Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khoá X và Luật tổ chức Quốc hội đã chỉ rõ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ YẾN
HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp
Mã số: 60 38 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Ngân
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu
quốc hội
5
1.1 Vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân 5
1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội 12
1.3 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước,
tổ chức Chính trị - xã hội và nhân dân
19
Chương 2: Thực trạng, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn
thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay
31
2.1 Thực trạng địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội 31
2.2 Phương hướng nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội ở nước ta hiện nay
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang thực hiện đường lối xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại điện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khoá X) và Luật
tổ chức Quốc hội đã chỉ rõ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; cơ quan quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và
đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân, thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Như vậy, Quốc hội là nơi thể hiện cao nhất quyền lực của nhân dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt Nam
Chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử nói chung, Quốc hội nói riêng được đảm bảo bằng hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, hoạt động của đại biểu Quốc hội Trong đó hoạt động của đại biểu Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng, bởi lẽ các cơ quan của Quốc hội cũng được cấu thành bởi các
đại biểu Quốc hội
Thực tế những năm qua cho thấy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội nói riêng Tuy nhiên, hiện nay đứng trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi cần nâng cao hơn nữa vai trò của người đại biểu dân cử Điều này liên quan đến việc hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Vì vậy việc tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện địa vị pháp
Trang 4lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sỹ vừa có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vị trí quan trọng của đại biểu Quốc hội, trong nhiều năm qua có khá nhiều công trình khoa học dành sự quan tâm nghiên cứu về vị trí, vai trò của đại biểu của Quốc hội với mục đích nghiên cứu, góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau, trong đó ít nhiều đề cập một số vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
Đó là: "Một số vấn đề về đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội" của Tiến sĩ Phan Trung Lý, Tạp chí Nhà nước và pháp luật 3/1997; Đề tài "Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay"
do Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì; Đề tài "Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những khía cạnh pháp lý theo hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội" PGS,TS Nguyễn Đăng Dung chủ trì; Đề tài "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay" do Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì Luận án tiến sĩ của Lê Thanh Vân về ”Cơ sở lý luận của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội” Luận án tiến sĩ của Trần Hồng Nguyên về: Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Các công trình khoa học nêu trên không nghiên cứu địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội một cách có hệ thống mà chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan như đổi mới phương pháp lựa chọn đại biểu Quốc hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội Vì vậy, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề hoàn thiện địa
vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Tuy nhiên các công trình khoa học nói trên
đã có những đóng góp quý báu trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội; đồng thời cũng là tài liệu tham khảo có giá trị giúp học viên hoàn thành tốt luận văn của mình
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có đối tượng và phạm
vi nghiên cứu rất rộng, khó có thể thực hiện đầy đủ trong điều kiện nghiên cứu
đối với một luận văn cao học Vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận, phân tích thực trạng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội để qua đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kỳ họp Quốc hội trong thời gian tới
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về đại vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, luận văn sẽ kiến nghị, luận chứng những giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nhằm góp phần nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội trong thời gian tới Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Khái quát và phân tích cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
- Nêu phương hướng và kiến giải một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của Quốc hội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và những nhiệm vụ được đặt ra, luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về khoa học chính trị; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đề tài của luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và một số phương pháp
cụ thể khác: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp khái quát hóa; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp của lý thuyết hệ thống;
Trang 6phương pháp phân tích quy phạm cụ thể, phương pháp của luật so sánh và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về lý luận và thực tiễn về
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội; làm rõ và phân tích nội hàm của địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội; phân tích thực trạng để chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của thành công cũng như những hạn chế của địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay Từ đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến Quốc hội, hoạt động của đại biểu Quốc hội
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương
Trang 7CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP Lí
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 Vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân
Trong lịch sử phát triển của xã hội dân chủ văn minh, đại biểu Quốc hội (nghị sỹ) luôn được coi là một nhân vật có uy tín, được Nhà nước, xã hội và công dân tôn trọng giao cho trọng trách thay mặt nhân dân, nói tiếng nói của dân
ở nước ta địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội được xác định trên cơ sở
vị trí của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước với tính chất là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội bao gồm những quy định của Hiến pháp và pháp luật (Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc ) về vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu Quốc hội Trong quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội nước ta,
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội không ngừng được hoàn thiện, củng cố và phát triển
1.1.1.Một số quan điểm về vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân Tính chất đại diện của cơ quan đại biểu nhân dân đã được các nhà triết học, chính trị trên thế giới đề cập từ lâu Nhưng phải đến nửa đầu thế kỷ thứ XVIII, khi tư tưởng về chế độ đại nghị được hình thành thì cơ quan đại biểu nhân dân mới trở thành cơ quan lập pháp như hiện nay Một trong những nội dung cơ bản của chế độ đại nghị là tư tưởng đại diện nhân dân Mô hình người
đại biểu được xây dựng dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cơ quan đại diện nhân dân được thiết lập trên cơ sở Hiến pháp Với tư cách là văn bản pháp lý cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực Nhà nước, Hiến pháp ra đời sau khi giai cấp tư sản giành chính quyền trong cuộc đấu tranh chống lại Nhà nước phong kiến chuyên chế Mục đích của việc
Trang 8ban hành Hiến pháp là hạn chế quyền lực vô định của giai cấp phong kiến mà
đại diện là nhà vua, xây dựng một chế độ chính trị mới theo đó phân định ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tạo nên sự cân bằng quyền lực và bằng cách đó, các quyền công dân được bảo đảm Là Luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, Hiến pháp bảo đảm cho sự tồn tại và vận hành ổn
định của các thiết chế Nhà nước, trong đó có Nghị viện
Thứ hai, nhân dân là người mang chủ quyền (quyền lực tối cao và duy nhất), uỷ quyền cho Nghị viện thay mặt mình thực hiện quyền lập pháp Theo Montesquieu, nhân dân chỉ uỷ quyền cho Nghị viện thực hiện quyền lập pháp
mà thôi Khi bàn về quyền lập pháp trong tác phẩm Tinh thần pháp luật, ông viết: "Trong một nước tự do, mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do, thì phải được tự quản; như vậy tập đoàn dân chúng phải có quyền lập pháp Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp Trong một nước nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc
mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được"[1] Việc uỷ quyền này
được thực hiện thông qua cuộc bầu cử thành lập Nghị viện Theo quan điểm của các học giả ủng hộ chế độ đại nghị, thành viên của Nghị viện không đại diện cho cử tri bầu ra họ, mà đại diện cho toàn thể dân tộc, bởi vậy họ không phụ thuộc vào cử tri và không bị cử tri bãi nhiệm
Ủng hộ quan điểm nói trên, nhà hiến pháp học người Pháp L.Diughi cho rằng, mặc dù từng thành viên của Nghị viện do cử tri bầu ra nhưng mối quan hệ tổng thể ở đây là mối quan hệ giữa toàn bộ các thành viên của Nghị viện với toàn thể nhân dân, bởi vậy "Nghị viện là cơ quan đại diện được nhân dân uỷ quyền"[2]
Khi đặt vấn đề giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ "uỷ quyền" và "đại diện" dùng cho Nghị viện Học giả người Pháp, M Prelot đã nhấn mạnh: "Khi
cử tri lựa chọn cá nhân này hay cá nhân kia để bầu làm đại biểu, thì ý chí của
Trang 9cử tri đã bị hạn chế, bởi vậy cử tri không thể gây ảnh hưởng tới người trúng
cử Vị thế này được xác định bởi Hiến pháp và luật Thuật ngữ "uỷ quyền" trong Tuyên ngôn 1789 nên hiểu khác nghĩa so với thuật ngữ "uỷ quyền" được
sử dụng trong Luật dân sự Tương tự vậy, thuật ngữ "đại diện" nên được hiểu
đối nghĩa trong tương quan với cách cắt nghĩa dưới góc độ ngôn ngữ học Những đại biểu được bầu trong cuộc bầu cử trực tiếp, tự do, hoàn toàn độc lập không phụ thuộc vào cử tri"[3] Trong ngôn ngữ pháp lý phương tây, sự uỷ quyền này được gọi là "uỷ quyền tự do" (free mandate) Theo nguyên tắc uỷ quyền tự do, Nghị viện nói chung và các thành viên của Nghị viện nói riêng là người đại diện cho toàn thể nhân dân, bởi vậy không một ai có thể trao cho đại biểu uỷ nhiệm thư, các đại biểu hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, luật và theo nhận thức của mình để quyết định các vấn đề phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Nhà hiến pháp học người Pháp M Prelot đưa ra nội dung của nguyên tắc uỷ quyền tự do như sau: Sự uỷ quyền là chung cho toàn thể (mặc
dù đại biểu do cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra, nhưng đại biểu đại diện cho toàn thể nhân dân); sự uỷ quyền là không bắt buộc (đại biểu thực hiện sự uỷ quyền một cách tự do, không buộc phải tính đến ý kiến của cử tri nơi bầu ra mình);
sự uỷ quyền không bị triệu hoàn (các đại biểu không bị cử tri bãi nhiệm vì bất
cứ lý do gì); sự uỷ quyền được thực hiện mà không cần sự đồng ý của người
uỷ quyền (các đại biểu biết rằng cần phải làm gì để cho ý chí của đại biểu với
ý chí của nhân dân là điều hiển nhiên không phải bàn cãi)[4]
Nguyên tắc uỷ quyền tự do được áp dụng cho tổ chức và hoạt động của nghị viện ở nhiều nước trên thế giới Thí dụ, khoản 1 Điều 104 Hiến pháp Ba Lan 1997 quy định: "Các đại biểu là người đại diện của dân tộc Đại biểu không bị ràng buộc bởi ý kiến của cử tri"; Điều 67 Hiến pháp Italy 1947 quy
định: "mỗi thành viên của Nghị viện là người đại diện của dân tộc Khi thực hiện nhiệm vụ, đại biểu không phải chịu trách nhiệm chính trị trước cử tri"
Trang 10Đối lập với quan điểm trên là quan điểm của J.J Rousseau về tư cách của đại biểu là thành viên Nghị viện Theo quan điểm của J.J Rousseau, chủ quyền tối cao của toàn dân là không thể dùng người đại diện thay, đồng thời
nó cũng không thể bị xoá bỏ; nó nằm ngay trong ý chí của toàn dân, là ý chí chung không ai nói thay được Các đại diện nhân dân không phải và không thể là người thay mặt nhân dân được; họ chỉ có thể là những uỷ viên chấp hành[5] Nhân dân uỷ quyền cho các đại biểu thực hiện quyền lập pháp, đồng thời yêu cầu các đại biểu thực hiện quyền lập pháp phù hợp với ý chí của nhân dân
Khi nghiên cứu kinh nghiệm của phong trào công xã Pari, C.Mác cho rằng "Công xã không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành
động, vừa lập pháp, vừa hành pháp" [6] Phân tích quan điểm này của Mác, VI.Lênin đã chỉ ra rằng: "Công xã thay chế độ đại nghị vì các nghị sĩ phải tự mình công tác, tự mình thực hiện những pháp luật của mình, tự mình kiểm tra lấy tác dụng của những pháp luật ấy, tự chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri của mình Những cơ quan đại diện vẫn còn, nhưng chế độ đại nghị, với tính cách là một hệ thống đặc biệt, một sự phân chia giữa công tác lập pháp và công tác hành pháp thì không còn nữa"[7] Những quan điểm này đã tạo cơ sở
lý luận cho việc xác định địa vị pháp lý của Nghị viện nói chung, các thành viên của nghị viện nói riêng ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Mặc dù trong tổ chức của bộ máy nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa
có sự phân công rành mạch giữa lập pháp và hành pháp Chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ được Hiến pháp, luật quy định rõ ràng Nhưng quan điểm của Mác - Lênin về trách nhiệm của cơ quan đại diện nói chung, các thành viên của cơ quan nói riêng trước cử tri đã hình thành một nguyên tắc về tư cách đại biểu Quốc hội - nguyên tắc uỷ quyền mệnh lệnh(imperative mandate) Theo nguyên tắc này, cử tri, thông qua bầu cử, trao cho các đại biểu uỷ nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu đại biểu
Trang 11không thực hiện hoặc thực hiện không tốt uỷ nhiệm thư VI.Lê nin còn chỉ ra rằng, bằng hình thức đó chế độ dân chủ đại diện mới thực sự dân chủ và cơ quan đại diện mới thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân
1.1.2 Quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân
Các vấn đề chung về tổ chức bộ máy Nhà nước ta, trong đó có địa vị pháp lý của người đại biểu dân cử được xác định trên cơ sở học thuyết Mác -
Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
Tiếp thu một cách sáng tạo học thuyết Mác-Lênin ngay từ khi còn bôn
ba ở nước ngoài, Bác Hồ đã khẳng định nhân dân phải có cơ quan đại diện và Hiến pháp của mình Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bên cạnh việc đối phó với thù trong giặc ngoài, Hồ Chủ Tịch và Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ công hoà đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội và soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh được tiếp tục thể hiện trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng và trong thực tế cuộc sống
Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta chủ trương củng cố và phát huy vai trò của Quốc hội, tạo điều kiện để các đại biểu dân cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước
Địa vị pháp lý của Quốc hội, đại biểu Quốc hội ta được xác định trên cơ
sở các nguyên tắc sau đây:
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
- Bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
Trang 12- Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở nơi bầu ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước
- Đại biểu Quốc hội là người có đủ tiêu chuẩn đức, tài thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước
Thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, việc củng cố và tăng cường địa vị pháp lý nhằm nâng cao vị trí, vai trò của đại biểu dân cử ngày càng được coi trọng Yêu cầu đó được tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X
Theo đó, vị trí và vai trò của đại biểu Quốc hội được khẳng định như sau:
Đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội Đại biểu
là thành viên của Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
- Vị trí của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân, duy trì mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân và ngược lại
Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, là người phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành các quy định pháp luật của Nhà nước Đại biểu Quốc hội còn là người phổ biến, động viên nhân dân thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước
- Vai trò của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội của đất nước Vai trò đó của đại biểu Quốc hội được thể hiện cụ thể qua việc:
+ Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Trang 13Để thực hiện được trách nhiệm của mình, đại biểu Quốc hội phải thể hiện vai trò là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Điều đó
có nghĩa là, đại biểu Quốc hội cần:
* Đi sâu, đi sát cử tri, liên hệ chặt chẽ với cử tri, lắng nghe ý kiến của
+ Gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước
Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước Đây là một trong những tiêu chuẩn mà đại biểu Quốc hội cần có Vai trò gương mẫu của đại biểu được thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc
Đại biểu phải quán triệt và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong công tác của mình tại cơ quan nơi đại biểu công tác, tại nơi cư trú và trong gia đình Ngoài việc tự mình chấp hành tốt các quy định của pháp luật,
đại biểu còn có trách nhiệm vận động để vợ, con, gia đình mình cũng gương mẫu chấp hành pháp luật
+ Tuyên truyền, vận động nhân dân dân thực hiện chính sách, pháp luật
và tham gia vào việc quản lý Nhà nước
Việc tuyên truyền, vận động bao gồm: việc phổ biến những quy định mới của pháp luật; giải thích những ý kiến thắc mắc, băn khoăn của nhân dân; làm cho nhân dân thông suốt về tư tưởng, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tích cực thực hiện các quy định của pháp luật, tham gia vào việc quản lý nhà nước
Trang 14Mặt khác, qua hoạt động này, đại biểu cũng nắm được những vướng mắc trong việc đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, kịp thời phản ánh với các cơ quan có trách nhiệm để có biện pháp giải quyết
1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến pháp và được cụ thể hoá trong Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Quy chế hoạt
động của đại biểu Quốc hội (sửa đổi), Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi) và các văn bản pháp luật khác có liên quan Theo đó, đại biểu Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây:
1.2.1 Tham gia quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội
Là người đại diện cho nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là thành viên của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội: lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu
về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
1.2.2 Liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc cử tri và tiếp dân:
Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri, phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiều tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp xúc cử tri nơi bầu ra mình Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội Mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri trong thời gian cuối năm, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình Cử tri có quyền yêu cầu đại biểu Quốc hội
Trang 15báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Ngoài ra, đại biểu Quốc hội có thể tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc
Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể về các hình thức, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức trong việc tạo điều kiện, tổ chức cho đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân, nghiên cứu và chuyển các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân đến người có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại tố cáo đó
1.2.3 Tham dự các kỳ họp, phiên họp Quốc hội
Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội Do đó, việc tham gia đầy đủ của Đại biểu Quốc hội vào các kỳ họp, phiên họp Quốc hội có một ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung và của đại biểu Quốc hội nói riêng
Theo quy định của pháp luật, Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội.Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên Trong trường hợp không thể tham gia kỳ họp Quốc hội, các phiên họp, các cuộc họp, thì đại biểu Quốc hội báo cáo theo quy định của Nội quy kỳ họp Quốc hội
- Nhiệm vụ nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội
Theo quy định tại Điều 7 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và
Đoàn đại biểu Quốc hội, khi nhận được thông báo, dự kiến chương trình kỳ họp và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu, tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội
Trang 16- Quyền và nghĩa vụ thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp và các vấn đề thuộc nhiệm vụ của Quốc hội
Đại biểu Quốc hội tham gia thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp tại phiên họp trù bị, thảo luận, quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội tại các phiên họp toàn thể Việc tham gia thảo luận của đại biểu Quốc hội có thể được tiến hành ở phiên họp toàn thể, phiên họp tổ, đoàn
đại biểu Quốc hội Đại biểu tham gia quyết định chương trình kỳ họp, các vấn
đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại phiên họp toàn thể theo hình thức biểu quyết
- quyền chất vấn
Chất vấn là một trong những hình thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước Theo quy định của pháp luật,
đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu chất vấn Trong trường hợp đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất chấn thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể hoặc phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- quyền kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ này khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội
- quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh
ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Theo Hiến pháp Đại biểu Quốc hội là một trong những chủ thể có quyền sáng kiến pháp luật Đại biểu Quốc hội gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đồng thời gửi đến Chính phủ,
Trang 17trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần thiết cho việc soạn thảo văn bản; kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội cũng được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ
Sau khi thẩm tra, nếu dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình được đưa vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh, đại biểu Quốc hội chỉ đạo Ban soạn thảo và thường xuyên cho ý kiến về việc soạn thảo dự án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự án; xem xét, quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình
dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội Văn phòng Quốc hội bảo
đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình
1.2.4 Yêu cầu thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật đó
Người nào cản trở đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1.2.5 Tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân
Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự và được mời tham dự kỳ họp Hội
đồng nhân dân nơi mình được bầu để nắm tình hình và tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; tham gia ý kiến vào các vấn đề mà đại biểu quan tâm; kiến nghị những biện pháp nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp luật và quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên; giới thiệu và phổ biến pháp luật Trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân
Trang 18thông báo cho đại biểu Quốc hội biết thời gian, nội dung, chương trình và cung cấp tài liêu về kỳ họp cho đại biểu Quốc hội
Ngoài việc quy định đại biểu Quốc hội được mời và có quyền tham dự
kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu được bầu, đại biểu Quốc hội còn có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu Quốc hội cư trú hoặc nơi làm việc khi Hội đồng nhân dân bàn những vẫn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm
1.2.6 Bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, nơi làm việc
Xuất phát từ địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực trong cơ quan Quốc hội Pháp luật nước ta luôn quy định đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở và nơi làm việc
Trong thời gian Quốc hội họp, nếu không có sự đồng ý của Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp nếu không được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội Việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định
Đại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc, nếu không được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý
1.2.7 Được tạo điều kiện trong khi làm nhiệm vụ đại biểu
Khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, đại biểu Quốc hội có quyền liên hệ với các tổ chức, cơ quan, đơn vị để được cung cấp thông tin về những vấn đề mà
đại biểu Quốc hội quan tâm, đề nghị xem xét giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân
Trang 19dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền quan của mình có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của đại biểu Quốc hội
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận giúp
đỡ đại biểu Quốc hội cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc với cư tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với Quốc hội
Đối với các quyền yêu cầu giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; yêu cầu áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; đáp ứng các thông tin, điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu, nếu không được giải quyết thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người
đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại, yêu cầu người
đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết Nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị đó không giải quyết hoặc giải quyết không thoả đáng thì đại biểu Quốc hội báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định Trong các trường hợp thực hiện quyền yêu cầu
áp dụng biện pháp chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật Nếu không được giải quyết, đại biểu Quốc hội có thể báo cáo ngay với Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định
1.2.8 Được hưởng các chế độ quy định
Đại biểu Quốc hội đương nhiệm được hưởng các chế độ sau:
- Được cung cấp tài liệu kỳ họp, các báo Nhân dân, báo địa phương, báo Người đại biểu nhân dân, tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các tài liệu, văn bản khác liên quan đến hoạt động của Quốc hội; được cung cấp dịch vụ thông tin, nghiên cứu, thư viện và internet Đại biểu là thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội còn được cung cấp thông tin về hoạt động của Hội
đồng dân tộc hoặc Uỷ ban mà đại biểu là thành viên Đại biểu Quốc hội được Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi đại biểu được bầu,
Trang 20hoặc chuyển đến sinh hoạt cung cấp các nghị quyết và văn bản pháp luật ở địa phương, các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương
- Mỗi tháng đại biểu Quốc hội được cấp một khoản sinh hoạt phí bằng 1.0 của mức lương tối thiểu Đại biểu Quốc hội tham gia kỳ họp Quốc hội hoặc tham gia làm nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội, nhiệm vụ của Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, được bảo đảm các điều kiện ăn ở và
đi lại theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Đại biểu Quốc hội còn
được thanh toán tiền công tác phí khi làm nhiệm vụ theo sự phân công của
Đoàn đại biểu Quốc hội, tham gia các hoạt động của Hội đồng dân tộc, các
Uỷ ban của Quốc hội
- Đại biểu Quốc hội được tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ
- Được hưởng các chế độ khám, chữa bệnh theo quy định của Nhà nước
Đối với đại biểu Quốc hội không thuộc diện cán bộ trung, cao cấp, được khám
và điều trị theo tiêu chuẩn đối với cán bộ trung cấp đại biểu Quốc hội không
có chế độ lương và phụ cấp được cấp bảo hiểm y tế, khi qua đời được hưởng chế độ mai táng như cán bộ, công chức nhà nước
- Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách được dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để làm nhiệm vụ đại biểu Thời gian này được tính vào thời gian làm việc và được bảo đảm lương, phụ cấp và các chế độ khác do cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc đài thọ Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm sắp xếp công việc, tạo điều kiện cần thiết cho đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ; không được cách chức, buộc thôi việc nếu không được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý
1.2.9 Một số nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội chuyên trách
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội,
ở các Đoàn đại biểu Quốc hội, ngoài việc thực hiện các quyền hạn và nhiệm
vụ của đại biểu Quốc hội nói chung, còn có một số nhiệm vụ quyền hạn sau:
Trang 21Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, đồng thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan của Quốc hội mà mình là thành viên theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, đồng thời thực hiện một số nhiệm
vụ và quyền hạn:
- Được Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội uỷ nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ quy định tại Điều 26 của Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội;
- Tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội;
- Được mời dự các Hội nghị, các lớp học, tập huấn theo chức danh lãnh
đạo địa phương;
- Được mời dự các cuộc họp thường kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Được mời dự các cuộc tiếp dân định kỳ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Có thể thấy rằng, với những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội qua các giai đoạn, các quyền hạn và nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội được quy định ngày càng cụ thể hơn trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan
1.3 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân
Các mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức hữu quan đóng vai trò quan trọng, góp phần quyết định hiệu quả hoạt động của các
đại biểu Quốc hội nói riêng và của Quốc hội nói chung Trong quá trình thực
Trang 22hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu Quốc hội tham gia vào các mối quan hệ với các cơ quan tổ chức hữu quan như sau:
1.3.1 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội
1.3.1.1 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Chủ tịch Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội thì Chủ tịch Quốc hội giữ mối quan hệ với đại biểu Quốc hội; bảo đảm thi hành quy chế
đại biểu Quốc hội Để thực hiện quy định đó, Chủ tịch Quốc hội sẽ quy định cách thức trực tiếp hoặc thông qua bộ máy của mình Và ngược lại, các đại biểu Quốc hội có thể liên hệ trực tiếp với Chủ tịch Quốc hội hoặc thông qua
bộ máy của Quốc hội
Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Uỷ ban thường vụ Quốc hội thể hiện qua một số việc cụ thể sau đây:
- Khi đại biểu Quốc hội nhận được thông báo về dự kiến chương trình làm việc và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu và đóng góp ý kiến gửi
về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đảm bảo nội dung và thời gian theo quyết định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo về tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Khi cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cử Đoàn công tác về địa phương xem xét các vấn đề mà
đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị
- Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội Căn cứu vào
dự kiến chương trình của Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án
Trang 23Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định Khi dự án luật, pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo theo đề nghị của đại biểu Quốc hội trình
dự án
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội gửi ý kiến chất vấn của mình đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển
đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét các trả lời chất vấn đối với các chất vấn trong kỳ họp Quốc hội nhưng do cần điều tra, chưa thể trả lời trong kỳ họp Quốc hội đó Trong trường hợp chưa thoả mãn với nội dung trả lời chất vấn, đại biểu Quốc hội có thể đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc trả lời chất vấn trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội
ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
- Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức
vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét, quyết định các
vụ việc được đại biểu Quốc hội báo cáo trong một số trường hợp cụ thể
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm hướng dẫn và bảo đảm các
điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội Để thực hiện tốt nhiệm vụ này cần hướng dẫn cụ thể cho đại biểu Quốc hội về phương pháp, cách thức hoạt
động của đại biểu Quốc hội giữa hai kỳ họp và tại kỳ họp Quốc hội, trình tự tiến hành kiến nghị về luật, pháp lệnh, trình dự án luật, pháp lệnh và tổ chức
Trang 24các phiên họp định kỳ với các trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội, để rút kinh nghiệm về hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định các vấn đề liên quan
đến quyền bất khả xâm phạm của đại biểu như xem xét đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở, nơi làm việc của đại biểu; việc tạm giữ đại biểu trong trường hợp đại biểu phạm tội quả tang; về việc tạm đình chỉ đại biểu trong trường hợp đại biểu bị truy cứu trách nhiệm hình sự; việc bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc Những việc nêu trên sẽ không được thực hiện nếu sẽ không được thực hiện nếu không được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
1.3.1.2 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Hội đồng dân tộc và các
Uỷ ban của Quốc hội
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh
và các dự án khác, thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao, trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và thực hiện quyền giám sát, kiến nghị những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương có trách nhiệm tham gia các đoàn công tác, đoàn giám sát của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội hướng dẫn cụ thể và tạo
điều kiện để đại biểu Quốc hội là thành viên của mình thực hiện quyền trình các dự án luật, pháp lệnh tra trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
1.3.1.3 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Văn phòng Quốc hội
Trang 25Văn phòng Quốc hội là cơ quan giúp việc của Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trong việc nghiên cứu, tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội, theo sự chỉ đạo của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội gửi đến các đại biểu Quốc hội các bản báo cáo, các dự án luật, các văn bản có liên quan đến nội dung kỳ họp Quốc hội và các nghị quyết, luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua
Khi nhận được các dự án luật, dự kiến xây dựng chương trình pháp luật
và nội dung của kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia đóng góp ý kiến và gửi về Văn phòng Quốc hội
Văn phòng Quốc hội giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội đảm bảo các
điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội như : Cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết, bố trí phương tiện, điều kiện vật chất, phân bổ kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Văn phòng Quốc hội tổ chức phục vụ các hoạt động của đại biểu Quốc hội, giữ mối quan hệ chặt chẽ với đại biểu Quốc hội Các đại biểu Quốc hội có quyền và trách nhiệm tham gia góp ý xây dựng với Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội về công tác phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội
1.3.2 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan hữu quan khác ở trung ương
Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm
Trang 26ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước ở trung
ương thể hiện chủ yếu như sau:
1.3.2.1 Mối quan hệ với Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ
- Đại biểu Quốc hội có quyền gửi ý kiến chất vấn tới Thủ tướng, các thành viên của Chính phủ Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
- Đại biểu Quốc hội có thể yêu cầu các cơ quan của Chính phủ cung cấp những thông tin và tài liệu liên quan đến việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội giữa 2 kỳ họp Quốc hội, để nghiên cứu chuẩn bị ý kiến đóng góp tại kỳ họp Quốc hội
- Thông qua các cơ quan của Chính phủ Đại biểu Quốc hội nắm tình hình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền
1.3.2.2 Mối quan hệ với Toà án nhân dân tối cao
Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với Toà án nhân dân tối cao thể hiện như sau:
- Nắm tình hình công tác xét xử và thi hành án; chất vấn và yêu cầu trả lời chất vấn theo thẩm quyền những vấn đề mà cử tri và đại biểu Quốc hội quan tâm
- Nắm tình hình giải quyết đơn kiến nghị, khiếu nại của công dân theo thẩm quyền
- Xem xét và cho ý kiến về hoạt động của Toà án nhân dân
1.3.2.3 Mối quan hệ với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 27Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện như sau:
- Nắm tình hình thi hành pháp luật; chất vấn và yêu cầu trả lời chất vấn theo thẩm quyền những vấn đề mà cử tri và đại biểu Quốc hội quan tâm
- Nắm tình hình giải quyết đơn kiến nghị, khiếu nại của công dân theo thẩm quyền
- Xem xét và cho ý kiến về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 1.3.2.4 Mối quan hệ với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện như sau:
- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành quy trình giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội ở trung ương
- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định hướng dẫn về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
- Đại biểu Quốc hội nắm tình hình hoạt động của Mặt trận trong công tác tham gia xây dựng chính quyền; thu thập những kiến nghị của Mặt trận đối với đại biểu Quốc hội và Quốc hội
1.3.2.5 Mối quan hệ với các Đoàn thể nhân dân
Đại biểu Quốc hội quan hệ với các đoàn thể để nắm tình hình hoạt động của các cơ quan Đoàn thể nhân dân trong việc vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đồng thời, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của cử tri kiến nghị với Nhà nước
Các đoàn thể có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ đại biểu
1.3.3 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Đoàn đại biểu Quốc hội Luật tổ chức Quốc hội đã xác định : Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, có thể có Phó trưởng
Trang 28đoàn, mục đích của việc thành lập Đoàn đại biểu Quốc hội là để tổ chức hoạt
động của đoàn, giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chính quyền địa phương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan tổ chức khác ở địa phương, về các vấn đề có liên quan
đến hoạt động của đại biểu Quốc hội
1.3.3.1 Tại kỳ họp Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp Quốc hội, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy kỳ họp Quốc hội Nếu vì lý do đặc biệt không thể
đến dự kỳ họp Quốc hội được, thì đại biểu Quốc hội phải báo cáo với Trưởng
đoàn đại biểu Quốc hội, để trưởng đoàn đại biểu Quốc hội báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các phiên họp, các buổi thảo luận ở tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội Thư ký đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, ghi biên bản tổng hợp ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, gửi Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội
Đại biểu Quốc hội được cung cấp tài liệu có liên quan đến nội dung kỳ họp Quốc hội, tổ chức các buổi họp để đại biểu Quốc hội thảo luận, tham gia
đóng góp ý kiến vào chương trình kỳ họp, nghiên cứu tài liệu chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội Tổ chức để đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác Thư ký đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng
đoàn đại biểu Quốc hội, quan hệ với các cơ quan và các bộ phận phục vụ kỳ họp Quốc hội để nhận và gửi đến các đại biểu Quốc hội
1.3.3.2.Giữa hai kỳ họp Quốc hội
- Xây dựng chương trình hoạt động của Đoàn và tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện chương trình
- Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức cho đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
- Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp dân theo lịch phân công của
Đoàn đại biểu Quốc hội và tiếp xúc với cử tri trước kỳ họp Quốc hội và sau kỳ
Trang 29họp Quốc hội, trường hợp đặc biệt không thể tham gia tiếp dân, tiếp xúc với
cử tri, thì đại biểu Quốc hội phải báo cáo với Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội
- Khi nhận được các dự án luật và các văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến các đại biểu Quốc hội để lấy ý kiến, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức họp Đoàn để các đại biểu nghiên cứu thảo luận Thư ký đoàn
đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội ghi biên bản tổng hợp
ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội
- Đoàn đại biểu Quốc hội có kế hoạch tổ chức định kỳ để các đại biểu Quốc hội đi kiểm tra giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, khảo sát tình hình thức tế ở địa phương, góp ý kiến với địa phương về thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh để chuẩn bị ý kiến thảo luận
và tham gia quyết định các vấn đề tại kỳ họp Quốc hội
- Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc tổ chức tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến nhận xét của cử tri đối với đại biểu Quốc hội để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng cử đại biểu Quốc hội khoá mới, phân công đại biểu Quốc hội trong đoàn tham gia đoàn giám sát về bầu cử đại biểu Quốc hội khoá mới, bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội ở địa phương
- Tổ chức, chỉ đạo công tác văn phòng phục vụ các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, tạo điều kiện bảo đảm để các đại biểu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu
1.3.4 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan và tổ chức hữu quan ở địa phương
Đối với mối quan hệ với các cơ quan ở địa phương, trên thực tế hoạt
động Quốc hội những năm qua cho thấy nếu được giải quyết tốt mối quan hệ trên sẽ là cơ sở tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Hội đồng nhân dân và các quan tổ chức hữu quan ở địa phương đối với đại biểu Quốc hội
Trang 30Các mối quan hệ trên được thể hiện cụ thể như sau:
1.3.4.1 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống toàn dân, tăng cường nhất trí
về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ, viên chức nhà nước
Thực tế trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, tổ chức nhiều hội nghị để các đại biểu Quốc hội tiếp xúc với cử tri trước và sau kỳ họp Quốc hội Mặt trận Tổ quốc tập hợp kiến nghị của cử tri để chuyển đến các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Thông qua Mặt trận Tổ quốc đoàn Đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của các đại biểu Quốc hội
Trước và sau kỳ họp Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri, thu thập các ý kiến đóng góp vào các dự án luật và nắm bắt tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với Quốc hội Thông qua hoạt động này Mặt trận Tổ quốc nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và kiến nghị với địa phương trong công tác xây dựng chính quyền
1.3.4.2 Vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Với trách nhiệm trên, Hội đồng nhân dân các cấp nơi đại biểu Quốc hội
được bầu có trách nhiệm mời đại biểu Quốc hội tham dự kỳ họp để nắm tình
Trang 31hình và tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, tham gia ý kiến vào các vấn đề quản lý nhà nước, những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân
địa phương và những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội quan tâm, kiến nghị những biện pháp nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp luật và quyết
định của cơ quan nhà nước cấp trên, giới thiệu, phổ biến pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Quốc hội Thường trực Hội đồng nhân dân thông báo ngày họp, nội dung, chương trình và cung cấp các tài liệu kỳ họp cho đại biểu Quốc hội
Hội đồng nhân dân cung cấp các tài liệu, thông tin cần thiết theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội để phục vụ hoạt động đại biểu; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức để các đại biểu Quốc hội tiếp xúc với cử tri ở
đơn vị bầu cử để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của cử tri và lấy ý kiến đóng góp vào các dự án luật, tham gia tiếp dân hàng tuần và đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy
định của pháp luật
Đối với Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội được mời dự kỳ họp Hội đồng nhân dân định kỳ, được cung cấp tài liệu, thông tin về việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương, nghe ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân và góp ý kiến với chính quyền địa phương về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm Đại biểu Quốc hội có thể tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi làm việc, nơi cư trú khi Hội đồng nhân dân bàn về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm
1.3.5 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với nhân dân và cử tri ở địa phương
Luật Tổ chức Quốc hội năm 1994 đã xác định: đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội
1.3.5.1.Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với nhân dân
Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh, tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng,
Trang 32bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp dân, khi nhận được đơn kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiện nghiên cứu, xem xét và chuyển đến cơ quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời đôn đốc, theo dõi việc giải quyết và trả lời cho đương
sự biết kết quả
Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý nhà nước
1.3.5.2 Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với cử tri nơi ứng cử
Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ của mình
Đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan
Mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc với cử tri trước kỳ họp cuối năm của Quốc hội, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình, cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biêủ Quốc hội
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP Lí CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Thực trạng địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nớc ta
Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội được xác định trong Hiến pháp
đầu tiên năm 1946, được hoàn thiện trong các bản Hiến pháp 1958, Hiến pháp
1980, Hiến pháp 1992 và trong các văn bản pháp luật khác có liên quan
Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta được xác định theo một hướng kết hợp đúng đắn Đại biểu Quốc hội trước hết là đại biểu của nhân dân Mỗi đại biểu Quốc hội được bầu ở một đơn vị bầu cử được xác định trên cơ sở dân số Các đại biểu Quốc hội được bầu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Các đại biểu Quốc hội là những người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội, quyền lực đó là thống nhất, không phân chia, nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước đã quy định: "Nghị viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân" (Điều 25) Tuy với số lượng không nhiều nhưng Hiến pháp 1946 dành một số quy định điều chỉnh vai trò, vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn chính của đại biểu như quyền tham gia cùng Quốc hội giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều23); quyền bất khả xâm phạm của đại biểu Đồng thời Hiến pháp 1946 cũng đã có những quy định rất cụ thể nhưng mang ý nghĩa lớn như "nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong nghị
Trang 34viện", "khi một nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả tư cách nghị viên" (Điều 40) hoặc "Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri của tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức (Điều 41)
Hiến pháp 1959 chỉ quy định một số điều cơ bản về địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội như việc bầu cử và bãi miễn đại biểu (Điều 5); quyền chất vấn (Điều 59) và quyền bất khả xâm phạm (Điều 6) Bên cạnh đó, cụ thể hoá Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội đã quy định chi tiết về quyền hạn, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Hiến pháp 1980 có một bước tiến trong việc quy định địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội Đó là những quy định về việc bầu cử và bãi miễn đại biểu (Điều 7); trách nhiệm của đại biểu phải liên hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của cử tri (Điều 94); quyền chất vấn (Điều 95); quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước (Điều 96); quyền không bị bắt giam, truy tố nếu không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền (Điều 96) Đặc biệt là trong Hiến pháp 1980 đã quy định: "Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để
đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu" Cụ thể hoá Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội đã có những quy định về địa vị pháp lý, về quyền hạn, nhiệm vụ của
đại biểu Quốc hội Hội đồng Nhà nước cũng đã ban hành Quy chế đại biểu Quốc hội
Quy định về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ngày càng được hoàn thiện hơn cùng với việc ban hành Hiến pháp 1992, trong đó khẳng định: đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước"; đại biểu phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 97); quyền chất vấn; quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức trả lời (Điều 98); quyền không bị bắt giam, truy tố nếu không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền (Điều 99); quyền được cung cấp tài liệu; quyền được tạo
Trang 35điều kiện và kinh phí (Điều 100) Luật tổ chức Quốc hội đã có một chương riêng quy định về đại biểu Quốc hội Quốc hội đã thông qua Quy chế hoạt
động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Ngoài ra, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội
cũng được khẳng định trong một số văn bản pháp luật khác như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu nại, tố cáo
Như vậy, cùng với quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội từng bước được củng cố và hoàn thiện Các quyền và nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội nước ta được quy định ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn qua bốn bản Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội tham gia thực hiện quyền lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời nâng cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trước nhân dân cả nước
2.1.2 Thực trạng địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay
2.1.2.1 Thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội là cơ sở pháp lý để đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Song song với việc quy định các quyền hạn và nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, cần phải tạo
ra một cơ chế thích hợp để đại biểu Quốc hội có thể thực hiện được một cách
đầy đủ các quyền hạn đó, chỉ có như vậy thì quyền hạn mới thực tế và hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội mới được nâng lên Có thể nói, cùng với quá trình bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, các quyền hạn và nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội ngày càng được quy định đầy đủ và cụ thể hơn qua Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi để đại biểu Quốc hội nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, làm tốt chức năng đại diện cho nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất để thực hiện quyền
Trang 36lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước (Xem thêm Mục II, Chương I về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội)
Nhờ sự cố gắng của các đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, hoạt động của Quốc hội càng ngày càng thu hút sự quan tâm, theo dõi của nhân dân Quốc hội đã thể chế hoá kịp thời những chủ trương, chính sách lớn của Đảng thành những quy định có hiệu lực pháp luật cao của Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm sự thống nhất giữa ý
Đảng lòng dân Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, kết hợp với ý kiến của cử tri cả nước, Quốc hội đã xem xét và quyết định các vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau Luật và Nghị quyết của Quốc hội đã phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, điều chỉnh các quan hệ xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc của cuộc sống
Lịch sử phát triển của Quốc hội trong những năm qua chứng tỏ rằng:
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ngày càng được hoàn thiện Các đại biểu Quốc hội có cơ sở pháp lý để tham gia tích cực vào việc thực hiện chức năng lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
- Về hoạt động lập pháp
Hoạt động lập pháp của Quốc hội ngày càng được tăng cường và đổi mới Quốc hội đã thông qua bốn Hiến pháp, những mốc quan trọng của lịch sử Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, 130 luật và Bộ luật tạo nên cơ sở pháp
lý quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Nếu tính về tổng thể thì số Luật đã thông qua không nhiều Hơn hai phần ba tổng số luật là được thông qua trong khoảng vài ba nhiệm kỳ gần đây để đáp ứng yêu cầu đổi mới Số lượng luật
được thông qua ở mỗi kỳ họp gần đây cũng tăng lên đáng kể
Bắt đầu từ Quốc hội khoá X, tại kỳ họp thứ 4 (11/1998) Quốc hội đã thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ khoá X Đây
là nhiệm kỳ đầu tiên hoạt động lập pháp được tiến hành theo chương trình cả nhiệm kỳ tạo sự chủ động cho các cơ quan, tổ chức chủ động trong việc soạn thảo, thẩm tra, trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
Trang 37Trong cả nhiệm kỳ Quốc hội khoá X có 70% số dự án có trong chương trình đã
được thông qua gồm 01 Bộ luật, 34 luật, 01 nghị quyết của Quốc hội, 44 pháp lệnh và 01 nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Có thể thấy, chương trình xây dựng luật chưa được thực hiện đầy đủ Nguyên nhân là do việc lập chương trình còn bị động, tính khả thi không cao Chất lượng chuẩn bị dự án luật, pháp lệnh còn nhiều hạn chế và thường chưa đảm bảo tiến độ như dự kiến Quy trình xây dựng chậm được đổi mới, nhất là quy trình xem xét, thông qua luật tại kỳ họp Quốc hội, pháp lệnh tại phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Luật và pháp lệnh ban hành còn nhiều quy định mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể nên sau khi ban hành còn phải có văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Các đạo luật được ban hành đã thực sự quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Trước đây, có một quãng thời gian dài mười năm (1945 - 1956), mười lăm năm (1965 - 1980), số lượng văn bản pháp luật được Quốc hội thông qua không đáng kể; hoạt động lập pháp của Quốc hội chủ yếu chỉ để phục vụ việc
tổ chức bộ máy Nhà nước Nay đã khác, càng ngày, phạm vi điều chỉnh của các luật mà Quốc hội ban hành càng vươn rộng ra, đáp ứng kịp thời yêu cầu
đổi mới, nhất là đổi mới kinh tế của đất nước Bên cạnh những Luật về tổ chức
bộ máy Nhà nước, chúng ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều hơn các luật điều chỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế Và đặc biệt, lịch sử lập pháp nước ta tuy chưa dài nhưng đã ghi đậm dấu ấn với những bộ luật lớn như:
Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động v.v
Thành tựu là cơ bản, nhưng nhìn về các mặt, hoạt động lập pháp của Quốc hội cũng còn bộc lộ một số hạn chế và tồn tại Đó là:
- Các văn bản luật được thông qua nhiều nhưng vẫn chưa kịp thời và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, hiệu quả của hoạt