1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn một số BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT cố đô của KAWABATA YASUNARI

73 290 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 530,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phẩm của Kawabata tôi lại cảm thấy các âm thanh xung quanh tựa hồ như lắng đi, không khí bỗng trở nên trong trẻo, còn tôi thì hòa tan vào trong đó.”Yukio Mishima trong Lời giới thiệu cuố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN

- -NGUYỄN THANH VŨ

MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT

CỐ ĐÔ CỦA KAWABATA YASUNARI

Luận văn tốt nghiệp Đại học

Ngành Sư phạm Ngữ văn

GVHD: Phạm Hoàng Nghĩa

Cần Thơ, 5/ 2013

Trang 2

PHẦN 1:

MỞ ĐẦU

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có những nét đặc sắc riêng về văn hóa

và yếu tố tạo nên sắc diện văn hóa đó chính là các biểu tượng Con người tư duy bằngbiểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng và thể hiện tâm tư, tình cảm sâu kín nhất cũngnhư những thăng hoa, những khát vọng của mình cũng bằng những biểu tượng Vì thếkhi ta lí giải được những biểu tượng văn hóa có nghĩa là ta đã tìm thấy những giá trịkhoa học và nhân văn của cả dân tộc

Là một độc giả yêu thích nền văn học Nhật Bản đặc biệt là thể loại tiểu thuyếtNhật trong thời kì đổi mới, bản thân tôi đã đọc rất nhiều tá c giả nhưng ấn tượng sâuđậm nhất với tôi là tác giả Kawabata Tác phẩm của ông rất độc đáo và mới lạ, vănphong tao nhã, mượt mà, giàu chất thơ do kế thừa sâu sắc từ dòng văn học thời Heianvới một nền văn hóa ngọt ngào nữ tính

Trong ba nền văn hoá lớn của phương Đông, nếu Ấn Độ được coi là duy linh,Trung Quốc duy lí, thì Nhật Bản lại rất duy mĩ, duy tình Văn hóa Nhật thiên về tìnhcảm và cái đẹp Chính vì thế, trong từng văn phẩm của Kawabata cái đẹp luôn được cangợi, đề cao và trân trọng Sự tiếp nối và ngợi ca cái đẹp của thế gian là đóng gópkhông nhỏ mà Kawabata dành cho nền văn học nghệ thuật Phù Tang Đề cập đến quan

niệm cái đẹp của Kawabata, Fedorenco nhận xét: “Kawabata thường hay nói đến vẻ đẹp Nhật Nhà văn muốn nhấn mạnh không phải cái cảm giác bình thường mà là cảm giác đặc biệt về cái đẹp Thậm chí không phải đi tìm mà nhìn vào, nhìn một cách tò

mò chăm chú, để phát hiện ra cái đẹp bên trong.”

Thế giới biểu tượng và những tinh hoa vẻ đẹp Nhật được Kawabata thể hiện vô

cùng độc đáo và sâu s ắc qua tiểu thuyết Cố đô - một trong ba văn phẩm đoạt giải

Nobel vào năm 1968 Thông qua những biểu tượng cụ thể trong tác phẩm Kawabata

đã giới thiệu với bạn đọc hình ảnh một nước Nhật đẹp hài hòa, cổ kính, một nước Nhậtvới những con người khoan hòa, trầ m lặng Với họ, ngôn ngữ của sự im lặng nhiều khi

có ý nghĩa hơn cả lời nói Cả một nền văn hóa Phù Tang được lưu chuyển trong từngdòng văn mượt mà được người nghệ sĩ Kawabata gửi gắm Đó là một nền văn hóatruyền thống, lâu đời, một nền văn hóa đậm đà tính nhân văn và nhân hậu

Chính vì những lí do trên chúng tôi đã quyết định lựa chọn và tiến hành nghiên

cứu “Một số biểu tượng trong tiểu thuyết Cố đô” với mong muốn sẽ tìm ra những giá

trị tìm ẩn, khuất lấp sau những biểu tượng cũng như mối liên hệ giữa c húng Với đề tàinày, người viết bước đầu khám phá bản sắc văn hóa và đặc trưng tư duy cùng tầng sâu

Trang 4

thẳm tâm hồn con người đảo quốc Phù Tang dựa trên tiêu thức biểu hiện tín ngưỡngcái Đẹp của người lữ khách Kawabata.

2 Lịch sử vấn đề

Giải Nobel văn học năm 1968 trao cho Kawabata Yasunari đã chứng tỏ vănchương Kawabata mang tầm vóc bậc thầy thế giới với tài năng và phong cách nghệthuật độc đáo

Bách khoa toàn thư Nhật Bản (Encyclopedia of Japan) đã đánh giá cao các

tác phẩm của Kawabata Mục Kawabata Yasunari đã khẳng định thái độ coi trọng giá

trị truyền thống, “cũng có nghĩa ông coi trọng cái chết, sự suy tàn bằng cách thương xót hơn là chấp nhận” Như vậy, chủ nghĩa duy mỹ không hề phai mờ trong

Kawabata, ông hướng tới cái đẹp bằng một niềm tin gần như tuyệt đối

Cũng là đề cao nghệ thuật của Kawabata Trong Hướng dẫn người đọc đến với văn học Nhật Bản, J Thomas Rimer cũng đã viết: “Mặc dù có những gợi ý về một

triết lý thẩm mỹ phức tạp phía sau văn bản, tiểu thuyết vẫn có một sự lôi cuốn tức thời,

cả trong màu sắc hình ảnh, lẫn trong sự nhạy bén tâm lí thể hiện những đoạn đối thoại khác nhau tạo nên nhịp điệu cho câu chuyện Ngôn ngữ của Kawabata kiệm lời nhưng lại rất gợi cảm…” Kawabata được đánh giá cao về nghệ thuật viết truyện, nhất

là khả năng gợi cảm của ngôn từ “có thể làm lu mờ khả năng của bất kì camera nào”

Một công trình khá nổi bật nghiên cứu về Kawabata nhưng lại chủ yếu lí giải

phương pháp sáng tác của nhà văn, đó là: Kawabata Yasunari: Sự giao hòa giữa bài

ca cổ điển phương Đông với nhữ ng kĩ thuật tiên tiến Tác giả là Setsuko Tsutsumi đã

tập trung lí giải, tìm hiểu tác phẩm, tác giả ở phương diện phương pháp sáng tác dựatrên sự kết hợp của văn hóa, mỹ học, triết học… Nhật Bản Là một luận án Tiến sĩ củangười Nhật về văn hóa văn học Phù Tang tại trường Đại học Washington, nên cáchtiếp cận và thể hiện cội nguồn dân tộc lẫn văn hóa truyền thống Phù Tang của ngườiviết rất tường tận, tỉ mỉ rất đáng quan tâm

Tôn vinh Yasunari Kawabata tại lễ trao giải Nobel văn học năm 1968, Anders

Usterling đã ca tụng nghệ thuật viết văn của Kawabata: “Tác phẩm của Kawabata làm

ta nhớ đến hội họa Nhật Bản; ông là kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhiên và thân phận con người” [1;

958] Rõ ràng, với Kawabata cái đẹp luôn gắn bó với nỗi buồn trong quan hệ tương

hỗ, điều này cũng xuất phát từ ý niệm mỹ học truyền thống Nhật Bản, cái đẹp sẽkhông đầy đủ nếu thiếu nỗi buồn

Tuy niềm bi cảm aware là một phẩm chất thẩm mỹ đặc biệt của nhà văn để ông

được mệnh danh là “Người lữ khách ưu sầu đi tìm cái đẹp” nhưng văn phong trong

trẻo, tinh tế của Kawabata vẫn là điểm dừng của biết bao nhà nghiên cứu Nhà văn vô

sản Aono Xuetuti trong cuốn Các nhà văn Nhật hiện đại tâm sự: “Mỗi lần đọc tác

Trang 5

phẩm của Kawabata tôi lại cảm thấy các âm thanh xung quanh tựa hồ như lắng đi, không khí bỗng trở nên trong trẻo, còn tôi thì hòa tan vào trong đó.”

Yukio Mishima trong Lời giới thiệu cuốn Ngôi nhà của những người đẹp say

ngủ và những truyên khác (House of the Sleeping B eauties and other stories),

(Edward Seidensticker dịch ra tiếng Anh xuất bản ở NewYork) cũng đã đưa ra nhữngnhận xét sâu sắc về văn phong cũng như đề tài, tư tưởng của tác giả: Sự bất tử, cáichết, dục tính lại được đặt cạnh nhau một cách hoàn hảo trong câu chuyện có nhiều ẩn

dụ, biểu tượng và văn phong dòng ý thức

Bài viết Kawabata – con mắt nhìn thấu cái đẹp của nhà nghiên cứu người Nga

N Fedorenco được Thái Hà dịch ra tiếng Việt như một bức tranh cuộn Nhật Bản thugọn thiên nhiên, con người vùng Kamak ura, cùng Kawabata với các hoạt động đờithường cùng sinh hoạt nghệ thuật đồng thời chấm phá vài quan niệm nghệ thuật

Fedorenko khẳng định: “Chất thơ trong văn xuôi, ngoài ngôn từ điêu luyện, suy nghĩ giàu chất nhân đạo, thái độ trân trọng đối với con ngư ời và thiên nhiên đối với các truyền thống nghệ thuật dân tộc tất cả những cái đó làm cho sáng tác của Kawabata trở thành hiện tượng xuất sắc trong văn học Nhật và văn học thế giới”

Nhìn tổng thể cái đẹp, nỗi buồn, chất thơ là những vấn đề được đánh giá caotrong sáng tác của Kawabata Người Việt tập trung nghiên cứu vào những mảng nhưphong cách, cái nhìn, nhịp điệu, ngôn ngữ… trong cái nhìn vốn có sẵn đó

Một năm sau khi Kawabata đặt tay lên giải Nobel văn học, ở Việt Nam đã xuấthiện một số bài nghiên cứu, giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Y Kawabata

Đáng kể là công trình nghiên cứu Yasunari Kawabata, cuộc đời và tác phẩm

của Phó giáo sư Lưu Đức Trung Tác phẩm đi sâu phân tích tư tưởng, cuộc đời, tácphẩm cùng những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến con đường nghệ thuật của Kawabata

“Chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu” được kế thừa từ dòng văn Nữ lưu thời

Heian là phong cách nỗi bật của Kawabata Và khẳng định “Kawabata là nhà văn rấtcoi trọng ngôn ngữ Ngôn ngữ của ông mẫu mực về phong cách N hật: ngắn gọn, súctích, sâu sắc Câu văn mang nhiều biểu tượng và ẩn dụ kì diệu như thơ nhạc”

Phó giáo sư Lưu Đức Trung vẫn tiếp tục viết về phong cách của Kawabata

trong bài viết Thi pháp tiểu thuyết Yasunari Kawabata, nhà văn lớn của Nhật Bản

trên tạp chí Văn học khẳng định, thi pháp tiểu thuyết Kawabata là thi pháp chânkhông, vốn là đặc trưng của thơ haiku Hầu hết các bài nghiên cứu của Phó giáo sư đãthâu tóm được đặc trưng nghệ thuật của Kawabata, gần với thế giới biểu tượng trongsáng tác của Kawabata hơn cả!

Các bài viết khác về Kawabata cũng có ý nghĩa không nhỏ trong việc hoànchỉnh chân dung văn học của nhà văn này tại Việt Nam Năm 1991 Nhật Chiêu có bài

Kawabata, người cứu rỗi cái đẹp Sau khi đi tìm cái đẹp mà Kawabata kế thừa từ

Trang 6

truyền thống, nhà nghiên cứu khẳng định: “Đối với Kawabata, người thuộc văn hóaThiền tông, thì nghệ thuật vô ngôn và dư tình thuộc về truyền thống Ông vận dụngnghệ thuật ấy một cách tuyệt vời vào tiểu thuyết hiện đại” [17; 1074].

Tiếp đó là nghiên cứu về Kawabata với tiêu đề Yasunari Kawabata – Lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp của Nguyễn Thị Mai Liên, khai thác cái đẹp trong

sáng tác của Kawabata dựa trên các tiêu chí: khiêm nhường, thanh tao, trong sáng,thanh xuân, hài hòa, u buồn và hư ảo…

Khương Việt Hà đã tìm đến Mỹ học Kawabata Yasunari với những giới thiệu

và dẫn chứng dày đặc cho các phương thức biểu hiện cái đẹp của Kawabata Trong đó,tác giả có đề cập đến nghệ thuật sử dụng biểu tượng như là một phương thức biểu hiện

cái đẹp “Ở đây Kawabata đã nhấn mạnh đến việc tìm kiếm những biểu tượng nghệ thuật đặc biệt nhằm mang lại chiều sâu cảm xúc và ngữ nghĩa vô hạn cho đối tượng miêu tả” [8; 72] Đồng thời tác giả cũng liệt kê khá nhiều những biểu tượng và đi sâu

vào biểu tượng gương soi

Ngoài ra, còn có một số bài viết đề cập đến một trong những nét trong phong

cách của Kawabata Trong công trình 100 nhà lí luận phê bình văn học thế kỉ XX, Viện Thông tin Khoa học xã hội năm 2002, mục từ Yasunari Kawabata của tác giả Đỗ Thu

Hà lại nhắc đến ông với tư cách là nhà phê bình với phong cách không khác xa là mấy

so với nghệ thuật viwwts văn của ông Đó là: nguyên tắc phản ánh: “sự tồn tại và sựkhám phá cái đẹp”; chức năng của người nghệ sĩ là “khám phá và tái sinh vẻ đẹp đó”;đối tượng của văn học cũng chính là “cái đẹp, nỗi buồn và sự chân thành”; nghệ thuậtviết văn: “cấu trúc tác phẩm là dòng ý thức được kĩ thuật chắp cánh” Đây là bức chândung Kawabata với tư cách nhà phê bình, nhưng thật đặc biệt, những ý kiến đó thực sựquan trọng đối với độc giả Việt Nam

Nhân vật, như đối tượng phản ánh hay phương thức tự sự cũng được tác giả Đỗ

Thu Hà đề cập đến trong tham luận Cái đẹp qua hình ảnh của người phụ nữ qua tác phẩm của Yasunari Kawabata và R Tagore tại hội thảo 30 năm hợp tác Việt nam – Nhật Bản vào năm 2003 Bài viết so sánh quan niệm về cái đẹp (qua hình ảnh người

phụ nữ) của hai nhà văn nổi tiếng Châu Á, trong đó tác giả nhấn mạnh, vẻ đẹp trong

tác phẩm của Kawabata là vẻ đẹp tinh khôi, không vụ lợi, song hành cùng với nó là sự

chân thành và nỗi buồn Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra ba đối tượng nhận biết về cái đẹpđúng đắn nhất của ông “là trẻ em, phụ nữ và người già sắp chết”

Trên các trang web văn học vẫn có nhiều bài nghiên cứu về văn phong củaKawabata, nhưng đi sâu vào vấn đề biểu tượng thì hầu như không c ó Dễ dàng nhậnthấy Phan Nhật Chiêu và Lưu Đức Trung là những người có đóng góp nổi bật cho việcnghiên cứu và giới thiệu Kawabata ở Việt Nam Mảng tác phẩm được khảo sát phổ

biến nhất vẫn là ba văn phẩm: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô , đa số là tập trung

Trang 7

nghiên cứu vào thi pháp, phong cách tiểu thuyết Kawabata Một số bài nghiên cứu đã

đề cập đến vấn đề nghệ thuật trong sáng tác của Kawabata nhưng chưa khai thác sâu,

dù vậy vẫn là những kiến thức giá cho bài nghiên cứu này

4 Phạm vi nghiên cứu

Về văn bản, các tác phẩm của Y Kawabata trích dẫn trong nghiên cứu này đềuđược lấy ra từ quyển: Yasunari Kawabata – tuyển tập tác phẩm, Trung tâm văn hóaĐông Tây, NXB Lao động, Hà Nội (2005) Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ

yếu tìm hiểu và phân tích, giải mã ý nghĩa các biểu tượng trong tiểu thuyết Cố đô đồng

thời để cho cơ sở lập luận của mình thêm thuyết phục, chúng tôi sử dụng thêm nhữngtài liệu, báo chí, sách và internet về lịch sử, văn hóa, văn học nghệ thuật,…có liênquan

5 Phương pháp nghiên cứu

Ở bài nghiên cứu này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu vănhọc dưới góc nhìn văn hóa đồng thời kết hợp phương pháp so sánh, phương pháp phântích, tổng hợp,… để giải mã và thẩm thấu tầng sâu thẳm ý nghĩa của các biểu tượng

mà người nghệ sĩ Yasunari gửi gắm

Trang 8

PHẦN 2:

NỘI DUNG

Trang 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Khái quát vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt Nam

1.1.1 Vài đặc điểm cơ bản

Theo từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là quá trình chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn

từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn … đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch”.

Tiếp nhận văn học có liên quan đến các khái niệm: Đọc văn bản, đọc vănchương, tiếp nhận văn chương, cảm thụ văn chương, tiếp thu, thưởng thức…

Khác với “Tiếp nhận” là khái niệm chỉ hoạt động tiếp thu (đọc, nghe, xem) tácphẩm (gồm cả sáng tác văn học và khoa học) với nhiều mục đích khác nhau, để hiểubiết, giải trí, thưởng thức, khảo cứu … Tiếp nhận văn học là khái niệm chỉ việc tiếpthu những sáng tác văn học, là chỉ cách tiếp thu thiên vể thưởng thức, cảm thụ Tuyvậy, tiếp nhận văn học cũng khác với cảm thụ văn học Cảm thụ văn học là sự nhậnbiết bằng cảm tính trực cảm, nó là tiền đề để đi vào tác phẩm Tiếp nhận văn học đòihỏi sự bộc lộ của cá tính, thị hiếu, lập trường xã hội, sự tán thành hay phản đối … Do

đó, khái niệm tiếp nhận văn học bao quát hơn và bao hàm các khái niệm “Cảm thụ”,

“Thưởng thức”, “Lý giải văn học”…

Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo, nó làm cho tác phẩm không đứngyên mà luôn luôn lớn lên, phong phú thêm Tính sáng tạo của tiếp nhận văn học đã

được khẳng định từ lâu, nhà ngữ văn Nga Pôlepnhia đã nói: “Chúng ta có thể hiểu được tác phẩm thi ca chừng nào chúng ta tham gia vào việc sáng tạo nó”

Nói tóm lại, với tư cách là phương pháp luận, tiếp nhận văn học đã đem lại ánhsáng mới, đã mở rộng phạm vi nghiê n cứu văn chương, mở thêm một lối đi cho khảosát văn chương khiến nó không bị đóng khung trong việc xem xét mối quan hệ nhàvăn và tác phẩm

1.1.2 Sơ lược hai kiểu tiếp nhận văn học phổ biến hiện nay

1.1.2.1 Tiếp nhận kiểu truyền thống

Hoạt động văn học từ xưa đến nay vận hành theo ba khâu: Nhà văn – Tác phẩm– Bạn đọc Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc đã từ rất lâu được người ta ít nhiều

đề cập Hoạt động tiếp nhận chỉ thực sự được đặt ra một cách có hệ thống từ khi vănhọc thành văn ra đời Lý luận tiếp nhận văn chương theo kiểu truyền thống quan niệmtiếp nhận văn chương ở hai dạng: tri âm và ký thác

Trang 10

Tiếp nhận theo kiểu tri âm: là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của tác

giả Sự cắt nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của tác giả ký gởivào tác phẩm từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm trong cùng một vòngtròn đồng tâm Tri âm là biểu hiện tột cùng của sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau Tiếpnhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ quan, người ta quan ni ệm rằng tácphẩm được viết là để dành riêng cho những người sánh văn chương, có khả năng đisâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi lòng của tác giả, chứ không phải viết ra cho đôngđảo độc giả công chúng ngoài xã hội thưởng thức, tiếp nhận Quan điểm tiếp nhận theokiểu tri âm đòi hỏi sự gặp gỡ, đồng điệu tuyệt đối giữa người sáng tác và bạn đọc,nhưng trên thực tế việc này rất khó khăn

Tiếp nhận theo kiểu ký thác: Là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác

phẩm để biểu lộ nỗi lòng của mình đối với cuộc đời Do đó, tác phẩm văn chươngđược coi như là một phương tiện để người đọc giải bày tấm lòng, gửi gắm những quanniệm nhân sinh, những cảm xúc về thế cuộc hoặc những vấn đề bức thiết của cuộcsống mà trong một chừng mực nào đó người đọc không có điều kiện để nói ra mộtcách trực diện

Tiếp nhận theo kiểu tri âm và ký thác gặp nhau ở tính đồng cảm giữa tác phẩm

và bạn đọc

1.1.2.2 Tiếp nhận kiểu hiện đại

Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thừa nhận tác phẩm văn chương là mộtloại hàng hóa đặc thù Đó là mộ t loại hàng hóa tinh thần do nhà văn sáng tạo nên nhằmthỏa mãn nhu cầu về đời sống của con người trong xã hội Nó có những thước đo chấtlượng và giá trị tiêu dùng rất khác nhau giữa mọi người

Do tác phẩm văn chương được xem như một loại hàng hóa nên tiế p nhận vănchương vượt ra ngoài tính cá thể riêng biệt, nó mang tính xã hội cao

Tiếp nhận văn chương hiện đại xác định đối tượng bạn đọc là tầng lớp côngchúng rộng rãi, có nhu cầu và sở thích khác nhau

Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thực ra không phải là sự phủ nhận lýluận tiếp nhận truyền thống, mà là sự bổ sung thêm bình diện xã hội và văn hóa lịch

sử Lý luận tiếp nhận hiện đại vừa kế thừa những mặt tích cực của tiếp nhận truyềnthống, vừa không ngừng mở rộng giới hạn nghiên cứu của mình: Đi s âu khám phánhững cấp độ khác nhau, lý giải về tính quy luật của hoạt động tiếp nhận … Nhờ vậy

mà cơ chế phức tạp của hoạt động này ngày càng được nhận thức một cách khoa học

và đầy đủ hơn

Trang 11

1.1.2.3 Vai trò của lý thuyết tiếp nhận

1.1.2.3.1 Đối với tác phẩm

Tác phẩm văn chương mang tính đa nghĩa, mỗi người đứng ở góc độ khác nhau

để khám phá, phát hiện những điểm khác nhau Do vậy sẽ tạo ra chân trời tự do choviệc tiếp nhận

Ngoài ra, tác phẩm văn chương không phải là sản phẩm cố đ ịnh mà là một quátrình, một sự đi tìm, một sự khám phá chứ không phải là sự minh họa cho một kết luận

có sẵn Chính vì vậy sẽ tạo cơ hội cho những lý giải, những tiếp nối, những kết luậnkhác nhau

1.1.2.3.2 Đối với người đọc

Người đọc đa dạng dẫn đến sự đa dạng trong tiếp nhận văn học Mỗi loại ngườiđọc có một cách tiếp nhận khác nhau Có người đọc để thưởng thức, nghiên cứu, phêbình … Có người quan tâm đến nội dung tư tưởng, có người quan tâm đến hình thứcnghệ thuật … Vì vậy, cùng một tác phẩm có thể có nhiều cách cảm nhận khác nhau,đánh giá khác nhau (người tán đồng, người phê phán)

Người đọc đa dạng về trình độ, lứa tuổi, kinh nghiệm, nghề nghiệp, giới tính,địa vị xã hội … cũng sẽ dẫn đến tiếp nhận khác nhau trong cùng một tác phẩ m

Tiếp nhận văn học mang đậm dấu ấn chủ quan, gắn liến với thị hiếu, tình cảmcủa mỗi người Giá trị của tác phẩm không phải là số cộng cách tiếp nhận nó, có cáchtiếp nhận đúng nhưng lại có cách tiếp nhận sai lệch Trong các cách tiếp nhận tácphẩm có chỗ đúng, chỗ sai nhưng không có nghĩa là chỉ có một cách tiếp nhận nào đó

là duy nhất đúng Một tác phẩm có thể có nhiều cách tiếp nhận khác nhau và có thểđều tỏ ra hợp lý, điều này gắn với sự đa nghĩa của tác phẩm văn học

1.2 Vấn đề biểu tượng và nghiên cứu biểu tượng văn học ở Việt Nam

1.2.1 Khái quát chung

Biểu tượng xuất hiện sớm trong tư duy nhân loại Từ thời nguyên thủy khi chưa

có ngôn ngữ, con người đã biết sử dụng những tín, kí hiệu để đánh dấu và giao tiếp.Khi con người có ngôn ngữ, biểu tượng không hề mất đi mà phát triển theo một hìnhthái cao hơn và đó cũng chính là lúc xuất hiện quá trình nghiên cứu biểu tượng

Trong lịch sử đã có nhiều triết gia đã đề cập đến biểu tượng như Chu Hy – Nhàdịch số Trung Hoa thần bí, Hêghen – nhà triết học duy tâm khách quan Đức, sau này

là Singmund Freud – Bác sĩ thần kinh, tâm thần người Áo rồi đếnC.G.Jung…vv…Biểu tượng được nghiên cứu và tiếp nhận khá sớm trong lịch sử vàđứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ranhững khái niệm riêng phù hợp với ngành khoa học của mình

Trang 12

Nghiên cứu biểu tượng xuất hiện khá muộn và vẫn còn hạn chế cả về mặt líluận và thực tiễn, nguyên nhân có nhiều song nguyên nhân cơ bản là các ngành khoahọc chưa ý thức được tầm quan trọng của biểu tư ợng trong đời sống, đôi khi là sự nétránh biểu tượng Thời gian gần đây, do sự nhận thức đã có nhiều biến chuyển, đã cónhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng xã hội.

Riêng ở lĩnh vực văn học, trong khoảng những năm cuối thế kỉ XX và đầunhững năm của thế kỉ XXI biểu tượng được quan tâm đặc biệt Xuất hiện khá nhiềucông trình nghiên cứu về biểu tượng Bên cạnh những bài nghiên cứu về biểu tượngtrong văn học dân gian còn xuất hiện một số công trình nghiên cứu về biểu tượngtrong văn học hiện đại Nghiê n cứu biểu tượng không chỉ giới hạn trong nền văn họcdân tộc mà mở rộng trên phạm vi của thế giới

1.2.2 Nghiên cứu biểu tượng trong văn học

1.2.2.1 Khái quát chung

Thực tế đã khẳng định biểu tượng phát triển cùng quá trình tiến hóa của nhânloại Khởi nguyên của biểu tượng (Symbol) là một vật được cắt làm đôi Hai ngườimỗi bên một phần sau một thời gian dài gặp lại hai mảnh vỡ sẽ được ghép lại với nhau

để nhận ra mối quan hệ khi xưa

Bằng lối loạn suy, biểu tượng được hiểu là sự quy ước, một dấu h iệu, một tínhiệu… có ý nghĩa biểu trưng Biểu tượng được chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứađựng ý tưởng phân ly và tái hợp, gợi lên ý tưởng về một cộng đồng bị chia tách và hợpthành Biểu tượng đôi lúc rất cụ thể song cũng có thể là những thứ rất trừu tượng Hiệnnay, có nhiều định nghĩa khác nhau về biểu tượng Tiêu biểu là các định nghĩa của cácnhà nghiên cứu Piere Emmanuel, C.G.Jung, Trần Lê Bảo… Một số ngành khoa họccũng hình thành những khái niệm riêng về biểu tượng như Triết học, Tâm lý học , Xãhội học…Dù đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau nhưng chúng ta vẫntìm được những điểm chung của biểu tượng Biểu tượng là những hình ảnh của những

sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác

và tri giác đã xảy ra trước đó được hình thành trong ý thức hay là những hình ảnh mớiđược hình thành trên cơ sở những hình ảnh có trước Biểu tượng không hoàn toàn làthực tế bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác, nhưng những hìnhảnh đó cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể.Biểu tượng là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã đượctri giác Biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp bởi

vì nó được hình thành nhờ sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có

sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp Chính vì thế, biểu tượng phản ánhđược đặc trưng của các sự vật, hiện tượng Ngày nay, biểu tượng đã trở thành đối

Trang 13

tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Phân tâm học, Ngôn ngữ học, Xãhội học, Triết học và Văn học.

1.2.2.2 Biểu tượng – cách đọc từ ngôn từ trong tác phẩm văn học

Con người với khả năng biểu trưng hóa (symbolizum) có thể tiếp nhận hình ảnhtrong thực tại không như cái máy sao chụp mà bằng các biểu tượng Theo lý luận nhậnthức, biểu tượng là hình thức cao nhất của trực quan sinh động Biểu tượng xuất hiệntrên cơ sở những hiểu biết về sự vật, do tri giác đem lại, là hình ảnh của sự vật đượclưu giữ trong chủ thể nhận thức khi chúng không còn hiện diện nữa

Biểu tượng theo từ điển Tiếng Việt là dấu, là hình ảnh biểu hiện Biểu tượnggần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ… Nhưng nếu kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ, tạo ranhững mối liên hệ lâm thời, rời rạc, những quy ư ớc đơn giản giữa cái biểu đạt và cáiđược biểu đạt, có tác dụng biểu nghĩa thì biểu tượng tạo được sự đồng nhất giữa cáibiểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một năng lực tổ chức

1.2.3 Nghiên cứu biểu tượng văn học ở Việt Nam

1.2.3.1 Khái niệm

Theo C.G.Jung: Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay

cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệ liêncan, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng Trong biểu tượng

có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che dấu đối với chúng ta

1.2.3.2 Các khía cạnh của biểu tượng được nghiên cứu

Khi biểu tượng là một thuật ngữ của mỹ học, lý luận văn học và ngôn ngữ học,

nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hiểu theo nghĩa rộng, nhìn từ đặc trưng phản ánh hiệnthực bằng hình tượng của văn học nghệ thuật, có thể xem tác phẩm văn học như là mộtbiểu tượng, một chỉnh thể thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp Việc giải mã biểu tượnggóp phần giúp chúng ta hiểu được những giá trị riêng biệt, độc đáo của tác phẩm Theonghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, của một loại hìnhtượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn Nhìn ở góc độ này, biểu tượng trongtác phẩm văn học là một “nhân vật” đặc biệt, được hiện diện dưới nh iều hình thứckhác nhau, có thể là con vật, đồ vật, hình ảnh, hình tượng…gọi chung là các dạng thứcbiểu hiện ý nghĩa của tác phẩm văn học Đó là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thểhiện ý đồ sáng tạo Đặt trong mối liên hệ với văn hóa hóa, văn học Nhật Bản và mỹhọc Kawabata Yasunari, chúng ta bước đầu tiếp cận và giải mã ý nghĩa của các biểutượng trong tiểu thuyết của ông từ hai góc độ trên

1.2.3.3 Biểu tượng trong tác phẩm Kawabata nói chung, Cố đô nói riêng

Giáo sư Mitsuyoshi Numano, trong cuộc du thuyết về văn học quê hương ôngvừa qua ở Việt Nam, đã khẳng định một trong bốn đặc điểm của văn học Nhật Bản là

Trang 14

tính trữ tình và cảm tính Tính chất này biểu hiện trong hầu hết các tác phẩm văn họcPhù Tang từ một bài thơ haiku nhỏ nhắn, xinh xắn đến tiểu thuyết trường thiên Genji ở

sự mờ hồ, ái muội, gợi nhiều hơn tả Tác phẩm của Kawabata Yasunari cũng thể hiệnrất rõ đặc điểm này Việc Kawabata dùng biểu tượng trong hầu hết các sáng tác đã gópphần tạo nên chất dư ba giăng mắc, bàng bạc, giàu chất th ơ cho những kiệt tác đã trở

thành niềm tự hào của người dân xứ sở hoa anh đào Cùng với Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc, Cố đô là một trong ba văn phẩm đạt giải Nobel vào năm 1968 Với những biểu tượng mang đậm dấu ấn truyền thống Nhật Bản, Cố đô được tái hiện trên nền không

khí sôi động của các lễ hội, chùa chiền Phật giáo, văn miếu, đền đài… Lộng lẫy, rực rỡvới biểu tượng hoa anh đào, tuyết trắng, chiếc áo kimono, Cố đô xưa đẹp một cáchtrang nghiêm, mỹ lệ rộng mở một cánh cửa cho nhân loại tìm đến với văn hóa và tâmhồn một quần đảo hoa anh đào xa lạ kia Một đất nước mộ chuộng cái Đẹp như địnhmệnh, mọi giá trị thẩm mỹ của mọi sự vật hiện hữu trong đời sống đang được khai

thác trọn vẹn Giá trị của các biểu tượng trong tác phẩm Cố đô đã mang đến một hơi

thở mới, đó là một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc gắn với văn hóa, thẩm mỹ của ngườiNhật Bản và quan niệm của Kawabata về cuộc sống

1.3 Kawabata và thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản

Văn hóa truyền thống Nhật Bản có rất nhiều tiêu chí để khẳng định bản sắcthẩm mỹ, tuy nhiên những người yêu mến văn chương xứ Phù Tang luôn dễ dàng nhậnthấy bốn nguyên lý cơ bản thường được các nghệ sĩ sử dụng để tôn vinh cái Đẹp, đó làmono aware, sabi, wabi và yugen

Người Nhật nói chung là một dân tộc duy mĩ Từ thời cổ đại, cho dù nhữngnguyên lí về cái đẹp chưa được định hình và gọi thành tên nhưng cảm giác muốnhướng tới, đạt được nó đã ngự trị trong cuộc sống trên nhiều mặt và bằng nhiều dáng

vẻ Những phạm trù được gọi là nguyên lí thẩm mỹ của Nhật Bản nói trên đều cónguồn gốc từ tôn giáo (Thần đạo và Phật giáo) và đều rất khó chuyển nghĩa chính xácsang một ngôn ngữ khác Ngay cả đối với người Nhật, chúng cũng là một phần của

cảm giác, là cái để cảm nhận bằng trực giác hơn là năm giác quan thông thường Theo E.M.D Jackonova: “Trong mỹ học truyền thống Nhật Bản, nỗi buồn, nỗi u sầu, nỗi cô đơn không tách khỏi khái niệm vẻ đẹp, bởi vì vẻ đẹp sẽ không đầy đủ nếu thiếu nỗi buồn” Nghiên cứu về thơ haiku, Nhật Chiêu đã nêu rõ những cảm thức thẩm mỹ của văn chương Nhật Bản Theo ông, trước hết là cảm thức sabi, là cảm thức về sự sâu thẳm, u uẩn và huyền diệu của vạn vật Wabi là nguyên lí cho rằng cái đẹp cao nhất nằm trong vẻ đơn sơ và sự thanh tịnh Aware, bi cảm, “ một cảm thức xao xuyến trước mọi vẻ đẹp não lòng của sự vật” Ôtrinnicôp – một nhà văn Liên Xô, đề cập đến khái niệm yugen – một tiêu chuẩn trong khái niệm về cái đẹp của Nhật Bản Yugen “thế hiện tài nghệ nói ẩn dụ, ẩn ý, hoặc vẻ đẹp của câu nói chưa hết” Thế giới nghệ thuật

Trang 15

của Kawabata không tách rời quan niệm thẩm m ỹ truyền thống ấy Từ tác phẩm đầu

tiên Vũ nữ xứ Izu (1925) đến cuốn tiểu thuyết cuối cùng Vẻ đẹp và nỗi buồn (1963)

Kawabata đều thể hiện nhất quán quan niệm về cái đẹp của mình Cái đẹp và nỗi buồn,tình yêu và thiên nhiên, sắc đẹp và nữ tính trở thành c ảm tính chủ đạo trong tác phẩmcủa ông

Văn học truyền thống Nhật Bản thường viết về các cuộc hành trình tìm đếnthiên nhiên như một biểu tượng của cuộc tìm kiếm cái đẹp, ý nghĩa đích thực của cuộcđời Sáng tác của Kawabata cũng như hầu hết thơ của các thi ền sư, thơ haiku và thờivăn học của cái đẹp (thời Heian) đã thể hiện ở mức độ cao nhất tín ngưỡng tôn thờ cáiĐẹp của văn học Nhật Bản Điều đáng quý là Kawabata viết các tác phẩm này tronggiai đoạn nước Nhật có nhiều biến động Sau cuộc đại chiến thế gi ới thứ nhất và trậnđộng đất lịch sử ở Canto năm 1923, nước Nhật lâm vào tình trạng khó khăn, văn hóatruyền thống có phần suy đồi dưới ảnh hưởng của mưa Âu gió Mỹ Người dân xứ sởhoa anh đào tỏ ra nghi ngờ các giá trị một thời đã làm nên bản sắc Nhật tro ng hàngtrăm năm qua

Những giá trị truyền thống đó không còn là điểm tựa tinh thần bình an cho họnữa trong khi những giá trị mới lại chưa được khẳng định Sống trong thời kì khủnghoảng các giá trị, con người dần mất niềm tin vào những gì đã có, thậm chí có người

đã căm thù, phỉ báng quá khứ dân tộc Kawabata bằng những sáng tác của mình đãlặng lẽ tạo dựng cho người Nhật niềm tin yêu vào những điều kỳ diệu đã từng làm nênbản sắc bao đời nay của người dân xứ sở mặt trời mọc Về sau, trong diễn từ đọc ở lễnhận giải Nobel văn học năm 1968, Kawabata đã tự hào nói: “Tôi thuộc về vẻ đẹpNhật Bản” Trong toàn bộ trước tác của mình, Kawabata luôn tôn vinh vẻ đẹp Nhật,bằng cách này hay cách khác, gián tiếp hay trực tiếp, phủ định hay khẳng định thì điềucuối cùng mà người ta cảm nhận qua tác phẩm của ông là một thế giới lung linh màusắc của vẻ đẹp Nhật ở thiên nhiên, con người, lối sống, tình cảm, tâm hồn…Tiếp nốitruyền thống yêu cái đẹp của văn học dân tộc, sáng tác của Kawabata đã kết tinh tưduy thẩm mỹ và tâm hồn Nhật Bản Trong sáng tác của nhà văn sinh ra từ vẻ đẹp NhậtBản này, ta bắt gặp không gian thấm đẫm màu sắc Nhật Đó là cảnh tuyết trắng dát bạctrên các sườn núi ở Kamakura, hình ảnh đám mây hoa anh đào…Đó còn là không giantâm tưởng của những vũ nữ xứ Izu, của những geisha xứ tuyết, những người chơi cờ

Go, những tiếng xúc sắc trong đêm khuya…Mặc dù bị lôi cuốn bởi những trào lưu,học thuyết hiện đại phương Tây và khát khao thử nghiệm, song Kawabata luôn trụvững trên nền truyền thống văn hóa dân t ộc và không bao giờ đánh mất cốt cáchphương Đông của mình.Vì thế “người lữ khách u buồn” đó đã xác lập cho mình vị trítrang trọng trong nền văn hóa, văn học Nhật Bản, cũng như R.Tagore được mệnh danh

là “ngôi sao sáng” của Ấn Độ thời phục hưng vậy Sáng tác của Kawabata không phải

Trang 16

là sự minh họa nghèo nàn cho lí thuyết của Tân cảm giác mà thực sự đã trở thành thếgiới nghệ thuật đầy biểu cảm, giàu chất thơ và lung linh vẻ đẹp Nhật Bản Bằng tàinăng của mình, Kawabata dung hòa được những yếu tố thời đại v à dân tộc, phục hưngvăn xuôi Nhật Bản, tiếp nối bước chân của Tanizaki Junichiro, Akutagawa Ryunosuke

để độc giả yêu mến văn học Phù Tang có thể thấy được vẻ đẹp của kiệt tác Genji từ

mười thế kỉ trước tưởng như đã bị chìm khuất bởi sự thống trị của thơ c a

1.4 Kawabata trong tiến trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản

Sáng tác của Kawabata từ việc bắt chước, học hỏi phương Tây rồi tìm về truyềnthống dân tộc, Nhật Bản hoá các yếu tố bên ngoài, kết hợp hài hoà Đông - Tây là mộthiện tượng có quy luật trong quá trình hiện đại hoá văn học ở khu vực Đông Á Từnhững sáng tác ban đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa đa đa, tưtưởng của S.Freud, Marcel Proust, James Joyce,… ông đã quay về truyền thống yêucái đẹp trong văn học dân tộc, Nhật Bản hoá phương Tây để trở thành người cứu rỗicái đẹp, phục hưng văn xuôi Nhật Bản, kết tinh tư duy thẩm mỹ và vẻ đẹp tâm hồn dântộc Vì vậy, tuy Kawabata không phải là tác giả mở đầu cho thời kì hiện đại của vănhọc Nhật Bản nhưng ông được xem là người đã góp phần hoàn thiện diện mạo nền vănhọc hiện đại Nhật Bản

Kawabata đã tạo nên diện mạo khác cho văn học hiện đại Nhật Bản so với cácnước đồng văn, đồng chủng Để làm được điều đó, bên cạnh một lý thuyết mới về cáchnhìn thế giới, phương thức biểu hiện mới, quan niệm về thể loại, ý thức tái cấu trúc thểloại, cần nhất là tài năng và cá tính sánh tạo Mọi giá trị đều có quyền tồn tại nếu đó làgiá trị đích thực Kawabata đã dám thể nghiệm và đã thành công nên tên tuổi của ônggắn với truyện trong lòng bàn tay

Đặt truyện trong lòng bàn tay của Kawabata vào truyền thống kiệm lời của vănhọc Nhật Bản, ta có thể dễ dàng nhận thấy, những khoảng trống vô ngôn mà Kawabata

đã tiếp nhận từ thơ haiku - một thể thơ chỉ gồm 17 âm tiết, chia thành ba dòng nhưnglại rất giàu sức gợi Kết cấu bỏ lửng của thơ haiku, cái hư không bảng lảng khó nắmbắt của tinh thần Thiền tông kết hợp với sự duy lý trong kỹ thuật viết văn phương Tây

đã làm cho những tác phẩm của Kawabata có một phong cách đặc thù: không hẳn ÁĐông mà cũng chẳng Tây phương

Với truyện trong lòng bàn tay, thể loại truyện ngắn Nhật Bản đã được tái cấutrúc một cách căn bản khác xa với kiểu truyện ngắn trước đó Từ những điểm nhìn đơn

lẻ, chớp lấy khoảnh khắc có thần của thực tại, thức nhọn mọi giác quan, sáng tạo theonguyên tắc “haiku hóa văn xuôi”, Kawabata đã mang đến tính chất mở cho một thểloại có dung lượng ngắn, biến truyện trong lòng bàn tay thành thể loại mang bản chấthiện đại của châu Âu nhưng lại có phần khác với các mô hình truyệ n ngắn phương Tâytrước đó một cách rất Nhật Bản Trong khi cũng vào thời điểm ấy, kĩ thuật tự sự ở Việt

Trang 17

Nam vẫn mới chỉ dừng lại ở cấu trúc khép kín, đầy đủ lớp lang Nhà văn vẫn mongmuốn trình bày hiện thực trong tính toàn vẹn của nó Có thể thấy rõ điề u này quatruyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn và tiểu thuyết đầu tay của Hồ BiểuChánh Nhìn ở góc độ này, trường phái Tân cảm giác đã đánh dấu sự chuyển mìnhquan trọng trong tiến trình hiện đại hoá văn học hiện đại Nhật Bản về thể loại tự sự vớicấu trúc và bút pháp mới Tuy vậy, cũng cần phải nói thêm rằng, giai đoạn này, thơ caNhật Bản đã bắt đầu thoát khỏi truyền thống haiku, tiến đến Tân thi thể.

Theo Tsutsumi Setsuko, truyện trong lòng bàn tay mang những đặc trưng: Chủthể phóng chiếu lên khách thể, cách biểu hiện thiên về cảm giác, sử dụng những ẩn dụ,tượng trưng nhằm biểu đạt cảm xúc thầm kín, tế vi, có sự phá vỡ ranh giới giữa khônggian và thời gian Dung lượng ngắn, có truyện chỉ vỏn vẹn tám dòng tiếng Việt

như Gương mặt khi ngủ, ít nhân vật, sự kiện, song độc đáo nhất là cách thức nắm bắt

thực tại và cấu trúc tác phẩm Nhà văn chỉ chớp lấy một khoảnh khắc của cuộc sống

con người và đẩy lên tận độ theo cảm xúc của mình như ở các truyện Cốt, Miền ánh sáng, Gương mặt người chết Kawabata đã kết hợp đồng hiện và dồn nén thời gian, giam thiên thu trong một sat-na Trong Cốt (tác phẩm mang tính tự truyện), chỉ một

khoảnh khắc nhìn thấy xương của ông nội quá cố mà cậu bé 16 tuổi đầy nhạy cảm làKawabata đã thấy lại cả một cuộc đời dâu bể Chỉ m ột chớp mắt nhìn vào gương mặt

người yêu mà nhân vật tôi trong Miền ánh sáng đã nhớ về gương mặt của những người

thân yêu, người xung quanh, đặc biệt là người ông quá cố bị mù luôn có thói quennhìn về hướng Nam - phía của ánh sáng Kỉ niệm về gương mặt ng ười ông bị mù

nhưng luôn hướng về ánh sáng và người yêu hiện tại đã giúp tôi cảm thấy thân thiết với nàng hơn và muốn mang theo những kí ức về nàng và ông tôi đi đến miền ánh sáng nơi bờ biển phía xa kia Hay câu chuyện ám ảnh trong Gương mặt người chết cũng bắt đầu từ một phút giây đặc biệt Người chồng đi du lịch về thì vợ đã chết, giây phút nhìn vào gương mặt vợ, anh thấy hai gò má gầy xanh, hàm răng đã đổi sắc chìa ra hai môi Thịt ở mi mắt nàng đã khô đi, dính chặt vào con ngươi… Anh không

kinh sợ mà đã nhẹ nhàng đặt tay lên gương mặt xấu xí ấy và xoa bóp cho đến khi cơgiãn ra, gương mặt ấy đẹp, thanh tân trở lại Mẹ vợ không chứng kiến việc anh làm, đã

oà khóc vì ngỡ giây phút kì diệu gặp chồng đã khiến mặt con gái bình yên như thế Rõràng, tuy chỉ chớp lấy những khoảnh khắc ngắn ngủi trong đời nhân vật nhưng vớingòi bút tinh tế của mình, Kawabata đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc sâusắc về cuộc sống kiểu “trút ngàn năm trong một phút chơi vơi”

Về cấu trúc của tác phẩm, ngay việc Kawabata đặt tên là truyện trong lòng bàntay cũng đã thể hiện ý muốn tái hiện một lát cắt thực tại mang tính chỉnh thể bằng một

hình thức tối giản có thể đặt trong lòng bàn tay Đọc những truyện Bình dễ vỡ, Tia nắng rạng đông, Mưa phùn, Trang điểm…ta thấy ông không chỉ có biệt tài phát hiện

Trang 18

những điều mới mẻ bằng cảm xúc tinh tế mà còn biết thể hiện chúng bằng nghệ thuật

tự sự theo hướng mở Truyện trong lòng bàn tay của Kawabata đã mở ra khoảng trống

vô biên, giúp trí tưởng tượng của người đọc có dịp chu du khắp cõi sống để thâu nhận

về mình những cảm nhận riêng tư, những xúc cảm, trăn trở tuỳ theo trải nghiệm của

bản thân Đọc Tia nắng rạng đông, người đọc không khỏi không băn khoăn: Tại sao

cô gái nghèo kia đợi người yêu đến cưới mà mỗi đêm lại có một người đàn ông đếnvới nàng? Tại sao hàng đêm nàng không mắc màn mà lại thức canh muỗi? Tại sao anhchàng người yêu của nàng lại tức giận khi một ông già vì thương cảm mà tặng nàngmàn mới? Kawabata đã để những khoảng trống không lời đó cho người đọc tự lấp đầybằng ý tư ởng của mình Và theo lý thuyết tiếp nhận, đó chính là khả năng biến độc giảthành người đồng sáng tạo

Khi Kawabata xuất hiện trên văn đàn, những người đồng hương của ông nhưMori Ogai, Natsume Soseki, Tazinaki Junichiro, Akutagawa Ryunosuke đã gặt háiđược ít nhiều thành tựu về văn xuôi nhưng như một vận động viên chạy vượt rào, ông

đã tự tin dấn thân và đã thành công Tác phẩm của Kawabata dù thể nghiệm một hìnhthức mới nhưng không hề xa lạ với văn chương truyền thống dân tộc bởi chúng vẫnchuyên chở những giá trị đã làm nên bản sắc Nhật Bản Vấn đề đặt ra là làm sao giữđược bản sắc văn hoá dân tộc mà vẫn hấp thụ được những tinh hoa của thời đại.Kawabata đã trả lời được câu hỏi đó bằng các sáng tác của mình Sáng tác của ôngkhông chỉ giữ được bản sắc Nhật Bản mà còn có sự hài hoà giữa truyền thống và hiệnđại Đó chính là tình yêu cái Đẹp, đó là những suy tưởng mang màu sắc Thiền, nhữngthế giới được cảm nhận bằng trực giác…Những sáng tác về sau của Kawabata cũngtheo dòng chảy như thế, hơi hướng của c hủ nghĩa hiện đại thể hiện ở cách sử dụng độcthoại nội tâm, dòng ý thức, xây dựng những huyền thoại và những giấc mơ huyền ảo,những hình ảnh, những cuộc hành trình mang tính biểu tượng Như vậy, sáng tác củaY.Kawabata không chỉ mang tính dân tộc mà còn mang tầm của thời đại Điều quantrọng nhất là trong tiến trình hiện đại hoá văn học Nhật Bản, tên của Kawabata đã gắnliền với lí thuyết Tân cảm giác, thể loại truyện trong lòng bàn tay và những sáng táctôn vinh vẻ đẹp truyền thống dân tộc

Trang 19

CHƯƠNG 2: KAWABATA VÀ TÁC PHẨM CỐ ĐÔ

2.1 Thời đại Kawabata

khi mười lăm tuổi, cậu mất nốt ông – người thân cuối cùng và hoàn thành Nhật kí tuổi mười sáu (1914) bên giường bệnh của ông, tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp một nhà

văn lớn Người ta còn khẳng định rằng dòng họ nhà Kawabata có xu hướng yểu mệnh,

và họ thường gặp ông tại các dịch vụ ma chay Với vô vàn mất mát này, Kawabatađược nhiều nhà nghiên cứu, đặc cho biệt danh là Soshiki no meijin – Chuyên gia tanglễ

Qua Nhật kí tuổi mười sáu, ta bắt gặp cậu thiếu niên Kawabata điềm tĩnh và vô

cùng tỉnh táo Nhật kí bao gồm mười hai ngày trong tháng 5 năm 1914 và dừng lại mộttuần sau khi người ông mất Tuy nhiên thời điểm ra đời thật sự của nhật kí đến nay vẫngây nhiều tranh cãi Kawabata thì luôn khẳng định tác phẩm được viết ngay bêngiường bệnh của ông mình, rồi bị thất lạc và sau này Kawabata tìm lại được nó trongnhà kho của người bác và được xuất bản năm 1925, tức là bảy năm sau Thế nhưng cácnhà nghiên cứu, phê bình, các nhà “Kawabata học”, sau khi xem xét văn phong của tácphẩm có thể nó được viết vào chính năm mà tác giả c ho xuất bản, tức là 1925 Cho dù

Nhật kí tuổi mười sáu được viết vào lúc nào đi chăng nữa, thì nhờ nó người đọc cũng

biết được thêm một Kawabata đầy tình cảm và do hoàn cảnh đã sớm trưởng thành Saunày, tác phẩm luôn có mặt trong các tuyển tập quan trọng của ông

Các nhà viết tiểu sử về Kawabata hầu như đều dừng lại ở thời điểm ra đời của

Nhật kí tuổi mười sáu (1914), tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp của một nhà văn lớn.

Những thông tin về cuộc đời ông sau này thường rất tản mạn và rất khó xácđịnh chính xác Người ta biết đến Kawabata như một người ôn hòa, trầm lặng nhưnglại hoạt động hết mình trong lĩnh vực văn học và có cuộc sống tình cảm khá đặc biệt

Phải sống tự lập ngay từ thời niên thiếu, nhưng là người có nhiều hoài bão vàước mơ, ngay từ thời trun g học, Kawabata đã có thiên hướng trong lĩnh vực nghệthuật Cùng bạn bè, ông sáng lập ra những tuần san nhỏ, biên tập và viết bài, nuôi ướcvọng trở thành họa sĩ Sau này, khi đã trở thành nhà văn, ông vẫn thể hiện niềm yêuthích của mình thông qua những bức thư pháp mà bạn bè và người thân được ông gửi

Trang 20

tặng nhân dịp lễ Tết hay để ghi dấu một kỉ niệm đáng nhớ Đứng trước ngưỡng cửacuộc đời, thay vì phấn đấu để trở thành danh họa, năm 1920, Kawabata đã ghi danhvào học tại Đại học Hoàng gia Tokyo Đầu tiên, ông theo học văn học Anh nhưng cuốicùng ra trường với đề tài tốt nghiệp về tiểu thuyết Nhật Bản Đó cũng là âm hưởngchung trong quá trình “trở về truyền thống” trong văn nghiệp của Kawabata.

Thời sinh viên cuộc sống của Kawabata sôi động Ngay năm đầu đại học,

Kawabata đã cùng một số bạn văn trẻ sáng lập nên tạp chí Trào lưu mới (Sintio) Truyện ngắn đầu tay Lễ chiêu hồn (Sokogai Ikai) của ông đăng trên tạp chí này.

Kawabata cùng với một số bạn văn thân thiết (trong những năm tuổi trẻ và cả sau này)như Yokomitsu Riichi, Yukio Mishima,… là những người đồng sáng lập hay cùng

hoạt động trong một số tạp chí có tên tuổi đương thời như Văn nghệ xuân thu (Bungei Shunzui), Văn nghệ thời đại (Bungei Jidai),…

Ẩn sau vẻ ngoài tưởng như trầm tĩnh, nhút nhát của chà ng thanh niên nhỏ bé,Kawabata cũng có một trái tim yêu mãnh liệt và những tình cảm khá đặc biệt Ngay từthời học phổ thông, đã có một mối tình con trẻ ghi dấu trong đời tư và cả trong sựnghiệp sáng tác của Kawabata Mối tình với cô bạn cùng lớp mà ba mư ơi năm sau khihồi tưởng lại, chính ông gọi đó là “cú sốc ngọt ngào” Nhưng có một tình yêu cực kìsâu sắc và mãnh liệt, có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời cũng như văn nghiệp củaKawabata, bản thân nhà văn cũng phải thừa nhận sự ảnh hưởng ấy Đó là mối tìnhlãng mạn của tuổi hai mươi Khi đang học năm thứ hai đại học, Kawabata đã gặp một

cô gái khiến ông yêu say đắm, trở thành nguyên mẫu cho cho hầu hết những “ngườiđẹp trong trắng”, tuổi không quá đôi mươi trong các tác phẩm của ông sau này, đó làmột thiếu nữ mới… mười lăm tuổi Khi đó, chàng sinh viên Kawabata với trái tim yêucháy bỏng, đã quyết định cưới cô gái vị thành niên ấy trong hoàn cảnh hoàn toàn “vôsản” Mặc dù là một sinh viên nghèo, nhưng với tài năng văn chương sớm hiển lộ,Kawabata đã thu hút được sự chú ý của nhiều độc giả tên tuổi Trong số đó có mộtMạnh Thường Quân hứa giúp đỡ Kawabata tài chính để sống cuộc sống sau hôn nhân.Thế là cả một “dự án” hoàn hảo về “hậu thiên đường” như nơi ở, tiền sinh hoạt phí đãđược lên kế hoạch Nhưng đến p hút cuối thì… “cô dâu chạy trốn” Người thiếu nữ ấy

đã bất ngờ hủy hôn mà không giải thích lí do Chỉ một lá thư nhỏ chối từ hôn ướcnhưng đã khiến chàng trai nhiều mơ mộng Kawabata tại thời điểm đó, gục ngã hoàntoàn Sau này, khi hồi tưởng lại mối tình n hiều sóng gió ấy, nhà văn đã gọi lời từ chối

ấy là “sự phản bội” nhưng cũng ngậm ngùi thừa nhận kết cục buồn của tình yêu ấy là

do “giao ước miệng”, có nghĩa là những hứa hẹn của Kawabata có thể bị coi là những

ảo tưởng

Cô dâu bé nhỏ ra đi nhưng để lại qu á nhiều kỉ niệm và phiên bản đầu tiên về

nàng có lẽ là Vũ nữ Izu với nàng Kaoru xinh đẹp, trắng trong có sức hút mạnh mẽ bởi

Trang 21

sự hồn nhiên của một thiếu nữ tuổi mười ba Hình ảnh nàng còn trở đi trở lại trong cáctiểu thuyết khác với nhiều dáng vẻ nhưng luôn có phẩm chất chung của sự trong trắngđến vô song.

Những kí ức đậm sâu về một tuổi thơ đau buồn và một tình yêu không thànhluôn là người bạn đồng hành trong sự nghiệp sau này của nhà văn Tuy những bi kịch

đó không thể đánh bại Kawabata nhưng chúng quả có sức ám ảnh vô cùng to lớn, đểlại dấu ấn ở hầu hết các tác phẩm văn chương của ông Cảm giác mất mát, phai tàn vềnhững gì tốt đẹp đã qua luôn ngự trị trong tác phẩm của Kawabata là những câuchuyện không có kết, những câu chuyện không bao giờ đi đến tận cùng Đó là đặcđiểm chung trong những tác phẩm của một tâm hồn nhiều ẩn số

Cuộc sống riêng tư sau này của Kawabata ít được sách vở đề cập Người ta chorằng ông có quan hệ với rất nhiều diễn viên, những cô đào đóng vai các người đẹptrong một số tiểu thuyết được chuyển thể thành phim của ông và sau này là một người

vợ (nhưng hôn nhân không đăng kí) Kawabata cũng có một cô con gái, nhưng lại làcon nuôi) Có lẽ những điều này là sự thực bởi ta biết được quan điểm khá đặc biệt của

ông về gia đình trong t ruyện ngắn Về chim và thú (Kinjiu, Of birds and beasts, 1933).

Ông luôn sợ di truyền lại “thiên hướng mồ côi” cho đời sau và làm cho người thân củamình không được hạnh phúc

Đương thời tiếng nói của Kawabata rất có trọng lượng trong cả văn giới lẫnchính giới Cánh tả và cánh hữu luôn muốn lôi kéo ông, những bài viết giới thiệu cácnhà văn trẻ của ông có thể coi như lá bài quyết định số phận cũng như sự nghiệp củanhà văn ấy Ông cũng từng giữ chức chức Chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản trong mộtthời gian khá dài từ năm 1948 đến năm 1965

Kawabata bước vào nghề văn với nhiều thuận lợi bằng tài năng cũng như cáchsống ôn nhã của mình Mạnh Thường Quân có ý định bảo trợ cho hôn nhân khôngthành của Kawabata chính là Kikuchi Kan, nhà viết kịch tên tuổi và uy tín trong văngiới thời đó Khi gặp nhà văn trẻ Kawabata (lúc còn là sinh viên) lần đầu, Kan đã bị ấntượng mạnh mẽ với cách cư xử của Kawabata Hiền lành, ít nói nhưng ngay tại thờiđiểm đó, Kawabata đã tự biết mình là một thiên tài Không chỉ có ý định cho n hà ở,chu cấp tiền sinh hoạt phí khoảng 50 yên mỗi tháng nếu nhà văn kết hôn, Kan còn giớithiệu Kawabata với một số tạp chí (để in truyện) và các nhà văn tên tuổi khác trong đó

có Akutagawa Ruynosake (1892 – 1927), người được coi là khởi đầu cho kỉ nguyênhiện đại của văn học Nhật Bản

Với một nhà văn trẻ, sự đỡ đầu của một tên tuổi trong giới là rất quan trọng bởichữ tín có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với người Nhật Sau này, khi đã nổi tiếng,Kawabata cũng luôn rộng lòng làm việc này cho lớp đàn em, nếu đó là một tài năng

Trang 22

thực sự Và Kawabata từ sự giới thiệu của Kan, đã có những tình bạn đẹp, lâu bền vớiYokomitsu Riichi, Yukio Mishima,…những nhà văn Nhật Bản mà cả thế giới biết tên.

Là người chịu nhiều đau thương, mất mát từ nhỏ, luôn cần một mái ấm, mộ ttình cảm thân thiết, Kawabata cực lực phản đối tự sát, một việc không quá xa lạ trong

“văn hóa chết” của người Nhật Kawabata từng bày tỏ thái độ bất bình trước nhữngngười tự sát, ngay cả khi đó là Akutagawa Ruynosake, người mà ông vô cùng kínhtrọng, rằng: “Cho dù một người có thể chán ghét thế giới này đến thế nào, thì tự sátcũng không phải là hình thức của khai sáng, cho dù có thể đáng khâm phục thì người

tự sát cũng còn lâu mới có thể tới được cõi niết bàn” ( Con mắt mạt kì – The eyes of

the dying, 1933) Ông bất bình và đau đớn bởi cái chết bi thảm ấy đã lấy đi không ítbạn bè thân thiết quanh mình Những họa sĩ, nhà văn như Akutagawa (tự sát năm1927), Mishima (tự sát năm 1970),…

Thế nhưng, cả nước Nhật đã phải bàng hoàng và khó hiểu, tại sao một ng ườiluôn phản đối cái chết phi tự nhiên như Kawabata mà ngày 16 tháng 4 năm 1972 lạigiam mình trong căn phòng đầy khí ga bên bờ biển Kamakura, nơi ông chọn để kếtthúc cuộc đời thành công nhưng mang nặng dấu ấn bất hạnh từ tuổi thơ Có lẽ, “người

lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp ấy” muốn có một chuyến khởi hành đến một vùngđất nơi ông chưa từng đặt chân tới

2.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Cuộc đời và sự nghiệp của Kawabata gắn liền với quá trình tiếp nhận đổi mới

về cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Nhật Bản Những năm cuối thế kỉ XIXđầu thế kỉ XX, tư tưởng duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng đã thổi một luồng gió mớivào Nhật Bản – vốn được coi là “ốc đảo” Tinh thần học hỏi phương Tây, đuổi kịpphương Tây Vượt lên phương Tây đã đưa lịch sử Nhật Bản sang một trang mới Sựđổi mới về kinh tế khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc đã tác động mạnh mẽ đến vănhọc nghệ thuật Nhật Bản Nếu trước đây văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng tư tưởngtriết học phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc thì nay bị chi p hối bởi nhữngquan điểm tự do dân chủ của phương Tây, nhiều trào lưu, trường phái ra đời đã làmnên một diện mạo mới cho văn học Nhật Bản: trẻ trung, phong phú và táo bạo

Đầu thế kỷ XX, các bản dịch văn học châu Âu đã đưa đến cho văn học NhậtBản những kĩ thuật, phương pháp sáng tác vô cùng mới lạ và có sức hấp dẫn lớn đốivới các nhà văn tân tiến Sức hút của nhu cầu tìm hiểu, khám phá và thử nghiệm thậtmãnh liệt, Kawabata đã từng khẳng định “tính chất mới là tất cả”, và bày tỏ sự khóchịu trước những cá ch viết đã được công thức hóa: “Mắt chúng ta rực cháy khát khaođược biết điều chưa biết Những lời chào hỏi của chúng ta biểu hiện niềm vui mừng ởchỗ hiện nay ta có thể tranh luận với nhau bất cứ điều gì là mới Nếu một người nói

“Good morning!” (tiếng Anh có nghĩa là Xin chào) và người kia trả lời “Good

Trang 23

morning !” thì thật là buồn chán Chúng ta đã hoàn toàn trở nên chán ngấy văn chương

vì nó không thay đổi như mặt trời ngày hôm nay vẫn mọc chính xác ở hướng đông nhưngày hôm qua.”

Sự nghiệp sáng tác của Kawabata thật phong phú và hầu như thành công ở tất

cả các thể loại mà ông thử nghiệm Phần truyện ngắn được đánh giá cao và được dịch

ra nhiều thứ tiếng trong đó có cả tiếng Việt (Cánh tay, Vũ nữ Izu, Thủy nguyệt, Tiếng gieo xúc xắc ban khuya, Về chim và thú,…là những ví dụ điển hình).

Mảng truyện trong lòng bàn tay, như bản thân ông từng nói, “đó là nhữngtruyện mà tôi hài lòng nhất” được viết rải rác từ năm 1921 đến năm 1972, Kawabatagọi chúng là Tanagokoro no shosetsu (Palm of the Hand Stories – Truyện trong lòngbàn tay) Những truyện trong lòng bàn tay chứa đựng nhiều triết lý sâu xa về vũ trụ vàcon người

Thành công đặc biệt đối với Kawabata vẫn luôn là tiểu thuyết Đỉnh cao của thểloại này trong sự nghiệp sáng tác của ông chính là bộ ba tiểu thuyết mang về giải

Nobel đầu tiên cho người Nhật Bản: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951), Cố đô (1961) Ngoài ra còn có các tiểu thuyết như Tiếng rền của núi (1952), Hồng đoàn ở Asakusa (1930), Cao thủ cờ Go (1954), Cái hồ (1954), Đẹp và buồn (1960), Người đẹp say ngủ (1969)…

Kawabata cũng viết cả tiểu luận phê bình Những tiểu luận của ông mang đậmdấu ấn cá nhân, sắc sảo nhưng trầm tĩnh khoan hòa Một số công trình thật sự có ý

nhĩa về mặt lí luận đối với văn giới như Diến từ Nobel (1968), Sự sống và khám phá cái đẹp (1969).

Văn nghiệp của Kawabata phong phú, đồ sộ và thành công ở nhiều thể loại.Tuy không nhiều, nhưng thậm chí ông còn viết cả thơ haiku Chỉ để giải trí hoặc tặngbạn bè nhưng cũng giống như bất kì thể loại nào mà Kawabata thử nghiệm, chúngluôn là những “mĩ thư”, được yêu mến và trân trọng như bất kì một báu vật nào trong

di sản mà ông để lại cho loài người

2.2 Cố đô trong bộ ba tiểu thuyết đoạt giải Nobel 1968

2.2.1 Cốt truyện Cố đô

Tiểu thuyết Cố đô giới thiệu với người đọc về một nước Nhật đẹp lặng lẽ, một

nước Nhật với những đền chùa, núi non hồng rực hoa anh đào, những phong tục, lễ hội

và cái chính là tính cách người Nhật thể hiện qua các nhân vật Cố đô là một tiểuthuyết tâm lí sắc sảo, đi sâu tìm hiểu thế giới nội tâm nhân vật Tiểu thuyết thể hiệnnhững suy ngẫm của Kawabata về những cái đã mất và những điều sẽ đến, về tươnglại, vận mệnh nền văn hóa dân tộc và số phận người dân Nhật bình dị trong thời buổi

xứ sở của họ lao vào công nghiệp hóa

Trang 24

Tác phẩm kể về nàng Chieko, tiểu thư của gia đình thương gia Takichiro, ngoàicông việc kinh doanh, còn rất thích vẽ mẫu thắt lưng kimono Do yêu thích hội họaphương Tây, nhất là các họa sĩ thuộc trường phái siêu thực, nên ông thường sáng tạo

ra những mẫu thắt lưng lạ mắt và độc đáo mà k hách hàng đầu tiên bao giờ cũng là côcon gái mà ông vô cùng yêu quý Chieko, ngỡ tưởng mình sinh ra và lớn lên trong giađình bấy lâu mình hằng yêu thương và gắn bó nhưng thật bất ngờ, đến khi trưởngthành, nàng mới biết được mình là con nuôi Từ đó, nàng luôn băn khoăn, day dứtmuốn tìm hiểu xem bố mẹ đẻ nàng là ai, có còn hay đã mất, nàng có anh chị emkhông, nếu có thì họ đang ở đâu… Nàng có một người bạn thân từ thuở nhỏ làShinichi Đó là một chàng trai hồn nhiên, trong sáng, mặc dù có tình cảm với Ch iekonhưng chưa bao giờ cậu ta dám nói ra Riushuke, anh trai của cậu thì khác hẳn, anhmạnh mẽ, quyết đoán cả trong tình cảm lẫn công việc, và anh cũng rất mến Chieko.Thậm chí anh còn sẵn sàng từ bỏ quyền thừa kế nếu có thể lấy được Chieko và sangquản lí cửa hàng cho gia đình nàng Trong lễ Kỉ Nguyên, khi đi viếng cảnh chùa, tình

cờ Chieko gặp một cô gái tên là Naeko giống y hệt mình Lòng thắt lại, nàng hiểu đó

là người chị em sinh đôi với mình và mình chính là đứa con bị bỏ rơi theo phong tục.Hai người giống nhau tới mức ngay cả Hidero, một thợ dệt, người cũng có cảm tìnhvới Chieko, cũng đã nhầm lẫn dẫn đến một buổi dạo chơi ngoài dự tính với Naeko.Sau nhiều tìm hiểu và do dự, cuối cùng Chieko quyết định tìm gặp Naeko và đau lòngkhi biết được cha mẹ đẻ của cô đã chết trong khi đẵn cây, một công việc khá vất vả màđến nay Naeko vẫn đang tiếp tục phải làm Là người giàu tình cảm, cộng với lòngnhân ái của ông bà Takichiro, Chieko tỏ ý muốn đón Naeko về chung sống với giađình mình nhưng Naeko đã từ chố i Naeko chỉ đến nhà Chieko để ngủ lại với chị mộtđêm Ngay sáng hôm sau, khi thành phố cổ Kyoto vẫn im lìm trong lạnh giá, Naeko đã

từ biệt Chieko Tác phẩm kết thúc, Chieko đứng bên cổng nhà mình nhìn theo bóngngười chị em sinh đôi đang mờ dần trong sương tuyết

2.2.2 Nhận xét chung về giá trị trong tác phẩm

2.2.2.1 Giá trị tư tưởng

Qua tiểu thuyết Cố đô, người đọc được tìm hiểu kĩ hơn về nước Nhật , một

nước Nhật đẹp lặng lẽ với hoa anh đào, tuyết trắng, một nước Nhật rộn ràng với các lễhội truyền thống quanh năm Mang hương vị màu sắc của một tiểu thuyết khảo cứu

phong tục nhưng Cố đô cũng là một tiểu thuyết tâm lí sắc sảo với việc đi sâu tìm hiểu

thế giới nội tâm nhân vật Qua những dằn vặt, suy tư trăn trở của Chieko, có thể thấycái nhìn của Kawabata đã xuyên thấu tâm hồn nàng

Tác phẩm này gây ấn tượng với độc giả bởi cảm giác về những truyền thốngxưa cũ và vẻ đẹp của Kyoto còn có thể được coi là cẩm nang cho những ai muốn tìm

Trang 25

hiểu về Nhật Bản và có thể chính yếu tố này đã thuyết phục hội đ ồng Nobel Viện Hànlâm Thụy Điển.

2.2.2.2 Giá trị nghệ thuật

Với nhịp điệu kể chuyện trầm tĩnh, khoan hòa, điềm đạm, tiểu thuyết Cố đô với

những nhân vật được đặc tả nội tâm vô cùng sâu sắc Với chất giọng trầm tư triết lí,

giọng hoài nghi băn khoăn day dứt và giọng tiếc nuối hoài niệm, Cố đô mang một âm

hưởng trầm lắng, cô đọng Giọng kể tự nhiên ấy phù hợp với tính Thiền trong văn hóaphương Đông Phát huy truyền thống và tiếp thu hiện đại trong nghệ thuật kể chuyệncủa Kawabata còn thể hiện trong cách thức xây dựng không gian, thời gian Ngôn ngữtrong sáng, lối viết nhẹ nhàng nhưng lôi cuốn, một lối viết gần gũi với tinh thần vănchương cổ Nhật Bản Do ảnh hưởng bởi dòng văn chương nữ lưu thời Heian, nên vănchương Kawabata thường mềm mại, dung dị và điềm đạm Và đặc biệt trong tiểu

thuyết Cố đô là nghệ thuật xây dựng biểu tượng độc đáo, mới lạ và đầy sáng tạo đã tạo

nên những tầng nghĩa mới góp phần nâng cao giá trị tác phẩm

2.3 Tư duy nghệ thuật của Kawabata trong sáng tác tiểu thuyết nói chung,

Cố đô nói riêng.

Yasunari Kawabata (1899 – 1972), người nghệ sĩ duy mỹ của xứ sở hoa anhđào đầu tiên nhận giải Nobel văn học (1968), là một trong số ít những văn hào NhậtBản được phương Tây biết đến nhiều nhất và cũng không hề xa lạ với đa số độc giảViệt Nam

Cảm tưởng đầu tiên khi đọc Kawabata, là niềm tự hào thầm kín của ông về vănhoá Nhật Một niềm tự hào không phô trương như khẩu hiệu, không chai cứng trongtrạng thái đông đặc bất biến mà tỏa rộng như thứ hương thầm kín bao trùm không khívăn chương nhưng bất định chưa thành hương Thấm nhuần sâu đậm tư tưởng Tâyphương, nhưng Kawabata không hề đem, không hề dùng hành lý Tây học làm mẫumực xây dựng nghệ thuật tư tưởng của mình Sau những say mê "đổi mới" theo nhịpphương Tây thời đầu khi mới bước vào sáng tác, Kawabata trở về nguồn cội, tìm đếnngười mẹ của tiểu thuyết, và ông đã gặp lại tâm hồn Nhật Bản

Kawabata chính thức khởi nghiệp bằng việc làm biên tập cho tạp chí Bungei shunju (Văn nghệ xuân thu, 1923) Chỉ một năm sau đó, khi tốt nghiệp khoa văn học

trường Đại học đế chế Tokyo năm 1924, khát vọng mang lại một “cảm giác mới” cho

văn đàn Nhật Bản thôi thúc ông cùng các tiểu thuyết gia tiên phong Yokomitsu Riichi (1898 – 1947), Kataoka Tetsubei (1894 – 1944), Nakagawa Yoichi (1897 – 1994) sáng lập văn phái Tân cảm giác cùng các cơ quan ngôn luận là tạp chí Bungei jidai (Văn

nghệ thời đại, 1924 – 1927)

Trong thời gian này, bị hấp dẫn bởi làn sóng phương Tây hóa thứ hai tại NhậtBản, lý thuyết thẩm mỹ, phương pháp luận phê bình văn học và nhiều sáng tác của

Trang 26

Kawabata Yasunari chịu ảnh hưởng của nền học thuật Châu Âu đương thời, bao gồm

chủ nghĩa ấn tượng Pháp qua đại diện Marcel Proust (1871 – 1922), thủ pháp dòng ý thức trong sáng tác của James Joyce (1882 – 1931) và lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud (1856 – 1939) Tuy nhiên, càng về sau Kawabata càng ngả về truyền

thống dân tộc nhiều hơn, đặc biệt là việc tiếp nhận tinh hoa mỹ học Thiền đạo để xâydựng lý thuyết mỹ học của riêng mình Phong cách Kawabata Yasunari, do mối tươnggiao truyền thống và hiện đại nói trên, trở nên rất phức tạp bởi sự dung hòa giữa giá trịĐông – Tây nhưng vẫn mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân và phong khí của thờiđại

Kawabata được coi như một nhà phê bình thực hành, cùng một khuynh hướng

có tính truyền thống khá lâu đời với nhiều tiểu thuyết gia và văn sĩ Nhật Bản

Quan niệm thẩm mỹ của Kawabata, do đó, hầu hết thông qua những hình tượng

nghệ thuật trong các sáng tác văn chương, một loạt bài bình luận mang tên Utsukushia

to kanasimi to (Cái đẹp và nỗi buồn, 19 61- 1962) đăng hai năm trên một tờ tạp chí phụ

nữ, và một số tiểu luận bàn về cái đẹp như Bi no sonzai hakken (Khám phá sự hiện tồn của cái đẹp, 1969), đồng thời được tổng kết một cách cô đọng trong Diễn từ Nobel nổi danh về tính đa nghĩa Utsukushi Nihon no watakushi (Nhật Bản, cái đẹp và tôi, 1968).

Là một kiểu mẫu trí thức đối đầu với thời đại, nhưng không phải bằng nhữngquan điểm chính trị hay xã hội mà thiên về mỹ cảm phù thế, trong kỷ nguyên NhậtBản không ngừng hướng theo mô hình phương Tây, Kawabata Yasunari lại miệt màitìm kiếm, cứu vãn và gìn giữ vẻ đẹp cổ điển Nhật Bản Khát khao tìm về bản thể củacái đẹp qua sự thấu thị những giá trị mà xứ sở hoa anh đào kiến tạo trong suốt chiềudài lịch sử, đã giúp Kawabata nảy sinh những ý tưởng thẩm mỹ của riêng ông

Những ý tưởng đó dần được hệ thống hóa thành lý luận mỹ học với quan niệmcái đẹp, nguyên tắc và đối tượng phản ánh cái đẹp; chức năng của văn học trong nỗ lựckhám phá cái đẹp; quan niệm cái đẹp với cái bi và cái hài; phương thức tái hiện cáiđẹp trong tác phẩm nghệ thuật Tất cả lại được hiển lộ một cách sáng tạo qua thực tiễnsáng tạo văn chương dồi dào và miên viễn của tác giả

Có thể nói, đối với người Nhật cái đẹp là một kinh nghiệm nhằm nắm bắt thực

tế một cách tích cực về mặt thẩm mỹ, “cảm xúc về cái đẹp, khuynh hướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc tính tiêu biểu cho mọi người Nhật – từ nông phu cho đến nhà quý tộc” [18; 89] Đối với các bộ môn nghệ thuật Nhật Bản cái đẹp là một yếu tính mà

hành trình nhằm phát hiện sự hiện tồn của nó được gọi là đạo Nhật Chiêu trong mộtbài nghiên cứu đầy chất thơ của mình, nhận xét về cái đẹp kiểu Kawabata khi lấy dẫn

chứng từ tác phẩm Bi no sonzai hakken, đã viết “Đối với Kawabata Yasunari, cái đẹp

là một kinh nghiệm tâm linh” [24; 1067].

Trang 27

Ta thấy, kinh nghiệm tâm linh là cái chỉ đạt được bằng sự nhạy cảm thiên bẩmcủa người nghệ sĩ và một hành trình suốt đời nhằm tìm kiếm những giá trị vĩnh hằngtrong dòng biến động của vạn vật Từ sự nhận diện cái đẹp qua những trải nghiệmtrong cuộc đời cá nhân vốn đầy cay đắng sinh ly tử biệt, Kawabata Yasunari đề ranguyên tắc phản ánh cái đẹp Đó là sự tìm tòi và tôn vinh cái đẹp trong một hiện hữuhỗn tạp giữa cái thiện và bất thiện, giữa cái tinh khiết và cái dung tục, giữa sự chânthành và giả dối, giữa những phù hoa giả tạo bề ngoài và chiều sâu thăm thẳm của nội

cảm Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Kawabata như Senbazuru (Ngàn cánh hạt,

1949 – 1952), Nemureru bijo (Người đẹp say ngủ, 1960 – 1961) bộc lộ nguyên tắc

thẩm mỹ này rất rõ rệt Những tiểu thuyết này, nhất là tiểu thuyết Người đẹp say ngủ,lúc mới xuất bản bị một số nhà phê bình cho rằng có tính chất tục, suy đồi đạo đức vàcho rằng có tính gợi dục Tuy nhiên trong hành trình khám phá bản chất của cái đẹp,Kawabata Yasunari như thoát khỏi mọi ước lệ và không chịu bất cứ một ràng buộc

nào, “chúng ta không thể tìm được trong truyện của ông một bảng giá trị luân lý nào

dù là bảng giá trị vô luân lý” [17; 215] Nhiều tác phẩm của ông về sau vẫn tiếp nối

một phong cách như vậy, vượt lên trên tất cả những tầm thườ ng trần tục để chỉ còn lạimột cái đẹp vĩnh cửu của một hiện thực tích cực, giàu sức sống và thuần khiết

Cái đẹp thoát phàm đó đòi hỏi độc giả phải nâng mình lên để hiểu tác giả và tácphẩm Khó có thể kể hết những vẻ đẹp đã hóa thân thành những hình tượn g thẩm mỹcủa Kawabata Yasunari, mà sự tôn vinh chúng trong sáng tạo nghệ thuật phản ánhtrách nhiệm của người nghệ sĩ trước lịch sử Theo Kawabata, người nghệ sĩ có sứmệnh tìm kiếm những giá trị đích thực ẩn tàng trong hiện hữu, đem lại cho người tiếpnhận cảm giác khoái lạc về mặt thẩm mỹ nhằm tạo dựng một thực tại tốt đẹp hơn, bởi

vì “cảm động trước cái đẹp sẽ khơi dậy được sự đồng cảm và tình yêu mãnh liệt trong con người” [17; 263] Nếu văn học có chức năng phản ánh cái đẹp thì nhà văn phải trở

thành chủ thể thẩm mỹ tích cực khám phá cái đẹp

Cái đẹp luôn hiện diện, từ hình ảnh chiếc cốc ngời ánh ban mai trong Bino sonzai hakken đến dải ngân hà lóng lánh trong Yukiguni (Xứ Tuyết, 1948 – 1954), từ nước men đỏ màu nhạt như một làn da quyến rũ của bình gố m trong Senbazuru đến cặp chân trần trắng nõn như cây ngô đồng non của cô gái trong Izu no odoriko (Vũ nữ

xứ Izu, 1926), từ những quả đào diệp đỏ chót rơi cùng mùa thu úa vàng trong

Nemureru bijo đến âm thanh ám gợi của núi non trong Yama no oto (Tiếng rền của

núi, 1949, 1954), nhưng khám phá ra nó và cứu rỗi nó đòi hỏi năng lực tâm linh vàhành trình hướng thiện đặc biệt của người nghệ sĩ

Kawabata khẳng định và miêu tả trong tác phẩm của mình ba mẫu nhân vật cókhả năng nắm bắt được cái đẹp chân xác là trẻ em, các cô gái còn rất trẻ và những

người đang cận kề cái chết Ba nguyên mẫu này “có những trái tim giản dị, có đôi mắt

Trang 28

ngây thơ và có cảm xúc tinh khiết – họ không tham lam, không thèm muốn, không có

ao ướt chiếm đoạt và hủy diệt mà chỉ có thưởng thức mà thôi” [18; 90], hay nói theo

cách khác là họ có cái tâm và trí thuần khiết Quan niệm về chủ thể thẩm mỹ trở nênrất gần với quan niệm của Thiền tông, khi Thiền cho rằng tâm cần tĩnh như mặt nước

hồ thu để tìm thấy hạt châu dưới đáy, và nếu não bộ trong suốt không một vướng bậnthì mọi tri thức và mỹ cảm đều hội tụ.Việc phát hiện các nguyên mẫu này giúp ngườicầm bút học hỏi được phương cách tư duy trong sáng và bồi dưỡng được cảm xúcthẩm mỹ

Tiến trình nhận chân cái đẹp cũng là một nỗ lực tìm kiếm tươn g quan của nóđối với các xúc cảm nghệ thuật khác Kawabata cho rằng cái đẹp luôn gắn kết với nỗibuồn trong quan hệ tương hỗ Đây là quan điểm tiếp biến những ý niệm mỹ học truyền

thống Nhật Bản vốn cho rằng “nỗi buồn, nỗi u sầu, nỗi cô đơn không tách khỏ i khái niệm vẻ đẹp, bởi vì vẻ đẹp sẽ không đầy đủ nếu thiếu nỗi buồn” , và “cái đẹp với tư cách là cái bé bỏng, mỏng manh, yếu đuối”, đồng thời cũng hồi quang phản chiếu những trải nghiệm sâu sắc của cá nhân một con người nghệ sĩ “đã thấy hết những gì là đen tối của cuộc đời sinh, lão, bệnh, tử này để lẳng lặng đứng nhìn ngắm tìm tòi mổ xẻ cái mỹ từ bên ngoài” [17; 65] Giai đoạn đầu tiên với những sáng tác trong trẻo như Izu no odoriko nhanh chóng trôi qua Trước những đổ vỡ tinh thần ở thế hệ các nhà

văn trẻ khi văn minh phương Tây xói mòn văn hóa dân tộc một cách dữ dội trongnhững năm 20 – 30 của thế kỷ XX, trước những đổ nát vật chất điêu linh do chiếntranh gây ra trên quê hương xứ sở 1945, Kawabata tin rằng mình phải có sứ mệnh duytrì các vẻ đẹp Nhật Bản và ông tuyên bố chỉ còn khả năng viết về nỗi buồn mà thôi Từ

đây những khúc bi ca của cái mỹ ra đời như Yukiguni, Senbazuru, Yama no oto, Mizuumi (Hồ nước, 1954), Koto (Cố Đô, 1961 – 1962), Utsukushisa to kanashimi to

trải rộng cảm thức bi ai tăng tiến từ nỗi xao xuyến trước cái vô thường, niềm hoàiniệm sắc màu xưa cũ, cảnh chia ly ngậm ngùi, sự tan vỡ khắc khoải trong tình yêu, nỗiđau khi nằm trên giường bệnh, và được đẩy đến tận cùng bằng cái chết của nhữngnhân vật chính

Cái chết, sự chia ly, nỗi buồn là ám ảnh thường trực trong hầu khắp sáng tác

của Kawabata Yasunari, mang đến cho tác giả những biệt danh “ người lữ khách ưu sầu đi tìm cái đẹp” , “chiếc gương soi trên đỉnh cô đơn” , “bậc thầy của tang lễ” Tuy

nhiên, đứng trước hiện thực sống động, Kawabata vẫn luôn sử dụng nét hài hước đốitrọng với niềm bi cảm như một phẩm chất thẩm mỹ đặc biệt của nhà văn, điều mà ta

thường xuyên gặp trong hàng trăm truyện thuộc thể loại Tanagokoro no shosetsu

(Truyện trong lòng bàn tay, 1971), cũng như nhiều tiểu thuyết khác được sáng táctrong suốt cuộc đời Kawabata

Trang 29

Chất hài hước trong sáng tác của Kawabata rất tinh tế nên dễ bị các nhà nghiêncứu và độc giả bỏ qua do xúc cảm về cái bi lấn át.

Bên cạnh chất trào tiếu, nét đẹp của tình yêu nam nữ trong tất cả nhữn g cung

bậc dịu nhẹ và mãnh liệt, trong sáng và đắm say cũng là một chủ đề chính trong nhiềutác phẩm của Kawabata, phản ánh lòng khát khao tha thiết với cuộc đời và niềm tinyêu con người nơi tác giả Thậm chí, ngay trong tác phẩm thấm đẫm âm hưởng của

tuổi già và cái chết với tiếng núi rền như một điềm báo, Yama no oto vẫn có hoàn cảnh

chào đời với sự mang thai của cô gái người tình của Shuichi con ông Shingo, và thểhiện niềm lạc quan sâu sắc về sự sống sẽ được hồi sinh từ những gì ngỡ tưởng đã vĩnhviễn rời bỏ thế gian qua hình tượng hạt sen ngàn năm vẫn có thể trồng và nở được hoa.Những cảm xúc đối trọng đó tạo sự cân bằng cần thiết để nỗi buồn trở nên đẹp mộtcách dịu dàng lan tỏa, không sa vào bi lụy ngay cả khi tác phẩm tràn ngập mất mát vàcái chết Và cuối cùng, không thể không nói đến quan niệm của Kawabata Yasunari vềphương thức biểu hiện cái đẹp trong tác phẩm văn học Bàn về vấn đề này, Kawabata

Yasunari cho rằng “mục đích của nhà nghệ sĩ không phải ở chỗ tìm cách làm cho mọi người kinh ngạc, sững sốt bằng cái li kỳ quái dị, mà ở chỗ biết dùng chỉ vài phương tiện ít ỏi nhưng nói lên được nhiều nhất, biết dùng ngôn từ và màu sắc để truyền đạt các cảm xúc và kinh nghiệm nhìn đời của mình” [19; 77].

Ở đây, Kawabata Yasunari đã nhấn mạnh đến việc tì m kiếm những biểu tượngnghệ thuật đặc biệt nhằm đem lại chiều sâu cảm xúc và ngữ nghĩa vô hạn cho đốitượng miêu tả Bằng thực tiễn sáng tác của mình, Kawabata đã xây dựng hàng loạthình ảnh tượng trưng và sử dụng chúng một cách cô đọng, hoàn hảo trong tá c phẩmnhư chiếc bình sứ Shino và cặp chén Raku còn in vết son môi của người phụ nữ đã

khuất bóng như một ký hiệu thẩm mỹ như trong Senbazuru, con chuồn chuồn ớt với những vòng lượn khởi điểm của những cuộn xoáy ngữ nghĩa trong tác phẩm Yukiguni; hạt sen ngàn năm trong Yama no oto, hồ nước như hình ảnh vô thức liên hệ đến tình

mẹ của chàng trai Gimpei trong Mizuumi v.v., và đặc biệt là chiếc gương với tất cả

những biểu tượng khác cùng hệ thống với nó: tấm kính cửa sổ toa tàu, tuyết trắng, ánhlửa đỏ, vầng trăng và đáy nước, vừng hồng ở chân mây, mặt trời trên dòng suối lunglinh, dải ngân hà đẹp một cách ma quái Không phải ngẫu nhiên chiếc gương vớinhững diện mạo khác nhau của nó trở đi trở lại trong rất nhiều tác phẩm củaKawabata Chiếc gương và bầu trời , vầng trăng và đáy nước sống động như những

nhân vật nghệ thuật trong truyện ngắn nỗi danh Suigetsu (Thủy nguyệt, 1926), để rồi được hội tụ cao độ trong Yukiguni với nhiều sắc thái đã phản ánh sự tương chiếu

ngoạn mục của các đối tượng thẩm mỹ Con tàu vư ợt qua đường hầm xuyên bóng đêm

như qua một tấm gương để đến vùng đất tuyết trong Yukiguni, nghĩa là đã từ thế giới

trần ai đến một thế giới khác, một thế giới của mộng ảo và huyễn tưởng soi trên gương

Trang 30

tuyết Từ đây khi chân trời rạng lên trong bóng đêm, c hàng trai Shimamura thực sựbước vào thế giới cổ tích ấy, với tất cả những gì xưa cũ sạm màu thời gian như tấmbiển phòng trà cũ rích, chiếc mặt nạ cổ xưa hay cổ xe đã một thế kỷ, với hình ảnhngười con gái đẹp mờ ảo và siêu phàm ngời lên từ tấm kính cửa s ổ toa tàu lần đầuchàng gặp gỡ đến ánh phản chiếu cái chết của nàng trên lửa đỏ và dải ngân hà lónglánh lúc chia ly Nhưng đó không phải ảo ảnh, không phải chỉ là cái đẹp của một thếgiới ảo trong một tấm gương soi, mà quan trọng hơn là “có một thế giới t hực và mộtthế giới ảo cùng đang soi chiếu vào, tồn tại trong nhau bằng những sắc màu lung linhhuyền ảo” Trong thi pháp Kawabata Yasunari, tấm gương đã trở thành biểu tượnghữu hiệu ánh xạ cái đẹp của thực tại.

Tấm gương lớn nhất của tự nhiên theo Kawaba ta Yasunari là chân không Chânkhông là tấm gương trong suốt vô tận ôm trùm cả vũ trụ, dung chứa và vĩnh chiếu vạnvật trong một cảm thức tinh khôi vô hạn Ở đây, ta có một thi pháp chân khôngKawabata theo cách gọi của một số nhà nghiên cứu Việt Nam Như ng chân khôngtrong thế giới quan phương Đông hoàn toàn khác biệt với cái cực độ trống rỗng, tuyệtđối không của các nhà lập thuyết hư vô của chủ nghĩa phương Tây Kawabata

Yasunari từng giải thích: “Trong các tác phẩm của tôi các nhà phê bình cho rằng có cái hư vô Nhưng đây không phải là những gì theo thuyết hư vô như cách hiểu ở phương Tây Thật ra, từ gốc rễ tinh thần chúng đã khác nhau” [25; 72] Chân không của phương Đông nói chung và Nhật Bản nói riêng, đó là cái diệu vợi của “vũ trụ tâm hồn, nơi vạn vật tự tồn tại với chính nó, nơi có sự tự do giao tiếp, không một hàng rào, không một giới hạn nào cả” [12; 58] mà biểu hiện quan trọng nhất là khoảng trống trong họa phẩm của các thiền sư, nét bút phi bạch của các thư pháp gia, ý tại ngôn ngoại trong các bài thơ cực ngắn haiku, đồng điệu với tính Không của Phật giáo, và là thể của đạo theo học thuyết Lão Tử.

Thẩm thấu trong cái chân không phương Đông huyền hoặc ấy, con người cũng

sẽ trở thành những tấm gương trong suốt ngời chiếu cái đẹp hiện hữu

Nếu tấm gương là phương tiện huyền ảo hóa thế giới, thì cánh tay lại là biểutượng nhằm chân thực hóa cái đẹp qua cảm giác có được khi tiếp xúc trực tiếp với đốitượng Rất nhiều sáng tác của Kawabata thể hiện tình yêu sâu nặng của ông với các côgái trẻ và đồ gố m Nhật Bản, những thực thể như cái chén mà người ta có thể cảm thấy

“cuộc đời giãn căng trên bề mặt của nó” trong Senbazuru hay cô gái với “thân thể trần truồng và làn da trắng nõn đẹp rực rỡ đến hoa cả mắt” trong Nemureru bijo, chỉ cho

phép nắm bắt được v ẻ đẹp toàn diện bằng cả đôi mắt ngắm nhìn và đôi tay cảm nhận.Thậm chí những đối tượng trên nhất là những người con gái, đều mờ nhạt và mongmanh trên phương diện sinh thể, họ chỉ được miêu tả như yếu tố của một khung cảnh

và được tái họa bằng ấn tượng củ a giác quan Những ngón tay của chàng trai

Trang 31

Shimamura trong kiệt tác Yukiguni, của Mitani Kikuji trong Senbazuru, của ông già Eguchi trong truyện vừa Nemureru bijo, của cô gái trẻ trong truyện ngắn siêu thực Kataude (Cánh tay, 1964), là phương thức khám phá trực tiếp cái đẹp và sắc dục Qua cách nói của nhân vật Shimamura với Komako trong Yukiguni, khi chàng than thở chỉ

cánh tay là còn lưu giữ những kỉ niệm sâu đậm về nàng, và qua mong muốn để lại cho

anh “một cánh tay” của cô gái trong Kataude, ta hiểu rằng đối với Kawabata Yasunari

ấn tượng thẩm mỹ do giác quan mang lại trong vẻ đẹp chi tiết từng bộ phận của đốitượng nhiều khi còn có ý nghĩa hơn cái nhìn tổng thể về đối tượng

Bên cạnh những biểu tượng nói trên, Kawabata Yasunari nhấn mạnh đến tầmquan trọng của những thủ pháp nghệ thuật trong việc khắc họa rõ nét đối tượng Đó làthủ pháp đang dệt cái thực và cái ảo, hội ngộ và chia ly, sự sống và cái chết, màu tuyếttrắng và màu lửa đỏ, tình yêu thanh khiết và tình yêu đam mê như ta thấy trong tiểu

thuyết Yukiguni; tương phản trinh trắng và nhục dục, nội tâm và ngoại hình, tuổi già

và cái chết với tuổi trẻ và sự sống trong Nemureru bijo Thủ pháp tương phản cho

phép các đối tượng soi chiếu vào nhau, song hành bên nhau để cùng toát lộ đến tậncùng bản thể hàm chứa cái đẹp vĩnh cửu Đó còn là thủ pháp dòng ý thức điển hình

trong Mizuumi hay Kataude qua những mối liên hệ ngẫu nhiên, những cảm xúc bất

chợt, những liên tưởng đan xen và những giấc mơ nhằm tái tạo vẻ đẹp hồi tưởng vànhững triết lý thẩm mỹ phức tạp cho tác phẩm Đó cũng là thủ pháp trải rộng thời giantâm tưởng theo những hành vi tỉ mỉ cảm thụ cái đẹp của ông già Eguchi trong

Nemureru bijo và bẻ gập thời gian để chiêm nghiệm triết lý sống chết bằng một khoảnh khắc thông thái đối với nhân vật Shingo trong Yama no oto.

Và tất cả các biểu tượng cũng như tất cả các thủ pháp nghệ thuật đó đều hiệndiện trong tác phẩm bằng thể loại hiện đại nhưng văn phong đầy chất thơ, kết cấu giản

dị trong sáng nhưng ngôn từ “hết sức hoa mỹ diễn tả đặc tính ngôn ngữ Nh ật”, khaithác sâu sắc tình cảm và hoạt động tâm lý nhân vật nhưng vẫn thể hiện được một bútpháp tạo hình chính xác

Nó phản ánh một tiến trình trọn vẹn đi từ lý thuyết đến thực hành nhằm kiến tạomột mỹ học Kawabata Yasunari đặc trưng xuất phát từ cách tư duy riêng của ông,trong khi vẫn mang tính lịch sử và dung chứa được tinh hoa của thẩm mỹ học cổ điển

Cuộc đời và sự nghiệp của Kawabata Yasunari luôn hướng đến tìm kiếm, cứurỗi và tôn vinh cái đẹp của hiện hữu Là một người chủ trương không được thoá t lyvăn học và mỹ học dân tộc, đồng thời biết gắn kết hài hòa những nét đặc sắc củachúng với những sáng tạo của riêng mình Mỹ học Kawabata Yasunari ở nhiềuphương diện đã thể hiện tầm vóc khổng lồ của một con người Nhật Bản đích thực, một

người nghệ sĩ sinh ra từ cái đẹp Nhật Bản Kawabata Yasunari nói: “Tôi đã từng được tiếp nhận lễ rửa tội nơi văn chương Tây phương hiện đại và tôi cũng đã bắt chước nó,

Trang 32

nhưng chủ yếu tôi là một người Đông phương và suốt mười lăm năm qua tôi chưa hề đánh mất phong cách ấy của mình” [25; 66].

Nhật Bản với cái đẹp nhạy cảm và thay đổi mùa rõ rệt của thiên nhiên vớinhững đám mây anh đào hồng nhạt mùa xuân, thảm xanh của cánh rừng mùa hạ, sắc

đỏ thắm của lá momizi mùa thu và những bông tuyết trắng mùa đông Thiên nhiên ấy,tương phản giữa tế vi và dữ dội, phản ánh qua vẻ đẹp mong manh mà quyết liệt khi rơirụng của hoa anh đào song hành bên biểu tượng trường cửu bền vững của hoa cúctượng trưng cho hoàng gia và đất nước mặt trời mọc Núi Fuji, dòng suối xứ Izu, vùngđất tuyết, trạm nước nóng, những ngôi làng xưa cũ, những căn nhà nghỉ bên sóng triềuvịnh Ise, là nơi nhân vật của Kawabata Yasunari thường đắm mình bên trong bằng sựkết hợp đầy thơ mộng giữa phong cảnh tự nhiên lẫn phong cảnh tâm hồn, bộc lộ mộtphương thức thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả

Đó là cái đẹp của những người con gái trẻ Nhật Bản, từ Komako vừa tràn trềtươi mát vừa nồng nhiệt tận hiến, vừa sáng ngời nét thơ ngây bên ngoài vừa sâu lắngnội cảm đến Yoko tin cậy nhưng xa vời, trong trắng nhưn g hư ảo trong tiểu thuyết

Yukiguni; từ Kyoko nhạy cảm và thủy chung trong Suigetsu đến Fumiko thâm trầm và sâu sắc trong Senbazuru; từ vẻ trinh bạch thánh thiện của cô gái trẻ Kaoru trong Izu no odoriko đến sắc màu nhục cảm của những mỹ nữ khỏa thân say ngủ trong Nemureru bijo Tất cả đều sống động và mạnh mẽ, duyên dáng và nữ tính, tinh tế và ngọt ngào

bằng những dáng nét yêu kiều, gợi cảm thuần Nhật Mỗi người trong số những cô gái

đó đều được Kawabata Yasunari nắm bắt và tái họa bằng những khoảnh khắc ch ớpsáng cái đẹp điển hình, riêng biệt, khiến họ đọng mãi trong lòng độc giả khi thụ cảmtác phẩm

Và đó còn là nghệ thuật Nhật Bản, một nền nghệ thuật sẵn sàng vinh danh cáiđẹp mà vượt lên thành kiến trần tục của người đời vốn coi những gì đi ngược lại

những điều cấm kỵ của tôn giáo và đạo đức là vô luân Trong Senbazuru, Kawabata ca

ngợi vẻ đẹp trà đạo và thể hiện niềm tiếc nuối của tác giả trước một phong tục đẹpđang có nguy cơ bị thương mại hóa Ta cũng bắt gặp trong Koto những lễ hội và chùachiền như ng chưa hề hứng chịu bức xạ từ văn minh phương Tây nơi cố đô Kyoto cổ

kính; trong Yukiguni là thanh âm cây đàn samisen, lụa chijimi và những nàng geisa trong Meijin (Danh thủ) là nghệ thuật cờ vây và trong Nemureru bijo là những lầu xanh kiểu Nhật Trà đạo (chanoyu), nghệ thuật cắm hoa (Ikebana), thư đạo (Shodo), nghệ thuật cây cảnh (bonsai) và gốm sứ Iga cũng được Kawabata Yasunari miêu tả

đầy tự hào trong diễn từ Nobel đọc trước các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa họcThụy Điển tháng 10 năm 1968 Nền nghệ thuật đó được các nghệ sĩ Nhật Bản hàngngàn năm trau chuốt và phát triển đến tận thiện tận mỹ, đã mở bày sức hút mãnh liệt

Trang 33

của mình trước nhân loại thế kỷ XX, nhưng lại đang ít nhiều tàn phai trong thế giớihiện đại trên chính đất nước mặt trời mọc.

2.4 Bốn nguyên lí cơ bản tôn vinh cái đẹp trong sáng tác của Kawabata

Thế giới nghệ thuật và những lý luận thẩm mỹ của Kawabata Yasunari khôngtách rời truyền thống mỹ học của dân tộc Đó là một hệ thống lý thuyết được các nghệnhân bậc thầy cô đúc thành triết lý và tôn chỉ sáng tạo lưu truyền trong suốt nhiều thế

kỷ Văn chương tràn đầy cảm thức về cái đẹp dịu dàng thời Heian xây dựng trên nền

tảng thẩm mỹ bi cảm mo no no aware (nỗi buồn man mác của sự vật) biểu hiện nỗi xao xuyến trước những bi ai não lòng, vô thường và quyến rũ của cuộc đời; với yoen (yêu kiều) như một phương cách nhằm miêu tả nữ tính một cách ngọt ngào; yojo (dư

tình) nhằm tái tạo không gian nghệ thuật thấm đượm những ngụ ý trong lớp ngữ nghĩa

bề sâu của ngôn từ nghệ thuật; và okashi (trào tiếu) biểu lộ cảm thức hiếu kỳ, ngạc nhiên trước những gì buồn cười, nghịch dị Tiếp nối cảm hứng lãng mạn mono no aware nhưng thấu vọng từ sâu thẳm tâm linh là phạm trù yugen (u huyền) thời khói

lửa chiến chinh Kamakura (1192 – 1333) hàm nghĩa “vẻ đẹp thâm thiết của nhữngđiều bỏ lửng, cái đẹp nằm sâu trong sự vật chứ không muốn lộ ra bề mặt”, mà thànhquả nghệ thuật gợi cảm nhất còn lại đến ngày nay chính là bản trường ca từ đá và cát

của vườn thiền chùa Ryoan -ji Rồi thời đại Muromachi (1333 – 1603) với wabi (đơn

sơ), loại bỏ cái cầu kỳ, sặc sỡ và cố ý một cách tầm thường nhằm hướng đến “sự

chừng mực thông minh, cái đẹp của sự giản dị”, và sabi (cô tịch) biểu lộ vẻ đẹp tự nhiên, tĩnh lặng, cổ kính ngưng đọng dấu ấn thời gian trên vật thể Hai quan niệm wabi

và sabi thường song hành nhằm hiện hữu cái đẹp của bốn nguyên tắc hòa

-kính-thanh-tịch nền tảng tư tưởng trà đạo Nhật Bản, cũng là tư tưởng thẩm mỹ biểu hiện một “triết

lý sống” của người Nhật bên cạnh “triết lý chết” mà giới võ sĩ Nhật Bản đúc kết thàn htinh thần bushido

2.4.1 Sabi (tịch lặng)

Đó chính là vẻ đẹp của ngày thường, là dấu ấn của thời gian, niềm tịch tĩnh mà

người đọc có thể cảm nhận từ tác phẩm của ông Đó là sabi Sabi, nghĩa đen có nghĩa

là “gỉ” nhưng sau khi bồi đắp để trở thành tiêu chí thẩm mỹ, người ta không còn hiểu

từ này theo nghĩa đơn thuần là han gỉ như vậy nữa.

Sabi là cái mà ta cảm nhận được khi đắm mình vào không gian trong tác phẩm

của Kawabata, không gian của niềm cô tịch Đó là những khung cảnh hùng vĩ mà yêntĩnh, bát ngát nhưng thâm sâu, là những đồ vật đã trải qua bao dãi dầu mưa nắng, quabao thời gian, bao tay người Là những bức tranh “một con quạ đậu trên ngọn cây vàbên cạnh có hàng chữ đề: Con quạ đơn độc – Trong buổi bình minh – Cơn mưa đầutiên của mùa hè” Ta có thể cảm nhận được sự đơn độc, niềm tịch tĩnh mà con quạđang đắm mình trong không gian, phơi mình trong mưa gió đợi bình minh đến Nó

Trang 34

nhẫn nại như một nhà tu hành chứ không đơn giản và vô cảm như một con quạ Nó

sabi đến nao lòng Nó trở thành bao lần sabi bởi bản thân bức tranh mực tàu cổ của

Catzan ấy đã khiến người ta cảm nhận được những ý nghĩa thâm sâu của cuộc đời, vậy

mà bức tranh ấy chỉ vẽ một con quạ đơn độc, đợi bình minh Trong vẻ kiên nhẫn củacon quạ, người ta còn thấy cả sự kiên cường và kiê u ngạo của một con vật nhỏ bé khi

đối mặt với cả vũ trụ bao la Chính con quạ với niềm sabi mênh mang đã mang lại cho

từ này một dáng vẻ mới: đó là sức mạnh ẩn giấu dưới một vẻ ngoài sabi.

Điểm xuyết trong từng truyện ngắn, tiểu thuyết của Kawabata là những hìnhảnh, chi tiết mang lại cho tác phẩm một sự lắng đọng, thâm trầm cần thiết, tạo ra dấu

ấn sáng tạo cá nhân đặc biệt của tác giả Đó là hình ảnh của những mái chìa của nhữngngôi nhà cổ xệ xuống vì tuyết nơi vùng núi phía Bắc (Xứ tuyết), là những rừng báhương hùng vĩ (Tiếng rền của núi), là hoa quắt khổng lồ trong khuôn viên đềnSubakidera (Người đẹp say ngủ)… Tất cả đều đẹp trong tĩnh lặng đến khôn cùng

Nhưng sabi, ngoài nỗi cô đơn, niềm tịch tĩnh, còn là dấu ấn của thời gian trong vẻ đẹp,

và không ở đâu trong tác phẩm của mình, các yếu tố ấy lại kết hợp một cách hài hòa,

tự nhiên đến tuyệt vời để trở thành toàn bộ khung cảnh, toàn bộ bầu không khí hít thở,

trở thành một ấn tượng duy nhất như trong tiểu thuyết Cố đô của Kawabata Cố đô, bản cái tên t ác phẩm đã là một sabi, và tại nơi thành cổ Kyoto ấy, những đền đài, miếu

mạo, những rêu phong đá núi, những kimono với thắt lưng truyền thống đã tạo cho câuchuyện một diện mạo riêng biệt Chieko – nhân vật nữ chính trong tác phẩm sống ởmột thành phố yên bình, trong một ngôi nhà cổ với người cha làm nghề kinh doanh tơlụa may Kimono và vẻ họa tiết thắt lưng Nhà nàng – giống như bất kì ngôi nhà cổquyền quý nào ở Kyoto – có hàng rào gỗ sơn son bao quanh Trải bao mưa nắng lạiđược bàn tay người thiếu nữ c hăm sóc lau chùi hằng ngày, hàng rào gỗ sơn son ấy đãlên màu thời gian bóng lộn Và ngoài những lo toan thường nhật, cuộc sống của mộttiểu thư nhà thương gia Takichiro khiến ta thường xuyên được theo gót nàng tới thămviếng những ngôi chùa cổ, những tượng đá rêu phong, những nghi lễ của đền thờ Thầnđạo trong một không khí thực sự cổ xưa Toàn bộ không gian ấy toát lên một tinh thần

sabi, một ấn tượng sabi Vậy nhưng cái sabi tuyệt đích lại nằm trong một chi tiết ở trong một tác phẩm khác, đó là Ngàn cánh hạc.

Ngàn cánh hạc được mệnh danh là câu chuyện xoay quanh chén trà, vậy nên

những vật dụng uống trà truyền qua bao thế hệ đã mang đậm dấu ấn thời gian Đó làcái bầu đựng nước làm bằng trái bầu khô đã có 300 năm tuổi, đã “xỉn đi vì thời gian”,

là cặp chén Raku, một đen một đỏ, một âm một dương dùng trong tiệc trà và thích hợphơn cả cho một cuộc đối ẩm giữa một người đàn ông và một người đàn bà Nhưng ấntượng hơn cả, đặc biệt hơn cả, mang lại cảm giác lạ lùng, lại là chiếc chén Shino, cũngnằm trong số những kỉ vật của người đã khuất đang được Kikuji và Fumiko lưu giữ

Trang 35

Đó là một chén uống trà hình trụ và có vết son của bà Ota lưu lại nơi miệng chén Một

vẻ đẹp sabi thật đặc biệt, thật quyến rũ Một vật dụng được chế tác từ nguyên liệu tự

nhiên – trải qua bao thế kỉ, lưu cả dấu môi người đàn bà đẹp ở đó Chiếc chén, “Trênnền men trắng phủ một lớp màu đỏ nhạt Liệu chiếc chén có cùng chung số phận khi

nó gợi nhắc quá rõ rệt đến người đã khuất? Và Fumiko sau khi tặng nó cho Kikuji, đã

đi đến quyết định đập vỡ chiếc chén Chỉ bởi nó quá gợi cảm, đó là lí do chính xác mànàng không bao giờ chịu thừa nhận Khoảnh khắc nàng đập vỡ chiếc chén ở vườn nhàKikuji, nàng đã bị mất thăng bằng và ngã vào lòng chàng Cũng khoảnh khắc ấyKikuji bật khóc Và sáng hôm sau, với ý nghĩa phải lượm những mảnh vỡ đem chôn,nhưng khi nhìn thấy ngôi sao hôm, chàng lại khóc và ném chúng đi Nhẫn tâm đập vỡchiếc chén, Fumiko chỉ mong dứt chàng ra khỏi quá khứ và có một thay đổi gì đótrong cuộc sống của Kikuji Nàng đâu biết, rốt cục, Kikuji lại gói những mảnh vỡ ấy

cất đi Một sabi tuyệt đích, một sabi bi ai đến não lòng Vẻ đẹp của chiếc chén và khoảnh khắc nó trở về với đất là một sabi Có tĩnh mà cũng có động Dang tay đập

mạnh chiếc chén nhưng họ lại hành động hoàn toàn trong yên lặng Chỉ có tiếng khócbật lên như một lời chào vĩnh biệt của Kikuji với vẻ đẹp đang rời bỏ mình Cả câu

chuyện là một niềm sabi còn lưu lại nơi những vật dụng cổ và một thú chơi truyền thống tao nhã Sabi trong trà đạo cũng như trong tác phẩm của Kawa bata, ngoài “dấu

ấn của thời gian” còn là “niềm tịch tĩnh” vô bờ trong sự im lặng của đối thoại, củahành động truyện

2.4.2 Aware (cái đẹp từ cảm xúc bên trong)

Trong tác phẩm của Kawabata cũng có vẻ đẹp mang hình hài của cái đẹp thực

sự Một vẻ đẹp quyến rũ bởi sự tao nhã, thanh cao, bởi nỗi buồn dịu dàng, sự cảm

thương trước sự vật Đó là aware, một nguyên lí thẩm mĩ có quan hệ khá mật thiết với

giáo lí nhà Phật và trở nên đỉnh cao, thành quy định hàng đầu trước cái đẹp của thời

Heian Aware, gọi đầy đủ hơn là mo no aware, hiểu sát nghĩa là “nỗi buồn sự vật”,

được dùng để “gợi tả vẻ đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm thức vô thườngcủa Phật giáo” Tuy trở thành nguyên lí đỉnh cao của thời Heian nhưng cái đẹp mangtính phù du và quan niệm, lòng yê u mến đối với cái đẹp ấy đã xuất hiện ngay từ buổi

đầu sơ khai trong lịch sử hình thành đất nước Nhật bản kỉ (Nihongi), bộ sách về lịch

sử thời cổ sơ đã lấy chuyện hôn nhân của Ninigi – cháu trai của nữ thần Mặt TrờiAmaterasu để lí giải về sự hữu hạn cái đẹp của kiếp người so với sự vô hạn, vô cùngcủa vũ trụ Số là Ninigi sau khi được Amaterasu trao cho vài nhành lúa lấy từ cánhđồng thiêng đã xuống đỉnh Takachiho ở Kyushu để kết hôn với con gái Sơn thần.Chàng có hai sự lựa chọn: hoặc là lấy cô chị, côn g chúa Đá (Iwanaga) có thể trườngsinh hoặc kết duyên cùng cô em, công chúa Hoa (Konohana Sakuya) – cái đẹp phù du.Định mệnh đã khiến chàng trai ôm chầm lấy nàng Hoa Cái chết không đe dọa được

Trang 36

chàng, chỉ có cái đẹp mới khiến chàng mê đắm Tủi hận, nàng I wanaga đã thực hiệnlời nguyền rằng “các con ngươi (tức dòng giống con người) sẽ có cuộc sống mongmanh như hoa trên cành” Như vậy là không chỉ con người, mà cả thủy tổ của loàingười, tức các thần cũng đã mê đắm cái đẹp cho dù cái đẹp đó vĩnh viễn không thểvĩnh hằng.

Cũng chính bởi cái đẹp không thể vĩnh hằng nên cảm thức aware mới xuất

hiện, thể hiện niềm tiếc thương, “nỗi buồn sự vật” trước cái đẹp hữu hạn Yêu mến và

rõ ràng là chịu ảnh hưởng bởi dòng văn chương nữ lưu thời Heian, thời của cái đẹp,

trong tác phẩm của mình, aware đã được Kawabata tái sinh dưới một cái nhìn mới: sự

rung động, thương cảm, xót xa trước những vẻ đẹp của con người và vạn vật

Kikuko, con dâu nhà ông Shingo trong Tiếng rền của núi là một phụ nữ mang

dáng vẻ aware Nàng trong sáng, dịu dàng, luôn biết hy sinh chịu đựng Biết chồng có

nhân tình, nàng cũng không khi nào phản ứng ra mặt, chỉ biết âm thầm cởi giày choanh ta mỗi khi Suychi say khướt từ chỗ nhân tình bò về nhà trong đêm muộn Vẻ đẹp

ấy, sự chịu đựng ấy khiến cho ông Shingo luôn đối xử bằng một tình cảm, thái độ

nhuốm màu aware Cảnh ông hồi tưởng về người chị vợ đã mất là một aware: “Bác

con thì thật là đẹp! Con sẽ không tin mẹ và bác là hai chị em nữa cơ Ngay giờ đây tavẫn còn thấy rõ bác ấy mặc kimono đen và mái tóc xõa xuống trán, như đang ở trướcmắt vậy… Sáng sáng bác ấy dậy từ lúc trời còn chưa tỏ để dọn tuyết trên các dãy chậuhoa Ở Sinano trời rất lạnh và miệng bác ấy thở ra hơi trắng…”(tr 99) Suy nghĩ và sựtiếc nuối của ông về cái thai đã mất trong bụng Kikuko “biết đâu có thể là một mỹ

nhân do người chị vợ đầu thai vào” là một thái độ aware Và trên tất cả, tình cảm mà ông dành cho Kikuko luôn là một niềm aware đến xót xa Nhưng trong Tiếng rền của núi còn có một aware rất ấn tượng, đó là khoảnh khắc kh ông bao giờ trở lại của giây

phút ông Shingo chứng kiến trong lễ cưới người phụ nữ mình yêu (mà sau này trởthành chị vợ của ông): đúng lúc đôi uyên ương vòng tay trao nhau li rượu cưới thì bấtngờ một quả hạt dẻ rơi trúng một hòn đá và văng xuống suối Đi ều này chỉ mình ôngShingo biết, ông suýt đã kêu lên bởi nó đã để lại trong ông một ấn tượng lạ lùng,không thể diễn tả được bằng lời Phải chăng đó là dấu hiệu chấm hết, là lời giả biệtcho một mối tình đơn phương mà ông đã theo đuổi bấy nay, là sự nuối t iếc, mất mátcủa người trong mộng?

Có thể thấy vô số những nỗi “buồn thương sự vật” như vậy trong các tác phẩm

của Kawabata, nhưng nơi mà aware đã trở thành cảm giác chung đối với bất kì độc giả nào ngay khi tiếp xúc phải kể đến tiểu thuyết Người đẹp say ngủ Nếu ở mỗi tác phẩm

của Kawabata đều có một (hoặc hai) người đẹp thì sự trong trắng luôn để lại những ấntượng đẹp nơi người đọc thì người đẹp say ngủ lại có tới sáu người đẹp ngủ mê – mặc

dù trong lữ điếm – nhưng họ đều là những cô gái trinh trắng Nh ưng aware của Người

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w