm là thông gia với nhau Hai gia đình có hôn ước từ trước Do vua Thánh Tôn thăng chức cho Thân Nhơn Trung lên làm Tả Tướng quốc thì Thái úy Lê Niệm vô cùng bức xúc và ganh gét ra mặt, lăng nhục đủ điều mà còn động tay động chân làm người bị thương trước các bá quan văn võ Vì vậy, Tả Tướng quốc mới sai con là Thanh Tòng lại trị tội và rửa nhục giùm cha Thanh Tòng là nghĩa tử du học mới về, hiểu biết thánh hiền nên không thể nào mà không trả thù được, vì thế, khiến Thanh Tòng rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” Nhưng vì là con nên phải nghe lời cha dạy, Thanh Tòng đến nhà Thái úy Lê Niệm – nhạc phụ đại gia để hỏi ra lẽ và tìm cách giải quyết cho ôn hòa Nhưng Thái úy là người kiêu căng, ngạo mạn không nhận phần trái về mình mà còn ra tay đánh Thanh Tòng, không may hai bên

Trang 36

giao chiến Thái úy Lê Niệm chết Và chính cái chết ấy đã gây biết bao cảnh tang thương về sau Khiến cho Thanh Tòng phải khước từ hôn của vua ban phải lãnh án

đi đày đến Cao Bằng Còn nàng Lệ Bích – ái nữ của Thái úy Lê Niệm phải chọn lựa giữa bên tình bên hiếu sao cho vẹn toàn Vì thế, dẫn đến nàng phải trốn đi để trọn tình trọn hiếu

Nhưng nhờ trời xui khiến và thương người hiền nên đã cho Thanh Tòng và

Lệ Bích gặp nhau cùng nhau tỏ nỗi lòng và cùng nhau thề hẹn ước Trong lúc đó giặc trong nước nổi dậy, phản thần thì lộng hành Trước tình thế đó không ai khác hơn là Thanh Tòng xuất binh ra trận đem lại no ấm, phồn thịnh cho nhân dân, cho đất nước Và kết thúc là chiến thắng vẻ vang của Thanh Tòng đem lại một kết thúc

có hậu cho đời sau

 Đỗ Nương Nương báo oán (1954)

Truyện xoay quanh về trận chiến của vua Lê chúa Trịnh Đàng ngoài và đàng trong Anh em nhà họ Nguyễn – Tây Sơn thời lúc bấy giờ Bên cạnh đó truyện chủ yếu khai thác về những con người ở đất Gia Định Vì nghĩa lớn muốn cứu nước giúp dân no ấm hạnh phúc về sau luôn luôn hưng thịnh… Vì thế đã lập nên nghĩa quân Đông Sơn đối đầu với Tây Sơn Nghĩa binh được nhân dân mến

mộ đem lòng thuần phục và yêu mến nên quyết theo nghĩa quân tới cùng để làm việc lớn Tiêu biểu trong nghĩa quân là tướng soái Đỗ Thanh Nhân, phó tướng là ông Nhiêu Minh Giám… nhưng vì thời thế loạn lạc nên hai ông chết sớm để lại hậu trường binh lính về sau, không được trực tiếp chỉ huy đến ngày công thành danh toại, đất nước thái bình nhân dân no ấm… Sau khi cha chết là Đỗ Thanh Nhân thì con gái là Đỗ Thanh Xuân vì muốn báo thù cho cha nên đã nóng lòng làm hỏng thời cuộc bấy lâu cha ông gây dựng Và đó cũng là lẽ đương nhiên, thường tình… nữ nhi có chăng chỉ là như thế Nhưng dù sao cũng đã để lại cho đời một trang sử hào hùng về con người và tấm lòng đất Gia Định

Trang 37

 Đại nghĩa diệt thân (1955)

Tác phẩm kể về chuyện gia đình, làng xóm ông Nhiêu Võ Minh Giám thời Thủ Khoa Huân kháng chiến chống Pháp Ông Nhiêu Giám là người học đạo thánh hiền được người dân trong vùng ái mộ, và gửi con cháu theo ông để học chữ

và học đạo lí làm người… Ông Nhiêu Giám là người luôn đặt trung nghĩa lên hàng đầu Vì thế, trong lúc đất nước loạn lạc ông cùng với các cụ trong làng, trong đó

có cụ Thủ Khoa Huân đứng đầu cùng nhau quyết tâm tiêu diệt địch Nhưng mọi chuyện không như mình nghĩ bao giờ, những tưởng bên ngoài mình lo chu toàn thì

sẽ thành công, không ngờ con trai ông là Hai Đạt vì sợ nghèo khổ, sợ phải chết, ham muốn nhất thời cảnh giàu sang sung túc mà bọn thực dân Pháp đem lại, nên

đã đầu hàng giặc và trở thành tay say cho chúng Hai Đạt nghiễm nhiên chống lại cha của mình Nhưng đạo thánh hiền thì không bao giờ cho những người bất trung, bất nghĩa sống lâu, đại thọ được Vì thế mà ông Nhiêu Giám đã từ hai Đạt không nhận là con nữa mà xem như là kẻ thù Ông Nhiêu nói với Chí Linh – con rể,

chồng của cô Trâm: “Ôi! Không biết anh hai anh ba nào hết Ai ở trong hàng ngũ

của Tây đều là giặc Con không có học nên con không hiểu câu “Đại nghĩa diệt thân” Làm việc đại nghĩa không cần là tình anh em cha con gì nữa hết”

Và kết thúc tác phẩm là những cái chết trừng phạt, đáng lên án cho những

ai theo giặc, cho những ai làm việc trái với lẽ thường, đạo lí và Hai Đạt cũng không ngoại lệ Tuy cuộc chiến của nhân dân ta do cụ Thủ Khoa Huân đứng đầu trong giai đoạn này không thành công nhưng với tinh thần mạnh mẽ chống giặc ngoại xâm hơn bao giờ hết đã để lại nỗi khiếp vía cho quân giặc Và để tránh nhơ nhuốt hồng trần ông Nhiêu Giám lui về sống ẩn dật, muôn hưởng thú trăng hoa cây cỏ để lòng trong sạch không bị vướng hồng trần

Trang 38

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TIỂU THUYẾT LỊCH

SỬ CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 2.1 Tái hiện lịch sử dân tộc và hiện thực xã hội Việt Nam qua nhiều thời điểm lịch sử

2.1.1 Tái hiện lịch sử dân tộc

Trong quá trình sáng tác, Hồ Biểu Chánh đã để lại cho đời nhiều tác phẩm với thể loại tiểu thuyết với nhiều đề tài khác nhau Trong đó, chúng tôi xin được nhắc đến mảng đề tài về lịch sử Dưới ngòi bút tinh tế, khả năng cảm nhận và quan sát của bản thân cùng với những quan niệm đạo lí khắc sâu vào con người ông, đã làm cho bức tranh lịch sử đơn thuần trở nên sống động và nhiều màu sắc Nhưng xét cho cùng thì ông cũng dựa vào cái gốc của lịch sử, những sự kiện lịch sử của dân tộc để tô vẽ thêm cuộc sống của người dân lúc bấy giờ, đồng thời cho chúng ta thấy được quan niệm của ông về thời thế, về con người Và qua đó ông cũng lên tiếng tố cáo, phê phán hay ngợi ca những nghĩa cử cao đẹp của các vị anh hùng dân tộc lừng lẫy một thời

Hầu hết các tiểu thuyết của ông khi viết về lịch sử đều tái hiện được sự kiện lịch sử của dân tộc với một khí thế thật hào hùng và dũng mãnh Những sự kiện lịch sử được ông thể hiện ở nhiều thời điểm khác nhau Các tác phẩm của ông đều thể hiện những sự kiện lịch sử đã khá xa thời đại Nhưng chung quy lại, tất cả đều

Trang 39

tái hiện lại lịch sử của dân tộc một thời Chúng ta dễ dàng bắt gặp được những trang viết ấy trong tiểu thuyết lịch sử của Hồ Biểu Chánh

Khi đọc Nam cực tinh huy ta sẽ biết được ngay thời đại được nhắc đến là

thời Ngô Quyền (năm 938), được ông miêu tả và kể lại hết sức chi tiết và tỉ mỉ… từng trận đánh, lối cầm binh, thao lược của Quan Thứ sử Ngô Quyền đều được hiện lên thật rõ ràng, hấp dẫn và li kì tạo sự lôi cuốn cho người đọc và cuộc chiến trên sông Bạch Đằng chưa bao giờ lại được miêu tả sinh động và hấp dẫn như vậy Cuộc chiến trên sông Bạch Đằng được ông thể hiện rất chi tiết không điều gì có thể bàn cãi, chúng tôi xin đưa ra trận đánh của Ngô Quyền khi giao chiến với Kiều

Công Tiễn: “Chiến thuyền của Hoằng Tháo giàn ra rồi áp đánh chiến thuyền của

Trần Lãm Hai bên hỗn chiến với nhau, chưa ắt bên nào thắng bên nào bại, chừng Ngô Quyền thấy nước ròng đã giựt bộn rồi, mới dạy Trần Lãm trá bại mà chạy Trần Lãm vâng lời ra hiệu lịnh mấy chục chiến thuyền đều rút chạy hết Hoằng Tháo thấy thắng đắc ý nên giục binh đuổi theo Trần Lãm chạy một khúc trở lại cự một hồi, làm như vậy đặng dụ Hoằng Tháo xuống tới chỗ cạn Hoằng Tháo không

dè kế của Ngô Quyền sắp đặt, nên cứ đốc quân rượt theo hoài Xuống gần tới chỗ đóng cừ, Trần Lãm dạy chèo riết và nhắm mấy cây vọi mà qua, đặng thuyền khỏi đụng cừ, mà hễ qua rồi thì nhổ vọi quăng hết Hoằng Tháo đi tới, không dè có cừ, bởi vậy chiến thuyền đi trước bị lủng nằm ngang sông, chiếc đi sau thấy muốn tránh mà bị giọt nước chảy mạnh quá ngừng không được nên đụng với nhau rồi chiếc chìm chiếc nổi, quân sĩ kinh hãi rớt xuống sông chết không biết bao nhiêu

mà kể cho hết

Đã vậy mà lúc ấy Ngô Quyền với Trần Lãm, Bộ Lãnh day thuyền trở lại đánh nữa, làm cho binh Nam Hán đại loạn, người nào nhảy xuống sông thì chết chìm, còn người nào ở trên thuyền thì bị trói Bộ Lãnh rút luỡi thanh long bửu kiếm nhảy tới muốn chém Hoằng Tháo, Hoằng Tháo liệu thế cự không lại nên quăng gươm mà hàng đầu Bộ Lãnh bắt được Thái tử Hoằng Tháo rồi giao cho Trần Lãm đem nạp cho Ngô Thứ sử, Ngô Thứ sử thấy được toàn thắng, mà lại bắt

Trang 40

được chánh tướng của giặc nữa thì mừng rỡ vô cùng, liền ngước mặt lên trời mà nói rằng: “Ta thành công đây là nhờ có trời đất giúp vận Ấy vậy từ nầy chắc nước ta hết tai nạn rồi.”

Những sự kiện lịch sử đều được đưa vào trong tiểu thuyết của ông rất thật, khiến cho người đọc như đang đắm chìm vào trong trận đánh vậy, có sức hấp dẫn

kì lạ Và qua đó, phần nào ông đã tái hiện lại lịch sử của nước ta trong thời đại Ngô Quyền khi chống giặc ngoại xâm, đem lại sự hung thịnh cho nhân dân, cho đất nước Trận đánh được miêu tả chi tiết giống như lịch sử không hơn không

kém Sử ghi chép rằng: “Năm 937, thế lực họ Kiều ở châu Phong tổ chức binh

biến, giết chết Dương Đình Nghệ, đưa Kiều Công Tiễn lên nắm quyền, Công Tiễn

tự xưng Tiết độ sứ Hành động này đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các thế lực hào trưởng các địa phương, thậm chí chính nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng Ngô Quyền, với danh nghĩa là bộ tướng và con rể của vị cố Tiết độ sứ, đồng thời cũng là người đánh liên minh Ngô - Dương, tập hợp lực lượng tiêu diệt Kiều Công Tiễn Bị cô lập, Kiều Công Tiễn hoảng sợ, vội vã sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán Nam Hán Cao Tổ sai con trai là Lưu Hoằng Tháo đem hai vạn quân, dùng chiến thuyền, xâm lấn Tĩnh Hải quân

Năm 938, Ngô Quyền đem quân ra Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn và nhanh chóng tổ chức kháng chiến chống quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng Lợi dụng chế độ thủy triều khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp Ngô Quyền dự định nhử quân Nam Hán vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân Nam Hán mắc cạn mới giao chiến

Kết quả, quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lấn Tĩnh Hải quân Với mưu lược thần tính của mình, Ngô Quyền đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng nổi tiếng năm 938, kết thúc hơn một thiên kỉ Bắc thuộc, mở ra thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam Tuy chỉ lên ngai vàng trong vòng năm năm, nhưng đã

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w