22 Bảng 4.3: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Phèn Trắng……… 32 Bảng 4.4: Tương quan giữa chiều dài tổng và trọng lượng cơ thể của các loài cá thuộc họ cá Chét phân bố ở Só
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ THỊ RẰNG
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI ĐÁ TAI CỦA
HỌ CÁ CHÉT (POLYNEMIDAE) VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TUYẾN SINH DỤC CỦA CÁ PHÈN VÀNG
(Polynemus longipectoralis) PHÂN BỐ Ở SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS HÀ PHƯỚC HÙNG
2010
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Hà Phước Hùng đã hướng dẫn,
đã tận tình gúp đỡ và đóng góp những ý kiến bổ ích trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của em
Xin cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản đã tạo mọi điều kiện tốt nhất gúp
em hoàn thành đề tài và cũng xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô, cán bộ đang công tác tại Bộ Môn Kinh Tế và Quản Lý Nghề Cá thuộc khoa Thủy Sản đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em trong suốt thời gian học tập tại trường và cũng như trong suốt thời gian thực hiện đề tài cho đến hoàn thành đề tài
Cuối cùng xin cảm ơn tất cả các bạn lớp Quản Lý Nghề Cá khóa 33 đã động viên và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn!
Lê Thị Rằng
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Đặc điểm hình thái đá tai họ cá Chét (Polynemidae) và
sự phát triển của tuyến sinh dục của cá phèn vàng (Polynemus
longipectoralis) phân bố ở Sóc Trăng” đã được thực hiện từ tháng 9 năm
2010 đến tháng 11 năm 2010 Kết quả đã đinh danh được 3 loài thuộc họ cá
Chét (Polynemidae) phân bố ở Sóc Trăng: Cá Chét (Gộc) Eleutheronema
tetradactylum (Shaw, 1804), Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922), Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus
(Linnaeus, 1758)
Đã xác định được 3 loài thuộc họ cá Chét ở Sóc Trăng
Hình thái đá tai của 3 loài cá Chét,cá Phèn Vàng và Cá Phèn Trắng đều có hình thuôn chữ nhật ở
Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Phèn Vàng (R2 = 0,9917) và cá Chét (R2 = 0.9861) rất chặt chẽ, cá Phèn Trắng (R2 = 0.9847) nhưng do số mẫu quá ít nên không thể kết luận
Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng của cá Phèn Vàng (R2 = 0,832)
và cá Chét (R2 = 0.8217) chặt chẽ, cá Phèn Trắng do số mẫu quá ít nên không thể đưa ra kết luận
Tương quan chiều dài đá tai và chiều dài rất chặt chẽ đối với cá Phèn Vàng (R2 = 0,9255), cá Chét (R2 = 0.8425) chặt chẽ, cá Phèn Trắng do số mẫu quá
ít nên không thể đưa ra kết luận
Sự phát triển của tuyến sinh dục cá Phèn Vàng không có tương quan chặt do
số lượng mẫu cá có trứng quá ít.Hệ số điều kiện (CF) của cá Phèn Vàng trong thời gian nghiên cứu dao động từ 0.004019-0.006493 CF cao nhất là vào tháng 10 là 0.004019 và thấp nhất vào tháng 11 là 0.006493 Kết quả khảo sát
sự phát triển của tuyến sinh dục của cá Phèn Vàng cho thấy: Hệ số GSI cao nhất ở tháng 10 và thấp nhất vào tháng 11
Trang 4MỤC LỤC
Lời Cảm Tạ i
Tóm Tắt ii
Danh Mục Bảng iii
Danh Mục Hình iv
Danh Mục Viết Tắt v
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm và tình hình thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng 3
2.1.1 Đặc điểm tỉnh Sóc Trăng 3
2.1.2 Tình hình chung về thủy sản tỉnh sóc Trăng 4
2.2 Đặc điểm hình thái và thành phần bộ cá nhụ (Mugiliformes) 5
2.2.1 Thành phần giống loài 5
2.2.2 Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh trưởng 6
2.2.2.1 Giống cá Chét Euletheronema 6
2.2.2.2 Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus) 7
2.3 Đá tai cá 9
2.3.1 Đặc điểm chung về đá tai 9
2.3.2 Cấu tạo của đá tai 10
2.3.3 Sự hình thành đá tai 11
2.3.4 Các ứng dụng của đá tai trên thế giới và trong nước 12
2.4 Sự tương quan giữa chiều dài với trọng lượng 13
Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Địa điểm nghiên cứu 15
3.2 Thời gian nghiên cứu 15
3.3 Vật liệu nghiên cứu 15
3.4 Phương pháp thu mẫu và phân tích 16
3.4.1 Phương pháp thu mẫu 16
Trang 5Nội Dung Trang
3.4.2 Phương pháp phân tích mẫu 16
3.4.2.1 Mô tả phương pháp lấy đá tai 16
3.4.2.2 Phương pháp xử lý đá tai 17
3.4.2.3 Phương pháp phân tích đá tai 17
3.4.2.4 Phân tích các đặc điểm 17
3.4.2.5 Phương pháp để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 18
3.4.3 Phương pháp xử lí số liệu 20
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Thành phần các loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) phân bố ở tỉnh Sóc Trăng 21
4.1.1 Cá Chét(Gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) 21
4.1.1.1 Mô tả hình thái cá Chét 21
4.1.1.2 Đặc hình thái đá tai của cá Chét (cá gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) 22
4.1.1.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng thân cá 24
4.1.1.4 Tương quan chiều dài đá tai và chiều dài thân cá 25
4.1.1.5 Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá 25
4.1.2 Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922) 26
4.1.2.1 Mô tả hình thái cá Phèn Vàng 27
4.1.2.2 Đặc hình thái đá tai của cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922) 28
4.1.2.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng thân cá 29
4.1.2.4 Tương quan chiều dài đá tai và chiều dài thân cá 30
4.1.2.5 Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá 30
4.1.3 Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus,1758) 31
4.1.3.1 Mô tả hình thái cá Phèn Trắng 31
4.1.3.2 Đặc hình thái đá tai của cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus,1758) 32
4.1.3.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng thân cá 34
4.1.3.4 Tương quan chiều dài đá tai và chiều dài thân cá 34
4.1.3.5 Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá 35
4.2 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922) 36
Trang 6Nội Dung Trang
4.2.1 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 36
4.2.2 Hệ số điều kiện (CF) 37
4.2.3 Hệ số thành thục (GSI) 38
4.2.4 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối 39
Phần V:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề xuất 43
Tài Liệu Tham Khảo 44
Phụ Lục 48
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ Đồng Bằng Sông Cửu Long 3
Hình 2.2: Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804) 6
Hình 2.3: Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922) 7
Hình 2.4:Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus,1758) 8
Hình 2.5: Vị trí của đá tai (Sagitta) của cá 9
Hình 2.6: Ba cặp đá tai của cá Bơn (Jennifer Brown, 2009) 10
Hình 2.7: Một số hình dạng về đá tai của cá 11
Hình 2.8: Đá tai của Cá Tuyết vùng biển phía Bắc 11
Hình 3.1: Bản đồ Tỉnh Sóc Trăng 15
Hình 3.2: Phương pháp lấy đá tai của cá Chét 17
Hình 4.1: Cá Chét Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) 21
Hình 4.2: Đá tai cá Chét (Gộc) 22
Hình 4.3: Đặc điểm đá tai (Sagitta) của Cá Chét (Eleutheronema tetradactylum) 23
Hình 4.4: Đá tai cá Chét khi có chiều dài khác nhau 24
Hình 4.5: Tương quan giữa TL (cm) và trọng lượng FW (g) của Cá Chét 24
Hình 4.6: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và chiều dài thân cá FL (cm) của loài Cá Chét 25
Hình 4.7: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và trọng lượng thân cá Fw (g) của loài Cá Chét 25
Hình 4.8: Cá Phèn Vàng 26
Hình 4.9: Đá tai cá Phèn Vàng 27
Hình 4.10: Mô tả hình thái đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922) 28
Hình 4.11: Đá tai cá Phèn Vàng khi có chiều dài khác nhau 28
Hình 4.12: Tương quan giữa chiều dài TL (cm) và trong lượng FW (g) của Cá Phèn Vàng 29
Hình 4.13: Tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và chiều dài thân cá FL (cm) của loài Cá Phèn Vàng 30
Hình 4.14: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và trọng lượng thân cá FW (g) của loài Cá Phèn Vàng 30
Trang 8Nội Dung Trang
Hình 4.15: Cá Phèn Trắng 31 Hình 4.16: Đá tai cá Phèn Trắng 32 Hình 4.17: Mô tả cấu trúc đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Trắng
Polynemus paradiseus (Linnaeus,1758) 33 Hình 4.18: Đá tai cá Phèn Trắng khi có chiều dài khác nhau 33 Hình 4.19: Tương quan giữa TL (cm) và trọng lượng FW (g) của Cá Phèn
Trắng 34 Hình 4.20: Mối tương quan giũa chiều dài đá tai OL (mm) và chiều dài thân
cá FL (cm) của loài Cá Phèn Trắng 34 Hình 4.21: Tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và trọng lượng thân cá Fw (g) 35 Hình 4.22: Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của loài Cá Phèn
Vàng theo thời gian 37 Hình 4.23: Hệ số điều kiện CF của loài Cá Phèn Vàng trong thời gian thực
hiện đề tài 38 Hình 4.24: Sự biến động hệ số thành thục sinh dục (GSI) trung bình của loài
Cá Phèn Vàng 38 Hình 4.25: Mối tương quan giữa trọng lượng thân cá Fw (g) và trọng lượng
buồng (g) 40 Hình 4.26: Mối tương quan giữa trọng lượng thân cá Fw (g) và sức sinh sản tuyệt đối
(trứng) 40 Hình 4.27: Mối tương quan giữa trọng lượng thân cá Fw (g) và sức sinh sản
tuyệt đối (trứng) 41
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Chét 22
Bảng 4.3: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Phèn Trắng……… 32
Bảng 4.4: Tương quan giữa chiều dài tổng và trọng lượng cơ thể của các
loài cá thuộc họ cá Chét phân bố ở Sóc Trăng trong thời gian nghiên cứu .36 Bảng 4.5: Hệ số thành thục (GSI) của loài Cá Phèn Vàng trong thời gian
thực hiện đề tài 39
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
A: Số tia vây hậu môn (Anal)
D1: Số tia vây lưng thứ nhất (Dorsal 1)
D2: Số tia vây lưng thứ hai (Dorsal 2)
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
LOL: Chiều dài đá tai bên trái (Left otolith lengt)
LOR: Chiều dài đá tai bên phải (Right otolith lengt)
LOTB: Chiều dài trung bình của đá tai (Otolith avergate lengt)
LT: Chiều dài tổng thân cá (Fish total lengt)
P: số tia vi ngực (Pectoral)
V: Số tia vi bụng (Ventral)
WT: Trọng lượng thân cá có nội quan (Fish total weight)
Trang 11Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Giới thiệu
Các loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) là một trong những loài cá có tiềm năng kinh tế cao, có thể trở thành đối tượng nuôi do có kích thước lớn, thịt ngon, sản lượng tương đối cao, có giá trị kinh tế nhất định Bên cạnh đó, giá trị dinh dưỡng từ thủy sản là rất bổ dưỡng, nguồn thực phẩm này có được
từ việc khai thác nguồn lợi tự nhiên hay nuôi trồng các đối tượng từ nhỏ cho
đến thu hoạch Cá đa dạng, phong phú về thành phần loài và số lượng vì thế
cần phải nắm vững những yếu tố cơ bản về đặc điểm thành phần loài, đặc
điểm sinh học của một số loài cá sống ở các thủy vực trong tự nhiên
Đã có nhiều nhà nghiên cứu tiến hành các cuộc khảo sát thành phần loài, đặc điểm sinh thái…các loài cá ở các thủy vực nước ngọt, lợ và mặn ở trên thế giới và cũng như ở Việt Nam Các loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) là một trong những đối tượng đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu Tuy nhiên hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu đến việc khảo sát thành phần các loài cá ở các tỉnh, thành phố còn lại ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, đặc biệt là ở khu vực tỉnh Sóc Trăng
Nhằm đánh giá và ghi nhận thêm thong tin về nguồn lợi thủy sản ở các khu vực trong nước đặc biệt là ở Sóc Trăng để có những giải pháp thiết thực cho việc nghiên cứu và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở đây, đặc biệt là các loài cá có
giá trị kinh tế cao, vì thế đề tài: “Đặc điểm hình thái đá tai họ cá Chét (Polynemidae) và sự phát triển của tuyến sinh dục của cá phèn vàng
(Polynemus longipectoralis) phân bố ở Sóc Trăng” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định thành phần loài, hình thái đá tai một số loài cá, tương quan giữa đá tai với trọng lượng cá, chiều dài cá dựa vào phân tích đá tai của các loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học góp phần cung cấp những thông tin cho các nghiên cứu tiếp theo về thành phần
loài một số loài cá trong khu vực nghiên cứu
1.3 Nội dung nghiên cứu
Định loại một số loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) ở tỉnh Sóc Trăng
Mô tả đặc điểm hình thái đá tai một số loài thuộc họ cá Chét (Polynemidae) ở tỉnh sóc Trăng
Sự tương quan giữa đá tai với chiều dài, trọng lượng của một số loài thuộc họ cá Chét (Polynemidae) ở tỉnh Sóc Trăng
Trang 12 Phân tích một số đặc điểm phát triển tuyến sinh dục và phân tích hệ số
điều kiện (CF) của cá phèn vàng (Polynemus longipectoralis) ở tỉnh Sóc Trăng
Trang 13Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm và tình hình thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng
2.1.1 Đặc điểm tỉnh Sóc Trăng
Tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long, nằm cuối cửa Nam sông Hậu, tiếp giáp Biển Đông với 72 km bờ biển; Diện tích tự nhiên 3.310 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Sóc Trăng tiếp giáp 3 tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ở phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, ở phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, ở phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và giáp biển Đông ở phía Đông
và Đông Nam
Sóc Trăng có hệ thống giao thông hết sức thuận lợi nhờ vị trí địa lý nằm trên trục quốc lộ 1A, quốc lộ 60 tuyến Nam sông Hậu, thông qua sông Hậu đến các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và các nước Lào, Cam-Pu-Chia Cùng với hệ thống kinh rạch và 8 tuyến tỉnh lộ dài 277 km, các tuyến đường liên huyện, liên xã nối liền các huyện, thành phố thành hệ thống giao thông thủy, bộ khá thuận lợi
Hình 2.1 : Bản đồ Đồng Bằng Sông Cửu Long
(http://dothi.net/news/tin-tuc/doi-song-do-thi/2009/07/3b9ae591/)
Trang 14Sóc Trăng đã hình thành 3 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn đất đai màu mỡ, ruộng đồng phì nhiêu, khí hậu ôn hoà Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Sóc Trăng chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 27oC,
độ ẩm trung bình là 83%
Nhờ vào địa thế đặc biệt thuộc vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, vùng
có nhiều trữ lượng tôm cá nơi có sản phẩm xuất khẩu dồi dào và đa dạng đặc biệt là hàng thuỷ sản, Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển tổng hợp
Mục tiêu phát triển của tỉnh Sóc Trăng đến năm 2010 là tiếp tục thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, hội nhập kinh tế với vùng và khu vực; biến tiềm năng thành lợi thế so sánh để thu hút đầu tư; Phát triển công nghệ hiện đại, sản xuất ra hàng hóa có chất lượng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từng bước nâng cao vai trò, vị trí của tỉnh trong công cuộc phát triển kinh tế của toàn vùng (Tạp chí lý luận của ủy ban dân tộc, 2010)
2.1.2 Tình hình chung về thủy sản tỉnh sóc Trăng
Sóc Trăng có bờ biển dài 72km, với ba cửa sông chính: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển đông Vùng lãnh hải thuộc địa phận Sóc Trăng khá rộng, hình thành nhiều ngư trường với nguồn lợi hải sản đa dạng, phong phú Hằng năm, nước biển xâm lấn sâu vào những cánh đồng rộng lớn, tạo thành một vùng nước mặn - lợ, chưa kể hàng nghìn ha đất bãi bồi ven sông, biển, là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
Nhờ công suất tàu thuyền tăng, hoạt động đánh bắt xa bờ được đẩy mạnh, doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu phát triển, nên sản lượng khai thác thủy sản những năm gần đây của Sóc Trăng tăng đáng kể, bình quân mỗi năm đạt từ 28 đến 30 nghìn tấn Ngoài các nghề cào đôi, lưới vây, lưới đèn sản xuất
ổn định và phát triển
Cùng với kết quả khai thác hải sản tự nhiên tăng đều hằng năm, việc nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm sú cũng đang phát triển mạnh ở các huyện ven biển trong tỉnh Đến nay, Sóc Trăng đã đầu tư gần 1.300 tỷ đồng xây dựng
40 dự án phát triển nuôi trồng thủy sản, công trình thủy lợi phục vụ 60 nghìn
Trang 152.2 Đặc điểm hình thái và thành phần bộ cá nhụ (Mugiliformes)
2.2.1 Thành phần giống loài
Theo Trương Thủ khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) ở Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam thì Bộ cá Nhụ Polynemiformes chỉ có 1 họ là Polynemidae Trong đó, họ Polynemidae có 2 giống là Eleutheronema Shaw
cá Nhụ Polynemiformes Nhưng đối với loài cá Phèn Trắng có giá trị kinh
tế thấp do sản lượng thấp
Theo Rainboth (1996) thì bộ cá Nhụ có 1 họ gồm có 2 giống Trong đó, họ cá Chét có 2 giống: Eleutheronema và Polynemus(Linnaeus)
Giống Eleutheronema có loài Eleutheronema tetradactylum Shaw (1804)
Giống Polynemus(Linnaeus) có 4 loài là Polynemus longipectoralos Weber and de Beaufort (1922), Polynemus borneesis Bleeker (1852), Polynemus dubius Bleeker (1851) và Polynemus multifilis Schlegel (1845)
Theo Mai Đình Yên (1992) thì họ cá Chét (Polynemidae) cũng có 2 giống: Eleutheronema và Polynemus (Linnaeus)
Giống Eleutheronema thì có loài cá Chét (Eleutheronema tetradactylum
Shaw, 1804)
Giống Polynemus(Linnaeus) thì có 2 loài Cá Phèn Trắng (Polynemus longipectoralos Weber and de Beaufort, 1922) và loài Cá Phèn Vàng (Polynemus paradiseus Linnaeus, 1758)
Vị trí phân loại: (Theo Trương Thủ khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Bộ Cá Nhụ: Polynemiformes
Họ Cá Chét: Polynemidae
Giống Cá Nhụ: Eleutheronema
Loài: Cá Chét (Gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)
Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus)
Trang 16Loài: Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort,
1922)
Loài: Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus, 1758)
2.2.2 Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh trưởng
Theo Trương Thủ khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) mô tả các loài cá thuộc
họ cá Chét như sau:
2.2.2.1 Giống cá Chét Euletheronema Shaw
Cá Chét (cá gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)
-Kích thước: 102-208 mm
-Chỉ tiêu hình thái:
D1: VII D2: I, 15-16 A: III, 16-17 P: 16-17 V: I, 5 Chú thích:
Số la mã tượng trưng cho số tia cứng
Số tự nhiên tượng trưng cho só tia mềm
Hình 2.2 : Cá Chét Eleutheronema tetradactylum(Shaw, 1804)
(http://www.fishbase.org) Đặc điểm hình thái: Đầu lớn vừa, hơi dẹp bên Mõm ngắn, tròn, tù Răng nhỏ, mịn, phân bố đến bộ phận ngoài của xương hàm Lưỡi tròn, ngắn Mắt to, nằm dưới da, trên trục giữa thân và gần chót mõm hơn so với điểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt cong lồi và nhỏ hơn đường kính mắt Cạnh sau xương nắp mang có răng cưa nhỏ
Thân cá thon dài hơi dẹp bên Đường bụng phần trước gần như thẳng ngang Cuống đuôi thon dài Vẩy lược nhỏ, phủ khắp thân và đầu, vảy phủ gần đến ngọn vi lưng thứ hai, vi hậu môn và vi đuôi Đường bên bắt đầu từ mép trên lỗ mang cong xuống đến trục ngang giữa thân rồi chạy thẳng đến điểm giữa gốc
vi đuôi, tại gốc vi đuôi đường bên chia làm 3 nhánh chạy ra các tia vi đuôi
Trang 17Khởi điểm vi lưng thứ nhất ngang với vảy đường bên thứ 6-8 và gần chót mõm hơn so với điểm giữa gốc vi đuôi Khoảng cách giữa hai vi lưng lớn hơn chiều dài gốc vi lưng thứ nhất và tương đương với dài gốc vi lưng thứ hai Gai
vi lưng, vi hậu môn, vi bụng yếu Vi đuôi chẻ hai, rãnh chẻ sâu 2/3 chiều dài
vi
Phần nữa trên của đầu có màu xám nhạt, phần nữa dưới của thân và đầu có màu trắng bạc Ngọn vi lưng, vi hậu môn màu đen Vi ngực màu vàng nhạt Vi bụng và sợi tự do vi ngực màu trắng trong
Đặc điểm phân bố: cá sống chủ yếu ở nước lợ và mặn, rất ít gặp ở nước ngọt Vùng phân bố khá rộng trãi dài từ Trung Quốc đến Thái Lan
2.2.2.2 Giống Cá phèn sông: Polynemus (Linnaeus)
Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort, 1922)
và gần chót mõm hơn so với điểm cuối xương nắp mang Phần trán giữa hai mắt rộng và cong lồi Cạnh xương nắp mang trước có răng cưa
Thân thon dài, hơi dẹp bên, cuống đuôi thon dài Vảy lược nhỏ, phủ khắp thân
và đầu, vảy ở thân to hơn vảy ở đầu Vi lưng thứ hai, vi hậu môn, vi đuôi vảy phủ gần đến ngọn Đường bên liên tục chạy từ mép trên lỗ mang đến 1/2 các tia ngắn giữa vi đuôi
Trang 18Gai lưng, vi hậu môn, vi bụng nhọn yếu Phần dưới của vi ngực có 7 sợi tự do, hai sợi trên dài nhất và kéo dài khỏi ngọn vi đuôi Vi đuôi chẻ hai, rãnh nhỏ sâu hơn 2/3 chiều dài vi đuôi
Lưng cá có màu xám đen, hai bên hông và bụng có màu vàng nghệ Ngọn vi lưng, vi ngực và ngọn các sợi tự do màu đen Gốc vi ngực, gốc các sợi tự do
Hình 2.4 : Cá Phèn Trắng Polynemus paradiseus (Linnaeus, 1758)
(De Bruin, Russell and A Bogusch, 1995) Đặc điểm hình thái: Đầu dài, ngắn, dẹp bên Mõm ngắn, nhọn, hơi tù Răng nhỏ, mịn không mọc phần ngoài của xương hàm Mắt nhỏ được da che phủ nằm trên trục giữa thân và gần chót mõm hơn so với điểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt cong lồi và rộng Cạnh dưới xương nắp mang trước có răng cưa nhọn
Thân thon dài, dẹp bên Đường bụng gần như thẳng, cuống đuôi thon dài Vảy lược nhỏ, phủ khắp thân và đầu Có nhiều vảy nhỏ che phủ gốc vi lưng thứ nhất và gần đến ngọn các vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi Đường bên liên tục chạy từ mép trên lỗ mang qua điểm giữa gốc vi đuôi và kéo dài gần đến ngọn các tia vi giữa của vi đuôi
Trang 19Gai vi lưng mềm, yếu Khoảng cách hai vi lưng ngắn hơn chiều dài gốc vi lưng thứ nhất
Hai sợi tự do của vi ngực dài tương đương hoặc lớn hơn hai lần chiều dài toàn thân của cá Vi đuôi chẻ hai, rãnh chẻ sâu hơn 2/3 chiều dài của vi đuôi
Mặt lưng của than và đầu cá có màu xám lợt, mặt bụng có màu trắng sữa Nắp mang phía trên gốc vi ngực có đốm màu đen Ngọn vi lưng có nhiều sắc tố đen Các vi khác có màu trắng trong
Đặc điểm phân bố: Cá sống chủ yếu ở nước lợ và mặn, nhưng cũng thường bắt gặp ở nước ngọt Phân bố ở Miến Điện, Ấn Độ, Thái Lan, Mã Lai, ĐBSCL Việt Nam
2.3 Đá tai cá
2.3.1 Đặc điểm chung về đá tai
Khác với thế giới yên lặng, đáy sông là nơi khá ồn ào bởi các loại tiếng như ụt
ịt, quạc quạc, chít chít của nhiều loài cá thông tin với nhau Cá phát ra những tiếng đó chủ yếu để nhận biết cá thể cùng loài Tiếng ồn mà một số cá phát ra khi đẻ trứng to đến nỗi trên bờ sông vẫn có thể nghe thấy, một thứ âm thanh
kỳ lạ huyền bí phát ra trong đêm tối
Để nghe được tiếng động đó cá cần có cấu tạo tai đặc biệt Cá có cấu tạo tai trong hoàn chỉnh, trong đó đá tai là bộ phận then chốt Đá tai kết cấu bằng xương, nó phản ứng với sóng âm khác với phản ứng của cơ thể của nó Chuyển động nhỏ của đá tai kích thích những lông tơ ở tai trong, từ đó truyền tín hiệu thần kinh lên não Tai trong cũng rất quan trọng trong việc giữ thăng bằng cho cá, trong đó đá tai thông báo cho não biết về hướng đi và tốc độ di động của cá (Kent Hortle, 2003)
Hình 2.5 : Vị trí của đá tai (Sagitta) của cá
(Boss and Jumars, 2003)
Sagitta
Trang 20Cá nghe được khi sóng âm thanh gây ra các biểu mô giác và sagittae để rung động Do mật độ khác nhau của các cấu trúc dao động ở mức giá khác nhau, sản xuất một hành động cắt mà uốn cong các tế bào giác quan và được dịch sang một tín hiệu âm thanh của các dây thần kinh thính giác (Platt và Popper, 1981)
2.3.2 Cấu tạo của đá tai
Đá tai là các hạt nhỏ bao gồm chủ yếu là aragonit, nó là một dạng của canxi cacbonat (Degens et al., 1969) Chúng cũng chứa 0,2-10% chất hữu cơ ở dạng của một protein (Degans et al., 1969)
Hệ thống tai trong cuả cá gồm có 3 cặp đá tai: cặp sagitta trong túi sacculus, cặp asteriscus trong túi lagena, và lapillus trong túi ultriculus Sagitta lớn nhất trong 3 cặp đá tai tham gia vào việc phát hiện các âm thanh hoặc chuyển đổi các sóng âm thanh thành tín hiệu Asteriscus tham gia vào việc phát hiện các
âm thanh Lapillus-tham gia vào việc phát hiện của lực hấp dẫn và âm thanh (Popper và Lu, 2000)
Hình 2.6 : Ba cặp đá tai của cá Bơn (Jennifer Brown, 2009)
Đá tai có nhiều hình dáng và kích thước khác nhau giữa các loài khác nhau như cá sụn, cá mập…và một số loài cá khác không có đá tai Đá tai thì có tầm quan trọng trong các nghiên cứu về xác định tuổi và sự tăng trưởng, một số đá tai bị tiêu hóa rất chậm nên nó tồn tại khá lâu trong ruột cá dữ Điều này cho phép nhà sinh học cá xác định con vật bị ăn là loài cá nào (Kent Hortle, 2003)
Các Cặp Đá Tai
Cặp Asterisci Cặp Sagittae
Cặp Lapilli
Trang 21Hình thoi Obvat Panhvàle Tròn
Hình 2.7 : Một số hình dạng về đá tai của cá
(Smale, Watson, và Hecht, 1995; Robins, Carleton, 1986)
Do một số loài cá có tập tính di cư hoặc sinh sản thì trong thời gian này cá tiêu thụ ít chất dinh dưỡng nên cấu trúc các vòng hình thành trên đá tai có màu trắng Vùng tối hoặc " khu mờ " đại diện cho giai đoạn tăng trưởng nhanh Vùng trắng hoặc "khu đục " đại diện cho giai đoạn tăng trưởng chậm Tuổi của
cá được xác định bằng cách đếm vòng năm “một vòng năm bằng một năm”, hoặc dải mờ đục của lát đá tai đã được cắt mỏng, cũng giống như con người đếm các vòng thân cây được lát mỏng để xác định tuổi của nó (Campana, 1985)
Hình 2.8 : Đá tai của Cá Tuyết vùng biển phía Bắc
(http://www.cefas.co.uk)
2.3.3 Sự hình thành đá tai
Đá tai bắt đầu hình thành ở giai đoạn sớm nhất trong sự phát triển của cá
“Nhân” hay “tiêu điểm” của đá tai là điểm mà tại đó đá tai hình thành Ở mỗi loài khác nhau thì vị trí hình thành đá tai khác nhau là do hai hợp chất Canxi Carbonat và Protein tác động lên bề mặt của đá tai, tuỳ thuộc vào môi trường sống của cá mà chịu sự tác động nhiều hay ít Vì thế mà các loài cá có thể
Khu đục
Khu mờ
Trang 22được xác định từ các đặc điểm hình thái riêng của một đá tai độc lập (NPAFC, 2006)
Đá tai phát triển bởi các trầm tích liên tục của canxi cacbonat không có bằng chứng về sự tái hấp thu Trong thời gian lắng đọng, một số nguyên tố tích tụ trong đá tai tương ứng với nồng độ nước biển, mặc dù các tỷ lệ có thể thay đổi theo nhiệt độ và độ mặn (Campana et al., 1994; Fowler et al., 1995) Vì vậy,
đá tai là một thành phần nguyên tố có thể phản ánh điều kiện môi trường nước tại thời điểm lắng đọng
2.3.4 Các ứng dụng của đá tai trên thế giới và trong nước
Có rất nhiều ứng dụng về đá tai chẳng hạn như:
Đá tai có tác dụng rất lớn đối với các nhà sinh học cả trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Đá tai được sử dụng để xác định tuổi cá trong nhiều thập kỷ trở lại đây bởi vì tốc độ lớn của đá tai ít nhiều tỷ lệ thuận với tốc độ lớn của cá, và nó cấu tạo bởi những tầng (vòng) protein và canxi cacbonat nhỏ xen kẽ gọi là vòng năm Vòng năm lớn lên hằng ngày cho nên có thể tính được tuổi ngay cả đối với cá chưa trưởng thành
Hình dáng đá tai của các loài cá khác nhau thì khác nhau Đá tai bị phân hủy rất chậm nên nó tồn tại khá lâu trong ruột cá dữ Điều này cho phép nhà sinh học cá xác định con vật bị ăn là loài cá nào
Xác định sự sinh trưởng hằng ngày rõ ràng nhất là của cá vùng ôn đới trong mùa đông, khi đó sinh trưởng bị chậm lại, hình thành nên vòng năm rõ rang
Cá ở vùng nhiệt đới xác định tuổi khó hơn nếu căn cứ theo mùa hoặc một số yếu tố ức chế sự sinh trưởng khác
Rất nhiều nghiên cứu hiện nay sử dụng ưu thế về thành phần cấu tạo của đá tai thay đổi tùy theo nồng độ hóa chất của môi trường khác nhau Tỷ lệ thành phần các nguyên tố của đá tai cho phép xác định vết tích của đàn cá đã sống trong môi trường nào, nó có thể chỉ ra rằng cá thể này có thời gian sống ở biển hay không Kỹ thuật này đã được sử dụng để chứng minh cá bông lau
(Paugaius Krempfi) ở song Mê Công có một vòng đời sống ở biển Cấu tạo
của đá tai còn phản ánh nồng độ các chất ô nhiễm của môi trường, nó còn là chỉ tiêu có ích xác định lịch sử đời sống cá thể
Áp dụng mới nhất đây dựa vào theo phân tích chất đồng vị ổn định của đá tai
Tỷ lệ thành phần chất đồng vị ổn định có thể chỉ ra cá này là loài ăn cỏ, ăn tạp hay ăn thịt và còn chỉ ra nguồn quang hợp sơ cấp trong chuỗi thức ăn của nó (thí dụ như có phải tảo hay thực vật cao cấp hơn là thức ăn chủ yếu của nó hay
Trang 23không) và những ứng dụng rất có ích khác trong công tác quản lý nghề cá (Kent Hortle, 2003)
Rout (1954), Templemann và Squires (1956) là một trong những nhà đầu tiên
chứng minh mối quan hệ giữa đá tai và chiều dài của cá tuyết (Boreogagadus saida) vùng biển Barents và loài cá haddock (Melanogrammus aeglefinus)
Chilton và Beamish (1982) đã sử dụng sagittae để xác định tuổi và sự tăng trưởng của cá
Casteel (1976) đã nghiên cứu về sự tương quan giữa chiều dài đá tai với trọng lượng cá
Harkonen (1986) đã sử dụng đá tai trong việc xác định tuổi cá nhằm tìm thêm thông tin về quần đàn của cá
Ở Việt Nam đã dựa vào đá tai để xác định tuổi của cá bống Kèo (Trần Đắc Định, 2008)
2.4 Sự tương quan giữa chiều dài với trọng lượng
Mối quan hệ giữa chiều dài với trọng lượng có tầm quan trọng trong nghiên cứu như: Goncalves et al., 1996; Bolger và Connoly, 1989; Erkoyuncu, 1995; King, 1996; Moutopoulos và Stergiou, 2000
– Chiều dài và trọng lượng có sự thay đổi thì độ tuổi của các loài cá cũng thay đổi
– Sử dụng để ước tính tỷ lệ tử vong
– Sử dụng để đánh giá tỷ lệ sống
Mối quan hệ giữa chiều dài cá với trọng lượng thì được giải thích bởi một phương trình cân bằng và được xác định bằng một phương trình hồi quy tuyến tính của số liệu được ghi nhận về chiều dài cá và trọng lượng cá (Ricker,1975)
Sự khác biệt về giá trị tăng trưởng có thể là sự kết hợp của một số yếu tố sau: (Tesch, 1971; Wootton, 1998)
Sự khác biệt trong số lượng mẫu
Trang 24 Tình trạng sức khỏe
Kỹ thuật bảo quản
Sự khác biệt trong phạm vi quan sát
Trang 25Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu: một số huyện của tỉnh Sóc Trăng
Hình 3.1: Bản đồ Tỉnh Sóc Trăng
(http://www.tropicaltour.vn/vn/viewmap.aspx?q=soc%20trang)
3.2 Thời gian nghiên cứu:
Đề tài bắt đầu nghiên cứu từ tháng 06/2010 đến tháng 12/2010 được chia ra 6 đợt thu mẫu cá:
Đợt 1: ngày 3 tháng 9 năm 2010
Đợt 2: ngày 1 tháng 10 năm 2010
Đợt 3: ngày 4 tháng 11 năm 2010
3.3 Vật liệu nghiên cứu
Một số dụng cụ và hóa chất được sử dụng để bảo quản và phân tích:
Cân điện tử, khai hộp nhựa, kính hiển vi
Dung dịch formol, túyp Eppendoff 1,5ml, cồn Ethalnol 700
Thước đo, thước Panme
KẾ SÁCH
Vĩnh Châu
MỸ TÚ
THẠNH TRỊ Ngã Năm
SÓC TRĂNG Long Phú
Địa điểm nghiên cứu
Trang 26Thùng ướp lạnh, tủ đông, dao mổ, ben gắp, kim mũi giáo, kim mũi nhọn, giấy ticker, bút chì, giấy bóng mờ
3.4 Phương pháp thu mẫu và phân tích
3.4.1 Phương pháp thu mẫu
Định kì hàng tháng đi thu mẫu 2 lần từ tháng 6-11 năm 2010 từ các nghề khai thác như: giăng lưới, lưới cào, lưới vây và thu từ các chợ Ngoài ra, còn đặt mẫu thêm tại nơi mua để giữ mẫu
Một lần thu mẫu thì mỗi loài có bao nhiêu cá thể thì thu hết ít nhất là phải 30 mẫu mỗi loài
Mẫu sau khi thu sẽ được trữ lạnh bằng nước đá trong thùng đá và vận chuyển
về phòng thí nghiệm nguồn lợi khoa thủy sản Đại Học cần Thơ sẽ được để vào
tủ đông dùng để phân tích tiếp theo
3.4.2 Phương pháp phân tích mẫu
Định loại về hình thái cơ bản của cá được phân tích dựa theo tài liệu của các tác giả như:
Trương Thủ khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Định loại cá nước ngọt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Khoa thủy Sản, Đại Học Cần Thơ
Mai Đình Yên (1992) Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ thuật
Rainboth (1996) Fishes of the Cambodian Mekong Food and agriculture organizatio of the unitednations FAO species indentification field guide for fishery purposes
Sau khi định loại ta bắt đầu đo chiều dài tổng của cá (mm), cân trọng lượng thân cá (g), lấy đá tai cá, xử lý đá tai và cuối cùng là đo chiều dài đá tai (mm)
3.4.2.1 Mô tả phương pháp lấy đá tai
Đá tai cá được lấy ra bằng cách dùng một con dao có chiều dài khoảng 15-20
cm và một chiếc kẹp hoặc nhíp khoảng 10cm Đối với một số loài cá lớn thì dễ dàng tìm thấy đá tai, nhưng các loài cá nhỏ có thể sử dụng kính hiển vi Có nhiều phương pháp lấy đá tai, ở đây ta lấy đá tai cá như sau:
Đặt cá lên tay sau cho ngón tay cái và ngón trỏ nằm sau hốc mắt của cá Dùng con dao đặt trên đỉnh đầu của cá một góc khoảng 300, sau đó cắt qua đỉnh đầu
Trang 27Hình 3.2: Phương pháp lấy đá tai của cá Chét
Kiểm tra xem đã cắt tới hộp sọ Nếu chưa tới hộp sọ thì thực hiện cắt sâu hơn Cắt bỏ phần trên cùng của hộp sọ, sẽ thấy bộ não nhô lên
Đẩy phía sau của não bộ để một bên, hoặc cắt nó ra Các cặp đá tai bên dưới
phía sau của não bộ Sử dụng chiếc kẹp để kéo cặp đá tai ra
3.4.2.2 Phương pháp xử lý đá tai
Phải rửa sạch phần cơ cá còn dính trên đá tai sau khi được lấy ra bằng dụng cụ chuyên dụng và rửa bằng cồn 700 Sau đó, để đá tai vào ống tuýp 1,5ml có dán nhãn, ghi chú và đem phân tích trên kính hiển vi
3.4.2.3 Phương pháp phân tích đá tai
Đo chiều dài, trọng lượng của đá tai Sau đó, mô tả các đặc điểm về hình thái của đá tai qua ảnh chụp dưới kính hiển vi theo phương pháp của Harkonen (1986)
3.4.2.4 Phân tích các đặc điểm sinh trưởng và sinh sản
Sự tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá thì có tầm quan trọng trong đánh giá thuỷ sản Vì thế mà việc xác định sự tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá được thực hiện bằng cách: mẫu thu sau khi được xử lý sẽ tiến hành cân trọng lượng, đo chiều dài, chiều rộng sau đó thiết lập mối tương quan theo phương pháp của King (1995)
W: trọng lượng thân cá (g)
L: chiều dài tổng của cá (mm)
a: hằng số tăng trưởng ban đầu
b: hệ số tăng trưởng
Trang 28Thiết lập mối tương quan giữa chiều dài đá tai và chiều dài thân cá theo phương pháp của Harkonen (1986) qua công thức:
Lt: chiều dài thân cá (mm)
Lo: chiều dài đá tai (mm)
3.4.2.5 Phương pháp để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Khi khảo sát sự phát triển của tuyến sinh dục, có thể chọn bất cứ bậc thang thành thục nào theo chủ ý của người quan sát, tuy nhiên mục tiêu chính là nhằm định kỳ khảo sát một số lượng lớn mẫu trong những khoảng thời gian nhất định để có được một hình ảnh rõ ràng về giai đoạn thành thục và những thay đổi của quần thể cá tại thời điểm khảo sát Hơn nữa, các bậc thang thành thục còn được sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng thành thục của tuyến sinh dục trong điều kiện ít trang thiết bị khảo sát và cho phép khảo sát một số lượng lớn mẫu ngoài hiện trường
Xác định trọng lượng tuyến sinh dục và giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục từng cá thể (theo Nikolsky, 1963)
Nikolsky (1963) đã đưa ra một bậc thang tổng hợp hơn để có thể sử dụng rộng rãi ngoài hiện trường với 6 giai đoạn (phụ lục 8)
- Xác định số lượng trứng bằng cách đếm toàn bộ số lượng trứng ở giai đoạn
IV trở lên có trong buồng trứng
- Phân tích kết quả trong mối hệ tương quan với các chỉ tiêu chiều dài trọng lượng thân, sức sinh sản tuyệt đối và tương đối
Trang 29+ Phân tích sức sinh sản tuyệt đối theo công thức của Bagenad (1967):
Trong đó:
g
n.G
F
F : là sức sinh sản tuyệt đối
n : là số lượng trứng giai đoạn IV trở lên trong mẫu đại diện
G : là trọng lượng buồng trứng (g)
g : là trọng lượng mẫu đại diện (g)
+ Phân tích sức sinh sản tương đối theo công thức của Hardisty (1964) :
W
F
F A
FA :là sức sinh sản tương đối
F : là sức sinh sản tuyệt đối
W: là trọng lượng cá (g)
Ngoài ra mối tương quan giữa sức sinh sản (F), chiều dài tổng (TL), trọng lượng thân (BW) và trọng lượng buồn trứng (GW), cũng xác định bằng phương pháp hồi qui
Để xác định hệ số điều kie65nta áp dụng theo công thức của Hile (1936) và Beckman (1948) như sau:
L: là chiều dài toàn thân cá (cm)
- Xác định hệ số thành thục (GSI) theo công thức :
100 ) /W (W GSI(%) G N Trong đó:
GSI: là hệ số thành thục sinh dục
Wg: là trọng lượng tuyến sinh dục
Wn: là trọng lượng không nội quan
Trang 303.4.3 Phương pháp xử lí số liệu
Các số liệu thu được sẽ được nhập vào phần mềm Excel để xử lý
Bài báo cáo được dùng phần mềm Microsolf Word 2003 để viết
Để phân biệt sự khác nhau giữa đá tai bên phải và đá tai bên trái được dùng phần mềm xử lý kiểm định trung bình t-test trong Excel để xử lý
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần các loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) phân bố ở tỉnh Sóc Trăng
Qua thời gian thực hiện đề tài kết quả đã xác định được 3 loài, 2 giống thuộc
họ cá Chét (Polynemidae), bộ Polynemiformes phân bố ở tỉnh Sóc Trăng Thống kê kết quả cho thấy tổng số mẫu đã thu từ tháng 9-11 năm 2010 là 212 con, các loài cá thuộc họ cá Chét (Polynemidae) khá phổ biến và phân bố rộng rãi, chúng xuất hiện hầu như quanh năm Cá Chét và cá Phèn Vàng hầu như xuất hiện với số lượng nhiều và có ở hầu hết các huyện và thị xã Sóc Trăng Đối với cá Phèn Trắng thì ngược lại xuất hiện với số lượng rất ít ở khu vực tỉnh Sóc Trăng
4.1.1 Cá Chét (Gộc) Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)
4.1.1.1 Mô tả hình thái cá Chét
Bộ: Polynemiformes
Họ: Polynemidae
Giống: Eleutheronema
Hình 4.1: Cá Chét Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)
Tổng số cá thể: 66
Số mẫu định danh: 66
Trang 32Đặc điểm hình thái: Đầu lớn vừa, hơi dẹp bên Mõm ngắn, tròn, tù Mắt to, nằm dưới da Thân cá thon dài hơi dẹp bên Đường bụng phần trước gần như thẳng ngang Cuống đuôi thon dài Vẩy lược nhỏ, phủ khắp thân và đầu Phần nữa trên của đầu có màu xám nhạt, phần nữa dưới của thân và đầu có màu trắng bạc Ngọn vi lưng, vi hậu môn màu đen Vi ngực màu vàng nhạt Vi bụng và sợi tự do vi ngực màu trắng trong
Bảng 4.1: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Chét
Chỉ tiêu hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
Mẫu cá nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9-11 năm 2010 đã xác định được hình
thái đá tai cá Chét (Eleutheronema tetradactylum) như sau:
Hình 4.2 : Đá tai cá Chét (Gộc)
Mặt trong Mặt ngoài
Trang 33Hình thái đá tai cá Chét (Eleutheronema tetradactylum) mặt trong và mặt
ngoài được mô tả trong hình 14
Hình 4.3 : Đặc điểm đá tai (Sagitta) của Cá Chét (Eleutheronema
tetradactylum)
Qua hình 14 ta thấy đá tai cá Chét có màu trắng và hình thuôn chữ nhật, mặt trong lõm chứa rãnh, mặt ngoài lồi Mép rìa đá tai nhẵn và chia thùy Hai bên mép đá tai lỏm chỏm như răng cưa, có nhiều cạnh nhọn và nếp gấp Phần nhọn nhô ra nhất là phần chủy của đá tai Đối diện chủy là phần đuôi Trên chủy là đối chủy nhỏ, nhọn nhô ra Trên đối chủy là phần lưng và đối diện phần lưng
là phần bụng Phần lưng nhô ra thành một đường cong, có sự chia thùy sâu
Mặt ngoài Mặt trong
Mặt ngoài Mặt trong 12.9 ≤ L T ≤ 19.5
19.6 ≤ L T ≤ 21.5
Trang 34Hình 4.4: Đá tai cá Chét khi có chiều dài khác nhau
4.1.1.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng thân cá
Sau đây là đồ thị biểu diễn tương quan giữa chiều dài tổng (TL) và trọng lượng cá (TW) ở 66 mẫu cá Chét
Hình 4.5 : Tương quan giữa chiều dài thân và trọng lượng thân của Cá Chét
Theo hình 16 mối tương quan này được xác định dựa vào số liệu thu thập được từ việc phân tích 66 mẫu cá Chét thu được từ các huyện của tỉnh Sóc Trăng trong 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 11 với chiều dài từ 12.9-33 cm và trọng lượng dao động từ 14.13-319 g
Qua hình 16 kết quả cho thấy mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng
cơ thể cá được thể hiện qua phương trình tương quan W = 0,0023L3.4088 với hệ
số tương quan R2 = 0,9861 nhận thấy mối tương quan giữa chiều dài thân cá trọng lượng thân cá là chặt chẽ (theo Đặng Văn Giáp, 1997) Qua đồ thị ta có thể thấy được tốc độ tăng trưởng nhanh của cá theo chiều dài tổng khá rõ ở giai đoạn đầu đến sinh trưởng nhanh theo trọng lượng khi cá bắt đầu đạt chiều dài tổng 23cm
Mặt trong 21.6 ≤ L T ≤ 33 Mặt ngoài
Trang 354.1.1.4 Tương quan chiều dài đá tai và chiều dài thân cá
Hình 4.6 : Mối tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và chiều dài thân cá
FL (cm) của loài Cá Chét
Tương quan chiều dài tổng và chiều dài đá tai của cá Chét (Hình 17), với số mẫu quan sát được là 66 cá thể Chiều dài tổng thân cá dao động từ 12.9 cm đến 33 cm, chiều dài đá tai dao động từ 3.6 mm đến 8 mm, qua đó có được phương trình hồi quy tương quan sau: FL = 4.054OL -1.5649 Thông qua hệ số
R2 = 0,8943 và các điểm thực tế nằm trên hoặc gần đường cong lý thuyết, ta
có thể kết luận giữa chiều dài đá tai cá (OL) và chiều dài thân cá (FL) có mối tương quan khá chặt chẽ với nhau (theo Đặng Văn Giáp, 1997) Điều này chứng tỏ rằng, khi cơ thể cá sinh trưởng về trọng lượng thì kích cỡ chiều dài
đá tai bên trong cơ thể cá cũng tăng dần theo thời gian phát triển của loài
4.1.1.5 Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá
Hình 4.7: Mối tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và trọng lượng thân
cá Fw (g) của loài Cá Chét
Trang 36Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng thân của loài Cá Chét được thể hiện ở (Hình 18), với số mẫu quan sát được là 66 cá thể với chiều dài đá tai dao động từ 3.6 - 8 mm, trọng lượng thân cá dao động từ 14.13 – 319.14 g, qua phương trình hồi quy tương quan sau: FW = 0.1429OL3.6438 có hệ số tương quan khá chặt chẽ R2 = 0.8217 (theo Đặng Văn Giáp, 1997) Đồ thị cho thấy
cá Chét có sự phát triển về trọng lượng thân cá và chiều dài đá tai là tương đương nhau
4.1.2 Cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort,
do, hai sợi trên dài nhất và kéo dài khỏi ngọn vi đuôi Lưng cá có màu xám đen, hai bên hông và bụng có màu vàng nghệ Ngọn vi lưng, vi ngực và ngọn các sợi tự do màu đen Gốc vi ngực, gốc các sợi tự do và vi bụng màu vàng
Trang 37Bảng 4.2 : Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Phèn Vàng
Chỉ tiêu hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
Mẫu cá nghiên cứu
Từ kết quả so sánh đó có thể kết luận loài trên là loài Cá Phèn Vàng
Polynemus longipectoralis (Weber & de Beaufort, 1922)
4.1.2.2 Đặc hình thái đá tai của cá Phèn Vàng Polynemus longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922)
Hình thái đá tai của cá phèn Vàng cũng có hình thuôn chữ nhật, có màu trắng ngã vàng, phần bụng như một đường thẳng hơi cong Chủy có dạng tù và nhô
ra ngoài
Hình 4.9 : Đá tai cá Phèn Vàng
Trang 38Đá tai cá Phèn Vàng có hai mặt: Mặt trong lõm và chúa rãnh, mặt ngoài lồi
Hình 4.10 : Mô tả hình thái đá tai (Sagitta) của loài Cá Phèn Vàng Polynemus
longipectoralis (Weber and de Beaufort,1922)
Qua hình 21 ta thấy đá tai cá Phèn Vàng ở phần lưng và phần bụng có sự chia thùy nhiều hơn so với đá tai cá Chét Giữa chủy và đối chủy hợp với nhau thành một vùng nhô ra ngoài gọi là miệng rãnh trung tâm Nối liền với miệng rãnh là rãnh trung tâm, rãnh trung tâm chạy dài gần hết chiều dài đá tai và có một đầu bịt kín dạng tròn gọi là đuôi rãnh cong nhiều về phần bụng
Mặt trong Mặt ngoài
Trang 394.1.2.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng thân cá
Qua thời gian nghiên cứu đã xác định được mối tương quan giữa chiều dài TL (cm) và trọng lượng FW (g) toàn thân cá của các loài cá nghiên cứu thuộc Họ
Cá Chét (Polynemidae) Trong 3 loài trên thì có 2 loài cỡ mẫu n > 30 và 1 loài
cỡ mẫu n=10 Các phương trình tương quan trong nghiên cứu cho thấy giữa chiều dài thân cá (TL) và trọng lượng toàn thân cá (FW) có mối liên quan khá chặt chẽ với nhau với hệ số R2 lớn nhất là R2=0.9917 đối với loài cá Phèn Vàng và thấp nhất R2=0.9847 đối với loài cá Phèn Trắng Sau đây là một số hình biểu diễn mối quan hệ này
Hình 4.12 : Tương quan giữa chiều dài TL (cm) và trong lượng FW (g) của
Cá Phèn Vàng Theo hình 23 mối tương quan giữa chiều dài TL (cm) và trong lượng FW (g) của cá được xác định dựa vào số liệu thu được từ việc phân tích N = 136 cá thể thu được trong 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 11 với chiều dài tổng dao động từ 5.9 - 30.2 cm và trọng lượng từ 1.22 - 228.25 g, phương trình hồi quy tương quan W = 0,0039L3,1913 Qua đồ thị ta thấy được tốc độ tăng trưởng của
cá có sự thay đổi, tăng trưởng nhanh theo chiều dài trong giai đoạn đầu (L<20
cm) Nhưng đến giai đoạn sau (L>20 cm) thì tăng trưởng theo chiều dài cũng
tương đối ổn định, ở giai đoạn này thì cá tăng trưởng nhanh theo trọng lượng hơn theo chiều dài với hệ số tương quan rất chặt chẽ R2 = 0,9917 (theo Đặng Văn Giáp, 1997)
Trang 404.1.2.4 Tương quan chiều dài đá tai và chiều dài thân cá
Hình 4.13: Tương quan giữa chiều dài đá tai (mm) và chiều dài thân cá (cm)
của loài Cá Phèn Vàng Đối với loài cá Phèn Vàng được nghiên cứu N = 136 cá thể với các chỉ tiêu hình thái đá tai như chiều dài đá tai dao động trong khoảng 1.44-6 cm và chiều dài thân cá dao động từ 5.9–30.2 cm thì có phương trình tương quan giữa hai chỉ tiêu chiều dài đá tai và chiều dài thân cá là FL = 5.307OL –3.1225 và hệ số
Giáp, 1997) Ở đồ thị hình 24, có thể thấy giữa sự tăng trưởng về chiều dài đá tai và chiều dài thân cá là tương đương nhau
4.1.2.5 Tương quan chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá
Hình 4.14 : Mối tương quan giữa chiều dài đá tai OL (mm) và trọng lượng