Nhằm cung cấp thêm những thông tin cần thiết như: đặc điểm hình thái đá tai, mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá, mối tương quan giữa chiều dài đá tai với chiều dài và t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Hà Phước Hùng đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến bổ ích trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin gởi lời cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản đã tạo mọi điều kiện tốt nhất gúp em hoàn thành đề tài và cũng xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô, cán
bộ đang công tác tại Bộ Môn Kinh Tế và Quản Lý Nghề Cá thuộc khoa Thủy Sản đã gúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài cho đến hoàn thành đề tài
Xin bày tỏ lòng kính trọng chân thành đến gia đình và người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất cũng như tinh thần để em hoàn thành đề tài
Cuối cùng xin cảm ơn tất cả các bạn lớp Quản Lý Nghề Cá khóa 33 đã động viên và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Nguyễn Văn Kháng
Trang 3TÓM TẮT
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái đá tai của một số loài cá thuộc học cá chét (Polynemidae) phấn bố ở Bạc Liêu đã thực hiện từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010 Nhằm cung cấp thêm những thông tin cần thiết như: đặc điểm hình thái đá tai, mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá, mối tương quan giữa chiều dài đá tai với chiều dài và trọng lượng thân cá, đặc điểm phát triển tuyến sinh dục,… để làm công cụ hổ trực cần thiết cho việc định loại, phát triển, và bảo tồn đối tượng trong tương lai Qua thời gian thực hiện nghiên cứu, kết quả thu được 3 loài trong họ cá chét Với số mẫu tương ứng
như sau: Cá Chét (gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) có N = 67
cá thể, Cá Chét Bùn có N=1 cá thể, Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis
(Weber & de Beaufort, 1922) có N = 138 cá thể, tất cả lượng mẫu này được
thu từ các chợ, ao đầm, các con sông của tỉnh Bạc Liêu và vùng ven biển Gành Hào của tỉnh Bạc Liêu
Bằng việc ghi nhận và mô tả chi tiết về hình thái đá tai của 3 loài cá Cá Chét
(Gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) thuộc giống cá Chét
Eleutheronema, Cá Chét Bùn, Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis
(Weber & de Beaufort, 1922) thuộc giống Cá phèn sông: Polynemus
(Linnaeus) cho thấy hình thái đá tai của chúng có dạng hình thuôn chữ nhật, hình oval, hình thoi có mặt trong lồi, mặt ngoài lõm, rãnh đá tai lõm và nằm ở mặt trong
Bằng phương pháp hồi qui đã xác định được phương trình tương quan giữa chiều dài đá tai với chiều dài và trọng lượng thân cá, từ đó đã cho thấy được tốc độ tăng trưỡng của đá tai có tương quan với tốc độ tăng trưởng của cá
Từ kết quả của hệ số điều kiện (CF) và hệ số thành thục (GSI) trong thời gian nghiên cứu nhận thấy cá Phèn Vàng là loài cá có sự đẻ trứng vào tháng 10 và tháng 11 trong năm
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, tình hình nguồn lợi và khai thác ở bạc liêu 3
2.1.1 Đặc điểm về vị trí và địa hình của tỉnh Bạc Liêu 3
2.1.2Diện tích, dân cư 3
2.1.3 Địa hình, thổ nhưỡng 4
2.1.4 Tình hình nguồn lợi và khai thác của tỉnh Bạc Liêu 4
2.2 PHÂN LOẠI BỘ CÁ NHỤ (Mugiliformes) 5
2.2.1 Sơ lược về bộ cá nhụ 5
Vị trí phân loại bộ cá nhụ Mugiliformes 5
2.2.2 Đặc Điểm Chung 5
2.2.3 Đặc điểm từng loài 5
2.2.3.1 Loài: Cá Chét (cá Gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) 5
2.2.3.2 Cá Phèn Vàng, Polynemus longipectorali (Weber and de Beaufort, 1922) 7
2.2.3.3 Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus, 1758) 8
2.3 Đặc điểm đá tai của cá 9
2.3.1 Đặc điểm chung về đá tai 9
2.3.2 Cấu tạo của đá tai 10
2.3.3 Mô tả phương pháp lấy đá tai 12
2.3.4 Sự tương quan giữa chiều dài với trọng lượng 13
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Địa điểm nghiên cứu 15
3.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06/2010 đến tháng 12/2010 15
3.3 Vật liệu nghiên cứu: 15
3.4 Phương pháp thu mẫu 16
3.5 Phương pháp cố định mẫu: 16
3.6 Phương pháp phân tích mẫu: 16
Hình 3.2: Sơ đồ phân tích mẫu 17
3.7 Phân tích các đặc điểm: 17
3.8 Phương pháp phân tích đá tai: 18
3.9 Phương pháp để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 18
3.10 Phương pháp sử lý số liệu: 20
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
Trang 54.1 Thành phần các loài cá thuộc họ cá họ cá Chét (Polynemidae) phân bố ở
Bạc Liêu: 22
4.1.1 Cá Chét (cá Gộc) [Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)] 22
4.1.2 Cá chét bùn: (cá nhụ 5 râu) (Polydactylus plebeius, 1782) 23
4.1.3 Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) 24
4.2 Mô tả hình thái đá tai của một số loài cá thuộc Họ Cá Chét (Polynemidae) 25
4.2.1 Loài: Cá Chét (cá Gộc) [Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)] 25
4.2.2 Loài Cá Chét Bùn (cá nhụ 5 râu) (Polydactylus plebeius, 1782) 27
4.2.3 Loài: Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922)) 28
4.3 Quan hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá của một số loài thuộc họ cá chét (Polynemidae) phân bố ở Bạc Liêu 31
4.3.1 Phân tích mối quan hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá của loài cá chét [Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)] .32
4.3.2 Phân tích mối quan hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá của loài cá phèn vàng [(Polynemus longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)] 33
4.4 Quan hệ tương quan giữa chiều dài của đá tai với chiều dài và trọng lượng của thân cá .34
4.4.1 Phân tích mối tương quan giữa chiều dài đá tai và chiều dài thân cá chét (Eleutheronema tetradactylum) (Shaw, 1804) 34
4.4.2 Phân tích mối tương quan giữa chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá chét (Eleutheronema tetradactylum) (Shaw, 1804) .35
4.4.4 Phân tích mối tương quan giữa chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá của Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) .37
4.4.5 Nhận xét chung: 38
4.5 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá phèn vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) 39
4.5.1 Hệ số điều kiện (CF) 40
4.5.2 Hệ số thành thục (GSI) 41
4.5.3 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối 42
Nhận xét chung: 47
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48
5.1 KẾT LUẬN: 48
5.2 ĐỀ XUẤT: 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 6Phụ Lục 3: CÁC KHÓA TRA PHÂN LOÀI (Trần Thị Thu Hương và Trương Thủ Khoa, 1993) 65
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ các tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh lân cận 3
Hình 2.2: Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) 6 Hình 2.3: Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de
Beaufort,1922) 7
Hình 2.4: Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus Nguồn: Fishbase 8
Hình 2 5: vị trí cặp đá tai trong cơ thể cá Nguồn: Fishbase 12
Hình 2.6: Cấu tạo của đá tai Nguồn (Hồ Kim Lợi, 2010) 12
Hình 2.7: Mô tả cách lấy ba cặp đá tai trong khoang sọ của cá (Lawson, 2004) 13
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Bạc liêu 15
Hình 3.2: Sơ đồ phân tích mẫu……… 17
Hình 4.1: Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) 21
Hình 4.2 : Cá chét bùn 22
Hình 4.3: Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922) 23
Hình 4.4: Mô tả cấu trúc đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) 25
Hình 4.5: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) (Nhóm 1) 25
Hình 4.6: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) (Nhóm 2) 26
Hình 4.7: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) (Nhóm 3) 26
Hình 4.8: Mô tả cấu trúc đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Bùn 27
Hình 4.9: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Bùn 27
Hình 4.10 : Mô tả cấu trúc đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922)) 29
Hình 4.11: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922))( nhóm 1) 29
Hình 4.12: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922))( nhóm 2) 30
Hình 4.13: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922))( nhóm 3) 30
Hình 4.14: Mối tương quan giữa chiều dài Lt (cm) và trong lượng W (g) của Cá chét (Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)) 32
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.15: Mối tương quan giữa chiều dài Lt (cm) và trong lượng FW
(g) của Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis (Weber & de
Beaufort, 1922)) 33
Hình 4.16: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai Lo (mm) và chiều dài
thân cá Lt (cm) của loài Cá Chét (Eleutheronema tetradactylum)
(Shaw, 1804) .35
Hình 4.17: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai Lo (mm) và trọng
lượng thân cá W (g) của loài Cá Chét (Eleutheronema tetradactylum)
(Shaw, 1804) .36
Hình 4.18: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai Lo (mm) và chiều
dài thân cá Lt (cm) của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus
longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) 37
Hình 4.19: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai Lo (mm) và trọng
lượng W (g) chủa Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber
and de Beaufort,1922)) 38
Hình 4.20 : Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của loài Cá Phèn Vàng
(Polynemus longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) 40
Hình 4.21: Hệ số điều kiện CF của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus
longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) trong thời gian thực
hiện đề tài 42
Hình 4.22: Sự biến động hệ số thành thục sinh dục (GSI) trung bình
của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de
Beaufort,1922)) 43
Hình 4.23: Mối tương quan giữa trọng lượng thân cá Fw (g) và trọng
lượng buồng trứng Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber
and de Beaufort,1922)) 45
Hình 4.24: Mối tương quan giữa trọng lượng thân cá Fw (g) và sức
sinh sản tuyệt đối (trứng) của Cá Phèn Vàng 46
Hình 4.25: Mối tương quan giữa chiều dài thân cá Fw (g) và sức sinh
sản tuyệt đối (trứng) của Cá Phèn Vàng 47
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963) 18
Bảng4.1: Quan hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá
của một số loài thuộc họ cá chét (Polynemidae) phân bố ở Bạc Liêu. 31
Bảng 4.2: Sự biến động của các giai đoạn thành thục sinh dục của Cá
Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de
Beaufort,1922)) trong thời gian thực hiện đề
tài……… 40
Bảng 4.3: Hệ số điều kiện CF của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus
longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) trong thời gian thực
hiện đề tài 41
Bảng 4.4: Trong thời gian thực hiện đề tài, hệ số thành thục của Cá
Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de
Beaufort,1922)) 43
Bảng 4.5: Sức sinh sản tuyệt đối của loài Cá Phèn Vàng (Polynemus
longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922)) 44
Bảng 4.6: Sức sinh sản tương đối của loài Cá phèn Vàng (Polynemus
longipectoralis)(Weber and de Beaufort,1922) 44
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT A: Số tia vây hậu môn
D1: Số tia vây lưng thứ nhất
D 2: Số tia vây lưng thứ 2
P: Số tia vây ngực
V: Số tia vây đuôi
L T : Chiều dài thân cá (cm)
W T : Trọng lượng thân cá (g)
W O : Trọng lượng không nội tạng (g)
L OL : Chiều dài đá tai bên trái (mm)
L OR : Chiều dài đá tai bên phải (mm)
L OTB : Chiều dài trung bình đá tai (mm)
Trang 11Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Trong những năm gần đây, thủy sản Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể
cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, đạt kim ngạch xuất khẩu đứng đầu trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Theo thông tin từ trang báo điện tử (14/02/2010) thì kết thúc năm 2009, sản lượng thuỷ sản đạt 4847,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2008, trong đó cá đạt 3654,1 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm 537,7 nghìn tấn, tăng 7,2%
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2009 ước tính đạt 2569,9 nghìn tấn, tăng 4,2% so với năm trước, chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộng diện tích nuôi trồng theo hướng kết hợp đa canh, đa con Bên cạnh đó,
mô hình nuôi thuỷ sản lồng, bè tiếp tục phát triển, đặcbiệt là nuôi lồng, bè trên biển ở các tỉnh: Kiên Giang, Quảng Nam, Ninh Thuận, Phú Yên, Hải Phòng Tính chung số lồng bè nuôi thuỷ sản năm 2009 của cả nước đạt 98,4 nghìn chiếc, tăng 12,6 nghìn chiếc (tăng 14,7%) so với năm 2008
Sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2009 ước tính đạt 2277,7 nghìn tấn, tăng 6,6% so với năm trước (tốc độ tăng cao nhất trong 8 năm trở lại đây), trong đó khai thác biển đạt 2086,7 nghìn tấn, tăng 7,2%
Tuy nhiên trước tình hình khai thác bừa bãi hiện nay của các ngư dân, nguồn lợi thủy sản Việt Nam đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, với hơn 241 loài đang bị đe dọa tiệt chủng (Nguyễn Văn Chiêm, 2002) Một số đối tượng có nguy cơ không thể khôi phục lại quần thể ban đầu Trong đó họ cá chét (Polynemidae) là một trong những họ cá đang bị cạn kiệt đáng kể cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Với phẩm chất thịt thơm ngon, có giá trị kinh tế cao, cá chét đang là đối tượng nuôi và khai thác rất có tiềm năng, mang lại nhiều lợi ít kinh tế lớn trong tương lai Tuy nhiên hiện nay cá chét chưa được nuôi rộng rãi nguyên nhân chính là do khó khăn trong khâu kỹ thuật nuôi củng như không có nguồn giống chất lượng tốt
Vì vậy với những nghiên cứu cơ bản làm nền tảng cho những nghiên cứu ứng dụng tiếp theo để đưa đối tượng này trở thành đối tượng nuôi phổ biến là đều cấp thiết hiện nay Một trong những nghiên cứu cơ bản đó là nghiên về đặc điểm hình thái đá tai và những đặc điểm về sinh sản của cá Vấn đề liên quan mật thiết giữa đá tai, đặc điểm sinh sản với sự sinh trưởng, phát triển và vòng đời của cá Bên cạnh đó đá tai còn là công cụ để xác định độ tuổi (champers và Miller, 1995; Fowler và Short, 1998; Stewart, 1999 được trích dẫn bởi Dianne Furlani và ctv, 2007) và thành phần loài (Tovalga và ctv, 1981; Poper và Lu,
Trang 122000, được trích dẫn bởi Dianne Furlani và ctv, 2007) Mặt khác đá tai còn là nguồn tài liệu rất quang trọng trong việc hỗ trợ trực tiếp và chính xác cho công
tác định loại các loài thuộc họ cá chét (Polynemidae) đang phân bố ở Bạc Liêu Do vậy, đề tài; “Đặc điểm hình thái đá tai của họ cá chét
(Polynemidae) và sự phát triển tuyến sinh dục của cá phèn vàng (Polynemus longipectoralis) phân bố ở Bạc Liêu” đã được thực hiện Nhằm
nghiên cứu được sự sinh trưởng và phát triển của các loài cá thuộc họ cá chét
(Polynemidae), thông qua việc phân tích đá tai và đặc điểm phát triển sinh dục
của các loài này hiện đang phân bố ở Bạc Liêu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu này nhằm giúp chúng ta có thêm những hiễu biết về đặt
tính sinh học, sinh sản của các loài cá thuộc họ cá chét (Polynemidae) Từ đó
kết quả sẽ là cơ sở khoa học cho các công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm phục vụ cho công tác định loại, bảo tồn và phát triển đối tượng nuôi trong
tương lai
1.3 Nội dung nghiên cứu
Mô tả các đặc điểm hình thái đá tai của 4 loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae)
Phân tích mối quan hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân
Trang 13Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, tình hình nguồn lợi và khai thác ở bạc liêu 2.1.1 Đặc điểm về vị trí và địa hình của tỉnh Bạc Liêu
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam Phía bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, tây bắc giáp Kiên Giang, tây và tây nam giáp Cà Mau, đông và đông nam giáp biển với 56 km bờ biển
Hình 2.1: Bản đồ các tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh lân cận
2.1.2Diện tích, dân cư
Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 2.520,6 km² và dân số năm điều tra dân số ngày 01/04/2009 là 856.250 người với mật độ dân số 339 người/km² Nếu so với 63 tỉnh, thành phố thì Bạc Liêu đứng thứ 40 về diện tích và thứ 48 về dân số Trên địa bàn Bạc Liêu có 3 dân tộc sinh sống, người Kinh chiếm phần lớn, tiếp đến là người Khmer và người Hoa Theo tài liệu tổng điều tra dân số (1999) thì trong tổng số dân trên địa bàn Bạc Liêu, người Kinh chiếm gần
Trang 1490,0%; người Khmer chiếm 7,9%; người Hoa chiếm 3,1%; các dân tộc còn lại, mỗi dân tộc chỉ có dưới 100 người, thậm chí chỉ có trên dưới một chục người
2.1.3 Địa hình, thổ nhưỡng
Bạc Liêu là vùng đất trẻ, được hình thành chủ yếu do sự bồi lắng phù sa ở các cửa biển tạo nên Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là đất bằng nằm ở độ cao trên dưới 1,2 m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng ngập nước quanh năm Địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và khu vực nội đồng thấp hơn vùng gần bờ biển Trên địa bàn tỉnh có nhiều kênh rạch lớn như kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Bạc Liêu nối với biển bằng cửa Gành Hào, cửa Nhà Mát và cửa Cái Cùng Ngoài phần đất liền còn có vùng biển rộng 40.000 km² Biển Bạc Liêu có tiềm năng hải sản tương đối lớn với 661 loài cá và 33 loài tôm, cho phép đánh bắt mỗi năm 24-
30 vạn tấn cá và khoảng 1 vạn tấn tôm (http://vi.wikipedia.org, 2010)
2.1.4 Tình hình nguồn lợi và khai thác của tỉnh Bạc Liêu
Biển Bạc Liêu nằm trong ngư trường Đông Nam Bộ, có nguồn thủy, hải sản phong phú Toàn tỉnh có 1.070 phương tiện khai thác, đánh bắt thủy sản, nhưng chỉ có 360 phương tiện đánh bắt xa bờ Động vật biển bao gồm 661 loài
cá, 319 giống thuộc 938 họ, trong đó có nhiều loài có trữ lượng và giá trị kinh
tế cao như: tôm, cá hồng, cá gộc, cá sao, cá tha, cá chim, cá đường,…Tôm biển có 33 loài khác nhau, có thể đánh bắt hơn 10.000 tấn/năm Trữ lượng cá đáy và cá nổi hơn 100.000 tần/năm, có thể trở thành nơi xuất nhập khẩu trực tiếp Ngoài ra, tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn thứ hai trong cả nước, với hơn 118.000 ha chỉ đứng sau tỉnh cà mau (http://www.vietlinh.com.vn, 2010)
Thủy sản được khẳng định là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh trong giai đoạn hiên nay củng như những năm tiếp theo Bạc Liêu có tiểm năng rất lớn
về kinh tế thủy sản, tổng sản lượng thủy sản năm 2008 là 204.100 tấn, diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2008 là 125.167 ha, sản lượng nuôi trồng thủy sản là 130.600 tấn bao gồm 65.780 tấn tôm, 64.850 tấn cá Sản lượng thủy sản đánh bắt là 73.500 tấn, trong đó tôm 13.500 tấn, sản lượng cá 60.000 tấn Số lượng tàu thuyền đánh bắt thủy sản là 802 phương tiện với tổng công suất là 99.512CV (Trang thông tin điện tử Bạc Liêu Giới thiệu khái quát về tỉnh Bạc Liêu Cập nhật 12/08/2008)
Trang 152.2 PHÂN LOẠI BỘ CÁ NHỤ (Mugiliformes)
2.2.1 Sơ lược về bộ cá nhụ
Theo Trương Thủ khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) ở Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam thì Bộ cá Nhụ Polynemiformes có 1 họ là Polynemidae Trong đó, họ Polynemidae có 2 giống là Eleutheronema và Polynemus
Loài: Cá Chét (cá Gộc) (Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804))
Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus)
Loài: Cá Phèn Vàng [Polynemus longipectoralis (Weber & de
Kích thước tối đa
Độ dài tối đa: 200 cm, thông thường chiều dài: 50 cm, không giới tính
(Menon, A.G.K and M Babun Rao, 1984), trọng lượng tối đa: 145 kg (Grant,
E.M., 1978)
Trang 16Đặc trưng hình thái
D1: VII D2: I, 15-16 A: III, 16-17 P: 16-17 V: I, 5
Hình 2.2: Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804)
(http://www.fishbase.org) Thân dài và dẹp ngang Mõm nhô ra, miệng rất rộng có răng nhỏ Không có môi trên, răng dưới hạn chế về góc miệng Mắt to, có mi mỡ che kín Thân phủ vảy lược nhỏ Đường bên hoàn toàn Khởi điểm vây hậu môn đối xứng với vây lưng thứ 2 Vây ngực gồm 2 phần Phần trên liền nhau, tia vây không phân nhánh Phần dưới gồm 4 tia rời, tia đầu tiên dài nhất và đến vây bụng Vây đuôi chẻ 2, sâu, hai thùy bằng nhau Phía trên lưng màu xánh bạc, dưới bụng màu trắng Vây lưng và vây hậu môn màu xám, rìa đen Vây bụng và vây hậu môn màu da cam Tia rời vây ngực trắng Có một đốm thẩm trên nắp mang (Mai Đình Yên, 1992)
Môi trường sống
Chủ yếu sống vùng ven biển, vùng nước ngọt, lợ, mặn, độ sâu từ 0-23m (Kailola, P.J., M.J Williams, P.C Stewart, R.E Reichelt, A McNee and C Grieve, 1993) Thức ăn chủ yếu là động vật giáp xác (đặc biệt là tôm)và cá nhỏ (Motomura, H, 2004)
Phân bố
Cá sống chủ yếu ở nước lợ và mặn, rất ít gặp ở nước ngọt Vùng phân bố khá rộng trãi dài từ Trung Quốc đến Thái Lan (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993)
Trang 17Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus)
Kích thước tối đa
Độ dài tối đa: 20 cm, không giới tính (Rainboth, 1996)
Đặc trưng hình thái
D1: VII D2: I, 15-17 A: II, 13 V: I, 5 P: 16-17
Hình 2.3: Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de
Beaufort,1922) Thân dài, hơi dẹp ngang Đầu nhọn ở phía trước, mõm nhô ra, miệng rộng nằm dưới đầu Không có môi trên, môi dưới phát triển Răng dạng long nhung trên mỗi hàm Răng lá mía và răng khẩu cái hai đốm mỗi bên, xếp theo hình vòng cung Mắt nhỏ, có mi mỡ Xương hàm phía sau mỡ to và kéo dài quá bờ sau ổ mắt Đầu phủ vảy Vảy lược hơi lớn trên thân Đường bên hoàn toàn và kéo dài lên cả vây đuôi Vây ngực gồm hai phần Phần trên bình thường và có vảy nách, 7 tia rời ở dưới, 3 tia dài đầu tiên dài gấp đôi chiều dài cá Vây đuôi chẻ 2, sâu, thùy trên dài hơn thùy dưới Khởi điểm vây hậu môn dưới vây lưng thứ 2 Thân màu vàng, lưng thẩm hơn Các vây màu xám nhạt Tia rời vây
Trang 18Môi trường sống
Là loài sống đáy, chủ yếu sống ở các con sông vùng nước ngọt và nước lợ (Riede, K, 2004) Thức ăn là động vật giáp xác, cá nhỏ, và các sinh vật đáy (Motomura, 2004)
Phân bố
Bán đảo Mã Lai, Sumatra và Kalimantan, Việt Nam
Giá trị kinh tế
Cá có thịt ngon, sản lượng tương đối cao, có giá trị kinh tế nhất định
2.2.3.3 Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus, 1758)
Bộ Cá Nhụ: Polynemiformes
Họ Cá Chét: Polynemidae
Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus)
Kích thước tối đa
Độ dài tối đa: 23 cm, thông thương chiều dài: 17 cm, không giới tính (Menon, AGK và M Rao Polynemidae Babun 1984)
Đặc trưng hình thái
D1: VII D2: I, 16 A: II, 12 V: I, 5 P: 16-17
Hình 2.4: Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus Nguồn: Fishbase
Thân thon dài, hơi dẹp bên Đầu nhọn, miệng rộng nằm dưới mõm, rạch miệng kéo dài qua mắt Không có môi trên, môi dưới phát triển Có răng mịn trên cả
2 hàm, xương lá mía và xương khẩu cái củng có răng Mắt có mi mỡ Đầu phủ vảy Thân phủ vảy lược nhỏ Đường bên hoàn toàn kéo dài lên cả vây đuôi
Trang 19Vây ngực gồm 2 phần Phần trên bình thường, có vảy nách, phần dưới gồm 7 tia rời kéo thành sợi dài, 2 tia đầu tiên kéo dài khỏi vây đuôi một đoạn bằng chiều dài chuẩn Tia thứ 3 chỉ kéo dài tới vây đuôi Vây đuôi chẻ 2, rất sâu Khởi điểm vây hậu môn dưới vây lưng thứ 2 Lưng có màu xanh xám, hông và bụng trắng bạc Xương nắp mang màu xám đen Tia rời vây ngực màu đen (Mai Đình Yên, 1992)
Môi trường sống
Là loài sống đáy, Cá sống chủ yếu ở nước lợ và mặn, nhưng cũng thường bắt gặp ở nước ngọt, với độ sâu 0-25m (Motomura, H., S.O Kullander, T Yoshino and Y Iwatsuki, 2002) Thức ăn chủ yếu là trên động vật giáp xác (đặc biệt là tôm), cá nhỏ và sinh vật đáy
Phân bố
Phân bố ở Miến Điện, Ấn Độ, Thái Lan, Mã Lai, ĐBSCL Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Giá trị kinh tế
Thịt ngon, nhưng sản lượng thấp, không có giá trị kinh tế
2.3 Đặc điểm đá tai của cá
2.3.1 Đặc điểm chung về đá tai
Trong thế giới của các loài cá, mỗi loài có những cách truyền đạt và nhận biết thông tin rất riêng Mà một trong những cách truyền đạt thông tin để nhận biết tín hiệu đó là mỗi loài phát ra một loại âm thanh đặt biệt riêng, và để nhận biết được những âm thanh phứt tạp trong thế giới của chúng thì cá phải có cấu tạo tai trong hoàn chỉnh, trong đó đá tai là một trong những bộ phận then chốt Đá tai có cấu tạo bằng xương, nó phản ứng với những sóng âm khác với phản ứng của cơ thể nó Chuyển động nhỏ của đá tai kích thích những lông tơ ở tai trong, từ đó truyền tín hiệu thần kinh lên nảo Tai trong củng rất quan trọng trong việc giữ thăng bằng cho cá, trong đó đá tai là trung tâm của chiếc la bàn hồi chuyển của cá Những chuyển động của đá tai thông tin cho nảo cá biết được tốc độ và hướng di chuyển của cá
Đá tai phát triển bởi các tích tụ liên tục của các lớp cacbonat canxi Trong thời gian lắng đọng, một số nguyên tố tích tụ trong đá tai tương ứng với nồng độ nước biển, mặc dù các tỷ lệ có thể thay đổi theo nhiệt độ và độ mặn (Campana
et al, 1994 Fowler et al., 1995) Vì vậy, những thành phần nguyên tố có trong
đá tai có thể phản ánh điều kiện môi trường nước tại thời điểm cá sinh sống
Trang 20Đá tai tăng tích tụ một chu kỳ hàng ngày của vật chất ở mức điển hình của 1-5
μm mỗi ngày
Đá tai tích tụ oxy đồng vị theo tỷ lệ khác nhau phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường vì vậy nó phản ảnh nhiệt độ nước trong thời gian cá sống ở đấy Đá tai của cá hoá thạch hiện nay được dùng để xác định nhiệt độ thời tiền sử Tỷ lệ thành phần chất đồng vị ổn định trong đá tai có thể chỉ ra cá này là loài ăn cỏ,
ăn tạp hay ăn thịt và còn chỉ ra nguồn quang hợp sơ cấp trong chuổi thức ăn của nó (thí dụ như có phải tảo hay thực vật cao cấp hơn là thức ăn chủ yếu của
nó hay không) và các ứng dụng rất có ít khác trong quản lý nghề cá như định loại, xác định tuổi và tốc độ tăng trưởng…
Có nhiều hình dạng khác nhau và kích cỡ của đá tai giữa các loài khác nhau
Đá tai quan trọng đối với việc xác định tuổi tác và nghiên cứu sự tăng trưởng của cá đối với các nhà khoa học Con số này cho thấy các vòng tăng trưởng của một bộ phận đá tai có hình giống mui đã được xem dưới ánh sáng phản chiếu Diện tích tối hơn hoặc "khu mờ" đại diện cho một giai đoạn tăng trưởng nhanh Diện tích trắng hay "khu đục" đại diện cho một giai đoạn tăng trưởng chậm hơn
Một số hình dạng đá tai thường gặp
Hình thoi Obvate Panhvàle Tròn
Tam giác Thuôn chữ nhật Hình vuông Oval
2.3.2 Cấu tạo của đá tai
Đá tai (Otoliths) là cấu trúc cacbonat canxi nằm trực tiếp phía sau não của các
loài cá xương
Đá tai bao gồm chủ yếu là khoáng aragonite, là một dạng của cacbonat canxi (Degens et al., 1969) Chúng cũng chứa từ 0,2 – 10% chất hữu cơ ở dạng của một protein được gọi là otolin Otolin có trọng lượng phân tử trên 150000 và
Trang 21được đặc trưng bởi sự phổ biến cao của axit aspartic và glutamic, sự hiện diện của cystine và hydroxyproline, và một lượng ở mức thấp của axit thơm và axit amin (Degans et al., 1969)
Có ba cặp đá tai trong mỗi cá thể, tất cả đều trợ giúp cá trong sự cân bằng và điều chỉnh cơ thể: i) Sagitta-lớn nhất trong 3 cặp đá tai; tham gia vào việc phát hiện các âm thanh và quá trình xử lý, hoặc chuyển đổi các sóng âm thanh thành tín hiệu điện; ii) Asteriscus-tham gia vào việc phát hiện các âm thanh và quá trình xử lý; iii) Lapillus-tham gia vào việc phát hiện của lực hấp dẫn và
âm thanh (Popper và Lu.2000)
Đá tai tiếp nhận thông tin nhờ những sợi lông tơ nhỏ của các biểu mô cảm giác
và bề mặt của đá tai (Popper và Coombs, 1982; Popper, 1983) Màng otolithic duy trì vị trí của đá tai đối với các biểu mô cảm giác, trong khi cho phép hai cấu trúc di chuyển độc lập với nhau (Poper và Coombs,1980) Hầu hết tất cả các loài cá thì 3 cặp đá tai đều nằm trong 3 túi Mỗi cấu trúc túi là đá tai riêng của nó, đá tai của utriculus thì được gọi là lapillus, đá tai của saccalus thì được gọi là sagitta, và đá tai của legena thì được gọi là asteriscus Lapillus là hình thái điển hình ít biến đổi Sagitta và asteriscus là cả 2 hình thái biến đổi cá, với asteriscus sự hiện diện của nó biến đổi và phát triển lớn nhất ở ostariophysine teleosts, và sagitta thì ở nonostariophysine teleosts (Platt and Popper, 1981) Sagittae thường có dạng hình bầu dục và dẹt theo chiều ngang với vành trơn hoặc vành crenulated Sagittae thì có tiến trình phát triển rất tốt hoặc các vành cao không đều Mặt bên của sagitta thường không đều Các mặt trung gian thường nhẵn và hầu như được xác định rõ, gọi là các tính năng thường xuyên Nolf (1985) đã trình bày 1 bảng tóm tắt thuật ngữ được sử dụng để mô tả bộ mặt trung gian, tuy nhiên, không có thuật ngữ phát triển để mô tả mặt bên của sagitta Một rãnh sâu hình thành nơi macula tiếp xúc với mặt trung gian của sagitta thì được gọi là sulcus Nó thường có hình dạng giống như macula (Gauldie, 1988) và hình thái khác nhau từ 1 trong những nhóm kế khác nhau Sulcus có thể được chia thành 2 vùng, vùng phía trước được gọi là ostium và khu vực phía sau được gọi là cauda Trong acanthopterygians ostium thì thường mở rộng và có hình bầu dục, caudau thì hơi thon dài, giống như một cái đuôi (Nolf, 1985)
Trang 22Hình 2.5: vị trí cặp đá tai trong cơ thể cá Nguồn: Fishbase
Hình 2.6: Cấu tạo của đá tai Nguồn (Hồ Kim Lợi, 2010)
2.3.3 Mô tả phương pháp lấy đá tai
Ta có đầu cá như hình a Sau đó dùng dao mổ cắt dọc theo đường giữa đầu cá như hình b và hình c Sau đó, lấy hết phần óc cá ra ngoài thì ta sẽ thấy được vị trí của ba cặp đá tai như hình d Thông thường, các nhà nghiên cứu chỉ sử
dụng cặp đá tai chính (sagitta) để nghiên cứu, bởi vì đây chính là cặp đá tai lớn
nhất trong số ba cặp đá tai, thuận lợi trong công tác nghiên cứu Đá tai sau khi
lấy ra khỏi đầu cá thì sẽ được làm khô để không còn các chất dịch và máu cá,
Vị trí đá tai trong cơ thể cá nhìn ngang
Vị trí đá tai trong cơ thể cá
nhìn từ trên xuống
Trang 23và sẽ được rửa sạch lại bằng cồn Êtylic 700 để loại trừ các mô liên kết, sau đó được bảo quản trong lọ kính
Hình 2.7: Mô tả cách lấy ba cặp đá tai trong khoang sọ của cá (Lawson, 2004)
Đá tai sau khi thu thập sẽ được cân trọng lượng và đo chiều dài đồng thời mô
tả các đặc điểm về hình thái của đá ta thông qua ảnh chụp dưới kính lúp theo
phương pháp của Harkonen (1986)
2.3.4 Sự tương quan giữa chiều dài với trọng lượng
Mối quan hệ giữa chiều dài với trọng lượng có tầm quan trọng trong nghiên cứu như: Goncalves et al., 1996; Bolger và Connoly, 1989; Erkoyuncu, 1995; King, 1996; Moutopoulos và Stergiou, 2000)
Chiều dài và trọng lượng có sự thay đổi thì độ tuổi của các loài cá cũng thay đổi
Sử dụng để ước tính tỷ lệ tử vong
Sử dụng để đánh giá tỷ lệ sống
Mối quan hệ giữa chiều dài cá với trọng lượng thì được giải thích bởi một phương trình cân bằng và được xác định bằng một phương trình hồi quy tuyến
Trang 24tính của số liệu được ghi nhận về chiều dài cá và trọng lượng cá (Ricker,1975)
Sự khác biệt về giá trị tăng trưởng có thể là sự kết hợp của một số yếu tố sau: (Tesch, 1971; Wootton, 1998)
Sự khác biệt trong số lượng mẫu
Kỹ thuật bảo quản
Sự khác biệt trong phạm vi quan sát
Trang 25Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 3.1 Địa điểm nghiên cứu
Các khu vực ven sông, ven biển và các chợ thuộc các huyện của tỉnh Bạc Liêu
3.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06/2010 đến tháng 12/2010
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Bạc Liêu 3.3 Vật liệu nghiên cứu:
Giang
Cà Mau
Sóc Trăng
Cần Thơ Kiên
Trang 26 Kim mũi giáo
3.4 Phương pháp thu mẫu
Mẫu đã được thu theo định kỳ hàng tháng mỗi tháng 2 lần và thu từ tháng 06/2010 đến tháng 10/2010
Thu mẫu được 3 loài: loài Cá Chét Eleutheronema tetradactylum (Shaw,
1804) thu được 67 cá thể., Cá Chét Bùn thu được 1 cá thể, Cá Phèn Vàng thu được 138 cá thể
Thu cá tại các chợ, ao đầm và của một số ngư dân khai thác cá
3.5 Phương pháp cố định mẫu:
Mẫu cá sao khi thu đã được ướp lạnh và được mang về phòng thí nghiệm nguồn lợi của khoa Thủy Sản-Trường Đại Học Cần Thơ để cân trọng lượng, đo chiều dài, định danh, lấy đá tai sau đó bảo quản trong dung dịch formol để làm mẫu vật
3.6 Phương pháp phân tích mẫu:
Cá thu về đã được xác định trọng lượng toàn thân, chiều dài tổng, chiều dài chuẩn, chiều dài chạc của thân cá và mỗ ra lấy đá tai để đo chiều dài, chiều rộng, trọng lượng Quy trình các bước như sau:
Trang 27Hình 3.2: Sơ đồ phân tích mẫu 3.7 Phân tích các đặc điểm:
Xác định mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá được thực hiện bằng cách: mẫu thu sẽ cân khối lượng, đo chiều dài và thiết lập mối tương quan theo phương pháp của kinh (1995) bằng công thức:
Trong đó:
W: trọng lượng (g) L: chiều dài (mm) b: hệ số tăng trưởng a: hằng số tăng trưởng ban đầu
Thiết lập mối tương quan giữa chiều dài đá tai và chiều dài thân cá theo phương pháp của Harkonen (1986):
Lt = c + d*Lo
Trong đó:
Lt: chiều dài thân cá (mm)
Lo: chiều dài đá tai (mm) c,d: hằng số
Thiết lập mối tương quan giữa chiều dài đá tai và trọng lượng cá theo phương pháp của Harkonen (1986) bằng công thức:
Cân đo chiều dài, trọng lượng cá
Mẫu cá sau khi thu
Trang 28W: trọng lượng cá (g)
Lo: chiều dài đá tai (mm) g: hằng số
h: số mũ
3.8 Phương pháp phân tích đá tai:
Phương pháp lấy đá tai: Dùng dao cắt đầu để lấy đá tai, sau khi cắt đứt hộp sọ
và lấy não ra, dùng kim mũi giáo lấy đá tai ra ngoài, đá tai của cá nằm ở 2 khe nhỏ dưới não Khi thu đá tai xong thì rữa sạch bằng cồn để loại bỏ các mô liên kết, sau đó được bảo quản trong tip kín Sau đó cân, đo và thiết lập mối quan
hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng đá tai với chiều dài và trọng lượng cá
3.9 Phương pháp để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Khi khảo sát sự phát triển của tuyến sinh dục, có thể chọn bất cứ bậc thang thành thục nào theo chủ ý của người quan sát, tuy nhiên mục tiêu chính là nhằm định kỳ khảo sát một số lượng lớn mẫu trong những khoảng thời gian nhất định để có được một hình ảnh rõ ràng về giai đoạn thành thục và những thay đổi của quần thể cá tại thời điểm khảo sát Hơn nữa, các bậc thang thành thục còn được sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng thành thục của tuyến sinh dục trong điều kiện ít trang thiết bị khảo sát và cho phép khảo sát một số lượng lớn mẫu ngoài hiện trường
Xác định trọng lượng tuyến sinh dục và giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục từng cá thể theo Nikolsky, 1963 (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Nikolsky (1963) đã đưa ra một bậc thang tổng hợp hơn để có thể sử dụng rộng rãi ngoài hiện trường với 6 giai đoạn
Trang 29Bảng 3.1: Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963)
I Cá thể non, chưa thành thục sinh dục
II Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không
nhìn thấy hạt trứng
III Giai đoạn thành thục Bằng mắt thường nhìn thấy những hạt
trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào
có màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt
IV Giai đoạn chín muồi Tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất,
nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa xảy ra
V Giai đoạn đẻ trứng các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ
vào bụng cá Khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng giảm đi rất nhanh
VI Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được phóng
thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại,
ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng
- Xác định số lượng trứng bằng cách đếm toàn bộ số lượng trứng ở giai đoạn
IV trở lên có trong buồng trứng
- Phân tích kết quả trong mối hệ tương quan với các chỉ tiêu chiều dài trọng lượng thân, sức sinh sản tuyệt đối và tương đối
+ Phân tích sức sinh sản tuyệt đối theo công thức của Bagenad (1967):
g
G n
Trong đó:
F : là sức sinh sản tuyệt đối
n : là số lượng trứng giai đoạn IV trở lên trong mẫu đại diện
Trang 30FA :là sức sinh sản tương đối
F : là sức sinh sản tuyệt đối
W : là trọng lượng cá (g) Ngoài ra mối tương quan giữa sức sinh sản (F), chiều dài tổng (TL), trọng lượng thân (BW) và trọng lượng buồn trứng (GW), cũng xác định bằng phương pháp hồi qui
Ngoài ra, Hile (1936) và Beckman (1948) đã đề xuất công thức để tính hệ số điều kiện như sau:
bL
W
CF
Trong đó:
CF: là hệ số điều kiện W:là trọng lượng thân cá (g)
L: là chiều dài toàn thân cá (cm)
Xác định hệ số thành thục (GSI) theo công thức :
100 (
(%) WG/ WN)
GSI
Trong đó:
GSI: là hệ số thành thục sinh dục Wg: là trọng lượng tuyến sinh dục Wn: là trọng lượng không nội quan
3.10 Phương pháp sử lý số liệu:
Dùng kiểm định t-test để thống kê sự khác nhau giữa đá tai bên trái và
đá tai bên phải
Trang 31 Dùng kiểm định hồi quy để so sánh tốc độ tăng trưỡng khác nhau giữa các loài
Tất cả các số liệu thu thập được sẽ xử lý dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn bởi phần mềm Microsoft excel 2003
Dùng phần mềm Microsoft Word 2003 để viết báo cáo
Trang 32Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần các loài cá thuộc họ cá họ cá Chét (Polynemidae) phân bố
có số lượng tương đối và trữ lượng khai thác củng tương đối Là loài cá rất được người dân ưu thích bởi chất lượng thịt thơm ngon của nó Đây là loài có giá trị kinh tế
Trang 33sâu Phía trên lưng màu xánh bạc, dưới bụng màu trắng Vây lưng và vây hậu môn màu xám, rìa đen Vây bụng và vây hậu môn màu vàng cam Tia rời vây ngực trắng Có một đốm thẩm trên nắp mang
4.1.2 Cá chét bùn: (cá nhụ 5 râu) (Polydactylus plebeius, 1782)
Hình 4.2 : Cá Chét Bùn (cá nhụ 5 râu) (Polydactylus plebeius, 1782)
Qua kết quả thu thập trong thời gian thực hiện đề tài cho thấy: Đây là loài cá
có ngoại hình khá giống với cá chét (cá Gộc) (Eleutheronema tetradactylum
(Shaw, 1804) Chất lượng thịt khá ngon Đây là loài cá rất ít ở vùng nước lợ,
mặn của khu vực ao đầm, cửa sông và vùng ven biển ở Bạc Liêu Trong suốt thời gian thực hiện đề tài chỉ thu được 1 cá thể
Hình dạng bên ngoài: Thân dài, hình trụ hơi dẹp ngang Mõm nhô ra, miệng rất rộng có răng nhỏ Không có môi trên, răng dưới hạn chế về góc miệng Mắt to, có mi mỡ che kín Thân phủ vảy lược nhỏ Có đường bên Toàn thân màu xám, xám sậm phía trên lưng và dần trắng bạc về phía dưới bụng Khởi điểm vây hậu môn hơi lùi về sau so với vây lưng thứ 2 vây ngực gồm 2 phần,
Trang 34phần trên liền nhau và có màu đen Phần dưới gồm 5 tia rời Các rìa của vây lưng, vây đuôi có màu đen, rìa vây đuôi kéo dài ra phía sau
4.1.3 Cá Phèn Vàng (Polynemus longipectoralis)(Weber and de
Beaufort,1922))
Bộ Cá Nhụ: Polynemiformes
Họ Cá Chét: Polynemidae
Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus)
Loài: Cá Phèn Vàng [Polynemus longipectoralis (Weber and de
Beaufort,1922)]
Qua kết quả thu thập trong thời gian thực hiện đề tài cho thấy: Đây là loài cá rất phổ biến ở bạc liêu Chúng xuất hiện quanh năm và xuất hiện đều theo các tháng Là loài cá rất được người dân ưu thích vì chất lượng thịt thơm ngon của
nó Là loài có giá trị kinh tế
Đặc điểm hình thái:
D1: VII D2: I, 16 A: II, 12 V: I, 6 P: 15
Hình 4.3: Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de
Beaufort,1922) Thân dài, hơi dẹp ngang Đầu nhọn ở phía trước, mõm nhô ra, miệng rộng nằm dưới đầu Không có môi trên Răng dạng long nhung trên mỗi hàm Răng
lá mía và răng khẩu cái hai đốm mỗi bên, xếp theo hình vòng cung Mắt nhỏ,
có mi mỡ Xương hàm phía sau mỡ to và kéo dài quá bờ sau ổ mắt Đầu phủ vảy Vảy lược hơi lớn trên thân Đường bên hoàn toàn và kéo dài lên cả vây đuôi Vây ngực gồm hai phần Phần trên liền nhau có màu vàng ở đầu vây và đen về phía sau, 7 tia rời ở dưới, 3 tia dài đầu tiên dài gấp đôi chiều dài cá
Trang 35Vây đuôi chẻ 2, sâu, thùy trên dài hơn thùy dưới Khởi điểm vây hậu môn dưới vây lưng thứ 2 Thân màu vàng, lưng thẩm hơn Các vây màu xám nhạt Tia rời vây ngực có màu đen
4.2 Mô tả hình thái đá tai của một số loài cá thuộc Họ Cá Chét (Polynemidae)
4.2.1 Loài: Cá Chét (cá Gộc) [Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)]
Loài cá chét thu được N = 67 cá thể, trong đó có chiều dài và trọng lượng từng
cá thể khác nhau và được chia ra làm 3 kích cở để quan sát:
Nhóm 1: Chiều dài thân cá từ 13,2 ≤ LT ≤ 18,7 cm
Nhóm 2 : Chiều dài thân cá từ 19 ≤ LT ≤ 20,9 cm
Nhóm 3: Chiều dài than cá từ 21 ≤ LT ≤ 42 cm
Qua kết quả thu thập trong thời gian thực hiện đề tài cho thấy có sự khác nhau giữa các đá tai trong từng giai đoạn phát triển của cá, từng giai đoạn thì đá tai hình thành những dạng biến đổi khác nhau nhưng rất nhỏ Nhưng nhìn chung
đá tai của cá chét có các đặc điểm chung ở mặt ngoài như sau: Hình dạng ngoài có hình thuông chử nhật, phần nhọn nhô ra nhất là phần chủy của đá tai Phía bên trên có một đường ngăn cách giữa phần lõm của rảnh và phần hơi bằng là đối chủy, phần đối diện với phần chủy là phần đuôi, ở phần đuôi hơi vuốt nhọn như một chiếc lá Phía trên đối chủy là phần lưng, mép lưng có những đường nhô lên và lõm xuống, nhìn cắt tiết diện thì trông giống như một đường cong với những răng cưa tạo thành hình vòng cung Phía đối diện với phần lưng là phần bụng, mặt của mép bụng thì nhẳn hơn so với mép lưng, nhìn cắt tiết diện thì là một đường hơi uốn cong và kết hợp với mép lưng tạo thành hình thuông chử nhật Chính giữa trung tâm đá tai là một rãnh lõm xuống sâu
và kéo dài khoản 3/4 đa tai, đây là rãnh trung tâm của đá tai Phần đuôi của rãnh thì lõm hơi cạn và dốc xuống sâu dần về phía miệng rãnh Mặt ngoài của
đá tai là một mặt cong lõm tương đối nhẵn trên bề mặt
Trang 36Hình 4.4: Mô tả cấu trúc đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema
tetradactylum(Shaw, 1804)
Nhóm 1: Quan sát mẫu đá tai có chiều dài thân cá từ 13,2 ≤ LT ≤ 18,7 cm thấy như sau: Mép bụng có những hình răng cưa nhiều, tương đối đều, nhìn cắt tiết diện có đường cong uống bụng Mép lưng có hình răng cưa không đều, nhìn cắt tiết diện thì có hình vòng cung úp từ trên xuống Phần đuôi không vuốt về phía sau Ở phần đầu thì chủy nhô nhọn về phía trước Được thể hiện rõ như hình sau:
Hình 4.5: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema
tetradactylum(Shaw, 1804) (Nhóm 1)
Nhóm 2 : Quan sát mẫu đá tai có chiều dài thân cá từ 19 ≤ LT ≤ 20,9 cm thấy như sau: Mép bụng tương đối nhẳn so với nhóm 1, ở giữa lưng có điểm nhô cao lên tạo thành một vòng cung hình nón úp xuống Mép lưng có những hình răng cưa thưa, ít và thấp hơn so với nhóm 1, đối chủy không còn nhô nhọn ra
mà tương đối bằng, phần đuôi thì nhọn về phía sau Như hình:
Trang 37Hình 4.6: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema
và vuốt nhọn về phía phần đuôi
Hình 4.7: Ảnh đá tai (Sagitta) của loài Cá Chét Eleutheronema
tetradactylum(Shaw, 1804) (Nhóm 3)
4.2.2 Loài Cá Chét Bùn (cá nhụ 5 râu) (Polydactylus plebeius, 1782)
Đây là loài cá còn lại rất ít ở các vùng ao đầm, sông và vùng ven biển ở Bạc
Liêu Tuy ngoại hình của loài cá này khá giống với cá chét (Eleutheronema
tetradactylum (Shaw, 1804)) Nhưng đá tai của loài này rất khác biệt so với cá
chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) Đặc điểm đá của nó như sau:
Có dạng hình Oval Phần mép bụng có răng cưa đều và cong uống vòng cung Đối diện với mép bụng là mép lưng, mép lưng có hình răng cưa nhưng không đều Ở giữa mép lưng nhô cao tạo thành hình nón úp xuống kết hợp với mép bụng tạo thành hình Oval Phần đầu nhô nhọn ra phía trước Từ tính từ đỉnh hình nón đến phần đầu nhọn ra thì chủy nằm ở đoạn 1/3 tính từ mép bụng lên