Đọc tác phẩm của ông, người Nam Bộ có thể bắt gặp chính mình hay thấy được xã hội đang dần thay đổi qua những con người, những số phận, những mảnh đời lầm than của những người nông dân,
Trang 21.1 Khái niệm về quan niệm con người trong tác phẩm văn chương
1.1.1 Thế nào là quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.2 Các yếu tố góp phần thể hiện quan niệm về con người
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về con người
1.2 Các yếu góp phần hình thành quan niệm về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
1.2.1 Yếu tố khách quan
1.2.2 Yếu tố chủ quan
CHƯƠNG II
SỰ KẾ THỪA VÀ ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI BỔN PHẬN
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH
2.1 Giới thuyết về con người bổn phận
2.2 Con người bổn phận đối với gia đình
2.3 Con người bổn phận đối với xã hội
CHƯƠNG III
SỰ KẾ THỪA VÀ ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH
3.1 Giới thuyết về con người cá nhân
3.2 Con người cá nhân với ý thức tự khẳng định mình
Trang 33.3 Con người cá nhân với ý thức về nỗi đau và hạnh phúc đời thường 3.4 Con người cá nhân với phương cách rèn luyện mới
3.5 Con người cá nhân với những đam mê ích kỷ và tham vọng xấu xa
KẾT LUẬN
Trang 4A.PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX trong tiến trình vận động của mình, đã chuyển tiếp từ một nền văn học mang tính chất trung đại sang một nền văn học hiện đại Đây là giai đoạn duy nhất có sự đan xen giữa hai yếu tố cũ và mới trong sáng tác của một tác giả Sự chuyển đổi hệ thống thi pháp văn học trong thời kỳ này có ý nghĩa to lớn trong sự thay đổi về quan niệm con người trong nghệ thuật Nét nổi bật trong quan niệm về con người của các nhà văn Nam Bộ là sự chú ý đến con người bình thường với vô vàn mối quan hệ đan cài vào nhau tạo nên tính chất phức tạp riêng của nó Có thể nói, đây là giai đoạn chuyển tiếp từ lối tư duy chủ yếu hướng về các mẫu mực cổ xưa, từ cái nhìn mang tính chất sùng bái, tôn kính,… sang lối tư duy hướng về một thực tại xã hội với đầy đủ sự phức tạp Quan niệm mới về con người trong tiểu thuyết là sự cách tân trong văn học bởi tiểu thuyết thời kỳ này
đã hoàn toàn khác xa lối tư duy luôn sùng bái, tôn kính các nhân vật anh hùng kiệt xuất, luôn hướng đến những mẫu mực cổ xưa trong văn học trung đại Ngay
cả các tiểu thuyết lịch sử, tuy vẫn còn hình ảnh của những con người phi thường nhưng dần dần các nhân vật anh hùng đó cũng được miêu tả dưới góc độ đời thường, của một con người bằng xương bằng thịt, có trái tim biết rung động bởi những cảm xúc thường tình trong cuộc sống (Thân Thanh Tòng - Nặng gánh cang thường, Ngô Quyền - Nam cực tinh huy của Hồ Biểu Chánh, Hồ Quốc Thanh - Người bán ngọc của Lê Hoằng Mưu) Sự quan tâm đến đời tư nhân vật khiến cuộc sống của họ gần gũi với sự thật lịch sử, vì thế nhân vật trong tác phẩm thường rất thực Điều đó đã tạo nên những nét mới trong nội dung của tiểu
thuyết văn xuôi đầu thế kỷ Chọn nghiên cứu đề tài “ Sự kế thừa và đổi mới
một phần nhỏ vào việc đánh giá những đóng góp tích cực của nhà văn Hồ Biểu
Trang 5Chánh vào sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong nền văn học giai đoạn giao thời
2 Lịch sử vấn đề
Vào những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh đã để lại cho nền văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm hết sức đồ sộ và có giá trị Ông đã có những đóng góp rất lớn cho quá trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam Với lối văn trong sáng, giản dị, gần gũi với đời thường; nhân vật có tâm lý, tính cách đơn giản mang đậm bản sắc của con người Nam Bộ, sáng tác của Hồ Biểu Chánh đã
đi vào lòng người đọc mọi thời đại một cách dễ dàng, nhất là những người lao động Đọc tác phẩm của ông, người Nam Bộ có thể bắt gặp chính mình hay thấy được xã hội đang dần thay đổi qua những con người, những số phận, những mảnh đời lầm than của những người nông dân, tá điền, tá thổ; những con người giàu nhân nghĩa hay những cô gái lầm lỡ, những kẻ nhà giàu nhưng tham lam, độc ác…
Trên báo Phụ nữ Tân văn số 106, ra ngày 29.10.1931, Thiếu Sơn có viết:
“Ông Hồ Biểu Chánh chẳng những đã biết do sự quan sát mà sáng tạo ra được nhân vật đúng với cái khuôn mẫu người đời, biết cho những nhân vật đó sống theo với cái tính cách riêng, cái thái độ riêng, trong mỗi hoàn cảnh riêng của
họ, mà ông còn khéo cho những nhân vật đó hiệp thành một cái xã hội gần giống như cái xã hội của ta, cho kẻ giàu gặp kẻ giàu, người hèn đụng người sang, kẻ gian hùng quỷ quyệt với bậc nữ sĩ anh hào, vị giai nhân tài tử với kẻ vô học phàm phu, vì những sự xung đột về danh lợi, về tư tưởng, tánh tình, về tinh thần khí tiết, mà quay cuồng vật lộn, mà chiến đấu cạnh tranh, gây nên cái vẻ
này tác giả đã phần nào khái quát được thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Phê bình và Cảo luận của Thiếu Sơn năm 1933 là công trình đầu tiên
nhìn nhận, đánh giá về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Theo Thiếu Sơn : “ Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đủ sức hấp dẫn để lôi cuốn độc giả Việt Nam ham đọc
Trang 6truyện Tàu trở về đọc truyện ta để nhớ tới thân phận con người Việt Nam đương sống trong Xã hội Việt Nam và đương là nạn nhân của chế độ, một chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến mà bọn người được ưu đãi là những ông quận, những ông làng, những ông cử con quan và những ông nhà giàu địa chủ, đặc biệt nhất
là tác giả lại về phe những người nghèo hèn, yếu thế, những tá điền và nông dân”
Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ đã tập
trung phân tích một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh sáng tác những năm 20 của thế kỷ XX để thấy rõ những nét đặc trưng tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của nhà tiểu thuyết Nam Bộ này Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại ( xuất
bản lần đầu 1942), Nxb Thăng Long, tái bản Sài Gòn 1960, đã đề cập đến tính
bình dân của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cả về lời văn lẫn nhân vật “ Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh lại là những tiểu thuyết có tính chất bình dân, bình dân cả
từ những nhân vật ông chọn dến những lời văn ông viết nữa Hạng người ông tả
là hạng tiểu công chức, tiểu phú hào hay hạng thuyền thợ, hạng dân quê Những hạng người ấy không phải là những hạng người sống về tư tưởng, mọi cách hành vi của họ không có gì là sâu sắc, nên có người đã chê sự quan sát của Hồ
Trong Từ điển văn học (tập 1), Nxb Khoa học xã hội, 1983, Nguyễn Huệ
Chi ghi nhận sự đóng góp của Hồ Biểu Chánh đối với sự hình thành của thể loại tiểu thuyết hiện đại trên ba phương diện: nội dung đề tài, xây dựng nhân vật và
kết cấu ngôn ngữ Theo ông thì “ Hồ Biểu Chánh đã vạch khá đúng tính cách bọn giàu sang, thống trị, không chỉ ở chổ chúng vô luân, dâm ác, thất đức, chạy theo tiền bạc danh lợi,mà chúng còn giở nhiều thủ đoạn bóc lột tàn ác để làm giàu như cho vay cắt cổ, cướp ruộng Ông cũng còn phần nào nhìn đúng diện mạo của lớp người nghèo, không chỉ ở tính tình thật thà chất phác, là nạn nhân của sự đè ép, áp bức, mà quan trọng còn ở chổ họ còn là những con người có tấm lòng nhân ái, cao thượng, biết giữ vững phẩm chất, đặc biệt đôi khi cũng
Trang 7biết phản kháng, cho dù tự phát và liều lĩnh để chống lại hành vi tàn ác của bọn nhà giàu Ông góp phần chuẩn bị cho sự hình thành chủ nghĩa hiện thực phê phán những năm sau đó, và ít nhiều cũng góp cho văn học dân tộc sắc thái riêng
Nhà nghiên cứu – Phê bình Hoài Thanh tại Hội thảo khoa học về Hồ Biểu
Chánh nhận định: “ Tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn học phương Tây, Hồ Biểu Chánh đã góp phần khai sáng nền văn học hiện đại và cách tân thể loại tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh đã chọn lọc những tiểu thuyết phương Tây giàu tính hiện thực và nhân bản để phóng tác thành tác phẩm của mình…tiếp thu kỹ thuật xây dựng tiểu thuyết của phương Tây Hồ Biểu Chánh đã góp phần cách tân thể loại tiểu thuyết về các mặt xây dựng cốt truyện, tình tiết, bố cục tác phẩm”
Năm 1988, Trần Đình Hượu, Lê Trí Dũng trong Giáo trình văn học Việt Nam 1900 – 1930 khẳng định Hồ Biểu Chánh là người viết tiểu thuyết nhiều nhất ở Việt Nam trước 1930; tiểu thuyết của ông chịu ảnh hưởng của truyện thơ Nôm, tiểu thuyết Trung Quốc và tiểu thuyết Pháp
Trong quyển Tiến trình văn nghệ miền Nam, Nxb An Giang, 1990, Nguyễn Q Thắng nhận định về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh như sau: “ Đây là một bức tranh hiện thực đa dạng giúp bạn đọc toàn quốc thấy rõ bộ mặt thực của xã hội “ miệt vườn” Nam Bộ Đó chính là tính cách đa dạng, phong phú không những về chất lượng mà cả về nghệ thuật ngôn từ, tình cảm, tâm lý của mỗi nhân vật trong tác phẩm của ông”
Trong lời nói đầu của quyển Cha con nghĩa nặng, Trần Bạch Đằng đã
đồng tình với tư tưởng của Hồ Biểu Chánh qua tiểu thuyết của ông “ Hồ Biểu
Chánh cổ vũ cho cái đẹp của nếp sống truyền thống, đề cao cái thiện, nâng niu điều chung thủy, đạo lý ở đời, ca ngợi những tấm lòng biết bao dung, dám vì nghĩa…dù là những quyển sáng tác hay phóng tác”
Công trình Hồ Biểu Chánh người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại do Trang Quang Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở tuyển chọn và giới thiệu, đã cung cấp nhiều tư liệu về tác phẩm Hồ Biểu Chánh Bạn đọc và
Trang 8các nhà nghiên cứu yêu mến Hồ Biểu Chánh nhờ đó có điều kiện nắm bắt mọi ý kiến nhận định, đánh giá về tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Ở công trình Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả đã
khẳng định: “ Các độc giả miền Nam lúc nào cũng thích thú là văn chương giản
dị, tả thực, phản ánh được nhiều đặc điểm xã hội và con người ở miền Nam trong một thời kì, thời kì giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Và giá trị của Hồ Biểu Chánh như một nhà văn viết tiểu thuyết và giá trị sự nghiệp văn chương
Ngoài ra những năm gần đây còn có những bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí văn học hoặc được đưa lên các trang Wed trên internet mà đặc biệt là trang Wedsite www.hobieuchanh.com như bài: Xã hội văn hóa Việt
www.hobieuchanh.com); Ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Nguyễn Vy Khanh(Wedsite www.hobieuchanh.com); Tính cách người nông dân Nam Bộ
www.hobieuchanh.com ), Cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về người nông dân Nam
Bộ của Huỳnh Thị Lan Phương ( Bình luận văn học, niên giám 2006, Hội nghiên
cứu và giảng dạy Văn học Tp Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa Sài Gòn; Đời sống
www.hobieuchanh.com ); Vài nét về phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu
www.hobieuchanh.com)
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh cũng như tiểu thuyết của ông nhưng chúng tôi chưa thấy công trình nào nghiên cứu vấn đề
sự kế thừa và đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh Chính vì vậy mà chúng tôi chọn nghiên đề tài luận văn “ sự kế thừa
và đổi mới quan niệm về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” với hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào các công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh – một nhà văn lớn của Nam Bộ
Trang 93 Mục đích, yêu cầu
Nghiên cứu văn học là đi tìm cái hay cái đẹp trong văn học Chọn đề tài
“Sự kế thừa và đổi mới quan niệm về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu
nền văn học Việt Nam, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã có những kế thừa và đổi mới như thế nào nhằm tạo nên các giá trị văn học Đặc biệt trong quan niệm về con người đã có những chuyển biến và thay đổi gì so với các tác phẩm văn học của các tác giả trước đó
4 Phạm vi nghiên cứu
Đi sâu vào sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh chúng ta sẽ thấy ông là một người rất mực tài hoa và uyên bác, có vốn hiểu biết rất lớn về con người và vùng đất Nam Bộ Tuy nhiên với khuôn khổ luận văn chỉ đi vào khảo sát một số vấn đề chung về quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn chương
và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, đặc biệt là chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu sự đổi mới và kế thừa quan niệm về con người cá nhân, con người bổn phận trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, nên chúng tôi chỉ khảo sát một số tiểu thuyết của ông có liên quan đến đề tài như:
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này chúng tôi đi vào khảo sát vấn đề trên những tác phẩm cụ thể để rút ra kết luận chung, sau đó tổng hợp các tài liệu xung quanh liên quan đến đề tài để làm rõ vấn đề Bên cạnh đó chúng tôi đi tìm dẫn chứng
cụ thể trong các tác phẩm để chứng minh làm rõ vấn đề Ngoài ra chúng tôi còn
sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh quan niệm về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với quan niệm về con người trong các tác phẩm văn học của một số tác giả ở các giai đoạn văn học khác Để từ đó có cái nhìn thấu đáo hơn quan niệm về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Trang 11B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm về quan niệm con người trong tác phẩm văn chương
1.1.1 Thế nào là quan niệm nghệ thuật về con người
Với đặc thù nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng dung chứa nhiều phạm vi của đời sống xã hội, khả năng diễn đạt tư duy của con người Tuy nhiên, phản ánh về nội dung gì, nhà văn cũng thể hiện cái nhìn của mình về con người, đối tượng vị trí trung tâm trong văn học Trong quá trình phản ánh, nhà văn nhận thức về hiện thực đời sống trong mối quan hệ với con người, lấy con người làm phương tiện để đánh giá hiện thực và qua đánh giá hiện thực nhằm mục đích tìm hiểu con người Như vậy, con người là đối tượng đặc trưng nhất và luôn giữ vị trí trung tâm trong sáng tác văn học của mọi thời đại Do đó, sẽ không thể hiểu thật đầy đủ những thay đổi trong nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của một hệ thống văn học, một thể loại văn học nếu không quan tâm đến vấn đề con người trong quan điểm nghệ thuật của các nhà văn Vì
nói như Trần Đình Sử “Bỏ qua quan điểm nghệ thuật về con người sẽ dẫn đến hiểu giản đơn bản chất phản ánh văn nghệ Hoặc là đồng nhất tư tưởng sáng tác với thế giới quan, hạ thấp yêu cầu sáng tạo tư tưởng nghệ thuật, thẩm mỹ của tác giả, cho rằng nhà văn chỉ có tâm hồn là đủ Hoặc là rút gọn tiêu chuẩn của tính chân thực vào một điểm là miêu tả giống hay không giống so với đối tượng
Và như vậy kết quả cũng xem nhẹ vai trò sáng tạo nghệ thuật của nhà văn” [3,tr117]
Con người trong sáng tác văn học không hoàn toàn trùng khít với con người ngoài cuộc sống Nhà văn nhận thức về hiện thực đời sống trong mối quan
Trang 12hệ với con người, lấy con người làm phương tiện để đánh giá hiện thực và qua đánh giá hiện thực nhằm mục đích tìm hiểu con người Do đó con người trong văn học vừa phải là con người của đời sống nhưng đồng thời cao hơn con người của đời sống; con người ngoài cuộc đời tồn tại dưới dạng thô mộc nhất, đa dạng nhất để khi vào tác phẩm sẽ chuyển hóa thành con người dưới cấp độ hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật, cụ thể là hình tượng con người, là sự tái hiện
có chọn lọc từ con người ngoài đời sống thông qua sáng tạo của nhà văn để sao
cho “vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt, không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ [24,tr17].Lấy con người làm đối tượng phản ánh, văn học nhìn con người trong tính chất tổng hợp và toàn vẹn của cuộc sống mà nhà văn tái hiện với tất cả bộ mặt cụ thể- cảm tính, cá biệt
Thi pháp học cho rằng: Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Con người là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định Điều này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học Do đó theo
Trần Đình Sử thì “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa,
sự cảm nhận con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm
mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó”[10, tr41] Lê Dục Tú cũng nhận ra rằng quan niệm về con người là sản phẩm của lịch sử Nó chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo của nhà văn, truyền thống văn hóa dân tộc và ảnh hưởng của các mối quan hệ giao lưu văn hóa quốc tế Vì thế mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu văn học đều có riêng một quan niệm về con người Quan niệm này luôn biến đổi do
sự biến đổi của con người trong thực tại và quan niệm về con người của tác giả Việc nghiên cứu quan niệm về con người sẽ cho phép ta định được mức độ chiếm lĩnh con người ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu của bất kì một hình tượng
Trang 13văn học nào Qua đó ta cũng sẽ xác định được sự đóng góp đích thực của hiện tượng văn học đó cho lịch sử phát triển của văn hóa dân tộc
Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là sản phẩm của văn hóa tư
tưởng “Quan niệm con người là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động qua lại của nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác” Thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sản phẩm sáng tạo của Chúa Trời; từ thời Phục Hưng đến Khai Sáng thì con người được xem là sản phẩm của tự nhiên; từ thế kỷ XIX thì xem con người là sản phẩm vừa của tự nhiên, vừa của xã hội
Quan niệm con người chính là sự khám phá về con người Nó phản ánh cấu trúc của nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ con người đối với thế giới
Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật Sự vận động của thực tế làm nảy sinh những con người mới, và miêu tả những con người ấy sẽ làm văn học đổi mới Nhưng còn một khía khác là đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản Trong lịch sử văn học sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến Vẫn là con người đã biết, nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc
độ mới cũng tạo thành sáng tác văn học mới
Quan niệm nghệ thuật về con người không phải bất cứ cách cắt nghĩa, lý giải nào về con người, mà là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người
Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ
Trang 141.1.2 Các yếu tố góp phần thể hiện quan niệm về con người
Trong công trình nghiên cứu về Quan niệm con người trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn, Lê Dục Tú cũng có một vài nhận định về con người trong tác phẩm văn chương, tác giả cho rằng quan niệm về con người là cách hiểu, cách cắt nghĩa về con người Quan niệm đó quyết định chiều sâu của việc miêu tả cũng như việc giải quyết chủ đề, đề tài trong sáng tác Theo Lê Dục Tú trong nghiên cứu văn học vấn đề con người thường được nghiên cứu dưới nhiều góc độ: đề tài, chủ đề, cách xây dựng nhân vật, tính cách và hoàn cảnh Đó là những cách nghiên cứu con người trên bình diện xã hội và kỹ xão nghệ thuật Nhưng sự đổi mới của văn học không cho phép ta dừng lại ở nội dung xã hội được phản ánh và kỹ thuật miêu tả mà còn phải đề cập đến con người trong chiều sâu của miêu tả của hình tượng nghệ thuật - nghĩa là đề cập đến những quan niệm có tính chất triết học, thẩm mỹ, một dạng thế giới quan thể hiện sự cảm nhận khái quát mang tính chủ quan của tác giả về con người từ đó khám phá ra những nguyên tắc thẩm mỹ chi phối ngòi bút của tác giả
Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở các nhân vật, bởi nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học
Mỗi một nhà văn có cách xây dựng nhân vật hoàn toàn khác nhau Nhưng
dù có khác nhau thế nào đi chăng nữa thì nhà văn vẫn xây dựng nhân vật dựa trên các yếu tố cơ bản như: Tên gọi, tính cách, hành động, ngôn ngữ, tâm lý…
Vì đây là những yếu tố góp phần thể hiện quan niệm về con người trong tác phẩm văn chương
Đến với một tác phẩm văn học điều đầu tiên người đọc nhớ đến là tên của các nhân vật Dù nhân vật trong tác phẩm có được đặt tên hay được gọi như thế nào đi chăng nữa thì nó đều xuất phát từ dụng ý nghệ thuật của nhà văn Tên riêng của nhân vật đôi khi còn biểu thị cảm hứng sáng tạo chung của cả một trào
lưu hay một dòng văn học nào đó Ở tác phẩm Những đứa con trong gia đình
không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Đình Thi lại đặt cho nhân vật của mình với
Trang 15những cái tên như: Chiến, Việt…chúng báo hiệu một phần nào đó tính cách của nhân vật mà tác giả sẽ miêu tả và làm nổi bật trong tác phẩm Đó chính là tinh thần chiến đấu của con người Việt Nam bộc phát lên từ lòng căm thù giặc sâu sắc Đây cũng là cảm hứng chung, nội dung chính của văn học thời chống Mỹ Trong các tác phẩm hiện thực phê phán trước 1945 gây ấn tượng với ta là những cái tên có phần xấu xí hoặc quá bình dị như: Thị Mịch, Thị Nở, Quýt, Dậu, Dần,…và những cái tên này cũng phần nào dự báo sự xuất hiện của nhân vật cũng như ngoại hình của họ Thị Nở là nhân vật có cái tên thật xấu và ngoại hình
của nhân vật này cũng vậy, đó là người phụ nữ xấu “ma chê quỷ hờn” lại dở
hơi…
Tên nhân vật rõ ràng đã giúp ta thấy được nhiều điều về nhân vật trong tác phẩm văn chương Hơn thế nữa đôi khi tên nhân vật cũng biểu thị phần nào thái độ của tác giả Khi tác giả gọi nhân vật với những cái tên: Thị, hắn, y,… rõ ràng biểu thị thái độ hoàn toàn khác hẳn với cách gọi nhân vật bằng những đại
từ như: chàng, nàng, anh, chị, ông, bà, đồng chí,…Để nhân vật bộc lộ một cách trọn vẹn ngoài tên gọi thì ngoại hình, diện mạo của nhân vật cũng góp một phần khá quan trọng Ngoại hình nhân vật được khai thác rất đậm nét trong văn học
hiện thực phê phán Nhìn vào “ cái đầu trọc lóc, hàm răng cọa trắng hớn, cái
hắn đơi với mọi người xung quanh, và thấu hiểu được sự nổi loạn của một kẻ bị tha hóa, không còn coi ra gì những trật tự, chuẩn mực đạo đức trong làng
Nói đến nhân vật mà không kể đến ngôn ngữ nhân vật thì quả thật là một điều thiếu sót Ngôn ngữ của nhân vật sẽ phản ánh đầy đủ đặc điểm nhân cách của nhân vật đôi khi còn nói lên cả về thành phần xuất thân và nét độc đáo của
bản thân nhân vật, cách nhìn nhận về thế giới Đọc Đôi mắt của Nam Cao muốn
hiểu nhân vật Hoàng, ta không thể không chú ý đến lời nói của anh ta, nó sắc
lẻm và cay độc: “bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm ủy ban
Hoàng có một cái nhìn đầy khinh thị đối với quần chúng nhân dân Nó cho ta thấy thái độ không hòa nhập vào không khí chiến đấu của dân tộc ở Hoàng Như
Trang 16vậy, lời nói có khả năng biểu lộ rõ phẩm giá của nhân vật Trong tác phẩm văn chương lời nói nhân vật bao giờ cũng mang một ý nghĩa thực tế là biểu hiện trực tiếp một yêu cầu và báo hiệu về một hành động sẽ diễn ra tạo nên những chuổi liên tiếp cấu thành nên tác phẩm Ở những sáng tác của những nhà văn hiên thực chủ nghĩa, lời nói của nhân vật rất được chú ý cá thể hóa Gắn liền với việc này
là nhu cầu nhận thức tái hiện các ý thức xã hội khác nhau được thể hiện sống động qua ngôn ngữ nhân vật Đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ta thấy lời nói của
đủ mọi thành viên xã hội được miêu tả một cách tài tình: lời nói của những kẻ
ma cà bông, lời nói của bọn “ me Tây”, lời nói của những người “ngộ độc” thơ
văn lãng mạn, lời nói của những kẻ vỗ ngực xưng mình là thượng lưu trí thức, lời của nhà chính trị,…Tất cả các lời nói ấy đan bện vào nhau, minh giải cho nhau tạo nên một lớp sóng ngôn từ thật đặc biệt, phản ánh được chân dung của
cả một thời đại, một xã hội Vì đã chiếm giữ một vai trò thật quan trọng trong việc góp phần thể hiện quan niệm về con người trong tác phẩm nên khi xây dựng nhân vật nhà văn thường chú ý làm nổi bật ngôn ngữ của nó và thống nhất với ngôn ngữ là hành động và trạng thái tâm lý cụ thể của nhân vật
Tâm lý của nhân vật văn học là cái có khả năng thể hiện rõ sự độc lập về nhân cách của một cá thể được nhà văn miêu tả trong tác phẩm Cách miêu tả nội tâm nhân vật sẽ giúp ta nhận biết được rõ ràng hơn bản chất của nhân vật
Có những nhân vật đôi khi bề ngoài, thậm chí hành động, ngôn ngữ của nhân vật đều thể hiện nhân vật là con người xấu xa, mọi người xa lánh Nhưng có ai hiểu
và biết được trong sâu thẳm tâm hồn họ lại chứa đựng một tấm lòng cao đẹp Chí Phèo của Nam Cao là một nhân vật như vậy Chí là con quỷ dữ của làng Vũ Đại khiến mọi người phải ghê sợ, nhưng trong tận đáy lòng của Chí Phèo, hắn luôn khao khát được trở thành một con người lương thiện Hắn luôn ao ước có được “một mái ấm gia đình với dăm ba sào ruộng, chồng cuốc mướn làm thuê,
Chí thì mãi mãi hắn không bao giờ thực hiện được Mâu thuẫn trong nội tâm của Chí Phèo dần dẫn đến bi kịch cuộc đời y đã tạo nên nét đặc sắc của tác phẩm Khi đọc “Chí Phèo” ta không thấy Chí Phèo đáng ghét, đáng ghê sợ mà lại thấy
Trang 17hắn đáng thương, đáng được trân trọng Chí Phèo đã chọn cái chết để giữ lại thiên lương cho mình, hắn muốn lương thiện
Nói như vậy nhưng yếu tố tâm lý chưa phải là quan trọng nhất trong việc thể hiện quan niệm con người trong tác phẩm văn chương bởi trong giai đoạn đầu tiên của văn học trong những tác phẩm văn học dân gian yếu tố tâm lý nhân vật hoàn toàn không có Chính vì vậy mà muốn hiểu rõ con người trong tác phẩm văn chương ta phải tìm hiểu thật rõ hành động nhân vật
Hành động nhân vật chính là những việc làm cụ thể của nhân vật trong các tình huống đời sống và quan hệ ứng xử Thông qua hành động thì tính cách nhân vật được thể hiện rõ nét và cốt truyện có được sự hoàn chỉnh theo ý muốn của nhà văn Vì vậy các nhà văn luôn ưu tiên cho việc miêu tả hành động của nhân vật Hành động của nhân vật có khi trùng khớp với ý nghĩ của nhân vật nhưng cũng có khi nó lệch khỏi tầm kiểm soát của chủ thể hành động Như vậy
ở con người không phải bao giờ cũng đồng nhất với chính mình mà nhiều khi ngay trong một con người lại tồn tại một khối mâu thuẫn lớn Với việc miêu tả hành động thể hiện những mâu thuẫn nội tại trong một con người sẽ giúp ta có được ý thức sâu sắc hơn về con người đó Hộ trong Đời thừa của Nam Cao là một điển hình Hộ là một nhà văn chân chính nhưng vì gánh nặng áo cơm và trách nhiệm của người chồng, người cha buộc Hộ phải viết nhanh, viết vội
những tác phẩm để có tiền lo cho gia đình Chính vì vậy mà: “Mỗi lần đọc lại một quyển sách hay một đoạn văn ký tên mình thì Hộ chau mày, đỏ mặt, nghiến răng và mắng mình như một thằng khốn nạn Khốn nạn, khốn nạ thay cho hắn Bởi vì chính hắn là một kẻ khốn nạn Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi và sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” Hành động viết nhanh, viết vội của Hộ đối lập với hoài bão của anh nên đã khiến anh trở thành một kẻ vũ phu đánh đập vợ con trong những cơn say, nhưng khi tỉnh lại thì thấy có lỗi lại hôn hít vợ con Đó là sự đấu tranh giữa một bên là lý tưởng với một bên là trách nhiệm Nó luôn mâu thuẫn nhau khiến Hộ lâm vào tấn bi kịch không lối thoát
Trang 18Nhân vật trước hết bao giờ cũng được miêu tả bằng chi tiết Đó là những biểu hiện về mọi mặt của con người mà ta có thể căn cứ để cảm biết về nó Hêghen xem chi tiết như con mắt trổ những cửa sổ để người ta nhìn vào nhân vật Qua chi tiết thì nhà văn đã miêu tả chân dung, ngoại hình, hành động, tính cách, tâm trạng của nhân vật Ngoài ra tác phẩm văn chương cũng dùng chi tiết
để miêu tả ngoại cảnh, môi trường, đồ vật xung quanh con người Cảnh rừng Xà
Nu và núi rừng làng Xôman trong Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành là một
điển hình Cảnh rừng tràn đầy một sức sống, một ý chí sinh tồn vươn lên mãnh liệt như những con người làng xôman kiên cường, bất khuất, anh hùng Hay đó
là cảnh buổi chiều tối ở phố huyện nghèo trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam Một
không khí vắng lặng, đìu hiu như cuộc sống tăm tối, bấp bênh của những con người trong phố huyện
Theo Trần Đình Sử : “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng
hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không nào không có một nền cảnh nào đó ”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” Do sự đổi thay trong quan niệm về xã hội, cá nhân, hoạt động của con người mà không gian nghệ thuật trong văn học đã thay đổi Chỉ đến văn học hiện đại, không gian nghệ thuật mới thực sự gần gũi với cuộc sống của cá nhân con người, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống đầy nhọc nhằn vất vả, không gian nghệ thuật được cá thể hóa Vì vậy không gian văn học mang đậm dấu ấn cá nhân Không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống của con người, phản ánh cuộc sống khổ cực của những con người lao động, những
số phận kém may mắn Hình ảnh con người hiện lên với vai trò là nhân vật trung tâm của bức tranh cuộc sống xã hội Nhà văn đã bám sâu vào hiện thực cuộc sống để phản ánh chân thật những nỗi nhọc nhằn vất vả của cuộc sống con người trên hành trình mưu sinh và kiếm tìm hạnh phúc đầy nhọc nhằn Tác giả
Nguyễn Minh Châu, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, ông đã khám phá
về cuộc sống của con người ẩn sau những vỏ bọc của cuộc sống, đồng thời là sự
Trang 19khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh không gian cuộc sống, không gian nghệ thuật theo khoảng cách gần - xa Khi chiếc thuyền ở ngoài xa, cuộc sống hiện lên thật đẹp giống như một bức tranh đẹp lãng mạn và thơ mộng nhưng khi nhà văn kéo con thuyền nghệ thuật lại gần bờ để nhìn ngắm kĩ hơn, thì lại hiện lên một bức tranh hoàn toàn đối lập với ban đầu Nguyễn Minh Châu nhận ra rằng, cuộc sống của con người còn rất nhiều những khó khăn, thiếu thốn, những vết xước trong tâm hồn để từ đó với tư cách là nhà văn, người cầm bút đứng giữa cuộc đời, ông gióng lên những hồi chuông thức tỉnh: hãy cứu lấy nhân tính của con người
Cảm quan về thời gian và không gian gắn liền với cảm quan về con người
và cuộc đời, gắn bó với mơ ước và lý tưởng của nhà văn Chẳng hạn như những nhân vật của Nam Cao sống, như thường lệ, trong thời gian hiện thực Một trong những nét đặc sắc của thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao là đã tạo
ra một kiểu thời gian hiện thực hằng ngày, trong đó các nhân vật của ông dường như bị giam hãm, tù túng, luẩn quẩn trong vòng những lo âu thường nhật (nhà cửa, miếng cơm, manh áo, thuốc men…) Các nhân vật đau buồn của Nam Cao
bị hành hạ, bị giày vò, bị ám ảnh bởi cái đói, “lúc nào cũng lo chết đói, lúc nào
mòn mỏi.Thông qua những chi tiết ấy thì quan niệm về con người của nhà văn cũng thể hiện rõ nét hơn
Nhờ những hình thức ngôn từ mà hệ thống tư tưởng và nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học được bộc lộ Cả hình tượng nhân vật, bức tranh phong cảnh, cốt truyện, kết cấu, chủ đề, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người….đều chỉ được nắm bắt nhờ những hình thức của ngôn từ
Đề tài của tác phẩm là đối tượng đã được nhận thức, là kết quả đã được lựa chọn của nhà văn Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống
đã được phản ánh trong tác phẩm.Tầm quan trọng của khái niệm đề tài là ở chổ nếu chưa nhận ra được đề tài thì khi bước vào tiếp nhận hình tượng sẽ không bao giờ có được một quan niệm đúng đắn về hình tượng đó Chẳng hạn như tác
phẩm Lão Hạc của Nam Cao ta có thể nói đây là đề tài về người nông dân trước
Trang 20cách mạng Tháng Tám Nếu như vậy thì ta chỉ có thể thấy sự nổi trội của phạm trù lịch sử, xã hội Nhưng mà chúng ta cần phải lưu ý một tác phẩm văn học bao giờ cũng là sự nhận thức về cuộc sống mà con người là trung tâm với những tính cách, số phận và quan hệ nhân sinh phức tạp của nó Vì vậy đề tài của tác phẩm đòi hỏi phải đi sâu vào tìm tòi, nghiên cứu xem đó là cuộc sống nào, con người
nào Vì vậy, ta phải thấy đề tài của tác phẩm Lão Hạc là: nêu lên cuộc sống bần
cùng, bế tắc của người nông dân trước Cách Mạng Tháng Tám Việc xác định đề tài cho phép ta liên hệ nội dung tác phẩm cụ thể là những mảnh đời trong tác phẩm Cuộc sống Lão Hạc là một cuộc sống bần cùng, nghèo khổ… thế thì sự bần cùng ấy diễn ra như thế nào gắn với những tâm lý gì của nhân vật Với một cái hướng như vậy, kết hợp với những yếu tố nghệ thuật khác để làm rõ nhân vật thì sẽ có một quan niệm thật chính xác về con người trong tác phẩm văn chương
Chủ đề trong tác phẩm văn học cũng không kém phần quan trọng trong việc thể hiện quan niệm về con người trong tác phẩm văn chương Chủ đề là cái được hình thành trong ý đồ nhà văn và được biểu hiện trong tác phẩm mà thiết thực nhất là hệ thống nhân vật Vì vậy khi tiếp xúc với một tác phẩm văn chương cần phải nắm cho được chủ đề của tác phẩm Đó là góc độ, bình diện, con đường duy nhất tác giả đưa người đọc thâm nhập vào tác phẩm cũng như con người trong tác phẩm Chủ đề tác phẩm văn học bao giờ cũng vừa phản ánh sâu sắc những nội dung xã hội, lịch sử nhất định, vừa từ mảnh đất xã hội lịch sử
ấy nêu lên những vấn đề chung về sự tồn tại và phát triển nhân cách con người,
ý nghĩa của cuộc sống Đó mới thực sự là một chủ đề của tác phẩm Chủ đề
chính trong tác phẩm Tắt đèn là mâu thuẫn giữa quyền sống của người dân quê
với tính chất phát xít tàn bạo trong chính sách sưu thuế của bọn thực dân phong kiến
Chủ đề trong tác phẩm văn chương không chỉ là một trong những yếu tố góp phần thể hiện quan niệm về con người trong tác phẩm mà chủ đề trong tác phẩm còn đóng vai trò rất to lớn trong việc làm cho tác phẩm trở nên rất quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng Chính chủ đề đã chấp cánh cho tác phẩm bay cao trên bầu trời hậu thế Chủ đề và đề tài của tác phẩm là phương diện khách
Trang 21quan của nội dung tư tưởng tác phẩm Nó cho thấy tác phẩm nói tới cái gì, với những con người như thế nào, từ đó nêu lên những vấn đề gì của hiện thực đời sống Vì vậy, sức sống của tác phẩm trước hết là ở chủ đề chân thực Không nêu được chủ đề có ý nghĩa khách quan hoặc những vấn đề giả tạo, xuyên tạc hiện thực chẳng những làm cho đọc giả không hiểu được con người trong tác phẩm
mà còn làm cho tác phẩm bị rơi vào quên lãng
Tư tưởng của tác phẩm không mang tính trừu tượng mà nó biểu hiện qua hình tượng nghệ thuật mà cụ thể là con người trong tác phẩm toát ra từ tình huống, tính cách, từ sự miêu tả các hiện tượng đời sống được lý giải qua ba vấn
đề
Sự lý giải chủ đề: Lý giải chủ đề là lý giải đời sống được miêu tả trong tác phẩm Đời sống của những nhân vật được miêu tả trong tác phẩm Điều này rất hữu ích cho đọc giả khi tìm hiểu về con người trong tác phẩm văn chương
Sự lý giải chủ đề trong tác phẩm thường được biểu hiện ở hai mặt: những lời thuyết minh của tác giả hay của nhân vật và logic của sự miêu tả Nếu như như những yếu tố đã trình bày ở trên là cơ sở để tìm hiểu, phân tích tính cách, số phận nhân vật thì ở yếu tố này sẽ là sự lý giải của các tác giả về nguyên nhân, sự loogic trong quá trình phát triển của nhân vật Chẳng hạn sự lý giải cuộc sống
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Chủ đề của tác phẩm là số phận bất hạnh của
người tài Nhà thơ đã vận dụng tư tưởng trong kho tàng văn hóa đương thời để
lý giải vấn đề Trước hết Nguyễn Du hiểu người tài là người có lý tưởng, có tài sắc, biết khinh trọng, hiếu nghĩa, vị tha, biết trung quân ái quốc Tại sao người như vậy lại có số phận bất hạnh trong xã hội đương thời Tác giả đã lý giải bằng qui luật tạo vật đố tài, luật thừa trừ của tạo hóa, oán trách lên án thống thiết đối với Trời, Mệnh, Ông Tơ, Hóa Công… Rồi tác giả lại viện phật giáo: Người tài khổ vì nghiệp báo… Mặc dù đây chỉ là sự lý giải bề ngoài nhưng cũng là yếu tố
tư tưởng của tác phẩm, cũng tạo nên được sự cảm thông đối với những con người trong tác phẩm Từ đó mà người đọc có một quan niệm nhiều mặt về con người và thế giới, chứ không bó hẹp trong việc cắt nghĩa sự kiện, số phận, phẩm chất nhân vật Vì vậy ở Thúy Kiều còn ẩn bên trong những quan niệm về quyền
Trang 22sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người,… làm cho những nhân vật đại diện dễ đi vào lòng người và có một sức sống mạnh mẽ
Một vấn đề nữa được lý giải trong tư tưởng tác phẩm là cảm hứng tư tưởng Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý,
lý tưởng, phủ định mọi sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với những nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường… Nắm được cảm hứng tư tưởng của tác phẩm thì ta đã phần nào hiểu được tính cách, nhân phẩm của con người trong tác phẩm Bởi vì cảm hứng của tác giả bao giờ cũng dẫn tới việc tác giả đánh giá, xây dựng nhân vật theo quy luật tình cảm Chính niềm tin yêu, say mê và khẳng định tư tưởng làm cho cảm hứng trong tác phẩm của tác giả thường mang tính
chất thiên vị đối với nhân vật của mình, chân lý của mình Tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình chiểu là một điển hình Trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu đứng hẳn về phía chàng trai Lục Vân Tiên nên dù chàng có bao lần bị hãm hại đều thoát chết thậm chí sau những tai ương lại được hậu phúc Nhà văn
đã bênh vực nhân vật của mình đến tột độ Đồng thời để thuyết giáo cho tư tưởng của mình thì Nguyễn Đình Chiểu đã chú ý thể hiện Lục Vân Tiên luôn là một con người nhân nghĩa, trung hiếu, vẹn toàn Như vậy khi nắm bắt được tư tưởng của tác phẩm thì ta rất dễ dàng phát hiện ra tính cách của nhân vật dù cho
đó là tính cách ẩn bên trong hay biến hình biến dạng thì bao giờ cũng quy về cảm hứng chung ấy Bởi cảm hứng của tác phẩm không phải là tình cảm được xướng lên mà phải là tình cảm được toát ra từ tình huống, từ tính chất và sự miêu tả của tác phẩm
Cùng với các khía cạnh nói trên, nội dung của tác phẩm văn học còn đặc trưng bởi nội dung thẩm mỹ Tính chất thẩm mỹ của tác phẩm sẽ giúp chúng ta
có được một cách nhìn nhận chung về tâm lý cũng như một phần số phận của nhân vật Từ tính chất thẩm mỹ của tác phẩm ta có thể hình dung được cái âm hưởng chung của tác phẩm và suy đoán được phần nào về sự phát triển, số phận
của những con người trong tác phẩm Chẳng hạn nói đén tác phẩm Sống mòn
của Nam Cao thì đó là một dạng thức của cái bi Cái bi bao giờ cũng buồn Điều
Trang 23đó cho ta ngầm suy luận rằng số phận của con người trong tác phẩm sẽ không có niềm vui, kết cục bi thảm, cười ra nước mắt Thật vậy, con người trong tác phẩm này dù có tính cách, số phận khác nhau nhưng đều xoáy sâu vào vấn đề này Tác phẩm là tiếng kêu thống thiết về cuộc sống bấp bênh, mòn mỏi Trong đó mọi ước vọng cao cả, mọi khát vọng về một tình cảm cao đẹp và cả đến sự sống cũng ngày một nhỏ bé đi, tầm thường hơn và đang đứng trên bờ của sự hủy diệt Cuộc sống áo cơm chật vật làm cho những con người trong tác phẩm trở nên thấp hèn Những thói quen của thành kiến lạc hậu làm cho những con người ta ngày càng không hiểu nhau cứ lẫn quẩn trong kiếp sống mòn
Một tác phẩm văn học có thể tồn tại song song nhiều cảm hứng nhưng bao giờ cũng phải có một loại cảm hứng đóng vai trò chủ đạo Cảm hứng chủ đạo đứng ở vị trí trung tâm mà xoay quanh nó là các vấn đề của tác phẩm làm nổi bật nó lên thông qua những con người trong tác phẩm Nắm được cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm thì sẽ nắm bắt không lệch lạc con người trong tác phẩm
dù đó có là một nhân vật khó tìm hiểu hay tồn tại nhiều nhận định khác nhau
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một bằng chứng hùng hồn Về nhân vật Thúy Kiều đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi ở chi tiết Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để
bị mắc lừa Hồ Tôn Hiến Có ý kiến cho rằng Kiều cần phải lên án Kiều là nguyên nhân gây ra tội ác Nếu cho là vậy thì chúng ta cũng nên xem xét lại rằng Kiều cũng chỉ là một người đàn bà yếu đuối đã trải qua bao nhiêu sóng gió, vùi dập của cuộc đời Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để không phải sống những ngày nơm nớp lo sợ vì những cuộc tranh giành quyền lực Kiều chỉ mong có được cuộc sống bình thường với Từ Hải như bao người con gái khác chứ không phải vì tham tiền hay tước vị phu nhân Nhưng mong ước đó lại khiến cho Kiều đưa Từ Hải đến với cái chết Như thế chỉ khi nào nắm bắt được cảm hứng chủ đạo của tác phẩm mới thật sự lý giải được con người trong tác phẩm cũng như toàn bộ tác phẩm một cách thuyết phục nhất
Trang 241.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về con người
Những hình tượng văn học phải bắt nguồn từ sự vận động của thực tiễn
xã hội và lịch sử, sự hình thành và phát triển đời sống tinh thần, nhu cầu thẩm
mỹ của con người Việt Nam, những qui luật vận động nội tại của bản thân con người và những ảnh hưởng qua lại của các hình thái ý thức trong kiến trúc thượng tầng hoặc những tác động của xu thế thời đại…nên quan niệm về con người cũng ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội, văn hóa….Một tác phẩm văn chương bao giờ cũng phản ánh và phục vụ cuộc sống, đấu tranh của nhân dân ở mức độ này hay mức độ khác, bằng cách này hay cách khác Đất nước ta
đã trải qua bao cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, vai trò của nhân dân luôn luôn nổi bật trong lịch sử Mọi truyền thống văn hóa đều bắt nguồn từ nhân dân, luôn luôn lấy nhân dân làm gốc Và văn chương cũng lấy đó làm cơ sở cho sự ra đời Thế kỷ XVIII, XIX, một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa thấm sâu vào văn chương nghệ thuật làm tăng thêm vai trò của nhân dân trong quan niệm của ông cha ta Chính vì vậy mà từ cổ chí kim những tác phẩm phản ánh những hiện tượng, sự kiện, đặt những vấn đề có ý nghĩa đối với vận mệnh, với cuộc sống và đấu tranh của nhân dân luôn đạt được thành công rực rỡ Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi nói lên vấn đề sống còn cùng với những vinh quang lẫy lừng của
dân tộc, là một tác phẩm tiêu biểu cho văn học cổ nước ta Tắt đèn của Ngô Tất
Tố phản ánh nỗi thống khổ và sự bế tắc của người nông dân trước Cách Mạng Tháng Tám là tác phẩm có tính dân tộc sâu sắc Hồ Xuân Hương với những bài thơ tình châm biếm tràn đầy tinh thần chống đối chế độ và lễ giáo phong kiến được xem như nhà thơ kiệt xuất Những tiểu thuyết, những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… ngày càng được nhân dân xem là tài sản của chính mình
Rõ ràng truyền thống văn hóa của dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đến tác phẩm văn chương cũng như quan niệm về con người trong tác phẩm văn chương Nói đến tính dân tộc của văn nghệ là nói đến một giá trị, một hiện tượng tinh hoa, một bản sắc độc đáo của văn nghệ dân tộc cho nhân loại Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà tính dân tộc của tác phẩm văn chương thường bộc lộ
Trang 25trực tiếp qua các nhân vật chính diện Vì đó là những hình tượng mang tính lý tưởng, đạo đức, cái đẹp mà cả một dân tộc yêu chuộng, nâng niu Đó là Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, chị Dậu… Trái lại nhân vật phản diện là loại nhân vật mang những biểu hiện mà cả dân tộc ghét bỏ, khinh bỉ, đối lập lại với những gì của dân tộc, làm nổi bật thêm nét đẹp của dân tộc Đó là Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Nghị Quế… Mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu văn học có thể
có một quan niệm khác nhau về con người nhưng nhất thiết phải phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc, có như vậy tác phẩm mới được chấp nhận và
dễ đi vào lòng người
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu
tả con người trong văn học của tác giả, mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ
sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Chẳng hạn, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nam Cao so với Vũ Trọng Phụng hoặc Ngô Tất Tố Chủ quan của nhà văn mà đặc biệt là quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về con người trong tác phẩm văn chương không chỉ là sự thể hiện tính cách, không chỉ là sự dẫn dắt vào thế giới đời sống mà con người trong tác phẩm văn chương còn là quan niệm về tính cách và cái tư tưởng mà tác giả muốn thể hiện Như vậy con người trong tác phẩm văn chương còn giữ vai trò nêu lên quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới, con người Qua bi
kịch không lối thoát của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao thì Nam Cao đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về nghề văn: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi
nghệ thuật về thế giới, về con người của nhà văn không chỉ được biểu hiện qua nhân vật mà qua tổng hợp toàn bộ các yếu tố tạo thành tác phẩm hay sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nhưng phải thừa nhận rằng với các nhân vật cụ thể, thái
độ, tư tưởng của nhà văn về các vấn đề xã hội có điều kiện bộc lộ rõ nhất Cũng chính vì vậy mà chúng ta cũng phải thừa nhận rằng dù nhân vật được xây dựng
Trang 26theo mô hình nào đi chăng nữa thì phần chủ quan của người viết luôn chiếm một
tỉ trọng lớn và nó là yếu tố có tính thứ nhất mà ta cần quan tâm tới khi phân tích một tác phẩm văn học nếu không chúng ta sẽ mắc sai lầm vì đã xem nhân vật như những con người có thật mà đem những tiêu chuẩn có thật của cuộc sống ra
mà đo lường những giá trị của nó Như vậy thì chúng ta sẽ không bao giờ thâu tóm được cái hồn của tác phẩm, cũng như tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm
Nhân vật Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là một
điển hình Nguyệt là một thanh niên xung phong sống trong bom đạn Cuộc sống chiến đấu thì biết bao la chật vật thiếu thốn Ấy vậy mà Nguyệt vẫn đẹp một cách lạ lùng, đẹp cả đến cái gót chân hồng hồng và đẹp cả cái vết thương do bom đạn gây ra Ở đây sự hư cấu của tác giả thể hiện rất đậm nét Có thể ta sẽ không tán đồng điểm này hay điểm khác trong tư tưởng của nhà văn nhưng không thể bỏ qua nó Bởi vì nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để thể hiện một tư tưởng về cuộc đời Xây dựng nhân vật Nguyệt với sự chủ quan của mình, Nguyễn Minh Châu muốn tạo nên hình tượng hoàn mỹ cả về ngọai hình lẫn tâm hồn Tình yêu của Nguyệt và Lãm thật đẹp và đầy lãng mạn thì ngại gì một chút thi vị hóa để nó càng rạng ngời hơn
Một yếu tố nữa thuộc về người sáng tác mà có sự ảnh hưởng đến con người trong tác phẩm văn chương đó là những bài học, những giá trị đạo đức mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc Những gì đến được với ngòi bút nghệ sĩ đều phải trải qua bao nhiêu dằn vặt, trăn trở, đau đớn hay rung động mảnh liệt
Nguyễn Du đã phải trải qua bao đau đớn mới viết được Truyện Kiều, hình ảnh
AQ đã ám ảnh Lỗ Tấn biết bao năm nhà văn mới viết được AQ chính truyện
Như vậy, tác phẩm văn học chứa đựng trong đây tâm huyết, nhiệt tình của tác giả Nên con người trong tác phẩm luôn hướng đến thuyết giáo những giá trị, những bài học mà tác phẩm muốn nói muốn gửi gắm Đó chính là khát vọng thiết tha muốn thể hiện một quan niệm về chân lý đời sống, một chân lý về cái đẹp, cái tốt, cái thật thể hiện trong các hiện tượng tự nhiên và xã hội, trong các quan hệ giữa người với người, trong tính cách của con người Đó là chân lý mà nhà văn đã thể nghiệm muốn nói to lên cho mọi người, muốn thuyết phục họ và
Trang 27chia sẻ với họ thông qua hệ thống nhân vật gắn liền với chân lý ấy là một cảm hứng mãnh liệt muốn khẳng định điều này, phủ định điều kia, muốn nhìn thấy lẽ phải được cuộc sống thể hiện Tất cả những điều đó luôn phù hợp với xu hướng
tư tưởng nhất định trong cuộc sống đáng được mọi người trân trọng và tìm hiểu
1.2 Các yếu góp phần hình thành quan niệm về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
là một thống đốc người Pháp với sự trợ tá của một Hội đồng tư vấn Bước tiếp theo, Pháp tiến hành công cuộc khai thác kinh tế thuộc địa Nam Kỳ nhằm tạo nguồn chi trong hoạt động cai trị xứ Đông Dương và bừ đắp những thiệt hại do phải tham chiến nhiều nơi Mục đích của Pháp là khai thác nguồn nguyên liệu ở thuộc địa để cung cấp cho những công trình công nghiệp chính quốc Để thực hiện mục đích đó, thực dân Pháp cho mở đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ, xây dựng rất nhiều công xưởng xung quanh khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn Bên cạnh đó, lợi dụng những người nông dân và thợ thủ công không có việc làm ở nông thôn hay phải chạy loạn ra thành phố để kiếm sống,
Trang 28thực dân Pháp đã tuyển mộ công nhân vào khai thác các mỏ than, thiếc, đồng với giá nhân công rẻ mạt
Song song với âm mưu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp còn đặt nhiều thứ thuế đánh vào đầu người dân Đây là thủ đoạn bóc lột hết sức dã man Bởi
vì phần đông người dân Nam Bộ thời kỳ này là những người nghèo cho nên với chính sách thuế khóa của thực dân Pháp cuộc sống của họ trở nên bần cùng và
cơ cực
Đầu thế kỷ XX, diện mạo xã hội Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng
có sự biến đổi sâu sắc như là một hệ quả tất yếu của việc thiết lập hệ thống cai trị thực dân và việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Sự thay đổi về xã hội tất nhiên sẽ dẫn tơi sự thay đổi về cơ cấu giai cấp, ý thức hệ văn hóa: đô thị ngày càng mở rộng, các thị trấn mọc lên khắp nơi, nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội mới xuất hiện như tư sản, tiểu tư sản thành thị, công nhân… ở nông thôn, lũ lụt, hạn hán, mất mùa và sự khủng bố đàn áp của chính quyền thuộc địa khiến cho người nông dân ngày càng bị bần cùng Những người nông dân mất đất phải rời quê hương sứ xở để lên thành thị kiếm sống và trở thành thợ thuyền, mua gánh bán bưng, những phu xe, bồi bếp, công nhân…hình thành nên tầng lớp dân nghèo thành thị Một số lâm vào cảnh khó khăn, cùng đường trở thành lưu manh gái điếm,…kể cả sự hình thành lớp người du thủ du thực mà
xã hội truyền thống chưa hề có Bên cạnh đó cũng có lắm kẻ cơ hội, biết luồn lách chớp thời cơ trên thương trường trở thành những ông chủ tư sản
Sự có mặt của chế độ thực dân Pháp trên đất nước đã làm cho cơ cấu xã hội truyền thống với nếp sống truyền thống, với những giá trị đạo đức truyền thống từng bước bị đổ vỡ Để phục vụ cho bộ máy cai trị, một người nhanh chân nhảy ra cộng tác với nhà cầm quyền, trở thành những thầy Thông, thầy Ký, thầy Cai, thầy Đội… Đứng trên đỉnh quyền lực của chế độ mới là những tên thực dân mắt xanh mũi lõ trực tiếp cai trị xã hội trực tiếp nắm quyền sinh sát đối với vận mạng người dân, vận mạng cả dân tộc Việt Nam Để phục dịch cho bọn quan lại
và cũng để đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân ta, ngoài đội quân viễn chinh, thực dân Pháp gom bắt thanh niên trai tráng
Trang 29trong làng, phiên chế vào các sắc lính khố xanh, khố đỏ, lính tập, cảnh sát… Một nghề mới được hình thành, đó là nghề đi lính cầm súng ăn lương (dưới dạng các thầy Cai, thầy Đội, mã tài) Tất nhiên, cộng tác với chế độ cướp nước, nhất
là trực tiếp cầm súng, trong mắt người dân đương thời, họ là Việt gian phản quốc nhưng không ít trong số đó thực ra cũng vì chuyện chén cơm manh áo Mặt khác, việc sửa đổi nội dung thi cử từ năm 1906 (bỏ kỳ thi Hương) đã dần dần làm thay đổi cách học cách nghĩ cũng như cách sống của giới trí thức Sự giao tiếp văn hóa Đông - Tây đã tạo nên một tầng lớp trí thức mới trong xã hội Việt Nam.Đó là những tiến sĩ, cử nhân, học sinh trung học, sinh viên cao đẳng được đào tạo trong các trường hậu bổ, trường Pháp – Việt và các trường trong nước thuộc địa Họ cùng với đội ngũ công chức Pháp, của Nam triều (Tham, Phán, Thông ngôn, Ký lục,…) trở thành tầng lớp trí thức tân học
Sự phân hóa về nghề nghiệp, về phương cách sống đã dẫn tới sự phân hóa
về giai tầng xã hội Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp xã hội, do điều kiện kinh tế và môi trường sống khác nhau đã qui định lối sống, lối tư duy, lối sinh hoạt khác nhau, tức là xuất hiện sự phân hóa xã hội về mặt tư tưởng Sự phân hóa về tư tưởng, nếp sống, nếp nghĩ, lời ăn tiếng nói của mỗi giai tầng xã hội, đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm sáng tác của các nhà văn giai đoạn này, nhất là quan niệm nghệ thuật về con người Do đó mà khi đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, người ta nhận ra một xã hội Nam Bộ cuối thê kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đang có sự phân hóa sâu sắc, nhất là sự phân hóa về các tầng lớp, giai cấp xã hội, theo sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dưới dạng thực dân phong kiến Sự phân hóa giai tầng kéo theo sự phân hóa nhanh chóng
về mặt tư tưởng, về lối sống, nếp sống, nếp sinh hoạt, cách ứng xử và cả lời ăn tiếng nói của mỗi con người trong xã hội
1.2.2 Yếu tố chủ quan
Quê hương Gò Công của Hồ Biểu Chánh là một vùng quê nghèo khó, nước mặn đồng chua, ruộng rẫy lắm gò cao, ít được thiên nhiên ưu đãi như nhiều vùng khác của đồng bằng Nam Bộ Xuất thân và sinh trưởng từ một gia
Trang 30đình nông dân nghèo, bản thân đã trải qua những ngày hàn vi, có lẽ hơn ai hết,
Hồ Biểu Chánh thấu hiểu tình cảnh túng bấn nghèo nàn của người bần cố nông Nam Bộ Cuộc sống ở đây lắm gian nan, nhiều cơ cực Con người tưởng chừng như không thể tìm thấy ánh sáng của tương lai Thuật lại tuổi thiếu thời lao khổ,
Hồ Biểu Chánh có viết: “còn hai bữa tới ngày ta phải đi, mẹ ta than hết tiền, cha ta mới đi kiếm người đặng mượn tiền cho ta đi Ta lo quá, sợ không đi được Bữa chót, đến tối mà cũng không thấy cha ta về Ta than nếu có được một đồng bạc thì đủ cho ta đi Mẹ khuyên ta đừng lo (…) Thiệt khuya, mẹ ta gói một cặp
áo hàng, đi bộ với ta xuống chợ mà cầm Tiệm chịu cầm ba đồng Mẹ ta xếp giấy
bỏ túi, còn bạc thì đưa hết cho ta Ta lấy hai đồng mà thôi Mẹ không chịu, ép phải lấy hết rồi đưa ta xuống tàu Lúc tàu mở dây mà chạy, ta đứng ngó mẹ ta
của mình, Hồ Biểu Chánh luôn thể hiện sự cảm thông, sẳn sàng chia sẻ cho những con người có số phận bất hạnh trong xã hội Nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh, trước đây có người vì thiên kiến nào đó mà chối bỏ hoặc xem nhẹ vai trò, vị trí và những đóng góp của ông trong lịch sử văn học nước nhà Tuy nhiên
ít người biết rằng ông Đốc phủ sứ Hồ Văn Trung, trên con đường hoạn lộ của
mình, lúc nào cũng tâm niệm: “tuy là tay sai của quan Pháp, song nếu mình cứ lấy lòng siêng năng ngay thẳng mà làm việc, đừng a dua bợ đỡ, phải thì ở, không phải thì đi, nói oan dám giận, nói bậy dám cãi, thì phận mình khỏi hổ, mà
được đi nhiều nơi, được tai nghe mắt thấy nhiều chuyện đã và đang xảy ra trong
xã hội đương thời, nhất là ở nông thôn các tỉnh miền Tây Nam Bộ thì chắc không thể có nhà văn Hồ Biểu Chánh
Tuy xuất thân Tây học nhưng từ trong sâu thẳm, Hồ Biểu Chánh vẫn thiên trọng những tư tưởng truyền thống của dân tộc vốn thấm nhuần Nho, Phật, Lão Chung thủy với truyền thống đạo lí dân tộc, ông đã đưa vào tiểu thuyết cái đạo làm người đặt căn bản trên sự nhân ái, hiếu nghĩa, thủy chung, trong sạch, thẳng ngay Nói về định hướng và quan niệm sáng tác của Hồ Biểu Chánh, nhà nghiên
cứu Trần Bạch Đằng trong lời giới thiệu Cha con nghĩa nặng (Nxb Tiền Giang,
Trang 311988), có nhận xét: “Hồ Biểu Chánh cổ vũ cho cái đẹp, cho nếp sống truyền thống, đề cao cái thiện, nâng niu điều chung thủy đạo lý ở đời, ca ngợi những tấm lòng biết bao dung dám làm vì nghĩa…dù là những tác phẩm sáng tác hay phóng tác Có thể nói tính chất đó đã xuyên suốt trong tất cả sự nghiệp văn học của ông, kể cả khi ông đang làm việc ngoài đời khác ngược hẳn với các điển hình mà ông sinh nở trong tiểu thuyết” Trong tập ký ức Đời của tôi về văn
nghệ, tác giả cho biết chủ ý của ông là “viết tiểu thuyết để cảm hóa đặng lần lần
chuyện cũ đưa vào truyện Bức thư hối hận ông viết “Phải viết chớ, viết đặng giải phiền, viết đặng bớt giận Phải viết đặng ghi cái hay cái dở của nhơn tình thế thái, về khoảng đời trụy lạc mà để lại cho em cháu đời sau được biết chổ thấp chổ cao Phải viết đặng giải nỗi u sầu của mình và luôn dịp đặng chỉ đường vạch nẻo cho con cháu trong nhà ngó thấy” [Đoạn mở đầu của bức thơ
vì điều này mà khi đọc tác phẩm của Hồ Biểu Chánh ta luôn bắt gặp những con người mang những phẩm chất đáng quý, cao cả: hiếu nghĩa, thương người, thủy chung son sắt… Nếu viết về những con người tha hóa thì cho đến sau cùng ông cũng để cho nhân vật của mình trở về với đường ngay nẻo thẳng hoặc hơn nữa thì phải gặp quả báo mà họ đã gây ra Hồ Biểu Chánh, qua nhân vật muốn cảnh báo đời người nên chọn đường ngay mà bước Giáo sư Nguyễn Lộc đã từng nói:
“Điều mà Hồ Biểu Chánh quan tâm sâu xa và thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình là làm thế nào cho xã hội có được phong hóa lành mạnh Vốn là người
có bản chất nhân hậu, ông chưa bao giờ đứng về phía cái mới để đả kích cái cũ, hay ngược lại đứng về phía cái cũ để đả kích cái mới Thái độ của ông là tìm
Trang 32cách dung hòa cái mới và cái cũ, theo ông cái mới và cái cũ đều có ưu điểm riêng của nó…Hồ Biểu Chánh ý thức được một thực tế là cách sống mới trước sau cũng sẽ tấn công và cách sống, phong tục gia đình cổ xưa mà ông cho là ưu việt nên dường như là một phần quan trọng trong sáng tác của ông là nhằm chứng minh cái phong tục gia đình của ta ấy là ưu việt, không cần thay đổi, không nên thay đổi, không nên thay đổi Cái phong tục đó, theo Hồ Biểu Chánh
là trong gia đình con cái phải vâng lời cha mẹ, lớn lên việc dựng vợ gả chồng là công việc của cha mẹ, nhưng vợ chồng phải chung thủy với nhau phải yêu thương nhau Còn ngoài xã hội, hay bao trùm lên xã hội là cái nghĩa Cái nghĩa
ở đời là trọng chứ không phải là vàng bạc, không phải danh vọng, con người sống như thế thì gia đình sẽ êm ấm, xã hội sẽ yên vui, mọi việc sẽ tốt đẹp, còn sống trái với quan niệm ấy thì ắt có tai họa, sẽ làm những việc ác, mà đã ác thì
“ác giả ác báo””
Chính vì những điều này mà khi đọc tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, chúng
ta có thể thấy được cả con người và xã hội, cả một nền văn hóa của miền đất Lục tỉnh Nam Kỳ vào các thập niên đầu của thế kỷ XX đầy biến động Từ cách dàn dựng câu chuyện đến sự trình bày diễn biến của câu chuyện, tâm lý các nhân vật, các hạng người và đặc tính của họ, ý nghĩ và lời nói của họ, đến khung cảnh môi trường mà con người phải sinh sống trong đó… tất cả được tạo ra nhằm đáp ứng thị hiếu của người đọc ở miền đất Nam Bộ
Trang 33CHƯƠNG II
SỰ KẾ THỪA VÀ ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI BỔN PHẬN
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH
2.1 Giới thuyết về con người bổn phận
Trong thời kì văn học trung đại, nhân dân ta không ngừng chiến đấu chống xâm lăng bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước thống nhất Tư tưởng đó gắn liền với hình tượng người công dân Đại Việt ái quốc, trung quân.Con người thời cổ luôn có xu hướng hoà nhập vào cộng động, chỉ tìm thấy sự tồn tại đích thực của mình trong cộng đồng và ý thức rõ trách nhiệm của mình trong cộng đồng và ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với cộng đồng, thậm chí có thể sẵn sàng hy sinh cá nhân để phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng
Con người bổn phận là con người luôn đặt mình trong mối quan hệ của xã hội và mọi người xung quanh, gắn liền với lợi ích của cộng đồng xã hội Đó là những con người sống lúc nào cũng vì trách nhiệm, vì mọi người xung quanh
mà quên đi lợi ích riêng của bản thân Họ là những con người không sống vì bản thân mà sống vì người khác Ý thức trách nhiệm không cho phép con người bổn phận vượt qua khuôn khổ của đạo đức xã hội để sống cho bản thân Ở họ cái tôi
cá nhân hoàn toàn không có cơ hội hoặc rất ít có cơ hội được bộc phát
2.2 Con người bổn phận đối với gia đình
Trong các mối quan hệ con người, có thể nói quan hệ cha mẹ và con cái là quan trọng, gắn bó, thiêng liêng nhất Sự thiêng liêng không chỉ đơn thuần nằm
ở mối quan hệ di truyền và huyết thống, mà đó còn là tất cả tình người, tính giáo dục, đạo đức của hai thế hệ, là bổn phận cần có của mỗi con người trong mọi thời đại Hồ Biểu Chánh nhìn xã hội như một cộng đồng rộng lớn, bao gồm trong đó nhiều gia đình Mỗi gia đình có một hoàn cảnh riêng Các thành viên của từng gia đình thì khá đa dạng, thuộc nhiều loại người, có những tính cách công việc, trình độ khác nhau nhưng chung quy thuộc hai loại chính: người tốt –
có đạo đức và người xấu – vô đạo đức Do đó, bổn phận của con người được cụ
Trang 34thể hóa thành chức năng của người vợ, người chồng, người cha, người mẹ, người con, người anh, người chị Bổn phận đối với gia đình được coi là quan trọng nhất Đó là bổn phận gìn giữ đạo đức, bảo vệ sự bền chặt các mối quan hệ Mỗi người đều phải ý thức đúng về vị trí của mình trong gia đình, để làm tròn bổn phận Gia đình bền vững thì xã hội sẽ tốt đẹp Ngược lại, gia đình sẽ đổ vỡ Cho nên làm tốt chức năng đối với gia đình cũng là làm tốt một phần bổn phận đối với xã hội, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp
Xưa nay văn chương thường đặc biệt nói đến quan hệ mẫu tử ca ngợi tình mẫu tử, thông qua đó nói đến tấm lòng của người mẹ, đạo hiếu của con Nhưng
ít thấy trường hợp đi sâu vào tình phụ tử, thể hiện tấm lòng thương con đến vô
bờ bến, hi sinh tất cả vì con của người cha Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đi vào khái thác mối quan hệ này là chủ yếu và cũng chính nhờ cách thể hiện có phần đặc biệt này đã tạo được sự thú vị cho người đọc, giúp nhà văn bộc lộ rõ nét quan niệm về con người bổn phận đối với gia đình trong mối quan hệ giữa cha
gặp bố vợ là Hương thị Tào, ông nói: “ Con muốn chết lắm, mà vì con thương sắp nhỏ quá, nên con không chết được…Mười mấy năm, con thương nhớ chúng
diết của người cha đối với các con Đến khi nghe bố vợ nói về tình hình tốt đẹp của hai đứa con đã trưởng thành thì Sửu cảm thấy mãn nguyện Ông ta lại đi tìm cái chết trong vui vẻ Khi người cha vừa đi thì thằng Tý xuất hiện Nghe ông ngoại nói cha bỏ đi, Tý chạy đuổi theo Hình ảnh dưới đêm trăng, hai cha con rượt theo nhau qua cánh đồng và con đường dài là một hình ảnh đáng nhớ Người cha sợ bị bắt càng ra sức chạy, người con sợ cha đi mất nên cố sức chạy theo Đúng lúc Trần Văn Sửu định chui qua lan can cầu để kết liễu cuộc đời
Trang 35mình thì Tý đuổi kịp Cha con ôm nhau mà khóc Người cha khuyên con về cưới
vợ còn mình thì đi biệt tích Nhưng Tý không nghe và thuyết phục cha trở về
nhà, cậu không rời cha nữa bước, kiên quyết “hễ cha đi thì con đi theo”, “đi theo đặng làm mà nuôi cha, chừng nào cha chết thì con sẽ về” Tuy 11 năm không
gặp không được cha âu yếm, nuôi dưỡng nhưng Tý vẫn yêu thương cha hết mực
và nhất quyết phải làm tròn bổn phận làm con, chăm sóc phụng dưỡng cha suốt đời Tình yêu thương của Trần Văn Sửu và thằng Tý quả thật rất đáng khâm phục, ai cũng phải khen ngợi
Những tác phẩm khác cũng thể hiện tình cha con cảm động như: Nặng
đùa) vì thương con mà phải để ông ngoại nuôi con, mỗi lần đi thăm con chỉ ngó
nhìn từ xa, khi con tìm đến nhà thì khuyên con quên mình đi, ước có một điều
này, “là ngày nào cha hấp hối, con cho cha thấy mặt con một chút rồi nhắm mắt” [41, tr20-21] Ông Cử trong tác phẩm cùng tên được Hồ Biểu Chánh tạo dựng thành một hình ảnh người cha cao đẹp Vì giận vợ lường gạt hết gia sản, xé hôn thú rồi mang rồi mang con đi lấy một người chồng có địa vị, tiền tài, ông thay tên đổi họ lên Sài Gòn giúp đỡ người nghèo, lấy đức mà khuyên răn đám dân lao động thiếu học Người ta mang tiền ra mua chữ ký ông vào tờ hôn thú của đứa con gái, dù nghèo ông vẫn một mực chỉ biết người con rể có xứng đáng hay không, ông từ chối sự trả ơn của người khác kể cả con rể, con gái Ông đã
bỏ nhà ra đi định vào chùa mà tu niệm nhưng nghĩ đến con gái, nghĩ đến bổn phận làm cha nên không nỡ xuống tóc Sau này, con gái, con rể giàu có thì ông mới cảm thấy trong lòng thanh thản nên ông nhất quyết xa lánh cuộc đời trần tục
Hương sư Cu trong Con nhà nghèo, là một người cha ghẻ nhưng anh hết
mực yêu thương đứa con của vợ mình, cho ăn học trở thành quan kinh lý mà không một lời oán than Tấm lòng nhân hậu, tình nghĩa của Hương sư Cu đã được bồi đắp bằng sự thành đạt và hiếu thảo của chính đứa con mà tự tay mình
nuôi dưỡng Hay Ba Thời (Cay đắng mùi đời) đã cam chịu bao tai tiếng khi nhặt
được đứa bé bên đường và đem về nuôi nhiều năm vất vả Cả Hương sư Cu và
Trang 36Ba Thời đều không có quan hệ máu thịt với đứa con mình nuôi dưỡng nhưng họ vẫn làm tròn trách nhiệm của những người làm cha làm mẹ là nuôi nấng và dạy
dỗ con cái nên người
Không chỉ có những bậc làm cha làm mẹ mới có bổn phận lo lắng cho con
mà trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, những nhân vật là ông bà cũng hết mực yêu thương lo lắng, làm trong bổn phận của người ông, người bà chăm sóc cho những đứa cháu của mình khi chúng không có cha mẹ bên cạnh Hương thị Tào
(Cha con nghĩa nặng) là một người ông ngoại hết sức yêu thương cháu Con gái
chết, con rể bỏ trốn, có tin báo về là chết do tự tử, ông cùng lúc hứng chịu bao nỗi đau nhưng ông đã biết nén đau thương ra tay cưu mang, nuôi dạy mấy đứa cháu ngoại đang trong cảnh bơ vơ Tuy đã năm mươi tuổi, tóc bạc, răng rụng
nhưng ngày qua ngày “Ông ta lăn lóc làm lụng nuôi sắp cháu ngoại, khi bồng thằng Sung đút cơm, khi dắt con Quyên đi tắm, ai thấy như vậy cũng động lòng
Hương thị Tào, chắp tay xá cha vợ đền ơn rồi mới đi tự vẫn
Đàm Tự Chấn trong Ngọn cỏ gió đùa vì bất đồng quan điểm với con rể
mà ông đã đón cháu về nuôi Ông hết mực yêu thương cháu của mình Ông
chăm sóc “tưng tiu như trứng mỏng”, chỉ bảo cho Thể Phụng từng việc lớn, nhỏ
Khi Thể Phụng lớn lên thì ông ra sức tìm kiếm cho cháu mình một người vợ
hiền Hay như ông Bạch Khiếu Nhàn trong Ai làm được cũng rất yêu quí đứa
cháu gái của mình là Bạch Tuyết, thấy cháu sớm mồ côi mẹ, lại sống với mẹ ghẻ nên ông dồn hết tình thương của mình cho Bạch Tuyết coi như bù đắp những thiếu thốn tình cảm mà cháu mình phải chịu đựng, ông hết sức bênh vực cho cháu mình khi biết Bạch Tuyết chịu thiệt thòi Biết Chí Đại là một chàng trai tốt
có thể làm cho cháu mình hạnh phúc ông hết sức vun đắp cho tình yêu của đôi trẻ Không mang trong mình quan niệm sang hèn, nên ông không những khoogn chê Chí Đại nghèo mà còn giúp đỡ Chí Đại hết mình để anh không mặc cảm trước cô vợ giàu có, và cốt để cho cháu mình được trọn vẹn hạnh phúc bên nguời mình yêu Chỉ có vậy ông mới cảm thấy mình đã làm tròn bổn phận của
Trang 37một người cha thay con chăm sóc cháu và bổn phận của một người ông, một chổ dựa tinh thần cho Bạch Tuyết
Bên cạnh những tấm lòng cao cả của người cha người mẹ, người ông, Hồ Biểu Chánh còn hết sức ca ngợi và cổ vũ tấm lòng hiếu thảo của những người con đối với cha mẹ, ông bà Trước đây, trong văn học trung đại chúng ta đã biết đến những tấm gương hiếu nghĩa như nàng Kiều bán mình chuộc cha, Lục Vân Tiên nghe tin mẹ mất thì bỏ thi mà về quê chịu tang mẹ Đọc tác phẩm Hồ Biểu Chánh, chúng ta cũng bắt gặp những tình cảm của con cái đối với cha mẹ hết sức cảm động
Theo quan niệm nho giáo, phận làm con phải vâng lời cha mẹ, phải hiếu thảo, kính trọng, phụng sự cha mẹ lúc tuổi già bệnh tật Đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm trọng Thậm chí đôi lúc Hồ Biểu Chánh còn đặt chữ hiếu trong mối quan hệ với chữ tình buộc nhân vật phải lựa chọn
Người ta vẫn thường nói “hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai” Có trường
hợp, Hồ Biểu Chánh dành phần thắng cho chữ hiếu, tuyệt đối hóa vai trò của chữ hiếu vốn đã tồn tại vững chắc trong nền luân lí phong kiến Thanh Tòng và
Lệ Bích yêu thương nhau và đã có đính ước hôn nhân với nhau Nhưng Lệ Bích
đã hủy bỏ cuộc hôn nhân với Thanh Tòng vì Thanh Tòng đã lở tay sát hại cha
nàng “ Ta khuấy lãng làm sao được! Lời thề ước tuy là nặng nhưng mà oán giết cha thù lại càng sâu! Ta có thể nào mà kết duyên cùng Thanh Tòng cho được Nay Thân công tử đã thắng trận khải hoàn, chi cho khỏi lệnh bệ hạ xá tội cho chàng và dạy ta giao duyên Nếu ngay cùng chúa thì trái nghĩa với cha, còn nếu trọn đạo với cha thì mất ngay cùng chúa, ta biết liệu làm sao bây giờ? Ta đã nghĩ, ta phải chết thì mới vẹn toàn được mà thôi Vẫn biết tình yêu là sâu nặng nhưng chữ hiếu là trên hết” [39, tr30] Và Lệ Bích đã chọn chữ hiếu Vì chữ hiếu mà nàng quyết định quyên sinh may mà thoát chết Nàng quyết định trốn đi
để khỏi trái lệnh vua và được thảo với cha Còn Thanh Tòng cũng là một người
con rất mực hiếu thảo “ thưa cha sách thánh hiền dạy rằng: ví như cha mẹ làm điều chẳng phải mà bị sỉ nhục thì đạo làm con phải theo mà can gián Như can
mà cha mẹ không theo thì phải khóc lóc theo cha mà can hoài chẳng nên mỏi
Trang 38chí, can chừng nào cha mẹ động lòng tránh đường quấy, trở về nẻo phải chừng
ấy mới thôi Con là đứa có học, đương nhiên con phải noi theo đạo thánh hiền
Thanh Tòng tức giận vô cùng Và dù biết người gây ra sự tình là cha vợ hứa hôn thì Thanh Tòng vẫn có một quyết định là đặt chữ hiếu lên trên chứ không vì tình
riêng mà lỗi đạo “Thanh Tòng đứng chống tay dựa cửa sổ mà ngó ra vườn, chàng nghĩ rằng: phụ thù là trí trọng, danh dự là chí tôn, tại sao mà mình lại dụ
dự Mình phải báo phụ thù, mình phải báo danh dự chứ Nàng Lệ Bích dung nhan thật là đẹp, văn chương thiệt là hay, mà trong trấn ngoài quận không có gái nào sắc đẹp bằng, văn hay thì sao ta mê nàng đến nỗi quên phụ thù, bỏ danh
dự, huống chi mình mới hứa hôn mà thôi chứ chưa chung chăn gối gì, thì có nghĩa chi đâu mà sợ phạm, có tình chi đâu mà sợ bạc, thà là mình chết vì cha, chớ sống vì vợ, sống càng thêm nhục, sống làm chi? Dẫu thế mình cũng phải gặp kẻ thù của cha mình, nếu mình dụ dự thì mình có lỗi với cha mình lắm”[39,tr8]
Ánh Nguyệt (Ngọn cỏ gió đùa) là một tấm gương về lòng hiếu thảo Mồ
côi mẹ từ rất sớm nhưng nàng không chịu lấy chồng vì nàng muốn ở nhà hủ hỉ với cha Nàng thấy cha già yếu, không muốn cha đi thi nhưng vì thương cha sợ trái ý cha buồn nên đành lòng để cha lên kinh thành ứng thí Lúc nghe ông Sáu
Thời báo tin cha lâm bệnh, nàng lập tức đi đón, nàng lo lắng: “Tôi phải đi rước
[33,II, tr4] Đến khi hay tin cha qua đời thì nàng hết sức “đau lòng về nỗi cha chết mà không thấy mặt con, không trối được một lời ” Nàng nghĩ rằng “Cái thân của nàng nếu phải bán mà trả nợ cho cha thì nàng cũng sẳn lòng mà bán luôn Nàng buồn là buồn cái hài cốt của cha nằm nơi đất khách quê người, ngày
Nàng Xuân Hương (Một đời tài sắc) vì cha mẹ vay nợ của người khác
không trả được nên cô chấp nhận lấy người mình không yêu, lấy con trai chủ nợ
để trừ nợ cho cha mẹ Xuân Hương đã phải hy sinh chữ tình để giữ chữ hiếu:
“Rõ ràng bên hiếu nặng hơn bên tình nhiều lắm Thí một đời mình phải trả thảo
Trang 39cho cha mẹ, lại trả thảo luôn bên chồng nữa, thì còn do dự nỗi gì” Thằng Tý
(Cha con nghĩa nặng) cũng chọn con đường hy sinh hạnh phúc riêng tư, tiền đồ
cá nhân để làm tròn chữ hiếu với cha Đọc tác phẩm Cha con nghĩa nặng ta cũng được chứng kiến tình cảm của cháu đối với ông Đó là thằng Tý tuy còn nhỏ tuổi song thấy gia đạo của ông ngoại khó khăn nên đã đến nhà Hương quản Tồn làm
thuê với mong muốn: “ở nhà không có làm việc chi hết, nên tôi muốn đi ở với họ đặng khỏ tốn cơm ông ngoại mà ông ngoại còn lấy được tiền nữa…Ông lấy tiền rồi mua vải may cho con Quyên một cái áo, một cái quần đặng nó bận, còn bao
chứa đựng nhiều ý nghĩa làm lay động lòng người Hay như con Quyên khi nghe
bà Hương quản Tồn nói giữ lại ở đợ cho bà thì đã suy nghĩ rất lâu vì nghĩ thương ông ngoại ở một mình sẽ buồn
Vương Thể Phụng (Ngọn cỏ gió đùa) lớn lên dưới sự yêu thương đùm bọc
của dì và ông ngoại Mẹ anh mất sớm, còn cha, vì nghịch ý với ông ngoại nên không được phép gần con Thể Phụng từ nhỏ vẫn cứ nghĩ mình là đứa mồ côi cha mẹ nên khi nghe thầy Nhiêu Khoa cho biết cha anh vẫn còn sống thì anh
nhất định xin thầy đến tìm cha: “Thưa thầy, xin thầy nghĩ lại mà coi, làm con chẳng trọng ai hơn bằng trọng cha Thưở nay cháu tưởng cha cháu chết rồi nên không để ý đến Bây giờ cháu biết còn sống mà không thấy mặt, thì làm sao yên
nhận nhau, vì theo anh “con có cha mà không chịu nhìn thì con mang lỗi với trời đất lắm” và anh quyết định gặp được cha thì phải trọn hiếu với cha: “Nay con đã khôn lớn rồi, còn cha thì đã già yếu mà lại tật nguyền nữa Theo phận làm con của con thì con phải nuôi dưỡng cha, nếu con không làm như vậy, dẫu con học thi đậu đến trạng nguyên, dẫu con giàu có như Thạch Sùng đi nữa con cũng
theo cha mà nuôi dưỡng, cho cha bớt cực khổ, bớt sầu thảm quạnh hiu Bởi vì
anh nghĩ rằng: “cha mẹ không còn nữa thì dẫu có đậu ông nghè, ông cống, dẫu
dẫu cha là người phải hay quấy, cha là đấng sinh thành ra con Phận làm con lúc
Trang 40nào cũng phải kính trọng cha Còn đối với gia tài của ông ngoại, dù có to lớn đến đâu với anh cũng không bằng tình cảm cha con Khi ông ngoại có lời lẽ xúc
phạm với cha, Thể Phụng thưa rằng: “Ông nuôi cháu, cho cháu ăn học, ơn ấy rất nặng, nào cháu có dám quên bao giờ Còn cha cháu sanh cháu, ơn ấy cũng dày, sao ông nỡ muốn cháu trọng ơn của ông mà phụ ơn của cha cháu” [33, tr23] Khi cha anh lâm bệnh nặng qua đời, anh lập bàn thờ với bức di ngôn của cha, lo đắp mồ mả cho cha để chuộc lại những ngày tháng anh không chăm sóc được cha Thể Phụng nguyện suốt đời nối chí cha và nguyện sống như cha
Thu Cúc (Chút phận linh đinh) tuy còn nhỏ tuổi nhưng là một cô bé ngoan, hiếu thảo Em cũng biết lo lắng cho bệnh tình của mẹ (giục mẹ ăn, thấy
thương kính trọng ông của mình Lúc sống trong nhà ông nội, Thu Cúc luôn giữ
lễ nghĩa hiếu thảo, chăm ngoan Chính vì thế mà đến khi nhận nhau, ông Hội đồng hết sức vui mừng và cũng hết sức ân hận Còn Thu Vân, mặc dù là đứa con dâu không được bên chồng thừa nhận nhưng nàng vẫn không chút mặc cảm, nàng cố gắng vượt qua mọi khó khăn, trắc trở để được gặp cha chồng Nàng luôn nghĩ rằng bổn phận của mình là phải đưa con Thu Cúc về với cha chồng để ông cháu gặp nhau và cũng để nàng tạ tội xin cha tha thứ, để mình có dịp làm tròn bổn phận dâu con mà bấy lâu nay nàng không có cơ hội được thực hiện
Trong Cay đắng mùi đời dù thằng Được không phải là con ruột của Ba
Thời Thậm chí thằng Được còn bị chồng Ba Thời bán đi để lấy tiền tiêu xài nhưng không vì thế mà thằng Được đem lòng oán hận cha nuôi và ghét bỏ mẹ nuôi Khi nó đã có tiền, người đầu tiên nó nhớ đến là mẹ nó Nó dùng số tiền ấy
mua quà về cho mẹ nó Thằng Được từ nhỏ đã biết yêu thương mẹ, “hễ mẹ đi khỏi thì ở nhà nó ngóng trông chừng mẹ về thì nó chạy ra mừng, rồi lại thường liếc coi ý mẹ buồn vui cho biết” [26, tr22] Tên Hữu về nhà hành hạ Ba Thời, thằng Được thấy má nó khóc thì nó cũng ứa nước mắt Đến khi biết mình không
phải là con ruột của má nhưng nó vẫn thương má Nó luôn nghĩ trong bụng “dầu ngày sau mình được giàu sang đến bực nào đi nữa cũng chẳng phụ phàng tình
mẹ” [26, tr24] Tuy thằng Được không muốn xa má nuôi nhưng khi nó thấy tía