Trong bài "Sáng tác của Tô Hoài" Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, 1976, nhà nghiên cứu Vân Thanh điểm qua những tác phẩm Tô Hoài viết từ trớc Cách mạng tháng Tám
Trang 1Lời cảm ơn
Trớc hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tiến sĩ Lê Thanh Nga đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn- Trờng Đại học Vinh đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc và tập thể cán bộ, giáo viên của Trung tâm GDTX Quế Phong, cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Vinh, tháng 12 năm 2009
Trơng Thị Thu
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tợng nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 10
5 Phơng pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp mới của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
Chơng 1 Tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài 12
1.1 Những vấn đề tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi 12
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử 12
1.1.2 Tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại 14
1.1.3 Tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi trong văn học Việt Nam hiện đại 17
1.2 Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài 19
1.2.1 Tô Hoài, quê hơng và gia đình 19
1.2.2 Ngời sống qua nhiều sự kiện của lịch sử và những trải nghiệm vô tận .21
1.2.3 Những chặng đờng sáng tác của Tô Hoài 25
1.3 Bộ ba tiểu thuyết Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần trong hệ thống truyện lịch sử viết cho thiếu nhi 31
1.3.1 Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài 31
1.3.2 Tổng quan về thế giới nghệ thuật của Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần 35
Chơng 2 Hình tợng cuộc sống trong bộ ba tiểu thuyết Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần 40
2.1 Công cuộc mở mang bờ cõi và bảo vệ chủ quyền dân tộc 40
2.1.1 Công cuộc mở mang bờ cõi 40
2.1.2 Công cuộc bảo vệ chủ quyền dân tộc 44
Trang 32.1.3 Công cuộc khẳng định sự tồn tại và sức sống mãnh liệt, vô địch
của con ngời 50
2.2 Nhọc nhằn trong tình yêu thơng và không gian văn hóa thuần Việt .57
2.2.1 Một cuộc sống nhọc nhằn với bao thử thách và khát vọng 57
2.2.2 Một thế giới của tình yêu thơng và niềm tin 62
2.2.3 Một không gian văn hóa Việt thuần khiết 71
2.3 Quan điểm tiếp cận lịch sử của tác giả qua Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần 80
2.3.1 Những bài học rút ra cho ngời đọc, trong đó có bạn đọc thiếu nhi 80
2.3.2 Những nguồn cảm hứng lớn về lịch sử, về cuộc sống 85
Chơng 3: Nghệ thuật tiểu thuyết của Tô Hoài viết cho thiếu nhi qua Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần 95
3.1 Vấn đề xây dựng cốt truyện trong bộ ba tiểu thuyết lịch sử của Tô Hoài viết cho thiếu nhi 95
3.1.1 Sự phong phú về cốt truyện trong Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần 95
3.1.2 Đời sống hóa cốt truyện trên cơ sở chất liệu dân gian 99
3.1.3 Phiêu lu hóa cốt truyện 102
3.2 Một thế giới nhân vật thống nhất mà đa dạng 107
3.2.1 Tính thống nhất của nhân vật 107
3.2.2 Tính đa dạng của nhân vật 110
3.2.3 Các biện pháp xây dựng nhân vật 117
3.3 Một thế giới ngôn ngữ sống động, giàu chất thơ 127
3.3.1 Một chất liệu ngôn ngữ đặc biệt đậm chất cổ xa 127
3.3.2 Vấn đề sử dụng từ loại 130
3.3.3 Một số vấn đề về cấu trúc câu 136
Kết luận 141
Tài liệu tham khảo 144
Trang 4Mở đầU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Namhiện đại Gần 200 tác phẩm lớn nhỏ trong hơn 60 năm cầm bút với nhiều thểloại, nhiều đề tài đã chứng tỏ sức sáng tạo dồi dào của tác giả Trong sựnghiệp sáng tác của ông, có một mảng quan trọng dành cho thiếu nhi ở đó,ngoài những truyện viết về loài vật, về những tấm gơng anh hùng trong cáchmạng và kháng chiến, về cuộc sống mới còn có bộ ba tác phẩm viết dựa trên
các truyền thuyết lịch sử là Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần.
1.2 Bằng trí tởng tợng phong phú, sự hiểu biết sâu rộng về lịch sử vàngôn từ điêu luyện, ở ba tác phẩm này, Tô Hoài đã làm sống lại buổi đầudựng nớc của dân tộc với những lễ hội, phong tục tập quán, những cuộc vật
lộn với thiên tai và đấu tranh chống kẻ thù xâm lợc Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần đã khơi dậy ở các em thiếu nhi khát vọng tìm hiểu thiên
nhiên, đất nớc, niềm tin vào ý chí, nghị lực của con ngời và lòng biết ơn sâusắc đối với các thế hệ cha ông đã đem mồ hôi, xơng máu và trí tuệ để vun đắp,giữ gìn bờ cõi
Trong không khí hớng về cội nguồn hôm nay, việc nghiên cứu các tácphẩm văn học viết về đề tài lịch sử có ý nghĩa quan trọng nhằm giáo dục truyềnthống, giáo dục những tình cảm thẩm mỹ và khẳng định bản sắc dân tộc ViệtNam trong bối cảnh hội nhập và giao lu quốc tế Tìm hiểu truyện lịch sử của TôHoài cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó
1.3 Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệpsáng tác của Tô Hoài, nhng viết về tiểu thuyết lịch sử của Tô Hoài còn ít ỏi và
chỉ đề cập đến một vài phơng diện trong Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Tô Hoài viết cho thiếu nhi qua Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần” với mong muốn tìm hiểu và đánh giá một cách đầy đủ hơn những thành
công và đóng góp của Tô Hoài ở mảng truyện lịch sử viết cho thiếu nhi nóiriêng và truyện lịch sử nói chung trong nền văn học nớc nhà
Trang 5thờng tập trung vào những mảng đề tài quen thuộc hoặc các tác phẩm nổitiếng của ông.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong bài Tô Hoài - Nguyễn Sen (Nhà
văn hiện đại, quyển IV, Nxb Tân Dân, 1944) đã xếp Tô Hoài vào nhóm tác
giả “tả chân” nhng “có khuynh hớng xã hội” Qua phân tích Quê ngời và O chuột, tác giả bài viết phát hiện ra “biệt tài về những cảnh nghèo nàn của dân
quê” và khả năng miêu tả tinh tế thế giới loài vật cùng những điểm yếu trongvăn Tô Hoài ở giai đoạn này
"Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài" (1987) của giáo s Hà Minh Đức là
một bài viết công phu, đánh giá khá đầy đủ những đóng góp của Tô Hoài quagần nửa thế kỷ sáng tác, trong những tác phẩm viết cho tuổi thơ và ngời lớn;
về làng quê ngoại ô và miền núi; ở các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và ký.Bài viết cũng làm nổi bật phong cách sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài ở
“năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan”, ở các
ph-ơng diện miêu tả phong tục tập quán, khung cảnh thiên nhiên, tính cách nhânvật, tìm tòi sáng tạo ngôn từ và cấu trúc câu văn Với giáo s Hà Minh Đức, TôHoài là “cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”, là “một ngòi bút tơi mới không
bị cũ đi với thời gian”
Trong bài "Sáng tác của Tô Hoài" (Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện
đại, Nxb Khoa học Xã hội, 1976), nhà nghiên cứu Vân Thanh điểm qua
những tác phẩm Tô Hoài viết từ trớc Cách mạng tháng Tám cho đến năm
1971, tập trung phân tích những thành công của đề tài miền núi qua Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, ở các phơng diện
miêu tả khung cảnh miền núi, xây dựng những nhân vật tích cực, phản ánh
sự đổi thay trong cuộc đời ngời dân vùng cao qua hai giai đoạn trớc và saucách mạng
Tác giả Nguyễn Long trong bài "Quan niệm nghệ thuật về con ngời
trong truyện ngắn Tô Hoài về miền núi" (Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, 6/1999), qua phân tích những trờng hợp cụ thể trong Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, liên hệ đến Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây và một vài tác phẩm của
các tác giả khác, đã rút ra quan niệm nghệ thuật về con ngời trong truyệnngắn Tô Hoài về miền núi biểu hiện ở chỗ con ngời đợc đặt trong hoàn cảnhchính trị, xã hội của những năm đầu sau cách mạng Đó là sự giác ngộ vàvùng lên đấu tranh của đồng bào dân tộc, là sự giản dị, gần gũi, cùng chia sẻngọt bùi cay đắng với dân của ngời cán bộ kháng chiến Theo tác giả, nétchung ở nhân vật của Tô Hoài là đợc phát hiện từ đám đông Tác giả bài viết
Trang 6cũng khẳng định: “Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong truyện ngắn TôHoài về đề tài miền núi có một chất lợng mới so với quan niệm nghệ thuật vềcon ngời ở giai đoạn trớc”.
Nguyễn Đình Thi viết bài "Tập truyện ngắn Núi Cứu quốc" năm 1949,
giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, nêu đề tài chung của cả sáu truyện ngắn trongtập là nói về những cuộc đời lam lũ đau thơng nhng giàu lòng yêu nớc của ng-
ời dân ở vùng núi Cứu quốc trong những năm kháng chiến chống Pháp Bàiviết cũng chỉ ra hạn chế của Tô Hoài ở cái nhìn đôi lúc ẩn chứa nét giễu cợt tr-
ớc sự lạc hậu, mê tín, đói rách của ngời dân miền núi Nói nh Nguyễn ĐìnhThi là: “Tô Hoài thú Việt Bắc chứ cha thực sự yêu Việt Bắc”, “cha thực đemtâm hồn và t tởng vào hàng ngũ”, “cha kịp hòa t tởng và tâm hồn theo đề tài”
Về Truyện Tây Bắc, tác phẩm đợc giải thởng văn xuôi năm 1955 của Hội Nhà văn Việt Nam, các bài viết "Tô Hoài và Truyện Tây Bắc” của Hoàng Trung Thông (1954), Truyện Tây Bắc “ của Tô Hoài" của Huỳnh Lý (1980),
Vợ chồng A Phủ
“ của Tô Hoài" của Nguyễn Văn Long (1982), "Về Vợ chồng
A Phủ” của Đỗ Kim Hồi (1997), Vợ chồng A Phủ của Nguyễn Quang Trung (1999), Vợ chồng A Phủ “ của Tô Hoài" (Hà Minh Đức) đều giới thiệu hoàn
cảnh ra đời của tác phẩm và cảm hứng sáng tác của tác giả ở mức độ khácnhau, các bài viết hoặc phân tích cả ba truyện hoặc đi sâu vào một truyện, làmnổi bật các phơng diện chủ đề, nội dung, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ýnghĩa nhân đạo sâu sắc của tác phẩm Các tác giả cũng thống nhất khẳng địnhchất thơ đậm đà của cảnh và ngời Tây Bắc, cái nhìn đúng đắn, chân thực đầycảm thông và trân trọng của nhà văn đối với ngời dân vùng cao, ghi nhận bớctiến rõ nét so với cái nhìn của Tô Hoài trong những tác phẩm viết về miền núitrớc đây
Về tiểu thuyết Miền Tây, giải thởng Hội Nhà văn á - Phi năm 1970, các bài "Tô Hoài với Miền Tây ” của Phan Cự Đệ (1968), "Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài" của Hà Minh Đức (1968), "Đọc Miền Tây” của Khái Vinh
(1969) đã tập trung làm rõ sự đổi thay trong cuộc sống của ngời dân miền núiqua hai chế độ xã hội cũ và xã hội mới, những đặc sắc trong miêu tả thiênnhiên và phong tục vùng cao cùng những chỗ đợc và cha đợc khi xây dựngtính cách nhân vật trong tác phẩm
Đối với những tác phẩm viết về vùng quê ngoại ô của tác giả, bài Quê“
nhà, Quê ngời, Mời năm, bộ ba tiểu thuyết về quê hơng" của giáo s Hà Minh
Đức ghi lại câu chuyện với Tô Hoài về hoàn cảnh sáng tác, những điểm chung
về nhân vật, sự kiện trong ba cuốn tiểu thuyết, quan niệm của nhà văn khi viết
Trang 7về ngời nông dân, chỗ giống và khác nhau của làng quê trong tác phẩm củaTô Hoài so với tác phẩm của Nam Cao và Ngô Tất Tố.
Bài "Tô Hoài với Ngời ven thành” của tác giả Triều Dơng (1973) đề cập
đến hai truyện viết về vùng ngoại ô quê ngoại Tô Hoài là Câu chuyện bờ đầm sen cửa miếu Đồng Cổ và Ngời ven thành Bài viết đánh giá cao những trang
miêu tả thiên nhiên, sinh hoạt, phong tục, quang cảnh quá khứ, vốn hiểu biết
về nghề làm giấy dó của Tô Hoài Đồng thời cũng chỉ ra nhợc điểm ở chỗ tâmtrạng nhân vật cha khơi sâu, vào chi tiết cha thật chính xác và bày tỏ kỳ vọng
ở Tô Hoài trong mảng tiểu thuyết lịch sử
Cũng về hai truyện ngắn này, trong bài "Ngời ven thành xa và nay",
tác giả Thiếu Mai lại nhấn mạnh vẻ đẹp của ngời Hà Nội xa và nay qua cácnhân vật, khẳng định thành công của tác giả trong bố cục, dựng cảnh, sáng tạongôn ngữ nhng vẫn không bỏ qua vài chỗ dùng từ đặt câu khó chấp nhận
Xoay quanh mảng hồi ức và chân dung văn học của Tô Hoài, bài viết
"Tô Hoài qua Tự truyện” (Vân Thanh, 1980) đề cập đến những tác phẩm ghi lại hồi ức của tác giả về quãng đời thơ ấu (Cỏ dại), những năm học cấp 1 (Mùa hạ đến, mùa xuân đi) và những năm tháng đi kiếm việc làm (Những ng-
ời thợ cửi, Đi làm) Đó là “chuyện cá nhân, gia đình, làng quê và xa hơn chút
ít là Kẻ chợ ” Bài "Những gơng mặt - chân dung văn học Tô Hoài" của tác
giả Phạm Việt Chơng (1989) giới thiệu cuốn sách gần 200 trang viết về “cáccây bút văn xuôi “thế hệ trớc Cách mạng tháng Tám” cùng những mày mò,trăn trở, vật lộn với cuộc đời ” và chân dung hai nhà thơ Nguyễn Bính, Trần
Huyền Trân với tâm niệm “hãy hiểu con ngời qua tác phẩm của họ” Bài Cát bụi chân ai đăng trên báo Văn nghệ ngày 13/11/1993 ghi lại cuộc trao đổi
giữa Xuân Sách và Trần Đức Tiến về cuốn hồi ký đã cho bạn đọc “nhìn một
số nhân vật lớn của văn chơng nớc nhà từ một cự ly gần” Còn nhà nghiên cứu Đặng Thị Hạnh trong bài Viết về một cuộc đời và những cuộc đời (1998) thì đi sâu phân tích cấu trúc thời gian và ngôn ngữ trong Cát bụi chân ai.
Năm 2006, Tô Hoài cho ra mắt bạn đọc tiẻu thuyết Ba ngời khác viết về
cải cách ruộng đất, một công việc mà ngày trớc ông đã trực tiếp tham gia Tácphẩm lập tức thu hút đợc sự chú ý của đông đảo bạn đọc Hội Nhà văn Hà Nội
đã tổ chức cuộc tọa đàm về Ba ngời khác tại trụ sở Viện Văn học với sự có
mặt của nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu, phê bình văn học Hầu hết các ýkiến phát biểu trong cuộc tọa đàm đều đánh giá cao tác phẩm ở nhiều phơng
diện Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho rằng “Ba ngời khác là một thành
công mới của nhà văn lão thành và có một vị trí đặc biệt trong các tác phẩm
Trang 8của ông Nhà văn Tô Hoài đã đổi mới rất nhiều cả về mặt nội dung lẫn hìnhthức thể hiện tiểu thuyết” Còn theo nhà văn Châu Diên thì “đóng góp lớn nhất
về bút pháp là sự thay đổi từ chỗ không để ý tâm lý nhân vật (Vợ chồng A Phủ không có tâm lý, Dế mèn không có tâm trạng) sang có tâm trạng của những
ngời rất hiện đại Trạng thái hiện đại của những con ngời đang sống bây giờ
đó là sự tha hoá” Giáo s Hà Minh Đức, sau khi nêu các điều kiện thuận lợicủa Tô Hoài khi viết về đề tài này, đã đánh giá: “Không khí trong cuốn này làkhông khí hiện đại T duy của Tô Hoài hiện đại, cách nghĩ lấy sự thật là cơbản, không bị rào cản nào cản trở Ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc Ngôn ngữ
Hồ Xuân Hơng trong văn xuôi, cựa quậy” Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng
Ba ngời khác có “cách viết hay, độc đáo về cải cách ruộng đất ở tuổi cao
nh thế mà anh đã cho ra một tiểu thuyết hàng đầu”
Giáo s Phong Lê trong bài Tô Hoài, 60 năm viết (1999) đã đánh giá
chặng đờng sáng tác 60 năm của Tô Hoài qua các giai đoạn trớc và sau cáchmạng, những đóng góp của Tô Hoài cho nền văn học ở các đề tài và thể loại,
đồng thời khẳng định vẫn “cha nói hết đợc những điều muốn nói” về Tô Hoài
Ngoài công trình của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học còn có một
số khóa luận đại học, luận văn thạc sĩ bàn về một khía cạnh nào đó trong sáng
tác của Tô Hoài Có thể kể đến Con ngời và không gian ngoại ô trong tác phẩm Tô Hoài trớc cách mạng (Nguyễn Thị Mỹ Dung, 2002), Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả trong "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài (Hà Thị Thu Hiền, 2004),
Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Tô Hoài sau cách mạng (Trần Hoàng Anh, 2004), Nghệ thuật trần thuật trong hồi ký của Tô Hoài (Lê Thị Hà, 2007), Một số đặc điểm ngôn ngữ trong hồi ký Tô Hoài (Lê Thị Ninh, 2008), v
v
2.2 Nhà nghiên cứu Vân Thanh trong Tô Hoài với thiếu nhi (1982) đánh
giá cao những đóng góp của Tô Hoài trong mảng sáng tác cho thiếu nhi ở đề tàiphong phú, thể loại đa dạng, nội dung phù hợp với lứa tuổi Truyện về các tấmgơng anh hùng trớc cách mạng và trong kháng chiến có tác dụng giáo dục lý t-ởng và đạo đức cho các em sắp bớc vào đời Sáng tác thuộc loại “những mẩuchuyện nhỏ”, xinh xắn, nhẹ nhàng nhng sâu sắc nhằm ca ngợi xã hội mới làviết cho bạn đọc nhỏ tuổi hơn Truyện lịch sử viết cho lứa tuổi lớn, gợi khátvọng tìm hiểu đất nớc, tình yêu quê hơng, yêu lao động và bài học về ý chí,nghị lực của con ngời Bài viết cũng phân tích bút pháp miêu tả sinh động, khảnăng quan sát sắc sảo, yếu tố trữ tình thấm đẫm và nghệ thuật sử dụng ngônngữ sinh động, cụ thể, phù hợp tâm lý thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài
Trang 9Cùng viết về tác phẩm nổi tiếng Dế mèn phiêu lu ký, trong khi các tác
giả Nguyễn Lộc - Đỗ Quang Lu đi sâu phân tích nội dung, ý nghĩa của tácphẩm, từ chuyện con dế liên tởng đến con ngời thì tác giả Trần Đăng Xuyền,ngoài việc đề cập đến ý nghĩa tác phẩm, còn nhấn mạnh sở trờng miêu tả phongtục nông thôn qua xã hội loài vật và tài năng quan sát tinh tế của Tô Hoài Tácgiả G Gô-lôp-nep lại nói về sự đón nhận nồng nhiệt của bạn đọc nhỏ tuổi Liên
Xô khi Dế mèn phiêu lu ký đợc dịch sang tiếng Nga và một số thứ tiếng dân tộc
khác ở Liên Xô Ngoài ra, ở những mức độ khác nhau, các bài viết của các nhànghiên cứu Hà Minh Đức, Vân Thanh đều ghi nhận thành công của Tô Hoài ởmảng sáng tác cho thiếu nhi, nhất là khi viết về loài vật
Từ truyện Kim Đồng viết về tấm gơng anh hùng của Kim Đồng tức
Nông Văn Dền, ngời đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong, TôHoài viết kịch bản phim Kim Đồng Bộ phim giành đợc 4 giải thởng tại Đại
hội điện ảnh á - Phi ở Gia-cac-ta 1963 Các bài viết: Kim Đồng - một bộ phim
về truyền thống cách mạng của nhân dân ta (Nguyễn Hồ, 1964), Những bộ phim chiến đấu (Phỏng vấn của báo Văn Nghệ, 1964), Kim Đồng, một bộ phim tốt (báo Văn nghệ, 28/8/1964) đã phân tích những yếu tố làm nên thành
công của bộ phim từ đạo diễn tài năng, quay phim sáng tạo đến diễn viênnhập vai khá đạt Riêng tác giả kịch bản, nhà văn Tô Hoài, để xây dựng nhânvật Kim Đồng, “đã viết từ một cảm xúc sâu sắc, ấp ủ từ lâu”
2.3 Trong bài Tiểu thuyết Đảo hoang" của Tô Hoài“ (1976), giáo s Phan
Cự Đệ đánh giá cao những giá trị nội dung của tác phẩm: ca ngợi tình yêu quêhơng đất nớc, ca ngợi sức mạnh của ý chí và nghị lực con ngời trong công cuộcchinh phục thiên nhiên qua nhân vật tiêu biểu Mai An Tiêm Tác giả bài viếtcũng phát hiện nhà văn Tô Hoài đã khai thác những đặc điểm của thần thoại,truyền thuyết, cổ tích trong việc miêu tả thế giới cây cỏ, chim muông, khơi dậy
ớc mơ khám phá thiên nhiên ở các em thiếu nhi và khẳng định Đảo hoang
“đánh dấu một bớc tiến đáng kể trong nghệ thuật viết tiểu thuyết”, “là mộtthành công quan trọng của Tô Hoài" Cũng theo tác giả bài viết, trong tác phẩmnày, Tô Hoài cha chú ý đúng mức sự phân chia giai cấp bớc đầu trong xã hội,cha quan tâm đến mặt đấu tranh xã hội ở nhân vật An Tiêm
Gọi Đảo hoang là “cuốn sách tuyệt vời”, trong bài "Đọc Đảo hoang
dịch ở Liên Xô" (1981), tác giả Ac-ca-đi Xtơ-ru-ga-xki đã nêu ấn tợng sâu sắccủa mình về cốt truyện phiêu lu hấp dẫn, những nhân vật hết sức sinh động vàtrí tởng tợng phong phú của Tô Hoài thể hiện trong tác phẩm Tác giả bài viếtcũng bày tỏ sự ngỡng mộ Tô Hoài ở nhiều phơng diện: nhà văn, nhà hoạt
Trang 10động xã hội nổi tiếng, con ngời khiêm nhờng, chân thành, thủy chung trongtình bạn, một ngời tốt “không bị vinh quang làm hỏng”.
Trong bài "Đọc Chuyện nỏ thần” (1985), sau khi nêu những điều kiện
thuận lợi về lịch sử, xã hội, văn hóa làm cơ sở cho việc hình thành tiểu thuyết
Chuyện nỏ thần, tác giả Đỗ Bạch Mai đã đánh giá trí tởng tợng và vốn sống
của Tô Hoài trong việc miêu tả, trần thuật, xây dựng nhân vật, đồng thời cũngkhẳng định “cuốn tiểu thuyết có một giọng văn thuần Việt khá mẫu mực”
Cũng về tác phẩm này, tác giả Văn Hồng trong “Chuyện nỏ thần, hiện
thực và huyền thoại" lại tập trung làm rõ mối quan hệ giữa bút pháp hiện thực
và bút pháp huyền thoại trong các chi tiết miêu tả phong tục tập quán, hội hè,lao động xây thành, làm nỏ cũng nh trong nghệ thuật xây dựng hai nhân vật
điển hình là Cao Lỗ và vua Thục Theo Văn Hồng thì “cách nhìn, cách cảmnhận của tác giả mang tính hiện thực lịch sử, còn cách nhìn, cách cảm nhậncủa nhân vật ít nhiều mang tính huyền thoại”
Ngoài ra, trong bài Tô Hoài với thiếu nhi, tác giả Vân Thanh có đề cập
đến vẻ đẹp và sức hấp dẫn của Đảo hoang, ý nghĩa giáo dục thiếu nhi qua nhân vật An Tiêm Tác giả Hà Minh Đức trong "Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài”
có bàn đến sự tìm tòi sáng tạo ngôn từ của Tô Hoài thể hiện trong Nhà Chử.
Là một nhà văn có nghề, “Tô Hoài là một tấm gơng sáng về tinh thầnlao động sáng tạo, về công phu rèn luyện tay nghề của một ngời viết văn xuôi
ở nớc ta” (Trần Hữu Tá) Bởi vậy, “khám phá về ông cả về văn lẫn về đời làmột say mê với chúng ta, những ngời có hạnh phúc đợc cùng thời với ông, vàchắc cả thế hệ sau Khám phá về ông là đòi hỏi của tình cảm, của lòng biết
ơn, sự noi gơng” (Vũ Quần Phơng)
Cho đến nay, đã có hơn 90 bài viết về Tô Hoài, về các tác phẩm của
ông và con số đó chắc sẽ cha dừng lại ở đây, do khuôn khổ của luận văn,chúng tôi mới chỉ đề cập đợc một phần Nhìn chung, các bài viết đều tập trungvào một số điểm sau đây:
1 Về sáng tác của Tô Hoài cho ngời lớn, phần nhiều các công trìnhnghiên cứu thờng đi sâu vào phong cách nghệ thuật hoặc một mảng đề tàiquen thuộc (ngoại ô, miền núi ) hoặc những tác phẩm nổi tiếng của ông
(Truyện Tây Bắc, Miền Tây, Cát bụi chân ai ) ở mảng sáng tác cho thiếu
nhi, đa số bài viết xoay quanh truyện về loài vật, truyện về tấm gơng anh hùng
hay một số tác phẩm tiêu biểu (Dế mèn phiêu lu ký, Kim Đồng ).
2 Hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình đều đánh giá cao trí tởng tợng,vốn sống và vốn ngôn ngữ phong phú của Tô Hoài, đồng thời khẳng định tài
Trang 11năng của ông trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật miêu tả (tảthiên nhiên, phong tục, lễ hội và tả loài vật).
3 Về ba tác phẩm đặc sắc Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, cho
đến nay, mới chỉ có ít bài viết đề cập đến và các bài viết này cũng chỉ bàn về
một số phơng diện nào đó mà cha đi sâu vào thế giới nghệ thuật của cả ba tácphẩm Khóa luận và luận văn nghiên cứu về sáng tác cho thiếu nhi của TôHoài khá nhiều nhng về truyện lịch sử của ông còn quá ít ỏi Có thể kể đến
các khóa luận tốt nghiệp đại học của Mai Thị Huệ (1995) bàn về Nghệ thuật miêu tả thế giới loài vật của Tô Hoài trong "Dế mèn phiêu lu ký"; Nguyễn Vân Anh (1998) Tìm hiểu những thành công trong nghệ thuật miêu tả thế giới loài vật của Tô Hoài; luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Trâm về Truyện cổ dân gian trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại (1996) v v
Nhìn chung, ý kiến bàn về tác phẩm của Tô Hoài khá phong phú, dùtrực tiếp hay không trực tiếp bàn về đề tài lịch sử đều chứa đựng ít nhiềunhững gợi ý quý báu cho chúng tôi trong việc thực hiện đề tài này
3 Đối tợng nghiên cứu:
Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Tô Hoài viết cho thiếu nhi
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt ra 3 vấn đề nghiên cứu:
- Tìm hiểu một cách khái quát về tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhitrong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
- Phân tích hình tợng cuộc sống trong buổi đầu dựng nớc và giữ nớc của
dân tộc, từ đó thấy đợc quan điểm tiếp cận lịch sử của tác giả qua Nhà Chử,
Đảo hoang, Chuyện nỏ thần.
- Chỉ ra một số nét đặc sắc nghệ thuật của ba tác phẩm Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần.
Trên cơ sở đó rút ra những kết luận về đặc điểm tiểu thuyết lịch sử củaTô Hoài viết cho thiếu nhi và đóng góp của những tiểu thuyết ấy đối với vănhọc thiếu nhi nói riêng, văn học nói chung
5 Phơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng kết hợp nhiều phơng phápnghiên cứu, trong đó có các phơng pháp chính:
- Phơng pháp nghiên cứu lịch sử văn hóa
- Phơng pháp nghiên cứu xã hội học
- Phơng pháp nghiên cứu hình thức
Trang 126 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu và xác định những đặc điểm trong tiểuthuyết lịch sử của Tô Hoài viết cho thiếu nhi Kết quả của luận văn có thể làtài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về sáng tác của Tô Hoài, về văn họcviết cho thiếu nhi hoặc về tiểu thuyết lịch sử
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn đợc triển khai trong 3 chơng:
Chơng 1 Tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi trong sự nghiệp
sáng tác của Tô Hoài Chơng 2 Hình tợng cuộc sống trong bộ ba tiểu thuyết Nhà Chử,
Đảo hoang và Chuyện nỏ thần
Chơng 3 Nghệ thuật tiểu thuyết của Tô Hoài viết cho thiếu nhi
qua Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần
Trang 13Chơng 1 Tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi
trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
1.1 Những vấn đề tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử
Cho đến nay, đã có nhiều quan niệm về tiểu thuyết lịch sử Theo Từ
điển văn học (bộ mới) thì “tiểu thuyết lịch sử là thuật ngữ chỉ một loại hình
tiểu thuyết hoặc tác phẩm tự sự h cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính"
[8, 725] Còn tác giả Võ Gia Trị trong bài Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng
Quốc Hải và thủ đô sắp nghìn năm tuổi thì cho rằng “Tiểu thuyết lịch sử là
một thể loại văn học gồm hai bộ phận không thể tách rời là phần tiểu thuyết
và phần lịch sử, ngời viết ở đây không thể bỏ đợc phần nào, và chính cái phầnlịch sử luôn đòi hỏi ngời viết phải có thêm phông kiến thức sâu rộng và quanniệm khoa học có hệ thống về lịch sử và còn phải biết sử dụng nó nhuầnnhuyễn trong sáng tạo nghệ thuật của mình Ngời nghệ sĩ ở đây không chỉsáng tạo mà cần phải làm thêm công việc của nhà nghiên cứu với sự sâu sắc,chu đáo và tỉ mỉ tìm hiểu, khảo cứu ngọn ngành các sử liệu học để từ đó giúp
họ xây dựng hình tợng nghệ thuật một cách chính xác và sinh động hơn”
Cũng về khái niệm này, theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “các tác
phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết h cấu,tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì đợc sáng tạo trên các sử liệu xácthực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục tập quánphù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thờng mợn chuyện
xa nói chuyện đời nay, tiếp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồngcảm với những con ngời và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóangời xa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này Đặc điểm này của tiểuthuyết lịch sử và kịch lịch sử đòi hỏi nhà văn phải vừa là ngời nghệ sĩ, vừa lànhà nghiên cứu, có vốn sống và hiểu biết phong phú, có quan điểm lịch sử
đúng đắn và tiến bộ” [26, 256]
Nh vậy, các tác giả, khi trình bày quan niệm về tiểu thuyết lịch sử, đềukhẳng định sự thống nhất giữa hình thức tiểu thuyết và nội dung lịch sử củatác phẩm, đồng thời nhấn mạnh các yêu cầu khác nhau đối với tác giả tiểuthuyết lịch sử Tuy nhiên, thực tế sáng tác của các nhà văn cho thấy đề tài lịch
sử không chỉ bao gồm các sự kiện và nhân vật lịch sử trong một giai đoạn lịch
sử nhất định mà cần phải đợc hiểu rộng hơn Theo tác giả Lê Thanh Nga, có
Trang 14thể chia tác phẩm viết về đề tài lịch sử thành hai khuynh hớng lớn: thứ nhất làkhuynh hớng tái hiện toàn bộ lịch sử ở một giai đoạn nào đó, với những biến
động xã hội dới tác động của những nhân vật lịch sử Khuynh hớng này thờnggắn với cách nhìn của hệ t tởng chính thống Các tác giả thờng ca ngợi phechính nghĩa, lên án phe đối lập Không khí của tác phẩm thuộc khuynh hớngnày chủ yếu là không khí sử thi hoành tráng Thứ hai là khuynh hớng tái hiệnnhững nhân vật lịch sử với những số phận cụ thể Thông qua nhân vật, tác giảbộc lộ cái nhìn của thời đại mình hoặc sử dụng nhân vật nh một phơng tiệngửi gắm những ý nghĩ về cuộc sống Những tác phẩm viết theo khuynh hớngnày chủ yếu xuất hiện trong văn học hiện đại, khi lịch sử đối với con ngời chỉ
là một bản tin cũ, chỉ là nơi để họ nhận thức cái hôm nay thông qua một sự
đối chiếu, liên hệ nào đó Cũng có những nhân vật lịch sử đợc miêu tả mộtcách khác lạ so với bản thân họ trong chính sử, thể hiện sự nghi ngờ của conngời đối với những bảng giá trị trong quá khứ Ngoài ra, theo chúng tôi,những tiểu thuyết đợc khơi nguồn cảm hứng từ các truyền thuyết dân gian,trong đó có những sự kiện và nhân vật có dính dáng đến lịch sử thì cũng cóthể gọi là tiểu thuyết lịch sử Về sự h cấu trong tác phẩm viết về đề tài lịch sử,cũng theo tác giả Lê Thanh Nga thì "tính chất h cấu của tác phẩm ngày một
đậm hơn Bên cạnh nghệ thuật h cấu từ những nhân vật và sự kiện lịch sử cóthật, trong văn học ngày càng xuất hiện nhiều những nhân vật và sự kiện hoàntoàn do nhà văn tởng tợng ra" [61, 50] Đồng thời thái độ của ngời viết đối vớiquá khứ và hiện tại cũng đợc bộc lộ trong tác phẩm: "Lựa chọn đề tài lịch sử,nhiều khi, chính là sự đi tìm một cách nói kín đáo hơn, tế nhị hơn về các vấn
đề của cuộc sống quá khứ hoặc đơng đại" [61, 50] Từ nhận thức trên, trongluận văn này, chúng tôi quan niệm tiểu thuyết lịch sử là tác phẩm tự sự viếtbằng văn xuôi có hình thức tiểu thuyết, lấy đề tài lịch sử hoặc có liên quan
đến lịch sử làm nội dung phản ánh chủ yếu Trong đó, nhà văn vừa sử dụngquyền tởng tợng, h cấu nghệ thuật vừa phải tôn trọng tính chân thực lịch sử.Qua tác phẩm, nhà văn gửi gắm các bài học lịch sử và bày tỏ những cảm xúc,suy nghĩ của mình về cuộc sống
1.1.2 Tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại
Xuất hiện trong văn học Việt Nam từ thời trung đại nhng phải đến thời
kỳ văn học hiện đại, tiểu thuyết lịch sử mới thực sự phát triển mạnh cả về số ợng và chất lợng Từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, trong hoàn cảnh đất nớcnằm dới ách đô hộ của thực dân Pháp, nhiều nhà văn đã chọn đề tài lịch sử đểsáng tác nhằm khích lệ phong trào đấu tranh chống thực dân, phong kiến và
Trang 15l-bộc lộ lòng yêu nớc của mình Trong số đó tiêu biểu là Phan Bội Châu với
Trùng Quang tâm sử, Nguyễn Tử Siêu với Bà Triệu ẩu, Hai Bà đánh giặc, Nguyễn Huy Tởng với Đêm hội Long Trì, An T
Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu kể về những anh hùng hào
kiệt ở Nghệ An lấy danh nghĩa nhà Trần phát động cuộc khởi nghĩa chốngquân Minh xâm lợc Xây dựng một loạt nhân vật xuất thân từ quần chúng, tácgiả muốn kêu gọi, tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động đoàn kết đứng lên
chống Pháp Viết Hai Bà đánh giặc, Nguyễn Tử Siêu có mục đích “bồi đắp
thêm đợc chút đỉnh về cái quan niệm đối với Tổ quốc”, nhắc nhở mọi ngời
“cái nghĩa vụ đối với dân nớc” Qua Ngọn cờ vàng, tác giả Đinh Gia Thuyết
muốn cho ngời đọc thấy đợc “lịch sử của một bậc nữ anh hùng đại ái quốc của
nớc nhà” Giáo s Đinh Xuân Lâm trong "Lời giới thiệu Tuyển tập tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật" đã viết: “Không phải chỉ có tiểu thuyết lịch sử của
Nguyễn Triệu Luật mà còn có của Lan Khai, Phan Trần Chúc, Đào Trinh
Nhất, kể cả Ngô Tất Tố với các cuốn Gia Định Tổng trấn Tả quân Lê Văn Duyệt (1935), Vua Tây chúa Nguyễn (1938), Vua Hàm Nghi với việc Kinh thành thất thủ (1935), Lịch sử Đề Thám (1935) Có thể nói rằng từ sau khởi
nghĩa Yên Bái thất bại (1930), tiểu thuyết lịch sử nở rộ là biểu hiện của nềnvăn học yêu nớc, một phơng tiện để ký thác tình cảm của một số ngời cầmbút Và tiểu thuyết lịch sử đợc bạn đọc tìm đến, chính là để tìm thấy ở đâymột niềm an ủi, một ý chí tự h o và lòng hi vọng thầm kín vào tiền đồ của đấtào và lòng hi vọng thầm kín vào tiền đồ của đấtnớc” [54, 5]
Về hình thức, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn chịu ảnh hởng củalối ghi chép biên niên, kết cấu chơng hồi, câu văn biến ngẫu của tiểu thuyếttrung đại Một số tác giả đã cố gắng tìm tòi, kết hợp đợc tính chân thực củalịch sử với khả năng tởng tợng, h cấu của nhà văn trong việc khai thác tâm lý,xây dựng tính cách nhân vật Đó là trờng hợp tác giả Phan Bội Châu với nhân
vật anh Phấn, cô Chí trong Trùng Quang tâm sử, Nguyễn Triệu Luật với nhân vật Đặng Thị Huệ trong Bà Chúa Chè, Nguyễn Huy Tởng với nhân vật Trịnh Sâm trong Đêm hội Long Trì
Trong suốt 30 năm tiếp theo (1945 - 1975), sau khi đất nớc giành độclập, dân tộc ta dới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành hai cuộc kháng chiến tr-ờng kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Cùng với thơ ca và văn xuôi về đềtài chiến tranh cách mạng, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này với những tác giả
tiêu biểu nh Hà Ân (Quận He khởi nghĩa, Trên sông truyền hịch), Chu Thiên
Trang 16(Bóng nớc Hồ Gơm), Nguyễn Huy Tởng (Lá cờ thêu sáu chữ vàng) đã ca
ngợi truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc trong lịch sử chống ngoạixâm và phong kiến, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, khích lệ động viên nhân dân
ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc Các tác giả đã táihiện đợc không khí thời đại đợc phản ánh, xây dựng những hình tợng nhân vậttiêu biểu, trung thành với các sự kiện lịch sử Nhân vật thờng đợc thể hiện quahành động Ngợi ca và khẳng định là cảm hứng chung của tiểu thuyết lịch sửgiai đoạn này
Sau năm 1975, kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nớc bớcvào giai đoạn khôi phục kinh tế, xây dựng và phát triển Trở về đời thờng, conngời phải đối mặt với những khó khăn, phức tạp của thời kỳ hậu chiến Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với t tởng dân chủ đã mở ra cho vănnghệ sĩ một sự đổi mới trong t duy và sáng tạo nghệ thuật Từ khuynh hớng sửthi và cảm hứng lãng mạn của văn học trong chiến tranh, nhà văn quay về cảmhứng thế sự, đời t với nhiều trăn trở trong sáng tác Bên cạnh đó, ảnh hởng tíchcực của giao lu văn học với nớc ngoài cũng giúp ngời cầm bút mở rộng tầmnhìn và nhận thức, tìm tòi cách thể hiện mới Trong xu thế đó, các nhà nghiêncứu phê bình và nhà văn cũng có cách nhìn mới đối với tiểu thuyết lịch sử Vềmối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử với h cấu lịch sử, giáo s Phan Cự Đệ,
trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã cho rằng: “Trong quá trình sáng tác,
các nhà viết tiểu thuyết lịch sử, vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừaphải phát huy cao độ vai trò của h cấu sáng tạo nghệ thuật” “Nhà nghệ sĩ sẽlấy quyền sáng tạo và h cấu để bổ sung cho những chi tiết, những thời kỳ mà
lịch sử không nói đến” Về đề tài sáng tác, khi nhận xét tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, giáo s Phan Cự Đệ viết: “Ông không quan
niệm lịch sử chỉ là những câu chuyện của các ông hoàng bà chúa, của các ớng lĩnh, là sử biên niên của các trận đánh Tiểu thuyết lịch sử trớc hết là tiểuthuyết, là thế sự, là chất văn xuôi, là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của thiênnhiên” (Dẫn theo [64, 4]).Quan niệm đó đã đợc sự đồng tình hởng ứng củanhiều ngời sáng tác và phê bình văn học Từ sau đổi mới, mảng tiểu thuyếtlịch sử phát triển mạnh và có nhiều thành tựu Các nhà văn đã có nhiều tìm tòitrong cách thể hiện Kết cấu linh hoạt, sự kiện không nhất thiết triển khai theomạch thời gian mà có thể triển khai theo mạch vận động của suy nghĩ, cảmxúc nhân vật Yếu tố h cấu đợc sử dụng triệt để trong xây dựng nhân vật hoặc
t-để bổ sung, sáng tạo chi tiết Nhân vật đợc soi chiếu từ nhiều góc độ khácnhau đã hiện lên với tất cả những mặt tốt xấu, những phức tạp trong đời sống
Trang 17nội tâm Nhờ thế, đến với tiểu thuyết lịch sử, ngời đọc tránh đợc cái nhìn giản
đơn, một chiều và từ đó có nhận thức đúng đắn, toàn diện hơn về các sự kiện,
nhân vật lịch sử Gần đây Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Hồ Quý Ly, Mẫu Thợng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh đã làm đợc điều đó và đợc d luận đánh giá
cao, thực sự là những đóng góp có giá trị vào thành tựu văn học những năm
đổi mới Ngoài ra còn phải kể đến những tiểu thuyết lịch sử của các tác giảngời nớc ngoài viết về Việt Nam hoặc ngời Việt Nam sống ở nớc ngoài đợc
bạn đọc trong nớc hoan nghênh nh Vạn Xuân (Nxb Văn học 2002) của nữ văn
sĩ Pháp Eveline Féray viết về Nguyễn Trãi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hay
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác viết về Nguyễn Huệ
1.1.3 Tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi trong văn học Việt Nam hiện đại
Từ đầu thế kỉ XX đến trớc Cách mạnh Tháng Tám 1945, ở Việt Nam đã
có những sáng tác dành cho thiếu nhi Thời kì này có tác phẩm Quả da đỏ của
Nguyễn Trọng Thuật là tiểu thuyết lịch sử viết bằng thơ dựa theo cốt truyện
Sự tích quả da hấu Tác phẩm đã đợc tặng giải thởng của Hội Khai trí tiến
đức năm 1925 Mặc dù đã có những h cấu, sáng tạo nhất định nhng tác phẩm
còn viết theo lối chơng hồi, kết cấu theo trình tự thời gian, kết thúc có hậu vàtheo giáo s Phan Cự Đệ thì “đôi khi đã vi phạm tính chân thực lịch sử mộtcách nghiêm trọng Mai An Tiêm là con nuôi vua Hùng Vơng thứ XVII mà lạingâm thơ của Phạm S Mạnh và Nguyễn Bỉnh Khiêm, đôi lúc tâm hồn lại cònlai láng những cảm xúc lãng mạn của con ngời đầu thế kỉ XX” [17, 40] Sau
này, khi viết Đảo hoang, nhà văn Tô Hoài tâm sự: “Năm 1925 Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật viết Truyện da hấu thành phiêu lu tiểu thuyết Quả da
đỏ Thuở bé, tôi đọc Quả da đỏ của Đồ Nam Tử, giấc mơ kì ảo còn phấp phới
đến tận bây giờ
Từ lâu, tôi có cái thích, và tôi ớc làm đợc bài thơ về cái đảo hoang ấymột lần nữa” [39, 153]
Sau Cách mạng tháng Tám, đợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc, một
nền văn học mới cho thiếu nhi đợc hình thành Báo Thiếu nhi ra mắt từ 1946
đã cùng với Nxb Văn nghệ cho ra đời những tác phẩm phản ánh gơng chiến
đấu dũng cảm của các em nh Chiến sĩ ca nô (Nguyễn Huy Tởng), Hoa Sơn
(Tô Hoài), Dới chân cầu mây (Nguyên Hồng)
Năm 1957, nhà xuất bản Kim Đồng đợc thành lập, mở ra một giai đoạnmới của văn học thiếu nhi Bên cạnh những tác phẩm viết về cuộc sống sinhhoạt, lao động, học tập của thiếu niên nhi đồng trong hai cuộc kháng chiến
Trang 18chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài lịch sử
cũng đợc các nhà văn tập trung thể hiện Tô Hoài có Vừ A Dính, Kim Đồng, Nguyễn Huy Tởng có Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Lê Vân có Sát Thát Tiểu thuyết Lá cờ thêu sáu chữ vàng viết về ngời thiếu niên
anh hùng Trần Quốc Toản trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lợcNguyên Mông thế kỉ XIII Nhân vật chính đợc khắc họa rõ nét qua ngoạihình, nội tâm và hành động, đã hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: yêu n-
ớc, căm thù giặc, dũng cảm trong chiến đấu Sự kiện đợc sắp xếp theo trình tựthời gian và tính cách các nhân vật còn đơn giản, một chiều Tác giả Hà Ân có
bộ ba tác phẩm Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch, Trăng nớc Chơng
Dơng viết trong những năm chống Mỹ Tác phẩm của ông thờng xoay quanh
những chiến công trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc đời Trần, gópphần “đi tìm bản chất vẻ đẹp của ngời Việt Nam không phải trong những hành
vi ứng xử trớc mắt, trong gơng mặt của hôm nay, mà trong t thế đối mặt lâudài với lịch sử” Bằng trí tởng tợng phong phú của một nhà văn và vốn hiểubiết sâu rộng của một thầy giáo dạy sử, tác giả đã làm cho những nhân vật lịch
sử “sống thực cuộc sống của họ - cuộc sống cha đợc ghi chép tỉ mỉ trong một
bộ sử sách nào cả Họ lung linh trong sáng nhiều màu quyện lẫn giữa h vàthực, lịch sử và cuộc đời Họ vừa quen vừa lạ, vừa xa vừa gần ” [6, 11] Bêncạnh những nhân vật đã có tên trong sử sách, hình ảnh quần chúng nhân dâncùng hiện lên khá rõ nét Tiểu thuyết lịch sử thời kì này với việc tái hiện các
sự kiện và nhân vật lịch sử đã góp phần bồi dỡng lòng yêu nớc, căm thù giặc,tinh thần tự hào dân tộc trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh
Sau khi đất nớc hoàn toàn độc lập, thống nhất (1975) và đặc biệt là từsau đổi mới (1986), trong xu thế chuyển mình của văn học, tiểu thuyết lịch sửviết cho thiếu nhi cũng có nhiều khởi sắc Các tác giả không chỉ bám sát vào
sự kiện và nhân vật lịch sử mà còn kết hợp đợc hiểu biết sâu sắc về lịch sử,văn hoá với sức sáng tạo của nhà văn để cho ra đời nhiều tác phẩm hấp dẫn.Nổi bật là Hoài Anh với 14 cuốn tiểu thuyết viết về các nhân vật và giai đoạnlịch sử, từ Hai Bà Trng đến Nguyễn Thị Minh Khai, trong đó có những tác
phẩm tiêu biểu nh Mê Linh tụ nghĩa, Tấm long bào, Nh Nguyệt, Đuốc lá dừa,
Rồng đá chuyển mình, Chim gọi nắng Tiểu thuyết lịch sử Đuốc lá dừa viết
về Nguyễn Đình Chiểu đã đợc tặng giải thởng Văn học thiếu nhi 1981-1983
của Hội Nhà văn Việt Nam ở mảng này, Tô Hoài, tác giả của Dế Mèn phiêu
lu ký nổi tiếng năm xa cũng góp mặt vói ba tác phẩm đặc sắc: Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần
Trang 191.2 Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
1.2.1 Tô Hoài, quê hơng và gia đình
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27 - 9 - 1920 tại làng Nghĩa
Đô, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông cũ, nay là phờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy,
Hà Nội Quê nội ông ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây Bútdanh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức
Thuở nhỏ, Tô Hoài có tên là cu Bởi Cu Bởi lớn lên ở quê ngoại, mộtvùng quê nghèo, ngời dân chủ yếu làm nghề thủ công dệt lụa Sau này tác giả
kể lại trong Tự truyện: “Cuộc sống còm cõi của làng ngoại tôi chỉ loanh quanh
cả đời ở trong làng Đàn bà, trẻ con đa võng kẽo kẹt bên khung cửi mọt.Không mấy ai đi ra ngoài Một chiếc xe đạp qua ngoài đờng cái, trẻ con cũngchạy đuổi theo xem” [40, 22]
Thờng vào cuối mùa xuân, cu Bởi lại theo mẹ về thăm quê nội “LàngCát Động ở cuối đồng, cạnh bờ tre dựa lng vào vệt đê sông Đáy” Từ khi ôngnội mất, cảnh nhà đã nghèo lại càng sa sút Làm chân phụ bán bánh mì chomột lò bánh trong thành phố đợc một thời gian thì bố mất việc Năm cu Bởilên sáu, bố xuống Hải Phòng rồi đáp tàu thủy vào Nam Kỳ tìm việc
Sống ở quê ngoại với mẹ, các dì và đứa em gái, lên sáu tuổi, cu Bởi đihọc Trờng học đặt ở một nơi thật đặc biệt “Cái trờng là một gian giải vũ đìnhlàng Yên Thái Ngoài sân có hai con rồng đá chầu hai bên Dọc theo con rồng
đá xuôi ra ngoài, đối mặt nhau, thông luôn hai cái hành lang, một hành lang
để cỗ đòn đám ma sơn then, một chiếc võng vong gỗ mộc, những đồ tốngchung của hàng thôn Bên kia là trờng học” [40, 43] Đợc ít lâu, cu Bởi nghỉhọc, sách bút cất vào gầm giờng thờ, ở nhà làm giấy đỡ mẹ
Sau khi em gái mất, cậu bé đợc gửi lên Kẻ Chợ trọ học tại nhà chú ởng là bạn của bố Tiếng là đi học, nhng thực ra là đi ở “Có gì vô vị và buồnchán hơn những ngày ra Kẻ Chợ của cu Bởi, suốt ngày chỉ cọ chai, vần ra vầnvào một cái lốp ô tô, rồi nhìn ra cửa, nhớ nhà; để cuối năm mới đợc về với cái
Tđầu bị hắc lào mốc trắng mà chẳng có lấy một hột chữ nào nhét vào bụng Đ
-ợc về với mẹ, với bà ngoại và các dì, và với việc cõng em, đó mới chính làniềm vui của Bởi” [49, 38]
Chỉ đợc học hết tiểu học, và “bắt đầu những ngày lêu lổng Đợc mãi thếthì thích Rồi ngày sau tôi trở thành anh thợ dệt cửi nh những đứa trẻ kháctrong làng” [49, 38], có lần Tô Hoài tâm sự
Sau này, khi đã thành nhà văn, Tô Hoài viết nhiều về gia đình và bảnthân Ông trả lời phỏng vấn: “Tuy viết lâu năm, viết nhiều, cho đến bây giờ đề
Trang 20tài chủ yếu vẫn là viết về ngời ngoại thành Hà Nội ở trong làng, xung quanh
cứ tự nhiên mà vào mình, và mình đã lớn lên, đã sống và hoạt động trong đó.Còn kỷ niệm nào sâu sắc hơn những sự việc mà chính mình từng trải” [49,
37] Chính vì vậy, “Cỏ dại là hồi ức Tô Hoài đã viết rất sớm ở tuổi hai mơi về
tuổi thơ của cu Bởi lên trọ học nhà ngời quen ở thành phố Cái mạch hồi ức
khởi đầu từ Cỏ dại này đợc Tô Hoài tiếp nối với Tự truyện năm 1978, khi ông cho in lại Cỏ dại, đặt bên những hồi ký khác về tuổi học trò trong Mùa hạ
đến, mùa xuân đi, rồi tuổi thanh niên thất nghiệp trong Đi làm, Hải Phòng, tuổi hăm hở tham gia hoạt động xã hội trong Một chặng đờng" [49, 38].
Vùng quê ngoại ô cũng thờng trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của TôHoài Cuộc sống nghèo khổ, vất vả của những ngời nông dân, ngời thợ thủcông, những nét sinh hoạt, phong tục tập quán ở làng quê cũng nh quá trình
đấu tranh anh dũng của họ chống kẻ thù xâm lợc qua từng chặng đờng lịch
sử đã đợc phản ánh trong các tác phẩm Nhà nghèo, Giăng thề, Xóm giếng ngày xa, bộ ba tiểu thuyết Quê ngời, Mời năm, Quê nhà và sau này là hai tập Chuyện cũ Hà Nội Giáo s Phong Lê nhận xét: “ở đề tài Hà Nội - quê
ông, tức là Hà Nội ven đô, Hà Nội mà ông đã vừa trải rộng vừa đào sâu vàothế giới bên ngoài và bên trong của nó, Hà Nội ấy vẫn cứ đi theo ông, dẫu
ông đi bất cứ đâu, để thành hành trang của ông, để mỗi lúc soi nhìn nó, ônglại thấy thêm bao điều mới lạ, cả trong ba chiều: quá khứ, hiện tại và t ơnglai” [49, 37]
Là một nhà văn lớn đã có nhiều tác phẩm thành công ở những mảng đềtài khác nhau nhng quê hơng và gia đình với những kỷ niệm sâu sắc đọng lại
từ tuổi thơ cho đến lúc trởng thành luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong sángtác của Tô Hoài, đúng nh nhận xét của tác giả Trần Hữu Tá: “Tô Hoài córiêng một vùng ngoại thành cần lao, nhng thơ mộng gắn bó với ông từ thuở lọtlòng Nhà văn hiểu nó đến tận chân tơ kẽ tóc, từ nghề dệt lĩnh đến nghề làmgiấy, từ hội hè đình đám đến chợ búa, tết nhất, từ phong tục tập quán xa cũ
đến cả quá trình tham gia cách mạng Muốn hiểu và yêu Hà Nội, trong danhmục tác giả cần đọc, không thể thiếu Tô Hoài cũng nh không thể không đọcThạch Lam, Nguyễn Huy Tởng, Nguyễn Tuân” [49, 158]
1.2.2 Ngời sống qua nhiều sự kiện của lịch sử và những trải nghiệm vô tận
Tô Hoài sinh ra và lớn lên ở ngoại ô Hà Nội, nơi làng quê nghèo cónghề thủ công truyền thống là dệt lụa và làm giấy “Những đờng thôn ngõxóm, những căn nhà đơn sơ luôn vẳng ra tiếng khung cửi lách cách, những
“tàu seo” róc rách nớc đến khuya Những cánh đồng rộng, những mảnh vờn
Trang 21nhỏ với đủ thứ cây quả quen thuộc của một làng quê, đó là môi trờng sinhsống làm ăn của thế giới nhân vật Tô Hoài: những ngời nông dân, thợ thủcông hoặc nông dân pha thợ thủ công, vừa làm ruộng vừa dệt lụa, dệt lĩnh”[49, 144] Những năm tháng tuổi thơ của ông trôi qua trong vất vả, khó nhọc.Sau này ông tâm sự: “Trớc khi vào nghề văn ở Hà Nội, tôi đã đứng bán hàngcho hãng buôn, làm phu, kế toán, dạy học Nếu không làm nghề văn, chắc tôicũng làm những nghề tơng tự đã làm, để kiếm sống” [38, 77].
Tô Hoài vừa tự học, vừa đi làm, lại vừa tích cực tham gia các hoạt độngxã hội Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, ông tham gia phong trào ái hữu thợdệt, làm th ký ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông, rồi phong trào Thanhniên Phản đế Năm 1943, ông gia nhập tổ Văn hoá Cứu quốc ở Hà Nội, viếtbáo bí mật và tuyên truyền các chính sách của Việt Minh Ngòi bút hiện thựccủa Tô Hoài trong những sáng tác ở giai đoạn này đã thể hiện đợc khát vọngcủa một tuổi trẻ ham hoạt động, mong muốn một cuộc sống bình yên cho mọingời Có lần, ông cho biết: “Thời kỳ ấy, phong trào Mặt trận Dân chủ ĐôngDơng đơng rầm rộ lôi cuốn thanh niên giác ngộ chính trị Làng quê nhỏ bécủa tôi cũng sôi nổi trong cơn lốc t tởng cách mạng Ngay trên bãi nhãn mànăm trớc tôi còn đi đào dế, năm nay tôi là thanh niên, tôi hăng hái dự nhữngbuổi họp lập ái hữu thợ dệt và tham gia chống thuế, chống đốn bãi nhãn bánlấy tiền cho hơng lý chè chén Sự trải biết của tuổi thơ ở bãi Cơm Thi đã vàotrong tôi cùng với ý thức t tởng và hành động đấu tranh của chúng tôi lúc ấy
Dế Mèn, Dế Trũi đều đợc tôi phú cho những đờng nét t tởng xã hội của tôi,của thời đại tôi đơng sống [38, 59]
Trở thành nhà văn nổi tiếng với những sáng tác viết về loài vật cho các
em thiếu nhi, khả năng quan sát tinh tế, óc tởng tợng phong phú cùng những
kỷ niệm tuổi thơ của tác giả đợc huy động Tô Hoài nhớ lại: “Cạnh bãi CơmThi bên kia sông Tô Lịch trớc cửa đình làng thuở nhỏ, đối với chúng tôi, baotrùm một thế giới kỳ ảo, lạ lùng Hầu nh tôi viết đồng thoại hay nhữngtruyện khác cho các em, bao giờ trong trí óc tôi cũng thấp thoáng quangcảnh ở đây” [38, 59]
Cách mạng tháng Tám thành công đánh dấu một bớc chuyển biến quan
trọng trong t tởng và sáng tác của Tô Hoài Ông trở thành phóng viên báo Cứu quốc rồi đi vào mặt trận phía Nam, có mặt ở Nha Trang, chiến trờng Tây
Nguyên và mặt trận An Khê Năm 1946 Tô Hoài đợc kết nạp vào Đảng Cộngsản Đông Dơng Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông ra Hà Nội rồi lên chiếnkhu Việt Bắc Vai trò của một phóng viên trong những chuyến đi liên tiếp đã
Trang 22giúp cho Tô Hoài có đợc một vốn sống mới, một nhận thức mới, vợt ra ngoàikhuôn khổ chật hẹp của vùng quê ngoại ô Hà Nội trớc đây Những sáng tác ởgiai đoạn này cho thấy một sự chuyển biến trong t tởng và tình cảm của TôHoài khi đã dấn thân vào hành động Trong những năm tháng theo bộ đội lênTây Bắc, Tô Hoài đã thâm nhập thực tế vùng cao, làm cán bộ địa phơng, cùng
ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào các dân tộc anh em “Ngày ngày vác dao,mang gùi ra rẫy, ra nơng theo bà con, vừa làm việc, vừa nói chuyện tuyêntruyền, tổ chức cơ sở Đêm dạy họ học chữ, kể chuyện đời xa, đời nay, truyềnbá văn minh khoa học tiến bộ, hoặc quy tụ trẻ em dạy chúng hát, học dệt vảisợi thô, học thổi khèn, múa vũ, học bắn ná, làm bẫy, đi săn với các thanh niêntrong bản, cùng các cụ già chuyện trò, uống rợu cần Tô Hoài phải tập ăn cácmón ăn không quen, mặc quần áo bằng vải sợi thô, học nói tiếng dân tộc Từcách sống, từ thói quen, từ nếp suy nghĩ, phong tục tập quán cho đến tâm hồncủa đồng bào dân tộc ít ngời thấm hẳn vào Tô Hoài” [49, 174] Nhờ am hiểusâu sắc phong tục, cảnh sắc thiên nhiên, sinh hoạt, tâm lý của đồng bào miền
núi mà Tô Hoài đã viết đợc Truyện Tây Bắc, Tào Lờng, Miền Tây và những
sáng tác về các tấm gơng tiêu biểu của tuổi trẻ vùng cao Theo chúng tôi,trong văn học Việt Nam hiện đại, ít có tác giả viết về miền núi nhiều và hay
nh Tô Hoài Có thể nói, Tây Bắc đã trở thành quê hơng thứ hai của nhà văn
Trong những năm miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất, Tô Hoài trựctiếp tham gia với cơng vị là đội phó đội cải cách, làm chánh án ở Thanh Hóa,Hải Dơng Dựa trên nhiều vốn sống thực tế về nông thôn và cải cách ruộng
đất, năm 1992 ông đã viết tiểu thuyết Ba ngời khác, “một trong những tác
phẩm thiết yếu để con ngời phấn đấu làm ngời lơng thiện, nâng cao chất lợng
sống và nhân văn cho con ngời chúng ta” (http:// phong điep net).
Là ngời Hà Nội gốc nên Tô Hoài rất am hiểu về Hà Nội Đọc nhữngtrang viết của ông thì phải nhận rằng “Tô Hoài là pho từ điển sống về Hà Nội
ở phơng diện tái hiện Hà Nội thời thuộc Pháp, Hà Nội những tháng năm sôisục trớc và sau Cách mạng, Hà Nội của những năm sau hòa bình lập lại ”[49, 174] Ngoài vốn sống trực tiếp, ông còn tích luỹ vốn sống bằng cáchchăm chỉ đọc sách báo, chịu khó quan sát rồi ghi chép tỉ mỉ về giá cả, mốtquần áo, bài hát, trò chơi, tiếng lóng, từ ngữ thông dụng trong từng giai đoạn.Tô Hoài còn nhận làm đại biểu tổ dân phố, làm đủ mọi công việc linh tinh,phức tạp để tìm hiểu về đời sống, ý nghĩ, tình cảm của ngời lao động Đó làcách thâm nhập thực tế quen thuộc của ông
Trang 23Đợc đồng nghiệp đánh giá “là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậcnhất Sống đến đâu viết đến đấy Việc viết lách đối với ông là một thứ lao
động hàng ngày” [49, 182], nhng Tô Hoài không chỉ có viết, ông còn tích cựctham gia công tác chính trị, xã hội Ông từng là Tổng th ký, Phó Tổng th kýHội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Đại biểu Quốc hộikhoá VII, Phó Chủ tịch Uỷ ban đoàn kết á - Phi, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghịViệt - ấn, ủy viên Ban chấp hành Hội Hữu nghị Việt - Xô Ngoài làm báo,làm xuất bản và công tác đối ngoại, Tô Hoài còn tham gia sinh hoạt tổ dânphố, các hoạt động của mặt trận, của tổ chức ngời già Công việc nào ôngcũng cố gắng làm tròn Những chuyến công tác ra nớc ngoài đã giúp ông tíchlũy thêm nhiều vốn sống thực tế để đa vào các sáng tác của mình Ông đã ra
đến cửa sông Nê-va thăm dinh thự mùa hè của vua Pi ốt Đại đế; đến Ai Cậpngắm nhìn Kim Tự Tháp; sang Cu Ba gặp lại những cây tre, cây đa, v ờn xoài,vờn dứa nh ở Việt Nam Ông từng ngắm hoa li la nở tím từng chùm trên mặtlá ở Ri-ga, xem lạc đà ở vờn bách thú Mat-xcơ-va, Ap-ga-ni-xtan và Mông cổ,gặp chú bồ nông ở Sa-mác-can, hơu ở ấn Độ, Mông Cổ, Ru-ma-ni Đến đâu
ông cũng chú ý quan sát, ghi chép, tìm hiểu Nhờ vậy mà vốn sống của ôngcàng đầy lên theo năm tháng và “càng về cuối đời ông viết càng lên tay” nhnhận xét của một nhà nghiên cứu văn học
Hơn nửa thế kỷ lao động sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài đã có những
đóng góp quan trọng vào nền văn học cách mạng Cả hai thời kỳ trớc và saucách mạng tháng Tám ông đều có mặt ở giai đoạn trớc ông là một trong sốnhững ngòi bút hiện thực có giá trị, có bản sắc riêng Sau cách mạng, ông tíchcực tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội và sáng tác với t cách một nhà vănchiến sĩ, nhà văn kiểu mới của giai cấp vô sản Tác phẩm của ông đã phản ánh
đợc nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nớc qua các giai đoạn, đi sâu vàonhiều giá trị thẩm mỹ phong phú và sáng tạo Đồng nghiệp nói về ông bằngnhững lời hết sức trân trọng: “Chúng tôi nghĩ ông đã đạt tới sự hiểu biết sâusắc về cái hữu hạn của đời ngời và cái vô cùng của thời thế Sự bình thản ở nơi
ông là sự tự chủ cao của tuệ giác Cách sống của ông ẩn dấu một triết lý mangmàu sắc phơng Đông về cái Hữu và cái Không” [49, 165] Những năm gần
đây, do tuổi cao, sức khỏe giảm sút, Tô Hoài ít viết hơn Nhng với những sángtác đã ra mắt bạn đọc, ông luôn là tấm gơng về tinh thần say mê lao động vàtinh thần tự học để tích lũy kiến thức và vốn sống cho nghề nghiệp của mình
“Có cảm tởng Tô Hoài là cái cây khỏe, đất nào cũng mọc đợc, vứt vào đâucũng sống đợc, và sống đến đâu viết đến đấy” [49, 193] Chính vì vậy, “nếu
đóng góp của một nhà văn vào nền văn học dân tộc, vào đời sống tinh thần
Trang 24của cộng đồng là ở phong cách, ở khối lợng và chất lợng tác phẩm thì có thểnói Tô Hoài là một trong những đời văn đẹp của văn học Việt Nam đơng đại”[49, 208].
1.2.3 Những chặng đờng sáng tác của Tô Hoài
Là ngời có khối lợng tác phẩm đồ sộ nhất trong các nhà văn Việt Nam,với gần 200 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, nhiều đề tài, chặng đờng gần 70năm sáng tác của Tô Hoài trải qua hai giai đoạn trớc và sau Cách mạng thángTám
Đến với nghề viết khá sớm, khoảng 17, 18 tuổi, Tô Hoài đã có những
bài thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy (Tiếng reo, Đan áo) “Những bài thơ đầu
tiên đăng báo của anh gợi lên một thứ tình cảm lãng mạn nhẹ nhàng, khôngkhác gì loại thơ lãng mạn phổ biến đơng thời ở một vài bài, tứ thơ có khicũng hay, nhng vần điệu kém, câu thơ vụng về” [49, 64] Từ giã thơ ca, Tô
Hoài đến với văn xuôi Sau truyện ngắn đầu tay Nớc lên đăng trên Hà Nội tân văn nói về tình cảnh bi thảm của ngời dân ngoại ô Hà Nội trong mùa lũ, ông
còn có một số truyện ngắn khác đăng trên các báo Nhng phải đến năm 1941,
khi Dế mèn phiêu lu ký ra đời, cái tên Tô Hoài mới đợc nhiều bạn đọc biết
đến Tác phẩm kể về những cuộc phiêu lu kỳ thú của chú dế mèn cờng tráng,mạnh mẽ, đầy nghị lực và giàu chất lý tởng, đã góp phần thức tỉnh ớc mơ vàgiục giã tuổi trẻ hành động
Nhìn chung, trớc Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài nổi tiếng với những
sáng tác về loài vật và về vùng ngoại ô quê ông Viết về loài vật, ngoài Dế
mèn phiêu lu ký, ông còn có Con gà ri, Đôi ri đá, O chuột, Gã chuột bạch,
Một cuộc bể dâu, Chuột thành phố Với tài quan sát và trí tởng tợng phong
phú, Tô Hoài đã dựng nên một thế giới loài vật hết sức sinh động Mặt khác,những câu chuyện đó thờng gợi đến thân phận con ngời trong xã hội cũ ‘Thếgiới của loài vật cũng nhiều chia ly, tan tác đau khổ, chết chóc nh chính cuộcsống con ngời” [49, 134] Đúng nh nhận xét của giáo s Phong Lê: “Thế giớiloài vật, đó quả là nội dung đặc sắc và độc đáo trong thế giới truyện TôHoài Có lẽ trớc ông và sau ông ít ai có sức viết và tài viết nh thế” [49, 23]
Về đề tài vùng quê ngoại ô, Tô Hoài có Giăng thề (1941), Quê ngời (1942), Nhà nghèo (1943), Cỏ dại, Xóm Giếng ngày xa (1944) Các tác phẩm
này đợc xây dựng trên cơ sở tự truyện, hoặc từ chuyện của những con ngờigần gũi với tác giả Có lần, Tô Hoài bộc bạch: “Những sáng tác của tôi đềumiêu tả tâm trạng tôi, gia đình tôi, làng tôi, mọi cái của mình, quanh mình.Những nghèo đói, cùng túng, đau đớn Phần nào nhẹ nhàng, hay xót xa, hay
Trang 25nghịch ngợm và đá chút khinh bạc là phần nào con ngời và t tởng tiểu t sảncủa tôi” [49, 64] Hiện lên trong những trang sách của Tô Hoài là khung cảnhlàng quê nghèo với những nét vẽ chân thực về nỗi đau khổ và sự bế tắc củangời dân trong cuộc sống hàng ngày Ông tâm sự: “Tôi viết anh thợ cửi, chịthợ tơ yêu nhau, lấy nhau, ớc mong một khung cửi nhng họ càng nghèo,
không bao giờ có đợc, rồi phải mang nhau đi đất khách quê ngời (Quê ngời) Một cái xóm nghèo ở cuối làng chết dịch, rồi cháy, rồi mất tích cái xóm (Xóm
Ao sen) Hàng ế, khung cửi xếp lại, đàn bà ra tỉnh ở vú hoặc sa vào nhà hát nhà chứa (Đêm ma) Một anh hơng s nghèo không lấy đợc một chị trong làng (Giăng thề)" [49, 113] Có thể thấy, khi viết về mảng đề tài này, Tô Hoài đã
vận dụng một vốn hiểu biết phong phú về nông thôn, một khả năng quan sátnhạy bén tinh tế, một óc phân tích khách quan, chân thực và tấm lòng đôn hậuchân tình
Cách mạng tháng Tám thành công, Tô Hoài tích cực tham gia khángchiến Ông có mặt trong nhiều chiến dịch với t cách là phóng viên mặt trận
“Hiện thực cách mạng với cuộc sống và con ngời cụ thể đã trở thành đối tợngtrực tiếp của những trang viết và sâu xa hơn đã trở thành máu thịt, gắn bó với
tình cảm và t tởng của tác giả” [49, 120] Các phóng sự Mặt trận Nam Trung
Bộ, Ngợc sông Thao và tập truyện ngắn Núi Cứu quốc đợc sáng tác trong
những năm đầu kháng chiến chống Pháp Năm 1952, sau chuyến đi theo bộ
đội lên giải phóng Tây Bắc, Tô Hoài cho ra đời tập Truyện Tây Bắc Tác phẩm gồm ba truyện: Mờng Giơn, Cứu đất cứu mờng, Vợ chồng A Phủ nói về đồng
bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc bị áp bức, đau khổ đã vùng dậy đi theoCách mạng để giải phóng cuộc đời mình Đây là một thành công xuất sắc của
tác giả về đề tài miền núi Truyện Tây Bắc đã giành đợc giải nhất về văn xuôi
của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1954 - 1955 Cũng về đề tài này, năm 1967,
Tô Hoài cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Miền Tây phản ánh sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên vùng cao của Tổ quốc Tác phẩm đã đợc tặng giải
thởng của Hội Nhà văn á- Phi năm 1970 Ngoài ra, ông còn có truyện Kim
Đồng (1946), Vừ A Dính (1952), tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971)
viết về những tấm gơng anh dũng của tuổi trẻ vùng cao trong cách mạng và
kháng chiến; bút ký Lên Sùng Đô (1969) giới thiệu anh hùng nông nghiệp
Giàng A Thào và những cán bộ ngời H' Mông tích cực đã đem lại nhiều đổimới cho cuộc sống của bà con ở Sùng Đô
Không chỉ thành công ở những tác phẩm viết về miền núi, mảng chân
dung và hồi ức của Tô Hoài cũng rất đặc sắc Ngoài Cỏ dại viết từ trớc Cách
Trang 26mạng, sau này Tô Hoài còn có Tự truyện (1978), Những gơng mặt (1988), Cát bụi chân ai (1992), Chiều chiều (1999) “Tự truyện của Tô Hoài ấy là chuyện
cá nhân, gia đình, làng quê và xa hơn chút ít là Kẻ chợ rồi lần theo trờng đờicủa ông, đi kiếm sống, tìm việc làm, miếng ăn mà mở rộng ra” [49, 398]
Những gơng mặt dựng lại chân dung một loạt những tác giả văn học Việt Nam
mà bạn đọc hằng yêu mến Cát bụi chân ai và Chiều chiều là hồi ức về những
bạn văn, những “nhân vật lớn” của nền văn học nớc nhà và về những sự việcgắn với hoạt động của bản thân tác giả qua các thời kỳ công tác Giáo s Phong
Lê nhận xét: “Đọc Cát bụi chân ai, rồi đọc Chiều chiều ngời đọc luôn luôn
đ-ợc cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, khôngkém sút trong cái kho kỷ niệm của nhà văn Chẳng lên giọng, cũng chẳng phải
ra bộ khiêm nhờng, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể về những điều mình đã biết, đãtrải” [49, 41] Còn theo Tô Hoài thì “viết hồi ký là khó khăn hơn cả sáng tác.Bởi đó là một cuộc đấu tranh về t tởng để viết ra Làm thế nào cho kháchquan nhất mà lại tình cảm nhất với một dụng ý về chủ đề thật rõ ràng Đây làmột cuộc mổ xẻ toàn diện, không phải nhẹ nhàng và chỉ có hứng thú ” [49,131]
Tô Hoài đi nhiều, viết khỏe Những chuyến đi đến nhiều miền đất nớc
đã đợc ông ghi lại trong những trang bút ký giàu chất liệu thực tế Ra nớcngoài, ông viết về đất nớc và con ngời các dân tộc trên thế giới bằng những
cảm nhận sâu sắc và quan sát tinh tế Thành phố Lê nin (1961), Tôi thăm Căm
pu chia (1964), Mùa thu Luang Phabang, Kỷ niệm ấn Độ, Hoa hồng vàng song cửa (1980) bộc lộ những tìm tòi sáng tạo của ông trong thể loại bút ký,
kết hợp cái nhìn bao quát với ghi chép tỉ mỉ, giúp ngời đọc hình dung và hòanhập vào những khung cảnh cụ thể
Tiếp tục đề tài về Hà Nội, Sau Quê ngời (1942), Tô Hoài có Mời năm (1958), Quê nhà (1980) Bộ ba tiểu thuyết này đều viết về vùng quê ngoại
thành của tác giả từ khi Pháp sang xâm lợc cho đến ngày Cách mạng tháng
Tám thành công Quê nhà phản ánh phong trào đấu tranh quyết liệt của dân làng trong những ngày đầu thực dân Pháp chiếm đóng Hà nội Mời năm diễn
tả những thay đổi lớn lao trong cuộc sống của con ngời mà cách mạng đã đemlại từ phong trào Mặt trận dân chủ đến Cách mạng tháng Tám Tác phẩm nàykhi ra đời đã gây nhiều tranh cãi trong giới phê bình văn học Nhà nghiên cứu
Nh Phong trong bài Vấn đề của tiểu thuyết M “ ời năm” đã cho rằng: “Cuộc
sống của nhân dân hồi ấy - dù cho là chỉ của một làng Hạ - nh Tô Hoài tả
trong Mời năm hình nh không có áp bức và bóc lột, không thấy tội ác cụ thể
Trang 27của bọn đế quốc và chân tay chúng ở đâu cả Còn phong trào cách mạng của
ta trong thời kỳ ấy, nếu ai muốn tìm hiểu nó trong cuốn Mời năm, thì sẽ luôn
luôn gặp những hình ảnh rất lạ lùng, lờ mờ, nguệch ngoạc và có khi méo mó
đến làm ta sửng sốt đợc” [49, 279] Tác giả Trần Hữu Tá trong bài Tô Hoài đã nhận xét: “Yếu hơn cả là tiểu thuyết Mời năm Tác giả cha miêu tả đợc những
khía cạnh bản chất nhất của hiện thực lịch sử những năm tiền khởi nghĩa” [49,151] Trong khi đó, giáo s Hà Minh Đức ở bài viết "Cần xác định lại giá trị
của Mời năm” lại đánh giá: “Một số ngời từ một số chi tiết đã cho rằng Mời năm đợc sáng tác với phơng pháp tự nhiên chủ nghĩa, một bớc lùi so với các
tác phẩm khác của Tô Hoài ở thời kỳ trớc Cách mạng Thực ra thì một số chi
tiết trên hoàn toàn có thể tớc bỏ để cho tác phẩm hoàn thiện hơn Mời năm là
một bớc phát triển mới của phong cách Tô Hoài Tác phẩm của ông cần đợcghi nhận nh một đóng góp vào việc tái hiện những bức tranh xã hội cũ vàphong trào đấu tranh cách mạng với những quy luật phong phú của nó” [49,307] Về điểm này, chúng tôi tán thành ý kiến của giáo s Hà Minh Đức khi
ông cho rằng: “Đánh giá lại Mời năm của Tô Hoài là biểu thị tinh thần
công bằng trong việc nhận định các tác phẩm văn học và cũng biểu thị ý thứctrân trọng những giá trị văn học đích thực mà lúc này, lúc khác chúng ta đã
có cái nhìn còn thiên lệch, hạn chế” [49, 308]
Về đề tài Hà Nội, Tô Hoài còn có tập truyện ký Ngời ven thành (1972)
viết về cảnh, về phong tục và con ngời vùng ngoại ô xa và nay Sau này, ông
còn trở lại với phong tục trong hai tập Chuyện cũ Hà Nội (1998) dày khoảng
600 trang kể những chuyện liên quan đến Hà Nội ngày trớc và bây giờ Tácphẩm đã đợc tặng giải thởng Thăng Long của UBND thành phố Hà Nội
Năm 2006, Nhà xuất bản Đà Nẵng giới thiệu cuốn tiểu thuyết Ba ngời khác của Tô Hoài Viết về cải cách ruộng đất với cái nhìn của ngời trong
cuộc, cuốn sách ngay lập tức đã thu hút đợc sự chú ý của đông đảo bạn đọc
Đánh giá về Ba ngời khác, nhiều ý kiến cho rằng tác phẩm có “cách dẫn
chuyện lôi cuốn” “Tác giả thực sự là một bậc thầy trong khai thác chi tiết, vàchính những chi tiết sinh động thuyết phục ngời đọc” [41, 7] “Đây là mộttrong những đỉnh cao của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” (dịch giả Lê Sơn)
“Cuốn sách thể hiện sự dũng cảm và t cách công dân của nhà văn Tô Hoài.Nhà văn phải nhìn lại lịch sử, nhìn lại thật dân chủ, tập làm dân chủ” (Hoàng
Minh Tờng) (http: phong điep net).
Không chỉ sáng tác, Tô Hoài còn chia sẻ những kinh nghiệm nghề
nghiệp của mình trong Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả (1959), Ngời bạn
Trang 28đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phơng pháp viết văn
(1997) ở đó “dờng nh Tô Hoài đã đi xa hơn kinh nghiệm của bản thân màtiến đến những đúc kết lý luận” [49, 50]
“Thành đạt sớm và có chỗ đứng cao trong văn học hiện đại Việt Namtrớc và sau 1945 trên nhiều khu vực đề tài quan trọng, Tô Hoài vẫn cứ là ngờiviết cha bao giờ xem việc sáng tác cho thiếu nhi là công việc của tay trái, hoặc
chỉ để đổi tay” [49, 48] Sau thành công của Dế Mèn phiêu lu ký và một số
truyện viết cho thiếu nhi từ trớc Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tiếp tụcmảng sáng tác này và trở thành một trong những nhà văn viết nhiều nhất chothiếu nhi Ông viết về ngời thực việc thực và những mẩu chuyện nhỏ về loàivật, về cuộc sống mới của tuổi thơ dới chế độ xã hội chủ nghĩa, viết cả kịchbản sân khấu, kịch bản phim Đặc biệt, dành cho các em, Tô Hoài có ba tiểu
thuyết lịch sử rất đặc sắc về thời kỳ dựng nớc là Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần “Một bộ ba trọn vẹn nhằm hớng tới gơng mặt của dân tộc
Việt Nam trong sâu xa của lịch sử: cải tạo thiên nhiên hoang dã, chống đánhngoại xâm ngoan cố, hiểm độc, và khát vọng một đời sống trong lao động vàchan hoà, ấm áp tình ngời” [49, 48]
Gần 70 năm của cuộc đời sáng tạo nghệ thuật, trải qua những chặng ờng dài trong sáng tác, Tô Hoài đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nền vănhọc Việt Nam hiện đại Ông đợc trao nhiều giải thởng về văn học nghệ thuật
đ-Nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là Dế mèn phiêu lu ký đã đợc dịch ra nhiều
thứ tiếng trên thế giới Ông đợc bạn đọc ở nhiều thế hệ trân trọng và yêu mến
“Đến với nghệ thuật, ông là ngời nghệ sĩ sáng tạo, ông cũng là ngời thợ cần cùtrong công việc, ông treo một tấm gơng lao động Đó là tấm gơng của một ng-
ời lao động có tài năng, có bản sắc và tự tin vào công việc bình dị mà cao đẹpcủa mình” [49, 142]
1.3 Bộ ba tiểu thuyết Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần trong hệ
thống truyện lịch sử viết cho thiếu nhi
1.3.1 "Nhà Chử", "Đảo hoang", "Chuyện nỏ thần" trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
Với hơn 60 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, Tô Hoài đợc xem là mộttrong những tác giả viết nhiều cho thiếu nhi, bên cạnh những cái tên quenthuộc với các em nh Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải Nổi bật trong mảngsáng tác này là truyện về loài vật Thế giới loài vật trong tác phẩm của TôHoài thật đa dạng, đủ loại côn trùng, cá, chim và thú Từ những con vật bénhỏ nh dế mèn, dế trũi, bọ ngựa, xiến tóc, kiến rồi cá chép, cá rô, cá ngão, cá
Trang 29trê hay chim gáy, bồ nông, vành khuyên, gà ri, gà chọi, chó, mèo, chuột đếnnhững con vật lớn nh ngựa, hơu, nai Bằng tài năng quan sát, tởng tợng vànghệ thuật miêu tả hấp dẫn, Tô Hoài đã dựng lên một thế giới loài vật thậtsinh động Chị Gà Mái là “một ngời đàn bà giỏi giang, đa tình thì rất mực đatình, mà khi vớng vào cái bổn phận dạy dỗ nuôi nấng con trẻ lại đáng nên mộtbậc mẹ hiền gơng mẫu” Gà Chọi là “một tay lính chiến rất oai vệ” Mèo thì
“coi lừ lừ và nghiêm nghị tựa một thầy giáo nhà dòng đứng khoác bộ áo thâm,
có cốt cách quý phái và trởng giả ” Chó là “một gã lèm bèm ủng oẳng haysinh sự nhỏ nhen nhng tính thì phổi bò, dễ dãi và chóng quên” ấn tợng nhấtvẫn là chú Dế Mèn cờng tráng, oai vệ và thích đi du lịch Nhng Tô Hoài viếtkhông chỉ nhằm miêu tả chân dung hay đời sống của loài vật Ông bộc bạch:
“Tôi không viết vì bâng quơ, vì muốn làm cho lạ, hoặc không vì lẽ gì hết Tôi
muốn đem vào đồng thoại một nội dung xã hội [” 38, 60]
Dế Mèn trong cuộc phiêu lu đến những miền xa lạ đã cùng với nhữngngời bạn tốt chống lại những bất công ngang trái, kêu gọi mọi ngời hoà hợp,thể hiện ớc mơ của tác giả: “Lý tởng say mê của Dế Mèn là đợc đi khắp nơihô hào mọi loài cùng nhau xây dựng thế giới đại đồng, danh từ thời ấy rấtthịnh hành, ai cũng thích nói Thế giới đại đồng chỉ có công bằng không có ápbức và chiến tranh Đó là t tởng của tôi cũng nh t tởng của phần đông lớp họcsinh và trí thức buổi đầu giác ngộ thờng mơ ớc vẻ đẹp của lý tởng nh thế" [38,60]
Nhìn chung, trớc cách mạng, truyện về loài vật của Tô Hoài thờng gợicho ngời đọc liên tởng đến cuộc sống nghèo khổ của những ngời dân quê dớichế độ cũ Sau Cách mạng, Tô Hoài viết truyện loài vật nhằm ngợi ca chế độ
mới Đàn chim gáy, Cá đi ăn thề, ò ó o là những mẩu chuyện nhỏ xinh xắn
nói về những đổi mới của cuộc sống của làng quê Ngời đi săn và con nai kể
chuyện ngời thợ săn buông súng trớc con vật đẹp của núi rừng bởi những lờikhuyên của cỏ cây, dòng suối Câu chuyện chứa đựng lòng nhân ái và có giátrị giáo dục sâu sắc Theo giáo s Hà Minh Đức, “trong văn học Việt Nam thời
kỳ hiện đại, Tô Hoài là nhà văn viết thành công nhất, hấp dẫn nhất về các loàivật” [21, 197]
Viết cho thiếu nhi, ngoài truyện loài vật Tô Hoài còn có truyện lịch sử
Ông có hai truyện viết về những tấm gơng thiếu niên anh hùng trong cách
mạng và kháng chiến chống Pháp là Vừ A Dính và Kim Đồng Truyện Vừ A
Dính viết năm 1962, gồm 5 chơng, ngoài lời tác giả ở chơng đầu, mỗi chơng
còn lại ghi lời kể của một nhân vật đã từng sống, gặp gỡ, tiếp xúc với Vừ ADính: ngời anh trai, ngời chỉ huy đội du kích, ông già cùng phòng giam và tên
Trang 30lính ngụy áp giải Vừ A Dính Hình ảnh ngời anh hùng nhỏ tuổi hiện lên rõnét, trọn vẹn dần qua từng lời kể Đó là một ngời con hiếu thảo, chăm ngoan,giàu tình cảm, một du kích hết sức gan dạ Sự hy sinh dũng cảm của em đãgây xúc động cho bao bạn đọc.
Để viết về Kim Đồng, Tô Hoài cũng đã hai lần lên Nà Mạ quê hơng
anh, gặp mẹ và chị Kim Đồng, trò chuyện với các nhân vật có thật trong tác
phẩm Chính vì vậy, cũng nh trong Vừ A Dính, các chi tiết trong truyện Kim
Đồng đều chân thật, giàu cảm xúc Cuộc đời hoạt động cách mạng ngắn ngủinhng sôi nổi và gơng hy sinh anh dũng của Kim Đồng đợc khắc họa rõ nét Từ
tác phẩm này, Tô Hoài viết kịch bản phim Kim Đồng Bộ phim đã giành đợc
giải thởng quốc tế tại In-đô-nê-xi-a
Nói đến đề tài lịch sử trong sáng tác của Tô Hoài viết cho thiếu nhi,
không thể không nhắc đến bộ ba tác phẩm Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần Không phải là ngời đầu tiên, cũng không phải là ngời viết nhiều nhất,
nhng chỉ với ba tác phẩm trên, Tô Hoài đã ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng ngời
đọc ở mảng đề tài này Khác với nhiều tác giả viết tiểu thuyết lịch sử dựa vàomột sự kiện, một nhân vật đợc ghi trong sử sách, bộ ba tác phẩm của Tô Hoàiviết dựa theo các truyền thuyết lịch sử, chuyện đời xa ít nhiều chứa đựng cácyếu tố hoang đờng và từ lâu đã rất quen thuộc với các em Về điều kiện sángtác các tác phẩm này, nhà nghiên cứu Đỗ Bạch Mai cho rằng: “Tô Hoài đã đ-
ợc thừa hởng một điều kiện khá thuận lợi: những năm gần đây, nhiều địa
ph-ơng đã su tầm đợc một khối lợng lớn các câu chuyện, các mẩu chuyện làmphong phú thêm rất nhiều cho hệ thống truyền thuyết lịch sử về nỏ thần An D-
ơng Vơng nói riêng và về thời kỳ mở nớc nói chung Các môn khoa học nh sửhọc, dân tộc học, xã hội học, văn hóa dân gian đã góp phần soi sáng nhiềuvấn đề, nhiều lĩnh vực của các thời đại vua Hùng và vua Thục An Dơng Vơngnữa Có tất cả những điều đó làm cơ sở, nhà văn có thể mạnh dạn hơn trongviệc phát huy trí tởng tợng phong phú của mình” [49, 502] Trong bài phátbiểu nhân dịp nhận giải thởng Hồ Chí Minh (1996), Tô Hoài đã bộc bạch ý
định sáng tác của ông: "Những câu chuyện thời tiền sử đọng lại xây nên ý ănnhẽ ở của tổ tiên ta từ khi mở nớc quần tụ trên bờ biển Đông này Tiểu thuyết
Đảo hoang của tôi miêu tả ý chí con ngời An Tiêm bị đày từ kinh thành đến chỗ chết mà rồi lập nghiệp đợc ở nơi hoang vu Tiểu thuyết Nhà Chử, bố con
nhà Chử Đồng Tử đời đời mở mang sông nớc trên sông Hồng Tiểu thuyết
Chuyện nỏ thần tôn vinh sự nghiệp dân tộc dựng nớc giữ nớc nơi đất phát
tích” [38, 71] Dựng lại một cách sinh động buổi đầu lịch sử mở nớc của dân
tộc dựa trên các tích chuyện cũ, tác phẩm của Tô Hoài đã đem lại nhận thức
Trang 31về nhiều mặt địa lí, lịch sử, văn hoá, góp phần giáo dục những tình cảm tốt
đẹp cho các em thiếu nhi Thành công của Tô Hoài ở ba tác phẩm này đã “mở
ra những phơng hớng và kinh nghiệm trong việc khai thác một cách khoa học
và nghiêm túc văn học dân gian để viết thành truyện và tiểu thuyết cho thiếunhi” [49, 498] Nó cũng khẳng định đóng góp không nhỏ của ông ở mảng đềtài này
Là nhà văn của ngời lớn, Tô Hoài đồng thời cũng là nhà văn lớn của các
em Không chỉ ở khối lợng tác phẩm đồ sộ, không chỉ ở thể loại hay đề tài đadạng mà còn ở những giá trị phong phú chứa đựng trong các trang viết của
ông "Ông đến với các em với tâm hồn ngời nghệ sĩ Ông đem đến cho các emmột niềm vui, một bài học nhỏ, một lời căn dặn Với các em lúc nào ngòi bútcủa ông cũng đầm ấm, tơi trẻ Thời gian không mệt mỏi, không hằn vết trêntrang viết cho các em Có biết bao câu chuyện bổ ích và đẹp trong cuộc đời sẽcòn dành cho tuổi thơ, ông còn là ngời kể chuyện hứng thú và sáng tạo" [21,157]
1.3.2 Tổng quan về thế giới nghệ thuật của "Nhà Chử", "Đảo hoang", "Chuyện nỏ thần"
Nhà Chử (1982), Đảo hoang (1976), Chuyện nỏ thần (1983) là bộ ba
tiểu thuyết của Tô Hoài viết cho thiếu nhi, dựa trên các truyền thuyết đợc lutruyền rộng rãi trong dân gian Phần lớn những câu chuyện này cũng đã đợc
tác giả kể lại trong 101 truyện ngày xa.
Theo giáo s Phan Cự Đệ, “viết về thời kỳ Hùng Vơng dựng nớc là viết
về một giai đoạn trọng yếu của lịch sử dân tộc; chính trong thời kỳ này đãhình thành nền tảng con ngời Việt Nam, truyền thống tinh thần Việt Nam”
[49, 492] Nhà Chử ghi lại hành trình của Chử Đồng Tử từ đầu nguồn sông
Cái về bến sông quê ở đồng bằng tìm ông Chử kết duyên với Nàng Dong (congái vua Hùng, trong tích xa gọi là Tiên Dung) sau một cuộc gặp gỡ lạ lùngtrên bến Tự Nhiên rồi hai vợ chồng cùng dân làng xuôi ra cửa sông lập
nghiệp Đảo hoang là câu chuyện về gia đình Mai An Tiêm nhọc nhằn kiếm
sống và tìm đợc giống da quý đem về sau mấy chục năm bị đày ra hoang đảo
Chuyện nỏ thần kể lại công cuộc xây thành, chế nỏ chống quân xâm lợc Triệu
Đà dới thời vua Thục Các sự kiện đều diễn ra ở vùng trung du và đồng bằngchâu thổ sông Hồng, trên địa bàn c trú của ngời Việt thời bấy giờ
Từ những nội dung đó, vấn đề mà tác giả Tô Hoài đặt ra trong các tácphẩm có ý nghĩa vừa rộng lớn, vừa sâu sắc Hành trình của các thế hệ tronggia đình nhà Chử cũng chính là hành trình khám phá và mở mang cuộc sốngcủa con ngời Sự nghiệp của vua Thục phản ánh công cuộc bảo vệ độc lập và
Trang 32chủ quyền dân tộc trong buổi đầu lịch sử Còn Đảo hoang, đúng nh nhận xét
của giáo s Phan Cự Đệ, “đây không phải là lời giải thích về sự tích quả da hấu,cũng không phải chỉ là câu chuyện của một con ngời “thật xứng tên là Ngời”
mà là hình ảnh của cả đất nớc Văn Lang với những sinh hoạt, phong tục, lễnghi của ngời Lạc Việt cổ xa” [49, 492] Với u thế của thể loại tiểu thuyết, cả
ba tác phẩm đã dựng lại hết sức sinh động buổi đầu dựng nớc và giữ nớc của
đân tộc ta thời Văn Lang, Âu Lạc
Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần đợc Tô Hoài viết với nhiều
nguồn cảm hứng khác nhau Cảm hứng hiện thực khi tái hiện lại những hoạt
động của con ngời trong quá trình xây dựng đời sống vật chất và tinh thần để
đảm bảo những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của mình Đó là những cảnhtìm nớc uống, hái rau ngót, đào củ mài, săn hơu, bắt cá để có cái ăn, lấy xơdứa, vỏ sui làm xống áo, làm nhà sàn trong rừng, nhà đất bên bờ biển của gia
đình An Tiêm trên đảo hoang, hay cảnh đào đất, đội đất xây thành, hoạt động
của các làng đúc đồng trong Chuyện nỏ thần, rồi phong tục đón khách, tiễn
khách, ăn trầu, uống chè xanh, rợu cần “Tất cả những gì Tô Hoài mô tả đềurất là vật chất, có thể nhìn thấy, có thể sờ mó đợc” [49, 500] Cảm hứng ngợi
ca khi viết về thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, về những sản vật phong phúcủa rừng và biển, về những con ngời cần cù, dũng cảm và đầy sáng tạo tronglao động cũng nh trong chiến đấu Đặc biệt, tác giả hết sức hào hứng khi miêutả các lễ hội, phong tục ở cả ba tác phẩm: lễ cới, lễ rửa nỏ, hội đấu vật, thổicơm, đấu roi, đua thuyền, đánh phết, múa hát, tục nhuộm răng, ăn trầu, xămmình Đó chính là những biểu hiện cụ thể của truyền thống văn hóa tốt đẹpcủa dân tộc đợc hình thành từ lâu đời và giữ gìn, vun đắp qua bao thế hệ Về
điểm này, có thể thấy tác phẩm của Tô Hoài mang đậm phong vị cũng nh
h-ơng sắc riêng của đời sống và tâm hồn dân tộc
Bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài còn đợc sáng tác với cảm hứng bi kịch.Cảm hứng đó thể hiện trong những đoạn viết về sự qua đời của ông Chử, của
Lý Ông Trọng hay số phận bất hạnh của Tàm, những bi kịch trong cuộc đờiCao Lỗ và vua Thục Ngay cả những đoạn viết về Gấu anh và Gấu em sống rấttình nghĩa với ngời cũng có những chi tiết khiến ngời đọc không khỏi ngậmngùi Tuy nhiên, những trang viết đó không gây ấn tợng quá nặng nề mà chỉgợi thêm nhiều suy nghĩ, cảm xúc cho bạn đọc ở lứa tuổi thiếu niên
Bộ ba tác phẩm của Tô Hoài còn tràn đầy cảm hứng lãng mạn sử thi khiviết về những cuộc chiến đấu chống kẻ thù và công cuộc lao động của ngờidân thời Văn Lang, Âu Lạc Đó là những trận đánh thủy quái, thú dữ của mỗingời trong gia đình Chử, của An Tiêm cùng với dân làng; là những chuyến đi
Trang 33lập nghiệp hào hứng của vợ chồng Chử ra cửa sông và của đoàn thuyền theoMon ra đảo hay cảnh xây thành đắp luỹ, chiến đấu và chiến thắng trong cáccuộc đơng đầu với các đạo quân xâm lợc Tần, Triệu, Hán ở đó, những cảnhtợng hoành tráng đợc tái hiện, không khí sôi động mang âm hởng anh hùng cabao trùm Cảm hứng sử thi trong bộ ba tác phẩm của Tô Hoài đã giúp ngời
đọc cảm nhận đợc sức mạnh, niềm tin tởng và lạc quan của con ngời trongbuổi đầu dựng nớc và giữ nớc
Cũng nh nhiều sáng tác ra đời sau 1975, khi mà nền văn học dân tộc bắt
đầu có sự chuyển mình, đổi mới, Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần cho
thấy sự sáng tạo của Tô Hoài ở nhiều phơng diện
Về kết cấu, khác với một số tiểu thuyết lịch sử trớc đó thờng đợc viếttheo lối ghi chép biên niên, nội dung triển khai theo trình tự thời gian, các tìnhtiết đợc sắp xếp theo diễn biến của câu chuyện, bộ ba tác phẩm của Tô Hoài
có kết cấu khá linh hoạt
Theo các tác giả sách Văn học dân gian, “kết cấu của truyền thuyết gần
giống kết cấu của thần thoại, cổ tích là kết cấu trực tuyến, không có đồng hiện
và sự quay trở lại Sự việc trong truyền thuyết không đầy đủ chi tiết nh trong
sử biên niên” [72, 64] Trong bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài, ngoài những sựkiện sắp xếp theo diễn biến nh trong các chuyện xa, tác giả còn vận dụng cáchxáo trộn, lắp ghép, thêm bớt các chi tiết Việc bố mẹ Chử ngợc dòng sông Cái,Chử xuôi về đồng bằng tìm ông rồi cùng vợ ra cửa sông lập nghiệp, giấc mơ
của Chử sau khi ông mất trong Nhà Chử; cảnh An Tiêm cùng dân Bãi Lở đi
dự hội ở kinh thành, cuộc sống nơi lu đày của gia đình An Tiêm trong Đảo hoang hay số phận nhân vật Tàm ở Chuyện nỏ thần v v đều là h cấu của tác
giả
Nhiều chuyện ngày xa cũng đợc đa vào, tạo nên lối kết cấu “truyện
trong truyện”: Sơn Tinh Thủy Tinh (Nhà Chử), Bánh chng bánh dày, Trầu cau
(Đảo hoang), Thánh Gióng, Chử Đồng Tử (Chuyện nỏ thần) Là những câu
chuyện độc lập nhng khi đi vào các tác phẩm, chúng đều có mối liên hệ chặtchẽ, có vai trò nhất định trong diễn biến của cốt truyện và thể hiện một dụng ýnào đó của nhà văn
Trong Chuyện nỏ thần, Tô Hoài còn vận dụng lối kết cấu xâu chuỗi.
Tác phẩm gồm 14 chơng, trong đó có một số chơng mở đầu bằng việc giớithiệu những đoạn trích trong truyền thuyết, sử sách hoặc bài thơ nói về mộtnhân vật hay một sự kiện lịch sử Nội dung của chơng đó và một số chơng tiếptheo là sự triển khai vấn đề đã giới thiệu Bằng cách kết cấu nh vậy, tác phẩmkhông chỉ xoay quanh sự kiện An Dơng Vơng xây Loa Thành, chế nỏ thần,
Trang 34đánh giặc rồi thất bại mà nó là sự liên kết nhiều truyền thuyết, nhiều sự kiệntrong một cốt truyện thống nhất Không gian mở rộng suốt cả vùng trung du
và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Thời gian đợc phản ánh trong tácphẩm kéo dài từ thời chống quân xâm lợc Tần (năm 214 tr CN) sang chốngquân Triệu đến chống quân Hán (những năm 40 sau CN) Nội dung tác phẩmbao gồm nhiều sự kiện ghi trong sử sách đợc triển khai, mở rộng và nhấnmạnh Nhiều nhân vật lịch sử đợc tái hiện với lai lịch, diện mạo, tính cách khá
rõ nét Bởi vậy, có thể nói, Chuyện nỏ thần đã làm sống lại những trang lịch
sử bi hùng trong buổi đầu giữ nớc của dân tộc
Lối kết thúc mở cũng đợc Tô Hoài vận dụng trong cả ba tác phẩm
Trong Nhà Chử, sau khi kết hôn với Nàng Dong, Chử cùng vợ và trai gái các bến đi ra cửa sông mở làng lập bến mới Đoạn kết của Đảo hoang tả cảnh
Mon cùng đoàn thuyền 30 chiếc chở dân làng ra lập nghiệp trên hòn đảo từng
là nơi đày ải gia đình mình mấy chục năm qua Còn kết thúc Chuyện nỏ thần
là câu chuyện giữa ông già (vua Thục) và ngời quảy củi (Cao Lỗ) Lối kếtthúc nh vậy làm cho các tác phẩm thêm giàu ý nghĩa và gợi đợc nhiều suynghĩ, liên tởng khác nhau ở bạn đọc
Trong Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Tô Hoài đã xây dựng đợc
một thế giới nhân vật phong phú, bao gồm cả ngời (từ tầng lớp quý tộc đếnbình dân), thần linh và loài vật Có những nhân vật đã xuất hiện trong truyềnthuyết (Chử, An Tiêm, vua Thục, Mỵ Châu ) và cũng có những nhân vật làsáng tạo nghệ thuật của tác giả (bố mẹ và ông của Chử, vợ con An Tiêm,Tàm ) Nhiều nhân vật trong số đó đợc khắc họa rõ nét qua ngoại hình, ngônngữ, hành động hoặc nội tâm nh Chử, An Tiêm, Mon, Cao Lỗ, Tàm Chủ yếunhìn nhận con ngời nh là những anh hùng trong sự nghiệp vĩ đại lao động vàchiến đấu, Tô Hoài đã xây dựng nhân vật của mình với bút pháp ít nhiềuphóng đại và lý tởng hoá Mỗi ngời có một cuộc đời, tính cách và số phậnkhác nhau nhng đều tiêu biểu cho vẻ đẹp của sức mạnh, ý chí và khát vọng v-
ơn lên trong cuộc sống Tất cả cùng chung tay góp sức chống chọi với kẻ thù(thiên tai và ngoại xâm) để xây nên cuộc sống, mở mang và bảo vệ bờ cõithiêng liêng của dân tộc
“Trong lĩnh vực ngôn từ, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹpcủa chữ nghĩa Tô Hoài tìm hiểu cách dùng chữ đẹp của quần chúng tronglao động, trong từng nghề nghiệp và từ đấy mà suy nghĩ sáng tạo” [49, 140]
Bởi vậy văn của ông trong Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần vừa trong
sáng, dễ hiểu lại vừa gợi lên đợc không khí cổ xa, phù hợp với nội dung củacâu chuyện Về cấu trúc câu văn, “ông không viết theo mô hình câu có sẵn
Trang 35trên sách báo Ông viết theo sự tìm từ riêng của mình để diễn đạt cho đ ợc chủ
đề và t tởng tác phẩm” [49, 140] Câu văn của Tô Hoài mới mẻ và đặc biệt rấtgiàu nhạc tính Qua nghệ thuật miêu tả, trần thuật của tác giả, con ngời, cảnhthiên nhiên, cảnh sinh hoạt tất cả đều hiện lên rõ nét, sinh động, mang cái
"thần" của đối tợng Ngời đọc, qua những trang viết của ông, đợc dõi theohành trình của nhà Chử trên sông nớc, phiên lu cùng cha con Mai An Tiêmtrên hoang đảo, tham gia vào các lễ hội đông vui, náo nhiệt, ngắm nhìn nhữngcảnh sắc hùng vĩ, đẹp đẽ hay chứng kiến những cuộc chiến đấu giữ thànhquyết liệt và sống với tâm trạng day dứt, đau xót của vua Thục khi thất bại
Có thể khẳng định, Tô Hoài, trong bộ ba tác phẩm này, bằng tài năng nghệthuật của mình, đã làm sống lại một thời kỳ xa xa trong lịch sử, từ đó gợi đợcnhiều cảm xúc đẹp đẽ và giúp bạn đọc rút ra đợc nhiều bài học quý báu trongcuộc sống
Chơng 2 Hình tợng cuộc sống trong bộ ba tiểu thuyết
Nhà Chử, Đảo hoang và Chuyện nỏ thần
2.1 Công cuộc mở mang bờ cõi và bảo vệ chủ quyền dân tộc
2.1.1 Công cuộc mở mang bờ cõi
Lịch sử của một dân tộc thờng bắt đầu bằng việc con ngời tìm địa bàn
c trú để sinh cơ lập nghiệp và xác định chủ quyền của mình trên mảnh đất đó.Xây dựng và mở mang bờ cõi là một công cuộc lớn lao đợc nhiều thế hệchung vai gánh vác Trong bộ ba tác phẩm của Tô Hoài, công cuộc vĩ đại đó
đợc thể hiện rõ nét ở Nhà Chử và Đảo hoang.
Theo sử sách, vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng là nơi c trú của ngờiViệt cổ Trên những cánh đồng màu mỡ ven sông họ cất nhà dựng cửa, lậpnên làng xóm, quanh năm cày bừa, gieo trồng, gặt hái, trồng dâu nuôi tằm, dệtvải, xây dựng nên nền văn minh lúa nớc lâu đời Trải qua nhiều thế hệ, cùngvớí sự sinh sôi của con ngời và sự phát triển mọi mặt của cuộc sống, địa bàn
c trú của ngời Việt ngày càng rộng mở
Viết Nhà Chử, thông qua hành trình của các thế hệ trong gia đình nhà
Chử, Tô Hoài muốn phản ánh công cuộc khám phá, mở mang bờ cõi, xâydựng cuộc sống của cha ông ta từ đời này qua đời khác trên lu vực sông Hồng.Cuộc đời của mỗi ngời ở đây đều là những chuyến đi, những vật lộn với khókhăn, những cuộc chiến đấu với thuỷ quái để bảo vệ và mở mang cuộc sống
Trang 36Đời ông Chử trôi nổi, phiêu bạt “miệt mài bay lợn bốn bên sông nớc” với khátvọng lớn lao: "Con sông cũng bằng con đờng đa ta đi đến mọi chốn khắp đấtnớc, phàm là ngời trong cõi phải am tờng" [39, 81] Thời trẻ, ông là dũng sĩ
đánh thuồng luồng, cá sấu nổi tiếng khắp vùng Về già, ông sống ở bến sôngquê, làm bạn với le le và Vàng ở đó, qua thời gian, với công sức con ngời,bên con sông “nớc chảy chầm chậm, lắm mồi lắm cá chen chúc”, bến sông trởnên tấp nập “các hàng thuyền, nhà đò, nhà bè ra vào ngày đêm”, cuộc sốngdiễn ra hết sức sôi động
Nối tiếp chí hớng của ông, bố mẹ Chử lại tiếp tục hành trình khám phá
đầu nguồn sông Cái “Con sẽ ngợc lên cho đến tận nơi chân con đạp đợc vàochỗ đầu nớc róc rách nhích từng giọt trong khe đất ra” Đó cũng chính là hànhtrình của ngời Việt từ đồng bằng, trung du lên khai phá, mở mang, lập nên bảnlàng ở miền núi Cùng đi với bố mẹ Chử là đông đảo ngời ở các bến Ai cũngmuốn đi xem “chỗ nào thì giẫm chân đợc vào đầu con sông Cái” Chuyến đicủa họ cũng phải trải qua nhiều vất vả, gian lao Sau nhiều ngày vợt qua baongọn thác, con lũ, vực sâu, họ dừng chân ở “một vùng đất đẹp mợt mà Chỗ nàocũng chằng chịt khe lạch, con suối và dòng sông Đất phì nhiêu ngả vào đâucũng có cái ăn” Nhng để trụ lại đợc, con ngời phải chiến đấu với đủ loại thúdữ Từng đàn gấu, báo, hổ xám, hổ vàng, hổ trắng tràn ra cả ban ngày Sôngnớc cũng đầy tai họa Những bầy cá sấu, thuồng luồng, con giải nhung nhúc.Theo gơng bố mẹ Chử, mọi ngời đào hố, đặt bẫy diệt hổ, dùng giáo đâm, lấy đáném thuồng luồng, cá sấu Dần dần, cuộc sống bình yên đã trở lại “Ngời tathong dong đi phá bãi, trồng củ từ, tra ngô” Quãng sông phẳng lặng, cá khắpnơi nhởn nhơ về “Trên bến làng xóm mọc nh bát úp ” Vâng lời ông, bố mẹChử đã cùng dân làng ở lại nơi “cái đất đẻ ra cái nớc đầu ngọn sông Cái” Mộtmiền quê mới lại hình thành “Vùng trời nớc khuất nẻo ngọn nguồn đã hoá mộtxóm bến nhà sàn chi chít” [39, 15]
Sinh ra trên sông nớc, lớn lên ở đầu nguồn, theo lời bố mẹ, Chử về bếnquê tìm ông Khác với bố mẹ, Chử một mình trên con thuyền độc mộc xuôidòng Cũng khác với chuyến đi của bố mẹ ngày trớc, những làng xóm bênsông nơi Chử dừng chân đều đông vui, tấp nập
Vẫn là chuyến đi vợt qua bao ghềnh thác, vẫn là những trận chiến vớithuồng luồng, cá sấu, nhng hành trình của Chử về xuôi ngợc lại với chuyến đicủa bố mẹ lên nguồn mấy mơi năm trớc Đó cũng chính là hành trình của ngờiViệt trong công cuộc mở mang bờ cõi ra phía cửa sông Dọc đờng, ghé vào
đâu Chử cũng gặp xóm làng sầm uất, đông vui, con nguòi chan hòa, thân ái
Trang 37Miền núi, trung du, đồng bằng, đâu đâu cũng có ngời đến khai phá, lập nênlàng xóm Ngời dới kẻ bể lên Ngời ở nhiều vùng quần tụ lại Bàn chân ôngChử cũng đã in dấu khắp nơi ở đâu, con ngời cũng có khát vọng khám phá,
mở rộng địa bàn c trú của mình
Chử về bến sông quê là tìm về với cội nguồn Gặp ông, Chử đợc tiếpthêm niềm tin và sức mạnh để thực hiện lời ông dặn “cái chí ngời ta thì khôngcùng, đã lên đợc nguồn, uống giọt nớc đầu tiên khe đá rỉ ra, tất có khi xuống
đến cửa sông, nếm nớc lợ, ăn con ngao con ngán, nghe xem mát ruột đến thếnào Cháu đợc sinh ra trên ngọn sông Bây giờ cháu nghe ông, cháu sẽ xuống
xa đến chỗ sông mở cửa nớc nhìn ra bể Đông” [39, 92] Chử lại tiếp tục mộthành trình mới
Sau cuộc gặp gỡ lạ kỳ và nên duyên với Nàng Dong trên bến Tự Nhiên,
vợ chồng Chử lại cùng trai gái các bến ra cửa sông để “lập nên bến cửa, trênbãi dới nớc có chợ hôm chợ mai, cho đất nớc thêm một cõi” [39, 147]
Nếu Nhà Chử là câu chuyện của các thế hệ trong một gia đình nối tiếp
nhau trên hành trình khám phá con sông Cái từ đầu nguồn ra đến cửa sông,
“con sông Cái đã nuôi sống ngời ta, làm cho đông đàn dài lũ giống ngời”, là
cái nôi của nền văn hóa lúa nớc của ngời Việt, thì Đảo hoang là chuyện gia
đình Mai An Tiêm trở về sau mấy chục năm bị đày ra hoang đảo, ngoài giống
da quý tìm đợc còn đem lại một cơ hội mở thêm những làng xóm mới Nếuhành trình của cha con ông cháu nhà Chử diễn tả công cuộc khai phá đất đaitrên lu vực con sông Cái ở đất liền thì hành trình và cuộc sống của nhà AnTiêm trên đảo cũng chính là công cuộc mở mang lãnh thổ ra phía biển của ng-
ời Việt từ thuở xa xa
Khác với những chuyến đi hào hứng, tự nguyện của mỗi ngời trong gia
đình nhà Chử, hành trình ra đảo của gia đình An Tiêm là một chuyến lu đàybiệt xứ Nhng là những ngời có ý chí và nghị lực, vợ chồng con cái An Tiêm
đã không cam chịu chết dần chết mòn ở hòn đảo không có dấu chân ngời
Tr-ớc đây, khi còn ở đất liền, An Tiêm đã cùng dân làng năm này qua năm khácném đá chặn nớc, chống chọi với thiên tai để có đợc vùng Bãi Lở “làng xómmọc lên ven sông, xa trông chen nh vảy cá, đông vui san sát” [39, 159] Khi nhà vua nghe lời gièm pha đày cả nhà An Tiêm ra “ngoài bể
Đông có dải đất cha ai đến bao giờ” để xem “nó có phép biến chết thànhsống”, “có thân lập nổi thân” hay không, An Tiêm đã cùng vợ con chống chọivới muôn vàn khó khăn để tồn tại Sau một cơn sóng thần, Mon bị cuốn ra bờbiển, lạc mất cha mẹ Quá trình bố mẹ, con cái tìm nhau kéo dài hàng năm
Trang 38trời từ hang núi đến rừng cây, bãi biển rồi đi vòng quanh đảo cũng là quá trình
họ khám phá sự sống trên đảo hoang Họ nhận thấy “đất này tốt chẳng khácBãi Lở Chỉ ớc đợc một hạt thóc con chim đánh rơi, hạt thóc sẽ thành cótthóc, cót thóc thành đồng bãi phì nhiêu Chúng tôi muốn trở về rồi đem ngời
ra đây mở đất lấy của nuôi ngời thật sung túc” [39, 385] Để rồi khi cả gia
đình đợc nhà vua cho thuyền ra đón về, một năm sau, Mon đã trở lại đảo “nốichí cha, đi dựng phên dậu phía nam cho đất nớc” cùng đoàn thuyền 30 chiếcchở dân làng Họ mang theo công cụ lao động và hạt giống để đi gieo sự sốngtrên đảo hoang Chuyến ra đảo thực sự là một ngày hội tng bừng đi mở cõi
“Thật là một đám rớc từ sông Cái ra biển Đông mà cả đất nớc biết tiếng Bằngcả một làng ra đảo Ngời Bãi Lở có, lại nhiều ngời các cõi khác đợc lời raogọi, trai gái đều hăm hở đi Nhiều ngời đem cả nhà cùng đi, cả con trẻ, chócon và gà lợn Thuyền nào cũng chất chật ba khoang những vò giống, cácgiống luá, giống đậu, giống vừng, giống kê Có ngời đánh cả vừng cây caunon, cuộn dây trầu không, hom dâu, trứng tằm, men rợu và lới mảng Cóthuyền lại tải trâu, thoi dệt, nồi ơm và khuôn đúc cày Chẳng khác nào ngàytrớc, An Tiêm đem ngời đi lập làng ở Bãi Lở” [39, 466]
Dựng lại hành trình của gia đình nhà Chử từ bến quê ở đồng bằng lênngọn nguồn rồi xuôi ra cửa sông và cuộc sống của gia đình An Tiêm trên đảo,Tô Hoài muốn tái hiện quá trình xây dựng và mở mang bờ cõi của cha ông từ
đồng bằng lên trung du, miền núi rồi ra biển Đó là cả một sự nghiệp vô cùnglớn lao không chỉ của một vài ngời tài giỏi nh ông Chử hay An Tiêm mà làcủa đông đảo ngời dân khắp mọi cõi cùng góp công, góp sức; cũng khôngphải chỉ của một thế hệ mà của nhiều thế hệ nối tiếp nhau đời này sang đờikhác làm cho bờ cõi ngày càng rộng mở, cuộc sống ngày càng sinh sôi Với ý
nghĩa đó, Nhà Chử và Đảo hoang thực sự là những bài ca mở nớc hào hùng.
2.1.2 Công cuộc bảo vệ chủ quyền đân tộc
Trong lịch sử của một dân tộc, công cuộc dựng nớc bao giờ cũng gắnliền với công cuộc giữ nớc Bởi vì con ngời chỉ có thể an c lạc nghiệp khi đợcsống bình yên Xác định và bảo vệ chủ quyền dân tộc là một việc hết sức quantrọng nhằm khẳng định sự tồn tại của một cộng đồng trên lãnh thổ của mình.Dân tộc Việt Nam, ngay từ khi mới hình thành đã phải nhiều lần đơng đầu với
kẻ thù hùng mạnh đến từ phơng Bắc Dựa vào các truyền thuyết Mỵ Châu
-Trọng Thủy, Chuyện Rùa Vàng và tích chuyện về các nhân vật anh hùng, Tô Hoài đã viết tiểu thuyết Chuyện nỏ thần Tác phẩm không chỉ phản ánh công
cuộc chống ngoại xâm của nhân dân ta trong buổi đầu lịch sử mà nó còn có ý
Trang 39nghĩa nhắc lại những bài học, và sâu xa hơn, là niềm tự hào, lòng yêu tha thiếtcủa tác giả với buổi đầu dựng nớc, giữ nớc ấy.
Trong Chuyện nỏ thần, câu chuyện diễn ra suốt một thời gian dài từ
cuối đời Hùng Vơng sang thời vua Thục đến khởi nghĩa Hai Bà Trng thắnglợi Mặc dù có sự liên kết nhiều sự kiện, nhiều nhân vật trong nhiều giai đoạnlịch sử nhng tác giả tập trung làm nổi bật quá trình xây thành đắp luỹ, chế nỏ,chiến đấu chống kẻ thù dới thời vua Thục
Tác phẩm bắt đầu bằng việc giới thiệu một nhân vật huyền thoại: Lý
Ông Trọng, ngoại hình to lớn khác thờng, tài năng, đức độ, đã từng giúp vuaTần đánh giặc Hung Nô Khi tuổi cao, ông trở về sống ở vùng bãi bên sôngCái quê nhà Ông đợc vua Thục hết sức kính trọng Biết đợc dã tâm của vuaTần, Ông Trọng bày tỏ suy nghĩ của mình với vua Thục: “Nh ng tôi còn lo tacha có thành vững Đất Văn Lang mới chỉ đợc cái hiểm đồi núi, không phải
là nơi dụng võ, không ở thế trung tâm nghìn đời Ta cần phải xây thành” [39,507] Và chính ông đã đi tìm đợc "một vùng đất phong thuỷ có cơ lâu dài.Vùng ấy đất tổ ong, phơi nắng thì rắn chắc hoá đá Một dải đồi tổ ong tựa bờsông Thiếp, sông Thiếp nối sông Lý sang các ngọn lên Vũ Ninh, lại ra sôngCái, xung quanh hiểm hóc, bao bọc nhiều đầm hồ, nhiều vực Đánh bộ, đánhthuỷ, tiến lui đều thuận Thế dữ nh rừng đại ngàn, dẫu cho kẻ địch có lọt vàocũng khó còn mang xác ra đợc” [39, 508] Nhìn nhận đợc tình thế, chọn đợcvùng đất vừa ở vị trí trung tâm vừa có địa thế hiểm trở để xây thành chốnggiặc, chi tiết này cho thấy trí tuệ sáng suốt của cha ông ta trong buổi đầu dựngnớc
Sự nhìn xa trông rộng của Ông Trọng đã đợc vua Thục đồng tình và liềnsau đó là công cuộc xây thành khẩn trơng, tấp nập Từ quan tớng, công chúa,nàng hầu, thanh niên trai gái, ông già, bà lão đều hăng hái tham gia, mỗi ngờimột việc: các lão ông bện chão, lão bà đan thúng mủng, rổ rá, các cô đội đấtcòn trai tráng dùng chão kéo từng tảng đất đá ong lên đắp thành Chẳng baolâu, “nhờ đợc ngời tám cõi cùng một bụng với oai vua, lại có quân quankhông phân biệt ngôi thứ, giờng chiếu, quan đầu triều cũng nh quân dắt ngựa,
đã cùng đổ mồ hôi” [39, 570], một toà thành vững chắc đã đợc xây xong
Thuật lại quá trình xây thành một cách cụ thể, Tô Hoài cho thấy thành
Cổ Loa chính là kết quả xứng đáng của trí tuệ và công sức của khối đoàn kếttoàn dân Đó cũng chính là bài học quý báu luôn luôn đợc vận dụng trong lịch
sử giữ nớc của dân tộc
Trang 40Cao Lỗ là ngời có công lớn trong việc giúp vua xây thành Cũng chínhCao Lỗ coi sóc việc chế nỏ sau khi vua Thục đợc thần Kim Quy tặng chiếcmóng rùa làm lẫy nỏ Nơi đặt lò đúc kín đáo “khuất dới những vòm tre lẫnrừng trúc chân thành” ở đó, lặng lẽ mà tấp nập, nơi đúc tên đồng,”cây têndựng đứng to cao hơn hai đầu ngời sừng sững nh hai chiếc cột đình”, nơi tạc
bệ nỏ, nơi mài “chiếc móng rùa vàng thẫm nh ngà con voi trăm tuổi” Côngviệc diễn ra trong không khí thiêng liêng: “một đống trầm, những bó hơng
đen khói thơm nghi ngút lên suốt ngày đêm” Miêu tả một cách chi tiết quátrình chế tạo nỏ thần với hình ảnh nổi bật đợc xây dựng bằng thủ pháp phóng
đại là cây tên khổng lồ, Tô Hoài phản ánh ớc mơ của ngời Âu Lạc muốn có
đ-ợc sức mạnh để bảo vệ vững chắc bờ cõi, nhất là khi đất nớc luôn ở trong hoàncảnh bị kẻ thù mạnh hơn lăm le xâm lợc
Những hội thi đấu roi, đấu vật, bắn nỏ đợc mở ra để chọn ngời tài.Ngày giặc sang, cả nớc ra trận Xe trâu đa đến từng bồ tên nỏ, giáo mác, đinhba Rầm rập kéo lên từng đoàn quân đeo nỏ Voi ngựa các nơi đến Quânquan các cõi về giữ thành tấp nập Khắp nơi trong không khí sôi sục chuẩn bịchống ngoại xâm
Trang trọng và thiêng liêng hơn cả là cảnh chiến đấu bằng nỏ thần.Giữa làn khói trầm nghi ngút, nỏ thần trông thật uy nghi “Lòng máng nỏ dàimời sải, vành tròn một ôm bằng cả khuôn mặt cái trống đại Một hàng tên cột
đồng to nh những cây gỗ mỡ, sáng loáng, nhô đầu trên cánh nỏ” [39, 588]
Điều khiển đợc cỗ nỏ khổng lồ đó cũng cần một đội quân hùng hậu “Mỗi bên
20 quân nỏ cao lớn, cởi trần, quỳ một gối Bốn mơi lực sĩ hai vế, dang tay kéo
nỏ Mỗi cánh nỏ dài bằng cây luồng ngộ, ghép mảng nửa ống một, buộc kenthừng da trâu nh chiếc cột vút đầu, nặng mà dẻo lạ lùng Hai đầu cánh từ từ vítxuống Đến lúc dây nỏ khớp đợc vào máng, cả 80 cánh tay lực sĩ kiệt sức, ngãcả ra Một lúc sau mới đứng dậy đợc Mấy chục đô khác đã lại vào túc trựcthay tay sẵn bên bệ đá” [39, 588] Đợc lệnh vua Thục, “những mũi tên xé gióbay ra, tiếng oàng lên nh sét đánh liên tiếp Nỏ bắn hết sức sầm nhiệt, náo
động cả bốn phía mặt thành" [39, 589] Phút chốc, quân Triệu “nh đám mâylặng lẽ tan”
Đặc tả cỗ nỏ khổng lồ với sức mạnh kỳ diệu, tiêu diệt kẻ thù trong nháymắt, Tô Hoài đã sử dụng biện pháp nghệ thuật cờng điệu để tạo nên nhữnghình ảnh kỳ vĩ, cho thấy cha ông ta luôn ớc mong có đợc sức mạnh để chiến
đấu trong hoàn cảnh đất nớc luôn có chiến tranh Thế nhng yếu tố kỳ ảo vẫnkhông tách khỏi yếu tố hiện thực khi ông miêu tả cảnh các lực sĩ phải đem hết