Đề cập cụ thể tới hoạt động chất vấn của ĐBQH là một trong số các hoạt động giám sát quan trọng của ĐBQH được thực hiện thông qua kỳ họp của Quốc hội và phiên họp của UBTVQH, luận văn th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÝ THỊ ĐỨC HẠNH
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình do chính tôi tự nghiên cứu và viết, không sao chép của ai Các số liệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lý Thị Đức Hạnh
Trang 3Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng hữu ích trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Bộ môn khoa Lý luận LSNN&PL, Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 2013
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBQH Đại biểu Quốc hội UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 51.1.2. Khái niệm hoạt động giám sát của ĐBQH 10
1.2 Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trước và sau
khi có Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
12
1.2.1 Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trước khi có
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
12
1.2.2 Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH sau khi có
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
16
1.3 Nội dung hoạt động giám sát của ĐBQH 19
1.3.2 Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi
hành pháp luật ở địa phương
23
1.3.3 Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 26
1.4 Vai trò của hoạt động giám sát của ĐBQH 27
1.4.1 Vai trò của hoạt động chất vấn của ĐBQH 27
1.4.2 Vai trò của hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật và thi
hành pháp luật ở địa phương của ĐBQH
28
1.4.3 Vai trò của hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân của ĐBQH
30
1.5 Các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền giám sát của ĐBQH 31
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐBQH
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
GIÁM SÁT CỦA ĐBQH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
35
2.1 Thực trạng hoạt động giám sát của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay 35
2.1.2 Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi
hành pháp luật ở địa phương
42
2.1.3 Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 48
2.1.4 Thực tiễn thực hiện thẩm quyền của ĐBQH trong việc xem xét kết
quả sau giám sát
52
2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH 54
2.2.1 Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của ĐBQH 54
2.2.2 Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH
65
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khẳng định bản chất nhà nước và chế độ chính trị, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã nêu rõ: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2) “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” (Điều 6) Ở tầm cao và rộng nhất, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vì vậy, Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn
bộ hoạt động của bộ máy nhà nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao; thông qua Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội
và hoạt động của bản thân các ĐBQH Trong đó, giám sát của ĐBQH là một hình thức giám sát rất quan trọng Bởi lẽ hiệu lực và hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội suy cho cùng được quyết định bởi chất lượng hoạt động giám sát của từng ĐBQH
Hoạt động giám sát của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay đã được pháp luật ghi nhận thông qua các bản Hiến pháp, các luật và văn bản có liên quan như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng của hoạt động này thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan là yêu cầu tất yếu khách quan
Trang 8Năng lực và trách nhiệm của người đại biểu có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung Do đó, hoạt động giám sát của ĐBQH có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ đến chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ĐBQH Hoạt động giám sát của ĐBQH có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng về mặt lý luận, những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới các chức năng của Quốc hội, trong đó có chức năng giám sát, song chủ yếu nhất vẫn là vấn đề giám sát tối cao Về hoạt động của ĐBQH, liên quan trực tiếp tới hoạt động giám sát cũng đã có một số công trình đề cập tới hoạt động chất vấn Tuy nhiên, có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể về hoạt động giám sát của ĐBQH Bên cạnh đó, thực tiễn qua các khóa Quốc hội những năm gần đây, hoạt động giám sát của ĐBQH ngày càng được chú trọng và đã có nhiều tiến bộ, nhưng cũng còn nhiều hạn chế, hiệu quả hoạt động chưa cao; giám sát còn mang tính hình thức, chất lượng ĐBQH chưa đáp ứng nhu cầu công việc ngày càng cao
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Hoạt động giám sát của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết, góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ sở lý luận,
cơ sở pháp lý về hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật và phát huy quyền làm chủ của công dân
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan tới đề tài luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu như sau:
Trang 9Việt Nam trong yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đồng thời, tìm kiếm những cách thức làm cho Quốc hội thực hiện tốt sự uỷ thác của nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam;
- “Cơ quan lập pháp và hoạt động giám sát” của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Văn phòng Quốc hội (2006), Nxb Chính trị - Hành chính Cuốn sách là tập hợp các tài liệu nghiên cứu của Học viện Ngân hàng Thế giới về chức năng giám sát của nghị viện các nước trên thế giới Với tám chuyên đề nghiên cứu riêng biệt của chín nhà nghiên cứu hàng đầu về nghị viện, các vấn đề được
đề cập trong tập tài liệu này đi từ những vấn đề chung, có tính chất tổng quát về hoạt động giám sát của Quốc hội cho đến kinh nghiệm của nghị viện từng quốc gia điển hình
Luận văn thạc sỹ có liên quan:
- “Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ĐBQH” của tác giả Nguyễn Đình Quyền (2003) Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về hoạt động của ĐBQH nói chung, trong đó có hoạt động giám sát, và từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về vấn đề này;
- “Hoạt động chất vấn của ĐBQH - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Vũ Minh Phương (2006) Đề cập cụ thể tới hoạt động chất vấn của ĐBQH là một trong số các hoạt động giám sát quan trọng của ĐBQH được thực hiện thông qua kỳ họp của Quốc hội và phiên họp của UBTVQH, luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Vũ Minh Phương đã tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý, đồng thời phân tích, đánh giá thực tiễn về vấn đề này để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hoạt động chất vấn của ĐBQH;
- “Đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội” của tác giả Đỗ Ngọc Tú Cũng đề cập tới hoạt động chất vấn, nhưng khác với tác giả Vũ
Trang 10Minh Phương, tác giả của luận văn này đi vào nghiên cứu chuyên sâu về từng hình thức giám sát của Quốc hội, cụ thể là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Mục đích của luận văn là mong muốn đóng góp tiếng nói, nhằm kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc nghiên cứu, đề xuất tiếp tục hoàn thiện
cơ sở pháp lý, làm tiền đề cho việc đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội trong thời gian tới
Một số bài viết đăng trên báo và tạp chí chuyên ngành như:
- “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội” của GS.TS Trần Ngọc Đường, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 (tháng 4/2009) Trước yêu cầu quan trọng của việc thực thi đầy đủ, đúng đắn nhiệm vụ
và quyền hạn của Quốc hội trong việc thực hiện chức giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước, bài viết trên tập trung vào hai vấn đề chính, đó
là đề ra các phương hướng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, đồng thời đóng góp các giải pháp cần thiết nhằm đổi mới hoạt động này;
- “Thực hiện pháp luật về giám sát của Quốc hội, thực trạng và vấn đề đặt ra” của tác giả Phan Thị Hồng Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2+3 (tháng 1/2009) Ở mức độ cụ thể hơn, tác giả bài viết đề cập đến vấn đề thực hiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội Nội dung bài viết là chỉ ra một số thực trạng triển khai các hình thức và phương pháp giám sát của Quốc hội, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó và đưa ra các giải pháp từ thực trạng của việc thực hiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội
Với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình nêu trên đã
đề cập tới Quốc hội, hoạt động giám sát của Quốc hội và hoạt động của ĐBQH Tuy nhiên, việc đi vào nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động giám sát của ĐBQH thì còn ít tác giả thực hiện Do đó, tác giả của luận văn đã coi hoạt động này như
là một vấn đề nghiên cứu độc lập
Trang 113 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng về đổi mới hoạt động của Quốc hội, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của ĐBQH thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, trong pháp luật của Nhà nước Các phương nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, lịch sử…
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động giám sát của ĐBQH
để thấy được bản chất, nội dung và vai trò của hoạt động này trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Hai là, phân tích quá trình thực hiện và áp dụng các quy định của pháp
luật về hoạt động giám sát của ĐBQH, từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế của hoạt động này trong thực tiễn
Ba là, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động
giám sát của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay
5 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Lần đầu tiên luận văn xây dựng cơ sở lý luận, những vấn đề chung về hoạt động giám sát của ĐBQH tương đối hệ thống Luận văn đã tập trung đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của ĐBQH hiện nay và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện hoạt động này, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của ĐBQH, phát huy tính dân chủ và đại diện cho nhân dân của Quốc hội
Trang 126 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm hai chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của
ĐBQH
- Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của ĐBQH và một số giải
pháp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của ĐBQH
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG
Ngay từ những ngày đầu tiên của Quốc hội Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã khẳng định: “các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam Đó là một sự đoàn kết
tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”[4]; “Quốc hội là tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi”[5] Quan điểm này mang tính nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam
Từ giác độ quyền lực nhà nước, quyền lực của Quốc hội có nguồn gốc ở nhân dân, ở tính đại diện cho nhân dân Bởi xét về bản chất, tính đại diện của Quốc hội chính là sự thể hiện nguyên tắc hiến định tại Điều 2, Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân
Trang 14dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” Do đó, ĐBQH Việt Nam là yếu tố đại diện cho ý chí thống nhất của dân tộc, vì đại nghĩa của dân tộc[17]
Trên cơ sở các yếu tố và quan điểm đó về ĐBQH, khái niệm ĐBQH đã được pháp luật quy định cụ thể tại điều Điều 43 Luật tổ chức Quốc hội năm
2001, đó là: “ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”
Với khái niệm trên, ĐBQH là người được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín Khác với Nghị sỹ Quốc hội các nước tư sản, các ĐBQH nước ta phải gắn liền với cử tri và đơn vị bầu cử đã bầu
ra họ Qua bầu cử, nhân dân ủy nhiệm quyền lực của mình, để ĐBQH thay mặt nhân dân quyết định các công việc quan trọng của đất nước Là thành viên của
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, ĐBQH có những thẩm quyền đặc biệt mà các cá nhân khác trong bộ máy nhà nước không có được Đó là các quyền gắn liền với quyền lực của Quốc hội và các quyền miễn trừ do pháp luật quy định
ĐBQH là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra Đó là những đại biểu chính thức của nhân dân Các ĐBQH nước ta theo tinh thần của Lênin là những
người: “Tự mình công tác, tự mình áp dụng những luật pháp của mình, tự mình
kiểm tra lấy những tác dụng của luật pháp ấy, tự mình chịu trách nhiệm trước cử tri của mình”[14]
Trang 15ĐBQH có địa vị pháp lý đặc biệt được quy định trong Hiến pháp năm
1992, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của ĐBQH, bao gồm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động của ĐBQH Đó là người đại diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ĐBQH là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân ĐBQH vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị mình bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Vì vậy, trong khi làm nhiệm vụ, ĐBQH phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước đồng thời cũng phải quan tâm thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình, phải căn cứ vào pháp luật của Nhà nước
và những quy định của chính quyền nhà nước ở địa phương
Địa vị pháp lý của ĐBQH có mối quan hệ logic và biện chứng chặt chẽ với quyền lực nhà nước, quyền lực của Quốc hội Do có vị trí đặc biệt đó, ĐBQH có vai trò rất quan trọng trong xã hội ĐBQH là tế bào sống, là yếu tố cấu thành của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có ảnh hưởng to lớn đến quá trình thực hiện các chức năng của Quốc hội
Vị trí pháp lý của ĐBQH được bắt đầu sau khi Quốc hội đã xác nhận tư cách đại biểu tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất mỗi khóa Quốc hội Nhiệm kỳ của ĐBQH được tính từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau
Như vậy, trên cơ sở phân tích những nội dung trên, có thể rút ra khái niệm
ĐBQH như sau: “ĐBQH là người được nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử,
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội” Theo đó, ĐBQH mang đặc
điểm:
Trang 16- Là người đại diện của nhân dân, ĐBQH là người của nhân dân Họ có trách nhiệm phải thường xuyên gần gũi với cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu của cử tri đối với Nhà nước
- Là người thay mặt nhân dân thực hiện thẩm quyền của Quốc hội, ĐBQH
là một thành viên trong bộ máy nhà nước
1.1.2 Khái niệm hoạt động giám sát của ĐBQH
Trong Từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”[23] Giám sát khác với kiểm tra ở chỗ: giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài, còn kiểm tra có thể là hoạt động thường xuyên từ bên trong của tổ chức Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 đã giải thích về hoạt động giám sát rất rõ như sau:
“Giám sát là việc Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội,
Đoàn ĐBQH và ĐBQH theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH” Như vậy, hoạt động giám
sát lúc nào cũng cần đến hai giai đoạn, giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá Giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra là cơ sở thực hiện của giai đoạn đánh giá; theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá sẽ đúng đắn và chính xác, cuộc giám sát sẽ có kết quả tích cực và ngược lại
Hoạt động giám sát của ĐBQH là hoạt động thực hiện một trong ba chức năng quan trọng của Quốc hội đó là chức năng giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước Với vai trò là thành viên của Quốc hội, ĐBQH giám sát thông qua các hoạt động sau đây:
- Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC;
Trang 17- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương;
- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
ĐBQH tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH; tham gia Đoàn giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu
Căn cứ vào kết quả giám sát, ĐBQH có các quyền: kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước hoặc các vấn đề của địa phương Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của tổ chức,
cá nhân bị vi phạm
Thực hiện hoạt động giám sát, ĐBQH phải đảm bảo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, cá nhân chịu sự giám sát ĐBQH chịu trách nhiệm về quyết định, yêu cầu, kiến nghị giám sát của mình và báo cáo cử tri tại địa phương về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát
Hàng năm và mỗi sáu tháng, các cá nhân ĐBQH đăng ký chương trình giám sát ở địa phương với Đoàn ĐBQH ở địa phương để đưa vào chương trình giám sát Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để ĐBQH trong đoàn thực hiện chương trình giám sát của
Trang 18cá nhân Kết quả thực hiện chương trình giám sát của cá nhân ĐBQH và đoàn ĐBQH được Đoàn báo cáo định kỳ sáu tháng và hàng năm tới UBTVQH
1.2 Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trước và sau
khi có Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
1.2.1 Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trước khi có Luật
hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
Trước khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 được ban hành, những quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH chủ yếu được thể hiện qua các bản Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội tại thời điểm đó
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mặc dù trong Hiến pháp chưa có quy định nào trực tiếp đề cập tới hoạt động giám sát của ĐBQH, song các quy định gián tiếp đều cho thấy Nghị
viện cũng có quyền giám sát và phê bình Chính phủ, chẳng hạn: “ Khi Nghị viện
không họp, Ban thường vụ có quyền… triệu tập Nghị viện; kiểm soát và phê bình Chính phủ” (Điều thứ 36); “Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức” (Điều thứ 54) Hoạt động giám sát chính của ĐBQH là chất vấn tại
kỳ họp: “Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều
chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ” (Điều thứ 55) Quy định này
cho thấy chủ thể của hoạt động chất vấn là tập thể Nghị viện và Ban thường vụ chứ không phải là cá nhân các nghị viên Do đó, nghị viên hay nói cách khác là các ĐBQH theo Hiến pháp năm 1946 chưa được coi là chủ thể độc lập của hoạt động giám sát mà phải thực hiện hoạt động của mình thông qua tập thể Nghị viện và Ban thường vụ Có thể nói, đây là những quy định đầu tiên về hoạt động giám sát của ĐBQH Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, toàn dân tộc tập trung vào việc giữ nước nên những quy định về giám sát chỉ được quy định khái quát
Hiến pháp năm 1959 quy định cụ thể hơn về hoạt động giám sát của Quốc
hội và ĐBQH Theo đó, Quốc hội có quyền “giám sát việc thi hành Hiến pháp”
Trang 19(khoản 3 - Điều 50) Quyền giám sát của ĐBQH đã được cụ thể tại một điều
trong Hiến pháp: “Các ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ
quan thuộc Hội đồng Chính phủ Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn năm ngày; trường hợp cần phải điều tra thì thời hạn trả lời là một tháng” (Điều
59) Như vậy, theo Hiến pháp năm 1959 thì hoạt động giám sát của ĐBQH được thực hiện chủ yếu là thông qua hoạt động chất vấn Với tư cách là thành viên của
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, chất vấn là quyền của cá nhân ĐBQH chứ không phải là quyền của tập thể ĐBQH như trước kia ĐBQH phải nắm được nguyện vọng, những vấn đề bức xúc của nhân dân để phản ánh với các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động của mình Ngoài ra, tại Điều 42, Luật Tổ chức
Quốc hội năm 1960 có quy định: “ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Chính
phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ Lời chất vấn do Chủ tịch đoàn, hoặc trong thời gian Quốc hội không họp thì do UBTVQH chuyển cho cơ quan
bị chất vấn để trả lời trước Quốc hội hoặc trước UBTVQH” Do đó, chất vấn có
thể được thực hiện trong kỳ họp của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp Điều đó tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH nói riêng được thực hiện liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian Quốc hội không họp Qua việc chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, ĐBQH đã giám sát được tình hình thực hiện pháp luật trên phạm vi cả nước trong sự quản lý của Chính phủ, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cử tri để giải quyết các thắc mắc và khiếu nại của nhân dân Khi thực hiện nhiệm vụ này, ĐBQH sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước cử tri đã bỏ phiếu bầu ra người đại biểu
Các quy định trong Hiến pháp năm 1980 về hoạt động giám sát của ĐBQH hoàn thiện hơn so với Hiến pháp năm 1959 Lần đầu tiên chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được khẳng định làm cơ sở cho hoạt động giám sát của
ĐBQH, đó là: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của Nhà nước” (Điều 82) ĐBQH đã có nhiều quyền và nghĩa vụ hơn khi
Trang 20thực hiện hoạt động giám sát đó là: “ĐBQH phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, trả
lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem xét và giúp giải quyết những điều khiếu nại và tố cáo của nhân dân ĐBQH tuyên truyền, phổ biến pháp luật và chính sách của Nhà nước, động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước”
(Điều 94) Thông qua mối liên hệ với cử tri, ĐBQH giám sát tình hình thi hành
pháp luật tại địa phương: “ĐBQH có quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước
về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và những vấn đề thuộc lợi ích chung Các cơ quan Nhà nước và những người có trách nhiệm phải nghiên cứu và trả lời những kiến nghị đó của đại biểu” (Điều 63 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 1981) Thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội, ĐBQH phải trả lời những kiến nghị của cử tri, giám sát tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, có trách nhiệm gửi những yêu cầu, khiếu nại đó đến các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải
quyết: “ĐBQH nhận được những điều khiếu nại và tố cáo của nhân dân, có
trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan Nhà nước hữu quan, theo dõi việc giải quyết và báo cho đương sự biết kết quả” (Điều 62 Luật Tổ chức Quốc
hội năm 1981)
Bên cạnh đó, hình thức giám sát bằng hoạt động chất vấn của ĐBQH
cũng được mở rộng hơn, Điều 95 Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “ĐBQH có
quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC” Đây là một điểm mới so với
Hiến pháp năm 1959, quyền chất vấn của ĐBQH được kế thừa và hoàn thiện hơn; đối tượng chất vấn được mở rộng hơn, ĐBQH không chỉ có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng mà còn chất vấn Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC - những chức danh do Quốc hội bầu Hoạt động chất vấn của ĐBQH sẽ là tiền đề cho việc xác định trách nhiệm
của các cơ quan hoặc người bị chất vấn: “Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Hội đồng
Trang 21Nhà nước ra nghị quyết về việc trả lời và trách nhiệm của những cơ quan hoặc người bị chất vấn” (Điều 60 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1981)
Sau khi Hiến pháp năm 1992 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội được nâng cao hơn một cách rõ rệt Kế thừa Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm
1992 tiếp tục khẳng định quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Để thực hiện tốt chức năng này, hoạt động của các ĐBQH đóng vai trò rất quan trọng
Đối với hoạt động chất vấn, Điều 98 Hiến pháp 92 quy định: “ĐBQH có
quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC” Theo đó, ĐBQH không chất vấn cơ quan nhà nước nói
chung mà chất vấn những người đứng đầu các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu ra Đây là điểm tiến bộ và khác biệt so với quyền chất vấn của ĐBQH được quy định tại Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 Trách nhiệm của
người bị chất vấn cũng được nâng lên rõ rệt bởi: “Nếu ĐBQH không đồng ý với
nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc UBTVQH” và “ĐBQH có quyền kiến nghị với UBTVQH xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” (theo Điều 49, Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2001)
Vấn đề giám sát của ĐBQH đối với tình hình thực hiện pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã được đặt ra ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết; đôn đốc và theo dõi việc giải quyết Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang nhân dân hoặc của công dân, ĐBQH có quyền yêu cầu cá nhân, cơ
Trang 22quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó (Điều 52, Điều 53 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001)
Ngoài các văn bản nói trên, Quốc hội còn ban hành các Nghị quyết quy định hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH; Nghị quyết về nội dung kỳ họp của Quốc hội Có thể nói, từ khi Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội nói chung, hoạt động giám sát của ĐBQH nói riêng được nâng cao một cách rõ rệt Đưa giám sát lên một tầm cao mới, hoạt động giám sát của ĐBQH đã có những điểm tiến bộ đáng kể Các văn bản quy định về hoạt động giám sát được sửa đổi, bổ sung đảm bảo cho phù hợp với việc nâng cao hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội và chất lượng hoạt động của ĐBQH
1.2.2 Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH sau khi có Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
Trước yêu cầu bức thiết cần phải nâng cao chất lượng thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của ĐBQH và các Đoàn ĐBQH, tháng 6 năm 2003 Quốc hội đã ban hành Luật hoạt động giám sát của Quốc hội Luật một mặt hệ thống hóa và hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn giám sát của Quốc hội Đồng thời cũng xác định quyền và trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự giám sát và các biện pháp bảo đảm cho hiệu quả của hoạt động giám sát
Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành cũng đã quy định một số điều về công tác giám sát và những chế tài kèm theo nhưng chưa thật thỏa đáng, chưa cụ thể,
rõ ràng để Quốc hội và các đại biểu thực thi Do đó, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động giám sát được thực hiện một cách đầy đủ nhất Lần đầu tiên Luật đưa ra định nghĩa về hoạt động
giám sát, thẩm quyền giám sát của ĐBQH được ghi nhận rất cụ thể: “ĐBQH
Trang 23chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân” (điểm đ, khoản 1, Điều 3)
Để làm rõ quyền giám sát của ĐBQH đã được quy định chung trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Nội quy kỳ họp, Quy chế hoạt động của ĐBQH… Luật hoạt động giám sát năm 2003 đã dành một chương riêng quy định về hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Theo đó, nội dung các hoạt động giám sát của ĐBQH được quy định tại Điều 37, ĐBQH giám sát thông qua các hoạt động:
“- Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC”;
- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương;
- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
ĐBQH tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH; tham gia Đoàn giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu”
Có thể nói với quy định này, vai trò giám sát của ĐBQH được chú ý và đặt đúng tầm của nó, nội dung các hoạt động giám sát đã được phân định rạch ròi làm cơ sở cho ĐBQH thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình khi tham gia giám sát
Khi chưa có Luật Hoạt động giám sát thì cũng chưa có những quy định cụ thể tạo cơ sở thực hiện tốt hoạt động này, do vậy đã ảnh hưởng tới chất lượng và kết quả của hoạt động giám sát Ngay cả đối với hình thức giám sát thông qua
Trang 24hoạt động chất vấn của ĐBQH, khi trả lời chất vấn trước Quốc hội, nhiều vị Bộ trưởng đã không trả lời thẳng vào vấn đề và nếu có hứa hẹn thì việc thực hiện cũng chưa nghiêm túc Do đó, để giám sát có hiệu quả hơn, Luật hoạt động giám sát năm 2003 đã có những quy định cụ thể về quy trình chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp của Quốc hội cũng như tại phiên họp của UBTVQH, về trách nhiệm của người trả lời chất vấn Trong buổi chất vấn, các đại biểu có thể biết được thành viên của Chính phủ có nắm và giải quyết được vấn đề hay không Từ
đó, có những kiến nghị với thành viên đó của Chính phủ Nếu thấy cần thiết, ĐBQH có thể bỏ phiếu tín nhiệm làm căn cứ để xem xét việc cách chức, miễn nhiệm hoặc cho thôi làm nhiệm vụ đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn - đây là quy định hoàn toàn mới của Luật hoạt động giám sát năm 2003 (Điều 13)
Trước khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 được ban hành, các ĐBQH gặp nhiều lúng túng khi thực hiện việc giám sát văn bản, giám sát tình hình thi hành pháp luật tại địa phương và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân Nhưng từ khi thông qua, Luật đã tạo được hành lang pháp lý cho các đại biểu hoạt động Trong quá trình giám sát, ĐBQH có nhiều quyền hạn để thực hiện tốt hơn hoạt động của mình Ví dụ như: khi tiến hành giám sát tại địa phương, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thì
“ĐBQH trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới” (Điều 41); Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì ĐBQH có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm…, yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
Trang 25hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật (điểm d, khoản 2, Điều 42) Đặc biệt, đối với việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, khi đại biểu nhận được đơn thư sẽ chuyển đến những người có thẩm quyền và có trách nhiệm đôn đốc trong quá trình thụ lý, giải quyết Luật hoạt động giám sát quy định trong vòng bảy ngày kể từ ngày ra quyết định giải quyết, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải trả lời đơn thư Khi nhận được trả lời mà vẫn chưa thỏa mãn, ĐBQH có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó tìm hiểu yêu cầu xem xét lại Nếu thấy cần thiết có thể yêu cầu cơ quan cấp trên của cơ quan, tổ chức đó giải quyết
1.3 Nội dung hoạt động giám sát của ĐBQH
1.3.1 Hoạt động chất vấn
Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp và quan trọng của Quốc hội, đồng thời là quyền quan trọng của ĐBQH được Hiến pháp quy định Chất vấn tuy là quyền cá nhân của ĐBQH nhưng khi thực hiện quyền này thì nó được coi là một trong những hoạt động giám sát của Quốc hội
ĐBQH khi thực hiện hoạt động chất vấn không phải nhằm mục đích thu thập thông tin hay số liệu, mà nhằm làm rõ trách nhiệm của cá nhân có trách nhiệm đối với một số vấn đề nào đó Đây chính là điểm cơ bản để phân biệt chất vấn với câu hỏi thường Trên thực tế, chất vấn cũng có thể được thể hiện dưới dạng câu hỏi nhưng mục đích của chất vấn và câu hỏi thường khác nhau Việc hỏi và yêu cầu trả lời những vấn đề mà ĐBQH quan tâm (hay còn gọi là câu hỏi thường) nhằm thu thập thông tin, số liệu về các vấn đề nào cần biết, trước khi đặt câu hỏi người hỏi hầu như chưa có thông tin về vấn đề mà mình hỏi Loại câu hỏi thường phụ thuộc vào nhu cầu nắm bắt thông tin của ĐBQH chứ không được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào và cũng không bị hạn chế đối với bất kỳ đối tượng nào Còn đối với chất vấn, trước khi nêu vấn đề, ĐBQH phải tìm hiểu rất kỹ và nắm thông tin về vấn đề mà mình cần chất vấn để làm rõ trách
Trang 26nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối với một vấn đề nào đó Chất vấn được quy định rất rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn cũng được chỉ ra cụ thể trong một phạm vi nhất định Vấn đề chất vấn khi đã được nêu lên theo đúng thể thức của pháp luật, chuyển đến người bị chất vấn thì không còn là mối quan hệ cá nhân giữa người bị chất vấn và người chất vấn mà
đã trở thành một hình thức giám sát của Quốc hội
Theo quy định tại Điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm
2003, chất vấn là: "Hoạt động giám sát, trong đó ĐBQH nêu những vấn đề thuộc
trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC và yêu cầu những người này trả lời"
Như vậy, về bản chất, chất vấn là một hình thức được Quốc hội áp dụng
để giám sát hoạt động của các cơ quan và cá nhân được giao quyền, là sự thể hiện cụ thể, trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội Các ĐBQH khi thực hiện quyền chất vấn của mình là nhân danh cá nhân với tư cách là người đại diện quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân yêu cầu cá nhân bị chất vấn trả lời về trách nhiệm của cá nhân đó đối với những việc làm của mình xem có đúng với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn theo luật định hay không Do đó, chất vấn được coi là một trong những hình thức giám sát hiệu quả Thông qua hoạt động chất vấn, ĐBQH thể hiện trách nhiệm của người đại biểu trước nhân dân, nêu lên những vấn đề mà cử tri đang bức xúc, yêu cầu giải quyết Thông qua xem xét việc trả lời chất vấn, Quốc hội đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác của người
bị chất vấn Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của UBTVQH, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH v.v đã cụ thể hoá quyền chất vấn của ĐBQH và nghĩa vụ trả lời chất vấn của người bị chất vấn; quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn tại
kỳ họp cũng như thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội Cụ thể như sau:
Trang 27Chất vấn được thực hiện thông qua hình thức hỏi trực tiếp hoặc bằng văn bản, trả lời chất vấn cũng được thực hiện thông qua hình thức trả lời trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản Thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp được quy định tại Điều 11 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Điều 25 Quy chế hoạt động của UBTVQH, Điều 43 của Nghị quyết ban hành nội quy kỳ họp Quốc hội:
- ĐBQH ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn
và gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn Đoàn thư ký kỳ họp giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của ĐBQH để báo cáo UBTVQH
- UBTVQH dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội xem xét quyết định
- Người bị chất vấn trả lời trực tiếp đầy đủ nội dung các vấn đề mà ĐBQH
đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục tại phiên họp Quốc hội theo thứ tự do Chủ tịch phiên họp nêu Thời gian trả lời chất vấn về từng vấn
đề không quá mười lăm phút ĐBQH có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung
đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời Thời gian nêu câu hỏi không quá ba phút
- Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại một phiên họp khác hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn Người đã trả lời chất vấn tại kỳ họp hoặc đã trả lời chất vấn của ĐBQH bằng văn bản có trách nhiệm báo cáo với ĐBQH bằng văn bản
về thực hiện những vấn đề đã hứa khi trả lời chất vấn tại kỳ họp tiếp theo
Trong trường hợp vấn đề chất vấn cần có thời gian điều tra, nghiên cứu thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của
Trang 28Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản Quốc hội có thể ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn nếu xét thấy cần thiết
Về nguyên tắc, tất cả các chất vấn của ĐBQH phải được trả lời bằng văn bản hoặc trực tiếp Căn cứ vào số lượng và nội dung chất vấn, UBTVQH lựa chọn và quyết định ra những chất vấn tiêu biểu và quan trọng để người bị chất vấn trả lời trực tiếp tại hội trường Quá trình trả lời, ĐBQH và người bị chất vấn
có thể đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản Yêu cầu đối với nội dung chất vấn của ĐBQH là phải ngắn gọn, rõ ràng, có căn cứ và phải liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cá nhân của người bị chất vấn
Căn cứ vào các quy định tại Điều 11 Luật Hoạt động giám sát và Điều 42,
43 Nội quy kỳ họp Quốc hội, UBTVQH có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đạt hiệu quả tốt
Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, UBTVQH xem xét việc trả lời chất vấn của ĐBQH được Quốc hội cho trả lời tại phiên họp của UBTVQH và chất vấn khác được gửi đến UBTVQH Việc chất vấn và trả lời chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp được thực hiện theo những trình tự sau đây:
- ĐBQH ghi nội dung chất vấn, người bị chất vấn và gửi đến UBTVQH;
- UBTVQH chỉ đạo Ban công tác đại biểu giúp UBTVQH tiếp nhận chất vấn của ĐBQH để chuyển đến người bị chất vấn
- Tuỳ theo nội dung và tính chất của chất vấn, UBTVQH có thể quyết định người bị chất vấn phải trả lời chất vấn bằng văn bản cho ĐBQH hoặc trả lời tại phiên họp của UBTVQH Trong trường hợp UBTVQH quyết định cho người bị chất vấn trả lời bằng văn bản thì văn bản đó đồng thời được gửi đến UBTVQH
và ĐBQH đã có câu hỏi chất vấn Nếu không đồng ý với nội dung trả lời thì ĐBQH có quyền yêu cầu Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc UBTVQH
Trang 29Trong trường hợp UBTVQH quyết định việc trả lời chất vấn của ĐBQH được tiến hành tại phiên họp của UBTVQH, thì việc chất vấn được tiến hành như sau:
- Chủ tịch Quốc hội nêu nội dung chất vấn của ĐBQH đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp của UBTVQH và những chất vấn khác được gửi đến UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội mà UBTVQH quyết định cho trả lời tại phiên họp
- ĐBQH có câu hỏi chất vấn có thể được mời tham dự phiên họp của UBTVQH và phát biểu ý kiến
- Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà ĐBQH
- Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu xét thấy cần thiết UBTVQH ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
1.3.2 Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành
pháp luật ở địa phương
Giám sát văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung quan trọng trong hoạt động của Quốc hội và ĐBQH nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Tại khoản 1, Điều 10 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm
2003 đã quy định:
Trang 30“…Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của UBTVQH, Chủ tịch
nước có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì ĐBQH đề nghị UBTVQH, Chủ tịch nước sửa đổi hoặc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; UBTVQH, Chủ tịch nước có trách nhiệm xem xét, trả lời ĐBQH Trong trường hợp ĐBQH không đồng ý với trả lời của UBTVQH, Chủ tịch nước thì yêu cầu UBTVQH trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất.”
Điều 41 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 quy định về ĐBQH, Đoàn ĐBQH giám sát văn bản quy phạm pháp luật Theo đó, khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét nội dung văn bản đó Nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH thì ĐBQH trong phạm vi quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới
Để thực hiện tốt hoạt động trên, ĐBQH có quyền gặp gỡ, yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp đầy đủ tài liệu và thông tin cho hoạt động của mình Đồng thời, các cá nhân ĐBQH cũng phải là người có trình độ, năng lực tốt, có đầy đủ kỹ năng và hiểu biết pháp luật, đáp ứng được yêu cầu đảm bảo cho pháp luật được hoàn thiện và thống nhất
Cùng với hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật, khi thực hiện giám sát tình hình thi hành pháp luật ở địa phương, ĐBQH cũng đã được pháp luật ghi nhận những thẩm quyền cụ thể:
Điều 42 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 quy định:
“1… ĐBQH tiến hành giám sát quyết định nội dung, kế hoạch giám sát,
người được mời tham gia giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
và báo cáo Đoàn ĐBQH…”
Trang 31“2… Khi tiến hành giám sát, ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát; giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát, ĐBQH quan tâm; xem xét, giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương….”
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang nhân dân hoặc của công dân, ĐBQH có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo cho ĐBQH việc giải quyết Quá thời hạn nói trên mà cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị không trả lời thì ĐBQH có quyền kiến nghị với người đứng đầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên, đồng thời báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định (Điều 51 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001)
Được cử tri tín nhiệm bầu ra, ĐBQH phải thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri Hàng năm, ĐBQH có quyền tham
dự các kỳ họp hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu, có quyền phát biểu
ý kiến nhưng không biểu quyết ĐBQH tham dự các kỳ họp này nhằm mục đích nắm tình hình và tìm hiểu nguyện vọng của nhân dân địa phương; tham gia ý kiến vào các vấn đề quản lý nhà nước và các vấn đề quan hệ đến đời sống của nhân dân địa phương; tuyên truyền, phổ biến pháp luật của Nhà nước; thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của hội đồng nhân dân, giám sát tính đúng đắn của văn bản quy phạm pháp luật được Hội đồng nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương ban hành, giám sát tình hình thực hiện pháp luật…
Trang 321.3.3 Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật trao cho ĐBQH Theo Điều 43 Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội năm 2003 thì: “ĐBQH, Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý,
đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân… Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, ĐBQH có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu
và trực tiếp hoặc thông qua Đoàn ĐBQH chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền để xem xét, giải quyết Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định và thông báo cho ĐBQH, Đoàn ĐBQH biết việc giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định giải quyết”
Thực hiện hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thì tiếp công dân là nhiệm vụ thường xuyên của ĐBQH ĐBQH tiếp dân theo định kỳ, theo lịch tại trụ sở tiếp dân và tiếp dân tại nhà ở, tại nơi công tác ĐBQH tiếp dân để nghe nhân dân góp ý xây dựng Nhà nước đồng thời giúp dân giải quyết những thắc mắc, kiến nghị, khiếu nại và tố cáo Do đó, khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, ĐBQH phải nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo biết; đôn đốc và theo dõi việc giải quyết “Trong trường hợp xét
thấy việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo không thoả đáng, ĐBQH có quyền gặp người đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại Khi cần thiết, ĐBQH có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan đó giải quyết” (Điều 43 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội
năm 2003 và Điều 52 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001)
Trang 331.4 Vai trò của hoạt động giám sát của ĐBQH
1.4.1 Vai trò của hoạt động chất vấn của ĐBQH
Hoạt động chất vấn của ĐBQH có vai trò quan trọng trong việc phát huy tính dân chủ của Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động chất vấn còn là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước với cử tri, thể hiện tiếng nói và khát vọng của cử tri cả nước
Thực hiện chất vấn tốt là thể hiện trình độ và bản lĩnh của người đại biểu Diễn biến và kết quả của các phiên chất vấn được đông đảo cử tri quan tâm theo dõi nên các ĐBQH lại càng có trách nhiệm nặng nề hơn, ý thức là người đại diện của cử tri phải cao hơn Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội phải thật sự là điểm sáng trong sinh hoạt chính trị của Nhà nước Các vấn đề quan trọng, nhạy cảm đã được các đại biểu chất vấn và trả lời một cách có trách nhiệm, chân thành và xây dựng, đó là minh chứng rõ ràng cho kết quả tích cực
về hoạt động giám sát của ĐBQH, là động lực thúc đẩy cho những họat động nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực của Quốc hội trong tương lai
Hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn không chỉ là cơ hội để các thành viên Chính phủ, Trưởng ngành bộc lộ tư duy, năng lực của mình mà còn là nơi các ĐBQH thể hiện khả năng bao quát, tổng hợp các vấn đề đặt ra tại nghị trường cũng như ý kiến mà cử tri cả nước đã gửi gắm Khắc phục được một số trường hợp chất vấn còn dài dòng, chưa rõ ý, chỉ hỏi thông tin… hoặc cách trả lời còn vòng vo, chưa đúng trọng tâm, làm cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội phong phú, sôi động và hiệu quả hơn Đó cũng là sự quan tâm, kỳ vọng của cử tri cả nước vào sự đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội, cũng như tại các phiên họp của UBTVQH sắp tới
Bên cạnh đó, để hoạt động giám sát của ĐBQH được thường xuyên, liên tục, đồng thời khắc phục được tình trạng tập trung quá nhiều chất vấn vào kỳ
Trang 34họp Quốc hội thì hoạt động chất vấn tại phiên họp UBTVQH là rất cần thiết Thực hiện chất vấn tại các phiên họp của UBTVQH sẽ giúp cho UBTVQH tiến hành giám sát sâu hơn vì các phiên họp của Uỷ ban diễn ra hàng tháng nên cũng kịp thời chất vấn những vấn đề bức xúc của đất nước, nhờ đó Quốc hội và UBTVQH sẽ quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước một cách hiệu quả hơn và có chất lượng hơn
1.4.2 Vai trò của hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật và thi hành
pháp luật ở địa phương của ĐBQH
Pháp luật là yếu tố của kiến trúc thượng tầng, có ý nghĩa lớn đối với quản
lý nhà nước Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp Các văn bản của Chính phủ và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước không được trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội Chức năng giám sát của Quốc hội đối với văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện trực tiếp thông qua hoạt động của các ĐBQH Qua hoạt động giám sát, ĐBQH thể hiện vai trò của mình trong việc phát hiện và loại bỏ các văn bản quy phạm không đúng với quy định
để đảm bảo cho pháp luật được thống nhất, đồng bộ và hoàn thiện Do đó, Điều
41 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 đã quy định về ĐBQH, Đoàn ĐBQH giám sát văn bản quy phạm pháp luật:
“Khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH, Đoàn ĐBQH có
trách nhiệm nghiên cứu, xem xét nội dung văn bản đó Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thì ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới”
Trang 35Ngày nay, trước sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường cùng với những biến đổi to lớn của xã hội thì việc giám sát các văn bản quy phạm pháp luật là một trong những yếu tố đảm bảo cho pháp luật được hoàn thiện, thống nhất, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ĐBQH là người đại diện cho nhân dân cả nước, có sự liên kết chặt chẽ với nhân dân, có trình độ
và hiểu biết sâu rộng về pháp luật và cuộc sống nên vai trò của ĐBQH đối với việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật là vô cùng quan trọng, phản ánh tâm
tư, nguyện vọng, ý kiến của cử tri
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, vấn đề tăng cường hiệu quả quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước là một trong những yêu cầu cấp bách Do đó, đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước ta luôn chú trọng tới việc đưa pháp luật vào đời sống xã hội Với tính chất là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất; Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật Để thực hiện chức năng giám sát tối cao của mình, Quốc hội thông qua hoạt động của các ĐBQH nhằm phát hiện xử lý các vi phạm trong thực hiện pháp luật Đây cũng là một trong các hoạt động giám sát chủ yếu của ĐBQH khi thực hiện nhiệm vụ của mình ở địa phương được ghi nhận trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
Sự phát triển của kinh tế - xã hội ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi nhiều lĩnh vực mới phát sinh phải có luật điều chỉnh Có những lĩnh vực mà pháp luật chưa quy định, cũng như các quy định pháp luật cần được sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn Nguyên nhân của vi phạm phạm luật chủ yếu do ý thức của người thực hiện, song có một phần không nhỏ là do các quy định của pháp luật đã trở nên lạc hậu và cản trở sự phát triển của đời sống xã hội Hơn nữa, việc tuân thủ, chấp hành và thực thi pháp luật trên thực tế không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả tích cực Do đó, cùng với việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH giám sát việc thực hiện pháp luật ở địa phương sẽ đảm
Trang 36bảo tính công bằng, minh bạch của pháp luật; đồng thời, phát hiện ra các quy định chưa hợp lý, sát thực với tình hình thực tế mà từ đó có những kiến nghị kịp thời để Quốc hội sửa đổi, bổ sung
Như vậy, ĐBQH có vị trí và vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, phát hiện các vi phạm pháp luật Qua hoạt động này, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được bảo đảm với các đối tượng bị giám sát Thông qua quá trình tìm hiểu thực tế từ tiếp xúc và liên hệ với cử tri, ĐBQH nắm được tình hình thực thi pháp luật tại các địa phương, cơ sở, tìm hiểu các vấn đề trong việc bảo đảm thực thi pháp luật tại địa phương nơi mà họ tham gia giám sát, phát hiện những vi phạm và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật khi thực hiện còn hạn chế,
từ đó báo cáo với Quốc hội và UBTVQH để đề ra các biện pháp phù hợp
1.4.3 Vai trò của hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân của ĐBQH
ĐBQH do nhân dân trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân nên khi quyền và lợi ích của nhân dân bị xâm hại thì người đại biểu có trách nhiệm yêu cầu các cơ quan nhà nước liên quan xem xét giải quyết, đồng thời đôn đốc, giám sát việc giải quyết của cơ quan, người có thẩm quyền Với tính chất là người diện của nhân dân, ĐBQH là cầu nối giữa nhân dân và cơ quan
có thẩm quyền giải quyết Hoạt động có hiệu quả của ĐBQH sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế giám sát từ phía cơ quan quyền lực nhà nước đối với các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Tại các buổi tiếp dân, ĐBQH lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân, giải thích, hướng dẫn cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo để chuyển đơn đến các cơ quan, tổ chức hữu quan để giải quyết Qua công tác, ĐBQH đã góp phần khắc phục tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, chuyển vòng giữa các
cơ quan nhà nước, giải quyết những yêu cầu bức xúc của nhân dân Các cơ quan hữu quan bước đầu đã nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của ĐBQH, tích cực giải quyết
Trang 37đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân và trả lời cho ĐBQH trong thời gian luật định
Thực tế thực hiện giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, ĐBQH không chỉ đơn giản là nhận đơn thư, xem xét và gửi tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền để giải quyết mà còn bám sát theo các đơn thư, tìm hiểu cặn
kẽ, đôn đốc cơ quan giải quyết Mặc dù còn nhiều băn khoăn cần phải phân biệt việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của ĐBQH là thực hiện chức năng giám sát hay chức năng đại diện, song từ những công việc thực tế của đại biểu, những việc làm dù rất nhỏ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng đã mang lại rất nhiều niềm tin cho cử tri[1, tr109]
1.5 Các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền giám sát của ĐBQH
Để hoạt động giám sát của ĐBQH phát huy hiệu quả tốt thì việc quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền lợi đó cho ĐBQH là vấn đề không thể thiếu trong các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát
Thứ nhất, ĐBQH có địa vị pháp lý đặc biệt Do đó, để đảm bảo cho hoạt
động của ĐBQH nói chung và hoạt động giám sát của ĐBQH nói riêng, Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 quy định ĐBQH có quyền bất khả xâm phạm Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của UBTVQH thì không được bắt giam, truy tố ĐBQH và không được khám sét nơi ở của ĐBQH Việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH thuộc thẩm quyền của Viện trưởng VKSNDTC ĐBQH không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc nếu không được UBTVQH đồng ý[14, tr380]
Thứ hai, theo quy định của pháp luật hiện hành, ĐBQH được cung cấp
công báo, các văn kiện chính thức của kỳ họp Quốc hội, các tài liệu mà Chủ tịch Quốc hội xét thấy có thể giúp đại biểu trong hoạt động của mình, gửi đến ĐBQH trước khi Quốc hội họp Ở địa phương, ĐBQH được cung cấp báo cáo và các
Trang 38văn bản có tính chất pháp luật của địa phương; được thông báo tình hình, tài liệu cần thiết khác cho việc giám sát, được mời dự hội nghị Hội đồng nhân dân nơi đại biểu được bầu ra
Thứ ba, Luật hoạt động giám sát năm 2003 quy định trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải tạo điều kiện thuận lợi để ĐBQH thực hiện quyền giám sát; kịp thời cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết khi được yêu cầu; giải quyết, trả lời yêu cầu, kiến nghị của Đoàn ĐBQH và ĐBQH Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp trình bày những vấn đề mà ĐBQH nêu ra, trường hợp ủy quyền cho người khác trình bày thì phải được ĐBQH chấp thuận Nếu cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện những yêu cầu của Quốc hội, ĐBQH khi thực hiện quyền giám sát thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 45)
Thứ tư, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Văn phòng Quốc
hội, Văn phòng giúp việc Đoàn ĐBQH có trách nhiệm bảo đảm điều kiện vật chất và cung cấp thông tin, tư liệu cần thiết, tổ chức phục vụ Quốc hội, ĐBQH thực hiện hoạt động giám sát ĐBQH được tạo điều kiện thuận lợi để làm nhiệm
vụ đại biểu; được bố trí thời gian và địa điểm gặp gỡ, tiếp xúc cử tri; được sắp xếp thời gian và phương tiện; được đài thọ lương và phụ cấp trong thời gian tạm thời không làm công tác thường xuyên của mình để làm nhiệm vụ đại biểu…
Tóm lại, từ phân tích những vấn đề lý luận chung về hoạt động giám sát của ĐBQH cần phải khẳng định rằng, hoạt động giám sát của ĐBQH là hoạt động thực hiện một trong ba chức năng quan trọng của Quốc hội - chức năng giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước Theo đó, ĐBQH theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH Hoạt động giám sát của ĐBQH đã được pháp luật ghi nhận
Trang 39qua sự phát triển của quá trình xây dựng pháp luật, bắt đầu từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đến các bản Hiến pháp kế tiếp như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 cùng với các quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội tại thời điểm đó Trước yêu cầu bức thiết cần phải nâng cao chất lượng thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội và hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH đòi hỏi cần có một chế định riêng, cụ thể hơn điều chỉnh vấn đề này, do đó Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 ban hành đã tạo ra cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động giám sát được thực hiện một cách đầy đủ nhất Thẩm quyền giám sát của ĐBQH
được quy định rất cụ thể trong Luật, đó là: “ĐBQH chất vấn Chủ tịch nước, Chủ
tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân” (điểm đ, khoản 1, Điều 3) Đây cũng chính là nội dung các hoạt động
giám sát của ĐBQH được quy định tại Điều 37
Giám sát của ĐBQH là một hình thức giám sát quan trọng trong việc thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, do đó nội dung các hoạt động giám sát nêu trên của ĐBQH đều có vai trò rất to lớn, là động lực thúc đẩy cho những hoạt động nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực của Quốc hội trong tương lai Thực hiện hoạt động chất vấn, ĐBQH đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước với cử tri, thể hiện tiếng nói và khát vọng của cử tri cả nước Khi tiến hành giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát tình hình thi hành pháp luật tại địa phương và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, ĐBQH thể hiện vai trò của mình trong việc bảo đảm tính công bằng, minh bạch và đúng đắn của pháp luật; phát hiện các quy định chưa hợp lý với tình hình thực tế mà từ đó có những kiến nghị để Quốc hội sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; phát hiện, xử lý các vi phạm trong thực
Trang 40hiện pháp luật; là cầu nối giữa nhân dân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kịp thời đôn đốc, giám sát việc giải quyết của các cơ quan, người có thẩm quyền
đó đối với những khiếu nại, tố cáo của công dân,v.v… đảm bảo cho ĐBQH là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Bên cạnh đó, pháp luật đã quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền giám sát của ĐBQH, nên hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH được nâng cao, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được bảo đảm hơn nữa đối với các đối tượng bị giám sát