Trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về vi phạm pháp luật của NCTN và thực tiễn vi phạm pháp luật của người chưa thành niên mà chủ yếu nghiên cứu về vi p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƢ PHÁP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn này là do em tự nghiên cứu, không sao chép của ai
Để hoàn thành được luận văn em đã được sự giúp đỡ rất tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Lê Văn Long Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Đồng thời em cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo bộ môn trong khoa và các anh, chị, em học viên trong lớp đã giúp đỡ em trong quá trình viết luận văn
Trong quá trình viết luận văn, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn chế nên em khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn học viên để luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3/2013 Học viên thực hiện
Đinh Minh Hiển
Trang 3CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………… ……… ……….………… … 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN 6
1.1.Khái niệm người chưa thành niên 6
1.2.Khái niệm vi phạm pháp luật của người chưa thành niên… 9
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vi phạm pháp luật của người chưa thành
niên 17
1.4 Nguyên tắc xử lý vi phạm pháp luật của người chưa thành niên… 20
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ XỬ LÝ VI
PHẠM PHÁP LUẬT C ỦA NGƯ ỜI CHƯ A THÀNH NIÊN Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY 22
2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở nước ta trong
gian qua… … … ……… ……… 22 2.2 Nguyên nhân dẫn đến vi phạ m pháp luật của người chưa thành niên ở
nước ta ……… 37
2.3 Thực trạng xử lý vi phạm pháp luât của người chưa thành niên ở nước ta
hiện nay……… ……… ….49
2.4 Dự báo tinh hình vi phạm pháp luật trong thời gian tới 52
CHƯƠNG III: PHƯ ƠNG HƯ ỚNG, GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG VI
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯ ỜI CHƯ A THÀNH NIÊN Ở NƯ ỚC TA
TRONG THỜI GIAN TỚI 54
3.1 Phương hướng phòng chống vi phạm pháp luật của người chưa thành
niên ở nước ta trong thời gian tới 54
3.2 Giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở
nước ta hiện nay 55 KẾT KUẬN…… ……… ……… ……… 71
PHỤ LỤC THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai Thế hệ trẻ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng để đưa đất nước có thể sánh vai với các cường quốc năm châu Đất nước ta tương lai có được vững mạnh hay không chính là n hờ vào thế hệ trẻ của đất nước Cũng như lúc sinh thời Bác Hồ kính yêu đã dành nhiều thời gian quan tâm đến các cháu thiếu niên, nhi đồng, những thế hệ n ối tiếp sự nghiệp của cha ông, tình cảm của Bác được thể hiện qua rất nhiều lời căn dặn, cũng như các b ài thơ
và một trong những đoạn thơ mà Bác thể hiện tình cảm của mình đối với thế hệ trẻ:
Trẻ em như búp trên cành Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan Chẳng m ay vận nước gian nan Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng
Cùng với lời căn dặn và tình cảm của Bác đối với thế hệ trẻ của dân tộc Đất nước ta luôn luôn đặt chiến lược phát triển con người song song với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội D o vậy việc bồi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ về chính trị, tư tưởng, văn hóa và đạo đức là một sách lược quan trọng củ a chiến lược phát triển nhân lực để bảo vệ và xây dựng đất nước Chính vì vậy nhà nước ta cùng với gia đình, nhà trường và xã hội rất quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em Trên cơ sở đó ngày càng hình thành đầy đủ và hoàn thiện hơn chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật tạo ra những đảm bảo pháp lý vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ em Tuy nhiên những năm gần đâ y khi đất nước phát triển hơn, đời sống nhân dâ n ngày càng được cải thiện tốt hơn thì một thực trạng đáng lo ngại cho các nhà quản
lý, các bậc cha mẹ và toàn xã hội đó là tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niê n có xu hướng ngày càng gia tăng, trẻ hóa có tính chất ngày càng nghiê m trọng và diễn biến hết sức phức tạp Có lẽ chưa khi nào liên ti ếp xảy ra những vụ bạo lực học đường đẫm máu như thời điểm hiện nay , nhiều bậc phụ huynh bắt đầu
lo sợ c ho sự a n toàn của con mình c ó bao nhiêu phần trăm một đứa trẻ chưa trưởng thành sẽ thành nạn nhâ n hay tội nhân? Đáng chú ý là thanh, thiếu nhi phạm các tội
Trang 6như cướp của, cưỡng đoạt tài sản công dân, hiếp dâm, giết người, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy… N gày càng nhiều Thực trạng trên đây đang là mối lo của toàn xã hội và các bậc cha mẹ trong việc quản lý và giáo dục con cái
Sở dĩ do đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách của lứa tuổi này chưa hoàn chỉnh, nông nổi dễ bị kíc h động, lôi kéo, khó kiềm c hế bả n thâ n bê n cạ nh đó nhiều bậc phụ huynh không chú ý đến sự phát triển tâm sinh lý của con cái mải lo công việc, tranh thủ kiếm tiền M ột số em còn phải sống trong hoàn cảnh mồ côi bố hoặc mẹ Cha
mẹ bất hòa, ly thân, ly hôn… Dẫn đến sự thiếu hụt về tình cảm, sự phát triển lệch lạc Đặc biệt ở lứa tuổi này trình độ hiểu biết pháp luật còn bị hạn chế dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật ở lứa tuổi này ngày một tăng cao thậm chí tỷ lệ phạm tội cũng rất lớn Điều này đã và đang là một vấn nạn gây nhức nhối cho toàn xã hội Tình hình vi phạm pháp luật do NCTN gây ra trong thời gian vừa qua đang là m ột hồi chuông báo động làm cho toàn xã hội phải choàng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài
mà giật mình lo lắng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã h ội mà làm p há hoại truyền thống, văn hóa , đạo đức mà ông cha ta đã gây dựng Do vậy, để đảm bảo trật tự, an toàn và sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước, các cấp, các ngành cần khẩn thiết đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, trong đó đặc biệt chú trọng công tác phòng ngừa
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật của người chưa thành niên trong thời gian qua có chiều hướng gia tăng và ngày càng nguy hiểm mà từ đó đưa ra dự báo, phương hướng và giải pháp hiệu quả nhất trong công tác phòng, chống vi phạm pháp luật của NCTN ở nước ta
ở thời gian hiện tại và tiếp đó là trong tương lai Qua việc nghiên cứu tình hình vi phạm pháp luật của NCTN ở nước ta trong thời gian gần đây, luận văn đã có một số
ý kiến nêu lên những kiến nghị và giải pháp cho công tác phòng, chống vi phạm
pháp luật của NCTN trong thời gian tới Nên em đã chọn đề tài “Vi phạm pháp luật
của người chưa thành niên ở nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 7Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách báo, tạp chí,
đề cập đến vấn đề vi phạm pháp luật của NCTN, nhưng các công trình nghiên cứu chủ yếu đứng dưới góc độ Luật Hình Sự và Luật Hành C hính còn về Lý Luận cũng
đã có những công trình nghiên cứu nhưng chưa nhiều Có thể nêu lên một số công
trình điển hình như: Phòng ngừa NCTN phạm tội - Vũ Đức Khiển, Bùi Hữu Hùng, Phạm Xuân Chiến, Đỗ Văn Hán, Trần Phàn, NXB Pháp lý, Hà Nội 1987; H oàn
thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đấu tranh với hành vi phạm tội của NCTN – N guyễn Văn Tuấ n luận văn thạc sỹ 1996; Bảo vệ trẻ em và NCT N bằng pháp luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn - Đ ỗ An Bình, Luận văn thạc sỹ
năm 2002 Đại Học luật TPHCM;“Vi phạm pháp luật - M ột số vấn đề lý luận và
thực tiễn ở Việt Nam” – Bùi X uân Phái, Luận văn thạc sỹ năm 2002, Đại học luật
Hà Nội; Trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội the o pháp luật Việt Nam hiện
hành – những vấn đề lý luận và thực tiễn – Ngô Thu Phương, khóa luận tốt nghiệ p
năm 2011; Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành chính với NCTN – Nguyễn Ngọc Bích luận văn thạc sỹ năm 2003; Xử lý vi phạm hành chính NCTN – Nguyễn Thu Thủy, khóa luận tốt nghiệp năm 2000; Xử lý vi phạm hành chính đối với NCTN – Lý
luận và thực tiễn – Đồng Thúy An, khóa luận tốt nghiệp đại học, Hà Nội năm 2011;
Vi phạm pháp luật của NCTN ở Việt Nam hiện nay – Nguyễn Thị Thu Hương, khóa
luận tốt nghiệp đại học, Hà Nội 2012
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu dưới dạng bài viết đăng trên
các báo và tạp chí chuyên nghành như: Ảnh hưởng của gia đình tới hành vi vi phạm
pháp luật của trẻ vị thành niên – Nguyễn Hồi Loan; Tạp chí tâm lý học số 06/2000;
Áp dụng các biện pháp tư pháp phục hồi đối v ới NCTN vi phạm pháp luật – V ũ Việt
Hùng, Tạp chí kiểm sát số 15/2007; Một số đặc điểm tâm lý của NCTN phạm tội – Đặng Thanh N ga, Tạp chí luật học số 01/2008; Thực trạng và giải pháp phòng,
chống vi phạm pháp luât của NCTN – Đinh Xuân Nam, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp số 20/2008; Tái hòa nhập cộng đồng với NCTN vi phạm pháp luật – Nguyễn Văn Hoàn, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 20/2008; Tình hình tội phạm NCTN ,
thực trạng, nguyên nhân và giải pháp – Ngô Hoàng Oanh, Tạp chí nghề luật học
viện tư pháp, số 05/2010 tr8-> 12; Hình thức xử phạt và biện pháp xử lý hành chính
đối với NCTN trong dự thảo luật xử lý vi phạm hành chính – Nguyễn Văn Hòa, Tạp
Trang 8chí nghiên cứu lập pháp văn phòng quốc hội số 20/2011 tr57-.62; Các biện pháp
thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với NCTN - Bùi Thị Nam, Tạp chí nghiên cứu
lập pháp – văn phòng quốc hội số 20/2011 tr63 -> 68
Tuy đã có các công trình nghiên cứu về NCTN vi phạ m phá p luật nhưng đâ y
là một mảng khá rộng lớn còn nhiều khía cạnh cần được nghiên cứu và khai thác
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Nghiên cứu đề tài sâu hơn, toàn diện, các vấ n đề liên qua n đến N CTN vi phạm pháp luật dưới góc độ lý luận chung Từ đó tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng vi phạm pháp luật của NCTN , trên cơ sở đó đưa ra những dự báo vi phạm pháp luật của NCTN trong thời gian tới và phương hướng, giải pháp để khắc phục tình trạng này trong tương lai
- Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi vi phạm pháp luật của NCTN
- Nguyên tắc xử lý vi phạm phá p luật của NCTN
- Nghiên cứu thực trạng vi phạm pháp luật c ủa NC TN và việc xử lý NCTN
vi phạm pháp luật ở nước ta trong thời gian gần đây
- Đưa ra dự báo tình hình vi phạm phạ m pháp luật của NCTN ở nước ta trong thời gian tới và phương hướng, giải pháp phòng chống vi phạ m pháp luật của NCTN trong tương lai để khắc ph ục thực trạng này
- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm phá p luật
của NCTN
Trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về vi phạm pháp luật của NCTN và thực tiễn vi phạm pháp luật của người chưa thành niên mà chủ yếu nghiên cứu về vi phạm hình sự và vi phạm về hành chính trong thời gian vừa qua
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 9Việc nghiên cứu đề tài “Vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở nước
ta hiện nay ”được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận là hệ thống các quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng H ồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, hệ thống các quan điểm triết học trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật cũng như trong công tác phòng chống
vi phạm pháp luật của N CTN
Để làm nổi bật được các nội dung nghiên cứu trong luận văn, tác giả có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: So sánh, phân tích, thống kê số liệu kết hợp với phương pháp tổng hợp để phản ánh chính xác hơn về mục đích và nội dung
mà đề tài cần nghiên cứu, đồng thời tác giả sử dụng các quan điểm của các nhà khoa học đi trước
5 Cơ cấu của khóa luận
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương:
1 Chương I : Cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM P HÁP LUẬT CỦA NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN Ở NƯỚC TA 1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầ y đủ quyền lợi và nghĩa vụ c ủa m ột c ông dâ n P háp luật ở m ỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể người chưa thành niên
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngà y 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa
là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định
tuổi thành niên sớm hơn” “Người chưa thành niên” là người chưa phát triển đầy
đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tin h thần, cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa
vụ của một công dân[15]
Tại Điều 18 BLDS năm 2005 quy định “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người
thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên ”[19] Có thể
nói đây là quy định gốc của pháp luật nước ta về N CTN Khái niệm NCTN khác với khái niệm trẻ em Theo điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 thì:
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi ”[17]
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp nă m 1992, Bộ luật Hình sự nă m 1999, Bộ luật T ố tụng hình sự nă m
2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định các chế định pháp luật đối với chủ thể trong từng lĩnh vực vi phạm cụ thể Cá nhân chỉ trở thành chủ thể độc lập của quan hệ pháp luật khi có năng lực chủ thể Trong khoa học pháp lý, năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm hai yếu tố: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật
Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận là có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật Khi cá nhân có năng lực pháp luật nhất định Các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có được trong mối quan hệ pháp luật không phải do họ tự tạo ra mà do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận Năng lực hành vi pháp luật là khả năng mà nhà nước thừa nhận cho chủ thể bằng hành vi
Trang 11của chính bản thân mình có thể xác lập và thực hiện c ác quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình Chủ thể có năng lực hành vi pháp luật đầy đủ có thể tham gia với tư cách
là chủ thể độc lập của quan hệ pháp luật, bằng hành vi của mình có thể độc lập xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ pháp lý
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật là những thuộc tính không tách rời nhau của mỗi chủ thể nhưng không phải là thuộc tính tự nhiên, không phải sẵn có khi người đó sinh ra mà là những thuộc tính pháp lý do nhà nước thừa nhận cho mỗi chủ thể Trong một số lĩnh vực năng lực của cá nhân được mở rộng từng bước phụ thuộc vào sự phát triển về thể lực và trí lực của cá nhân Sự mở rộng dần năng lực pháp luật của chủ thể căn cứ vào độ tuổi Dĩ nhiên độ tuổi không phải là tiêu chuẩn chính xác tuyệt đối để xác định lý trí, khả năng nhận thức của cá nhân Song dù sao độ tuổi phản ánh ở bình diện rộng và ở mức độ cao những điều kiện tâm sinh lý của cá nhân Vì vậy pháp luật của nước ta cũng như của các nước trên thế giới lấy độ tuổi làm tiêu chí xác định năng lực hành vi pháp luật K hác với năng lực pháp luật năng lực hành vi pháp luật chỉ xuất hiện khi cá nhân đã đến độ tuổi nhất định và cá nhân được coi là có năng lực hành vi pháp luật đầy đủ khi họ đạt đến một độ tuổi nhất định và cá nhân được coi là có năng lực hành vi pháp luật đầy
đủ khi họ đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép cá nhân có thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình Độ tuổi đó được pháp luật quy định khác nhau trong các quan hệ pháp luật khác nhau Phần lớn pháp luật của các nước đều lấy độ tuổi 18 và tiêu chuẩn lý trí (khả năng nhận thức được hậu quả của việc mình làm) làm điều kiện để được công nhận là có năng lực hành vi pháp luật đầy đủ trong hầ u hết các qua n hệ pháp luật [3,tr149] Ví dụ: The o phá p luật Việt Nam hiệ n nay quy định quyền bầu cử đối với công dân là đủ 18 tuổi, quyền ứng cử là từ đủ 21 tuổi trở lên; độ tuổi thực hiện giao kết hợp đồng lao động là từ đủ 15 tuổi trở lên nhưng cũng phải đủ 18 tuổi trở lên họ mới có năng lực hành vi pháp luật lao động đầy đủ; năng lực trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính của cá nhân bắt đầu từ khi họ đủ 14 tuổi trở lên và đầy đủ khi họ đủ 16 tuổi trở lên
Trang 12Khái niệm người c hưa thành niên khác với khái niệm trẻ em The o Điều 1
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “ Trẻ em là công dân Việt
Nam dưới 16 tuổi [17]
Tóm lại, khái niệm “người chưa thành niên” được xây dựng dựa trên sự phát
triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn
độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên
Như vậy, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi,
chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên
Theo các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên gồm: Công ước về Q uyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiể u của Liên hợp quốc về áp dụng phá p luật với người chưa thành niên ngày 29-11-1985; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên ngày 14-12-1990 Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên là người từ 15 đến
18 tuổi, thanh niên là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên
Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên được nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạ nh, có ích cho xã hội
Những đặc điểm xuất phát từ bản chất chính NCTN như trạng thái, xúc cảm, nhu cầu độc lập, nhận thức về pháp luật, nhu cầu khám phá cái mới… Quy định tính chất đặc thù của NCTN vi phạm pháp luật Đây là nhữ ng yếu tố ảnh hưởng đến năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi cũng như ảnh hưởng đến năng lực điều khiển hành vi theo những đòi hỏi của xã hội của NCTN
Về trạng thái xúc cảm, NCTN là người đang trong giai đoạn diễn ra những biến
cố đặc biệt Đó là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc của NCTN Ví dụ: Tim phát triển nhanh hơn các mạch máu đã đã gây ra sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch dẫn đến việc NCTN có cảm giác mệt
Trang 13mỏi, chóng mặt, sức làm việc suy giảm, dễ bị kích động, dễ nổi nóng… Sự mất cân bằng tạm thời về trạng thái xúc cảm của NCTN có thể là một trong những nhân tố dẫn tới hành vi vi phạm pháp luật, khi các em không làm chủ được bản thân và khi nó được kết hợp với một số yếu tố tâm lý có tính tiêu cực khác
Các đặc điểm này của NCTN thể hiện hai khuynh hướng nổi bật liên quan đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật và khả năng giáo dục, cải tạo của họ Chính đặc điểm phát triển tâm lý không ổn định của NCTN, một mặt
nó làm cho NCTN rất dễ bị lôi kéo đi vào con đường phạm tội như ng mặt khác những phẩm chất tâm lý tiêu cực đó tuy đã được hình thành ở NCTN vi phạm pháp luật nhưng không có tính bền vững, do vậy khả năng cải tạo NCTN vi phạm pháp trở thành công dân có ích cao hơn so với người đã thành niên Đây là cơ sở để các nhà lập pháp quy định tính chất giảm nhẹ trách nhiệm pháp luật của NCTN vi phạm pháp luật so với người đã thành niên vi phạm pháp luật
Đặc trưng tâm lý của trẻ là tâm lý bốc đồng nhưng lại dễ dao động, hăng hái nhưng lại ha y chán nản Như vậy “nhân cách đã được định hình nhưng chưa ổn định
” là đặc điểm rõ nhất của NCTN Họ luôn thích tự do, chưa có sự nhận thức sâu sắc
về hành vi của mình nên đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai lầm, lệch lạc, dễ vi phạm pháp luật của NCTN
1.2 Kh ái niệm vi phạm pháp luật của người chưa th ành niên
1.2.1 Định nghĩa vi phạm ph áp lu ật của n gười ch ưa thành niên
Theo Công ước quyền trẻ em: “Trẻ em còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau ra đời” Một phần quan trọng trong “sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý” đó là những quy định về mặt xử lý trẻ em vi phạm pháp luật Luật bảo vệ và
chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 có nêu rõ “Việc truy cứu trách nhiệm
hành chính, trách nhiệm dân sự , trách nhiệm hình sự đối với trẻ em vi phạm pháp luật phải theo quy định của pháp luật đối với NCTN” [17,k2,Đ58] Như vậy, những
quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam không chỉ phải đảm bảo sự thống nhất với nhau mà còn phải phù hợp với các văn bản pháp luật quốc tế mà nhà nước ta đã tham gia ký kết, tạo ra hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ NCTN trong trường hợp
họ vi phạm pháp luật bao gồm cả trường hợp họ phạm tội hình sự
Trang 14Trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào, vi phạm pháp luật đều b ị coi là hành vi bất hợp pháp, nên về nguyên tắc chủ thể của hành vi ấy đều phải chịu trách nhiệm pháp lý Về mặt khoa học ta thấy NCTN là người chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất và tâm sinh lý, nhận thức của họ còn non nớt, thiếu chín chắn trong su y nghĩ bồng bột trong hành động Do vậy các em dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh Nếu ở m ôi trường xấu và không được chăm sóc giá o dục chu đá o NCTN dễ bị ảnh hưởng thói hư, tật xấu và dẫn đến phạm pháp Vì thế các em rất cần sự định hướng đúng đắn của gia đình, của nhà trường và xã hộ i
Từ khái niệm vi phạm pháp luật: “Vi phạm pháp luật là hành vi ( hành động
hoặc không hành động ) trái pháp luật có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ ” [3,tr.209] Từ
đó ta có thể đưa ra định nghĩa: Vi phạm pháp luật của NC TN là hành vi trái
pháp luật có lỗi do NCTN có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội đ ược pháp luật bảo vệ
Để hiểu rõ hơn về định nghĩa vi phạm pháp luật của người chưa thành niên cần phải tìm hiểu các dấu hiệu đặc trưng vi phạm pháp luật của NCTN
a, Dấu hiệu hành vi xác định
Vi phạm pháp luật của NCTN phải là hành vi xác định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ hoăc những đặc tính cá nhân khác của họ nế u như những đặc tính đó c hưa biể u hiệ n thành các hành vi cụ thể Các Mác đã từng nói: Ngoài hành vi của tôi ra, tôi hoàn toàn không tồn tại với pháp luật, không phải là đối tượng của nó Vì vậy, phải căn
cứ vào hành vi thực tế của người chưa thành niên mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật
Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (ví dụ: Người chưa thành niên đua xe trong khi chưa đủ tuổi đi xe máy, đã thế lại còn gây tai nạn giao thông … ) hoặc bằng không hành động (ví dụ: Người chưa thành niên không tố giác hành vi vi phạm pháp luật của bạn mình )
b, Dấu hiệu trái pháp luật của hành vi
Có thể nói rằng đây là dấu hiệu đặc biệt quan trọng của vi phạm pháp luật của NCTN Những dấu hiệu khác chỉ có thể nhận biết được thông qua dấu hiệu này
Trang 15Nói chung trong các quan điểm hiện đại, không có quan điểm nào phủ nhận dấu hiệu hành vi Hành vi ở đây có thể là hành động, có thể là không hành động Hành động là xử sự của con người thông qua các thao tác, hoạt động cụ thể tác động vào thế giới khách quan Còn hành vi thể hiện dưới dạng không hành động là xử sự của con người không thực hiện một việc gì đó, hành vi bằng hành động thì luôn có tính xác định cụ thể, (ví dụ: NCTN đi xe máy đến trường khi chưa đủ tuổi, đã thế còn vượt đèn đỏ, phóng nhanh, vượt ẩu, đi vào đường ngược chiều, lạng lách, đánh võng… Khi tham gia giao thông ) ngược lại hành vi không hành động rất khó xác định vì chỉ có thể xác định được nếu nó nằm trong mối quan hệ nào đó được pháp luật xác định Nếu không như vậy, nó có thể chỉ là suy nghĩ hay tình cảm của con người (ví dụ: NCTN không tố giác hành vi vi phạm, có khi là tội phạm của bạn mình ) The o C.M ác thì “ngoài hành vi của mình ra, tôi hoàn toà n không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó” [C.Mác – Ph Ăn ghen tuyển tậ p,
tập 1, Nxb sự thật, hà nội, 1980, tr19] Hành vi trái pháp luật phải là xử sự gây tác hại
đến sự tồn tại và phát triển bình thường của trật tự xã hội Hành vi gây tác hại đó
có thể là sự thực hiện những hành động mà pháp luật cấm Loại hành vi này tác
động lên thế giới khách quan, trực tiếp làm biến đổi chúng, gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội m à pháp luật bảo vệ theo ý chí của nhà làm luật Hành vi
gây hại dưới dạng không hành động không trực tiếp gây ra thiệt hại N ó được hiểu
là sự trốn tránh thực hiệ n một nghĩa v ụ nhất định v ì v ậy mà đã k hông ngăn chặn
được thiệt hại xảy ra hoặc một lợi ích chung đã không được thực hiện
Nói tới hành vi vi phạ m pháp luậ t của NCTN là ta nói tới thái độ tiêu cực của NCTN có năng lực trước pháp luật Tuy nhiên, không phải cứ thực hiện hành vi trái pháp luật là mang lại hậu quả xấu cho xã hội Trong thực tế, có rất nhiều hành
vi trái pháp luật không những mang lại hậu quả xấ u mà có khi nó còn có tính tích cực, là một biểu hiện của tiến bộ xã hội, ví dụ: Em Nguyễn Văn T trên đường đi học
đã gặp một em bé bị lạc, không ngần ngại em đã dẫn em bé tới đồn công an nhờ các chú công an tìm giúp bố, mẹ em bé, vì điều đó em T đã bỏ học buổi hôm đó và vi phạm vào kỷ luật của nhà trường
Vi phạm pháp luật do NCTN thực hiện phải là hành vi xác định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy
Trang 16nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của họ nếu như những đặc tính đó chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể Vì vậy phải căn cứ vào hành vi thực tế của NCTN mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật
Hành vi xác định có thể được thực hiện bằng hành động , ví dụ, N CTN đi xe máy đến trường khi chưa đủ tuổi, trong khi đó còn không đội mũ bảo hiểm, đánh võng, tổ c hức đua xe lạn g lách… Khi tham gia giao thông Hoặc bằng không hành động ( ví dụ: NCTN khi thấy người khác gặp nạn mà mình có khả năng và điều kiện
để cứu giúp họ nhưng đã không thực hiện hành vi cứu giúp đó… )
Hành vi trái pháp luật là xử sự trái với yêu cầu của pháp luật Hành vi này được thể hiện dưới các hình thức như: Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, ví dụ, NCTN tụ tập đông người gây mất trật tự công cộng Hoặc chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện, ví dụ, NCTN không cứu giúp người gặp nạn khi có khả năng cứu giúp như nói ở trên Hành vi trái pháp luật xác lập và bảo vệ, tức làm biến đổi trạng thái bình thư ờng của quan hệ
xã hội hay làm biến dạng cách xử sự vốn là nội dung của quan hệ pháp luật đó Ví
dụ, hành vi đua xe trái phép của NCTN đã xâm hại đến trật tự xã hội, trật tự an toàn giao thông và có thể xâm hại tới tính mạng, sức khỏe của người đi đường Hay NCTN sử dụng quyề n hạ n vượt quá giới hạn c ho phép
c, Dấu hiệu năng lực trách nhiệm pháp lý c ủa người chưa thành niên
Sau khi đã xem xét dấu hiệu trái pháp luật của hành vi, ta phải xác định dấu
hiệu năng lực trách nhiệm pháp lý của N CTN Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả
năng gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi ( thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế những quyền, lợi ích ) của NCTN vi phạm pháp luật hoặc có liên quan gây ra hậu quả xấu vì những nguyên nhân được pháp luật quy định Sự gánh chịu hậu quả bất
lợi trên thực tế phụ thuộc vào năng lực trách nhiệm pháp lý của NCTN Năng lực trách nhiệm pháp lý chính là khả năng có được của NCTN, là yếu tố không thể thiếu khi xác định có vi phạm pháp luật hay không và sự gánh chịu thực tế về hậu quả bất lợi đối với NCTN đến mức độ nào Năng lực trách nhiệm pháp lý là một yếu tố động, hay thay đổi ở trong đời sống của chủ thể và có sự khác biệt ở mỗi loại chủ thể Thước đo năng lực trách nhiệm pháp lý ở NCTN chính là độ tuổi, khả năng lý trí và tình trạng sức khỏe, thể lực Nếu NCTN không có hoặc chưa đủ năng lực
Trang 17trách nhiệm pháp lý thì đương nhiên không bị coi là vi phạm pháp luật Như vậy, về nguyên tắc trách nhiệm pháp lý không thể phát sinh trực tiếp với NCTN Gánh chịu trách nhiệm trong trường hợp này chín h là những chủ thể được ủy quyền, giám hộ, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật Như vậy, chế độ trách nhiệm pháp lý có sự chuyển dịch về chủ thể trong sự gánh chịu hậu quả và nó có thể phát sinh ngay cả khi có hành vi trái pháp luật nhưng không bị coi là vi phạm pháp luật [5,tr.27] Ví
dụ, việc bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường do nhà trường thực hiện; người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, tổ chức quản lý phải bồi thường (Điều 621 - BLDS)
Ví dụ: Ngày 27 – 05 – 2011 VKSND thành phố Hà Nội đã hoàn tất cáo trạng truy tố Đào Thị Thu Hương (tức my sói) sinh năm 1996 ở quận Hoàng Mai và đồng bọn về tội hiếp dâm và cướp tài sản khi thực hiện hành vi trái pháp luật này My Sói
đã 15 tuổi, có trí tuệ phát triển bình thường và đây cũng là độ tuổi mà My Sói có thể nhận thức được hành vi của mình là trái với quy định của pháp luật Đồng thời M y Sói cũng nhận thức được hậu quả của hành vi h iếp dâm do mình tổ chức ra làm xâm hại đến thân thể, sức khỏe và tinh thần của người khác có khi còn dẫn tới chết người D o vậy My Sói sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mình gây
ra
d, Dấu hiệu lỗi
Nếu như trong dấu hiệu trái pháp luật của hành vi xác định sự tác động, ảnh hưởng của hành vi lên các quan hệ xã hội, dấu hiệu năng lực trách nhiệm pháp lý xác định khả năng nhận thức và khả năng kiểm soát hành vi của NCTN để gánh chịu hậu quả của hành vi thì dấu hiệu lỗi là sự xác định thái độ, mức độ tiêu cực của NCTN khi thực hiện hành vi Lỗi là trạng thái tâm lý hay thái độ của NCTN đối với hành vi của mình và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội Lỗi được xem như là thước đo của trách nhiệm pháp lý, nó biểu hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội Lỗi gồm 4 loại: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý do cẩu thả Việc phân biệt có lỗi hay không có lỗi là dựa vào
điều kiện “có thể nhận thức được” về hậu quả của hành vi và “không thể nhận thức
được” Do chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách
Trang 18của NCTN đang trong quá trình hình thành nên sự nhận biết của họ về các giá trị đạo đức và giá trị pháp luật đôi khi còn sai lệch Đa số các em thường hay tự do
hành động tùy tiện theo ý mình mà “ coi thường” pháp luật hoặc không hiể u biết
pháp luật nên dễ bị lôi cuốn vào các hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật và có lỗi, gây ra hậu quả nguy hiểm và thiệt hại cho xã hội
Trong các công trình nghiên cứu, các văn bản pháp luật hay trong giáo trình giảng dạy pháp luật ở bậc đại học… Hầu hết lỗi đều được xác định là trạng thái tâm
lý phản ánh thái độ tiêu cực của NCTN đối với hành vi và hậu quả của mình gây ra
Lỗi là m ột hoạt động tâm lý bên trong c ủa NCTN và vì vậ y nó không thể cân, đong, đo, đếm được, do đó nó là một khái niệm rất trừu tượng và khó khái quát lỗi của NCTN, tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật, NCTN có thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành
vi của mình C ó thể nói tất cả m ọi vi phạm phá p luật do NCTN thực hiệ n đề u là hành vi trái pháp luật, nhưng trái lại không phải tất cả mọi hành vi trái pháp luật của NCTN đều là vi phạm phạm pháp luật, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của NCTN thì mới bị coi là vi phạm phạm pháp luật Còn trong trường hợp NCTN thực hiện một xử sự có tính chất trái pháp luật như ng không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi
và hậu quả hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi đó thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật Vì thế, lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được để xác định vi phạm pháp luật của NCTN [2, tr.298]
1.2.2 Phân loại vi phạm pháp lu ật của n gười ch ưa thành niê n
Vi phạm pháp luật của NCTN trong thực tế rất đa dạng và phong phú Nhưng
thông thường được chia thành các loại vi phạm cơ bản sa u:
1.2.2.1 Vi phạm hình sự ( tội ph ạm )
Theo luật Hình Sự Việt Nam thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do NCTN có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
Trang 19khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm nhữ ng lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Theo điều 12 của BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009) quy định:” Người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”[20]
Luật Hình Sự Việt Nam trên cơ sở tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm, những đặc điểm về tâm sinh lý chất của người việt nam và tham khảo luật hình sự của một số nước trên thế giới, đã quy định tuổi bắt đầu có năng lực TNHS là từ tròn 14 tuổi, và từ tròn 16 tuổi là có năng TNHS đầy đủ Một người chưa đủ 14 tuổi được coi là chưa có năng lực TNHS, vì không có điều kiện để có lỗi nên không phải chịu TNHS khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Người từ tròn 16 tuổi trở lên được coi là có năng lực TNHS đầy đủ cho nên phải chịu TNHS
về mọi tội Tuy nhiên, dưới 18 tuổi là người chưa thành niên nên Luật Hình Sự Việt Nam có những quy định riêng về TNH S với những người thực hiện phạm tội ở độ
tuổi này tại chương X của BLHS
sau: “ 2 N gười chư a thành niê n dư ới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ
thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường m à con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó
để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồ i thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình
3 Người chưa thành niên, người m ất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi
Trang 20thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám
hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường” [19,tr.308]
1.2.2.3 Vi phạm h ành chính
Theo quy định của PL XLVPHC năm 2002 thì vi phạm hành chính là hành vi
có lỗi của NCTN có năng lực trách nhiệm hành chính trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hoặc trái với các qu y định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Theo quy định tại điều 6 và điều 7 của pháp lệnh XLVPHC thì NCTN từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý và hình thức phạt áp dụng đối với các em chỉ là cảnh cáo dù bất cứ mọi hành vi vi phạm hành chính nào; người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị xử phạt hành chính về m ọi vi phạm hành chính do mình gây ra và hình thức phạt áp dụng đối với các em là cảnh cáo hoặc phạt tiền.Tuy nhiên, mức tiền phạt đối với các em không được quá một phần hai mứ c phạt đối với ngư ời đã thành niên; trong trường hợp NCTN không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay Ngoài ra, NCTN vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường the o quy định của pháp luật.[22]
1.2.2.4 Vi phạm kỷ luật h ọc tập, lao độn g
Vi phạm kỷ luật học, lao động là hành vi có lỗi c ủa NCTN trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ công ty, xí nghiệp trường học
Do đó việc vi phạm kỷ luật học tập còn được ghi rõ tại Điều lệ Trường tiểu
học Điều lệ quy định học sinh phạm khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện có thể được khuyên răn hoặc trách phạt theo hình thức phê bình trước lớp hoặc khiển trách có thông báo với gia đình (khoản 2 Điều 43)
Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 của Điều lệ Trường trung học chuyên
nghiệp thì học sinh phạm khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện được
khuyên răn hoặc trách phạt theo các hình thức: Phê bình trước lớp, trước trường; Khiển trách có thông báo với gia đình; Cảnh cáo ghi học bạ; Đình chỉ học tập có thời hạn; Buộc thôi học
Trang 21Theo tinh thần quy định của Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản H ồ Chí Minh thì
người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên là đoàn viên hoặc cán bộ đoàn mà vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm khuyết điểm sẽ bị áp dụng m ột trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ [23, khoản 2
Điều 28]
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
1.3.1 Điều kiện kinh tế - kỹ thuật:
Trong những năm sắp tới, công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước sẽ đặt
ra yêu cầu mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế, văn hóa - xã hội với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Bên cạnh những mặt tích cực của nó, như thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa - xã hội theo nguyên tắc các bên cùng có lợi, còn có mặt tiêu cực là khôn g chỉ làm gia tăng về số lượng tội phạm mà tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng ngày càng nghiêm trọng hơn, đặc biệt một số loại tội phạm có tính chất xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao cũng xuất hiện và phát triển Đây cũng là một trong những yế u tố sẽ có tác động mạnh đến tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên Trong khi
đó gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế là sự phát triển của khoa học, kỹ thuật với những công cụ, phương tiện ngày càng hiện đại và tinh vi hơn cũng góp ph ần vào việc làm phức tạp thêm tính chất nguy hiểm và hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật của NCTN Để chống lại có hiệu quả hơn tình trạng vi phạm pháp luật của NCTN Đời sống kinh tế được nâng lên là một điều kiện quan trọng có thể khắc phục được một số nguyên nhân gây ra vi phạm pháp luật của NCTN N ó cũng giúp cho Nhà nước có những điều kiện tốt hơn để chống lại có hiệu quả tình hình vi phạm pháp luật bằng khả năng vật chất của mình
Như vậy sự phát triển của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật có thể tác động theo cả xu hướng tích cực hoặc tiêu cực tùy theo khả năng thích ứng của Nhà nước hay của NCTN vi phạm Trong điều kiện ngày nay, vi phạm pháp luật của NCTN ngày một phức tạp và nghiêm trọng hơn rất nhiều, các em có thể bất chấp các thủ đoạn, chỉ để giải tỏa cơn khát nghiện game của mình
1.3.2 Điều kiện xã hội:
Trang 22Sự phát triển của nền kinh tế đương nhiên sẽ dẫn đến sự thay đổi của xã hội Các điều kiện xã hội rất phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố như văn hóa, giáo dục, y tế… Ngay những cái được coi là bản sắc cũng có thể bị mai một, thậm chí còn bị biến chất trước sự thay đổi các điều kiện mới Nhờ các điều kiện về kinh tế được nâng lên nên các điều kiện về xã hội cũng có nhiều chuyển biến Sự chuyển biến này cũng xảy ra theo hai xu hướng hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực Khi nên kinh tế còn kém phát triển thì sự giao lưu văn hóa, thông tin, tri thức… Cũng có nhiều hạn chế và do vậy mà khả năng hiểu biết của con người cũng bị giới hạn Giới hạn này
có thể làm cho con người không được tiếp xúc với pháp luật và vì vậy mà dẫn đến
vi phạm pháp luật do không hiểu biết về pháp luật Đây là một thực tế thấp kém, ít
ra không ít ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện kinh tế thấp kém, ít được tiếp xúc với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, của văn minh… Vi phạm pháp luậ t của NCTN ở đây xảy ra phần lớn là do không hiểu biết pháp luật, khi bị xử lý mới biết mình vi phạm N hưng giới hạn về sự hạn chế thông tin cũng không phải bao giờ cũng mang lại những tác động tiêu cực, chẳng hạn như nhữ ng thủ đoạn cách thức của vi phạm không bị lan truyền, lây nhiễm, do vậy vi phạm không trở nên quá phức tạp, phạm vi ảnh hưởng của chúng vì vậy sẽ bị hạn chế Ngược lại, khi có nhiều thông tin, của nó có thể mang đến những ảnh hưởng rất mạnh mẽ và cũng xảy
ra theo hai xu hướng X u hướng thứ nhất là nó đem lại nhiều hiểu biết cho con người về nhiều lĩnh vực Nó làm cho khả năng nhận thức và xử lý các tình huống của NCTN theo các điều kiện mà NCTN gặp phải trở nên linh hoạt hơn, đặc biệt những kiến thức về pháp luật thường thức K hông thể phủ nhận tác dụng của việc phổ biến kiến thức pháp luật như chương trình giải đáp pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, chương trình giảng dạy pháp luật vào các trường học… N goài việc nó nâng cao cao trình độ hiểu biết pháp luật, nó còn tạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật cho các thành viên, thói quen đấu tranh với những hiểu biết tiêu cực, trong
đó có vi phạm pháp luật Xu hướng thứ hai là nó có thể đem lại những sự hiểu biết
có hại nếu các thông tin được cung cấp là các thông tin có t ính chất kích động, xuyê n tác Với những người không c ó bản lĩnh, thông tin nhiều chiề u có thể là m cho họ mất định hướng, dễ bị kích động mà dẫn tới sự lệch chuẩn trong cách ứng
xử, trong đó có vi phạm pháp luật Sự đa dạng về thông tin, trong đó có cả những
Trang 23kinh nghiệm, thủ đoạn tinh vi của những kẻ vi phạm nhiều khi có tính chất lây lan như bệnh dịch… Trên thực tế đã xảy ra không phải là ít đã tác động rất xấu đến xã hội mà đặc biệt là lớp trẻ Do đó vấn đề kiểm soát thông tin và xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho NCTN là vấn đề hết sức quan trọng đối với Nhà nước
1.3.3 Yếu tố đạo đức, truyền thống lịch sử :
Đạo đức là tổng thể những quan niệm, quan điểm về cái tốt, cái xấu, về thiện,
ác, về bổn phận và trách nhiệm của con người, về công b ằng, danh dự… Nên nó khá gần gũi với pháp luật và liên quan mật thiết với cách ứng xử của con người Một khi đạo đức đã trở thành niềm tin nội tâm thì chúng sẽ trở thành cơ sở cho hành
vi của con người Đạo đức cũng có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực l ên hành vi của con người Hai chiều hướng tác động này được thấy khá rõ trong cách ứng xử của con người do cách mà người ta quan niệm về thiện, ác, về tốt xấu… Điều này còn có thể bị ảnh hưởng bởi cả đạo đức tôn giáo tr ong cách ứng xử của các tín đồ
Ví dụ như oán đền oá n, ân trả ân… P hần lớn những quan niệm đạo đức có tính tíc h cực khi tác động lên các hành vi pháp luật của NCTN Nhiều khi, pháp luật không
có hiệu lực, nhà nước mất uy tín trước xã hội thì đạo đức được coi như phương cách cuối cùng để duy trì trật tự xã hội, hạn chế những hành vi có hại và tất nhiên trong
đó có rất nhiều hành vi vi phạm pháp luật của NCTN Nhưng cũng không phải là đạo đức không có tác động tiêu cực đến các hành vi pháp luật thậm chí tiếp có cả sự thừa nhận đối với một số hàn h vi vi phạm Nhiều khi, nhà làm luật cũng bị các yếu
tố đạo đức và truyền thống lịch sử chi phối và vì vậy hành vi bị xác định là vi phạm pháp luật cũng bị ảnh hưởng mà ví dụ về hành vi tố giác tội phạm vì người thân, vì tình bạn mà nhiều trường hợp đã bao che, không tố giác hành vi vi phạm của người thân hay bạn mình là một ví dụ có tính chất điển hình Đạo đức và truyền thống lịch
sử còn có thể làm hình thành nên tâm lý pháp lý và quan điểm của nhà làm luật về cách phòng ngừa và các biện pháp xử lý đối với các vi phạm pháp luật của NCTN Nó cũng phần nào ảnh hưởng đến sự hạn chế hoặc gia tăng của vi phạm pháp luật của NCTN ở mỗi nhà nước, mỗi chế độ
1.3.4 M ột số nhân tố khác:
Trang 24Ngoài những yếu tố đã phân tích trên đây, vi phạm pháp luật của NCTN còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố khác mặc dù không lớn Những yếu tố đó có thể
là sự du nhập từ bên ngoài như sự du nhập của văn hóa, lối sống ngoại lai, cũng có thể là do khí chất của con người, c ũng có thể là do môi trường sống như gia đình, xã hội, ở nông thôn, thành thị, ở vùng dân cư tập trung hay những vùng xa xôi hẻo lánh cũng có thể do sự can thiệp, kiểm soát tình hình vi phạm của N hà nước đối với NCTN … Những yếu tố này cũng tham gia vào đặc điểm chung của bức tranh toàn cảnh về tình hình vi phạm pháp luật của NCTN ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ và có ảnh hưởng tới chính sách đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật của NCTN ở mỗi quốc gia
1.4 Nguyên tắc xử lý vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
Theo chuẩn mực quốc tế nguyên tắc không phân biệt đố i xử được khẳng định chắc chắn trong các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế liên quan đến tư pháp NCTN
và là một bộ phận quan trọng của hệ thống tư pháp NCTN trong đó trẻ em được tôn trọng
Điều 2 của CƯQT có quy định về nghĩa vụ của các quốc gia trong vấn đ ề không phân biệt đối xử:
1 Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong Công ước này đối với m ọi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ m à không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay
xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em hoặc cha
mẹ hay người giám hộ hợp pháp của trẻ em đó
2 Các quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ trước mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc trừng phạt với các lý do địa vị, hoạt động, những ý kiến phát biểu hoặc tín ngưỡng c ủa cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc những thành viên khác trong gia đình của trẻ em.[15]
Quy tắc số 2.1 trong quy tắc Bắc Kinh cũng đề cập đến ý nghĩa của việc không phân biệt đối xử trong hệ thống tư pháp NCTN:
2.1 Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu sau đây phải được áp dụng cho NCTN phạm tội một cách công bằng, không phân biệ t đối xử dưới bất cứ hình thức nào,
Trang 25như chủng tộc, m àu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, tình trạng khai sinh và tình trạng khác [16]
Các quy định này yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo v ệ mọi đối tượng NCTN khỏi bị phân biệt đối xử dưới mọi hình thức và đảm bảo rằng các nguyên tắc
và quy trình trong hệ thống tư pháp NCTN được áp dụng cho mọi đối tượng NCTN không phân biệt đối xử
Trong BLHS của Việt Nam có một quy định khẳng định sự bình đẳng của tất
cả mọi người trong hệ thống tư pháp
Điều 3 – Nguyên tắc xử lý
2 Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam,
nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.[20]
Ở đây có sự khác biệt giữa việc khẳng định sự bình đẳng trước pháp luật như
quy định tại Điều 3 của BLHS với việc bảo vệ các cá nhân không bị phân biệt đối
xử theo các chuẩn mực quốc tế Việc bảo vệ các cá nhân không bị phân biệt đối xử theo các chuẩn mực quốc tế trao cho các nhà nước trách nhiệ m lớn hơn để bảo đảm
họ bảo vệ các cá nhân, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thương, không bị phân biệt đối xử ở tất cả mọi điểm trong hệ thống Đặc biệt, các chuẩn mực quốc tế nhấn
mạnh rằng, tất cả những người chưa thành niên (chứ không phải những người phạm
tội như quy định tại Điều 3 của BLHS) cần được bảo vệ không bị phân biệt đối xử trong tất cả giai đoạn trong hệ thống Tuy nhiên, nhược điểm này đã được khắc
phục bởi nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật ”
quy định tại Điều 5 của BLTTHS [21], theo đó, tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam ,
nữ, tín ngưỡng, thành phần xã hội, địa vị xã hội bất cứ người nào phạm tội đều xử
lý theo pháp luật
Trang 26CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI C HƯA THÀNH NIÊN Ở NƯ ỚC TA HIỆN NAY 2.1 Thực trạng vi ph ạm ph áp lu ật của người chưa thành niên ở n ước ta tron g thời gian qua
2.1.1 N gười chưa thành niên vi phạm pháp luật có xu hướng tă ng cao
Trong nhữ ng năm gần đây, nhà nước ta có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và đạt được những bước tiến lớn Tuy nhiên, trên thực tế vẫn đang tồn tại một thực trạng đáng lo ngại là tình trạng vi phạm pháp luật nói chung
và tình trạng phạ m tội nói riêng ở NCTN có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về
số lượng lẫn tính chất nguy hiểm và diễn biến hết sức phức tạp, Số liệu (Biểu mẫu
1a,b, phần phụ lục)[7]
Nếu như những năm trước đây (từ năm 1999 đến năm 2001) số lượng NCTN vi phạm pháp luật có sự giả m nhẹ nhưng không đều, thì trong những năm gầ n đây số lượng NCTN vi phạm pháp luật ở nước ta có chiều hướng gia tăng cả về số lượng
và tính chất nguy hiểm khi phạm tội Theo thống kê của Cục cảnh sát hình sự thuộc
Bộ công an từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm 2012 số vụ phạm tội do người chưa thành niên gây ra là 41.498 vụ với 64.383 NCTN phạm tội Riêng năm 2008 cả nước xảy ra 10.492 vụ với 16.216 em, so với năm 2007 tăng 131 vụ = 1,2% Thì đến sáu tháng đầu năm 2012 cả nước phát hiện ra 4.503 vụ (tăng 140 vụ = 3,2% ) gồm 7224 đối tượng ( tăng 200 đối tượng = 2,7%) so với cùng kỳ năm 2011.Trong
đó số tội danh NCTN phạm tội gia tăng chủ yếu là giết người, trộm cắp tài sản, hiếp dâm…
Có thể thấy rằng trong những năm gần đây tình trạng NCTN vi phạm pháp luật có tính chất ngày càng nghiêm trọng và diễn biến hết sức phức tạp Phần lớn trẻ
em vi phạm pháp luật tập trung ở lứa tuổi 16 – 18 Đáng chú ý là NCTN phạm các tội như cướp của, cưỡng đoạt tài sản của công dân, hiếp dâm, giết người, sử dụ ng và mua bán trái phép chất ma túy… Ngày càng nhiề u Thực trạng trên đây đang là m ối
lo ngại của toàn xã hội và các bậc cha mẹ trong quản lý, giáo dục con cái
Trong năm 2010 cả nước phát hiện 8.430 vụ gồm 12.878 đối tượng, so với cùng kỳ năm 2009 giảm 1054 vụ (- 11,1%); trong đó nam có: 12,372 đối tượng (chiếm 96,1%) nữ 506 đối tượng (chiếm 3,9%) Địa phương để xảy ra nhiều vụ
Trang 27NCTN vi phạm pháp luật là: TPHCM 678 vụ, Quảng nam 395 vụ, Tây Ninh 311
vụ, Đ ồng tháp 296 vụ, Khánh Hòa 264 vụ …
Kết quả điều tra xử lý: Xử lý hình sự 3035 vụ (chiếm 36%), bắt xử lý 3978 đối tượng, xử lý hành chính: 5395 vụ (chiếm 64%) gồm 8900 em Trong đó giao cho gia đình quản lý giáo dục 2743 em; giáo dục tại xã phường 1326 em; lập hồ sơ đưa đi trường giáo dưỡng 957 em; các biện pháp khác 3874 em N hư vậy tình hình tội phạm NCTN vẫn diễn biến hết sức phức tạp, số vụ án do người chưa thành niên gây ra vẫn còn nhiều (chiếm khoảng 20% số vụ phạm pháp hình sự trong cả nước) các loại án giết người, cướp tài sản có số vụ tăng Tình trạng NCTN tụ tập thành các băng nhóm sử dụng hung khí như dao, lê, mã tấu… Gây ra các vụ án cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, cướp giật… Vẫn diễn biến phức tạp, nhiều vụ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.[7]
Tình trạng bạo lực học đường gia tăng, đặc biệt xuất hiện một số vụ việc do học sinh nữ mâu thuẫn với nhau đã lôi kéo bạn bè, đánh hội đồng, làm nhục bạn học, sau đó dùng điện thoại chụp ảnh, quay phim đưa lên mạng internet… Gây dư
luận xấu trong xã hội xảy ra ở một số địa phương , Số liệu (Biểu mẫu 2, phần phụ
lục )
Nhìn vào bảng trên cho thấy, phần lớn NCTN bị khởi tố trong năm 2004 –
2007 đều ở độ tuổi 16 – 18 một trong những nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do việc giới hạn tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS, theo đó, trẻ em ở độ tuổi 14 – 16 chỉ phải chịu trách nhiệ m hình sự nế u phạm những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Số liệu
(Biểu mẫu 3, phần phụ lục)[7]
Nhìn vào số liệu trên ta có thể nhận thấy rằng tính đến sáu th áng đầu năm
2012 tình hình tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên tăng 3,2% về số vụ, tăng 2,7% về số đối tượng vi phạm; số vụ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có chiều hướng gia tăng so với cùng kỳ năm 2011, các loại án cố ý gây thương tích, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng có số vụ tăng cao, tình trạng người chưa thành niên tụ tập thành băng nhóm sử dụng hung khí như dao, lê, mã tấu… Gây ra các vụ án cố ý gây thương tích, cướp giật Vẫn diễn biến phức tạp, nhiều vụ gây ra hậu quả
nghiêm trọng Số liệu, (Biểu mẫu 4, phần phụ lục)[7]
Trang 28Theo báo cáo của Bộ công an thì hàng năm có khoảng 12.000 đến 18.000 NCTN vi phạm phạm pháp luật, trong đó có khoảng 3000 đến 5000 NCTN bị khởi
tố hình sự
Riêng về lĩnh vực vi phạm pháp luật hình sự thì trong vòng 6 năm (từ 2001 đến 2006 ) có khoảng gần 17.000 N CTN phạm tội Số vụ NCTN phạm tội hàng năm chiếm khoảng 1/4 tổng số vụ phạm tội xảy ra và có xu hướng tăng dần, năm sau nhiều hơn nă m trước Năm 2007, toàn quốc có 10.361 vụ án NCTN phạ m tội, gồm 15.589 em, 6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 5.746 vụ với 9.000 em ( tăng 2%
số vụ) Tội danh trộm cắp tài sản chiếm 38%; cố ý gây thương tích chiếm 11% và đặc biệt là tội giết người chiếm 1,4% Trong đó, lứa tuổi phạm tội cao nhất từ 16 đến dưới 18 tuổi, chiếm khoảng 60%; từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là 32% Các vụ án
do NCTN thực hiện không chỉ xảy ra ở các thành phố, thị xã mà cả ở các xã, bản làng ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Tỷ lệ tái phạm ở NCTN cũng rất cao Theo số liệu cho thấy, hơn 35% NCTN vi phạm pháp luật có tái phạ m
Về thành phần N CTN vi phạm pháp luật, cũng theo báo cáo nói trên của Bộ Công an, số liệu năm 2006 cho biết số người dưới 14 tuổi vi phạm pháp luật chiếm 8,74%; số người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm 34,79%; số người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chiếm 56,47%; nữ chiếm 3%; số phạm tội lần đầu chiếm 68,13%; số phạm tội lần thứ hai trở lên chiếm 35.3%; số đã thôi học chiếm 42,21%;
số lang thang chiếm 5,22%; số đồng phạm với Bố, Mẹ chiếm 0,62%; số đồng phạm với người khác chiếm 27,68%; số không còn c ha mẹ chiếm 2,95%; số có bố, mẹ đã
ly hôn chiếm 2,06% (Theo số liệu báo cáo của Bộ công an năm 2008 báo cáo lần thứ 3 và thứ 4 – Việt Nam thực hiện công ước quyền trẻ em giai đoạn 2002 – 2007.)
Theo VKSNDTC trong bốn năm 2004 – 2007, Viện Kiểm sát đã xử lý 20.593 NCTN bị khởi tố, truy tố 19.199 người chiếm ( 93,1%), tỷ lệ đình chỉ tố tụng là 337 người (1.63%) trong đó có 196 được đình chỉ d o được miễm trách nhiệm hình sự Số bị can chưa thành niên bị viện kiểm sát truy tố và đưa ra xét xử ở tòa án sơ thẩm các cấp trong bốn năm 2004 – 2007 là 16.752 người
Theo VK SNDTC, loại vi phạm phổ biến nhất là tội xâm phạm tài sản, tiế p theo là tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và tội cố ý gây rối trật tự công cộng Trong số các tội xâ m phạm tài sản do NCTN thực hiện từ nă m 2004 đến 2007 thì c ó
Trang 29hai hình thức phổ biến nhất là “trộm” và “cướp”, mặc dù theo thống kê thì giá trị tài sản bị trộm hoặc cướp thường không lớn, do đó mức phạt tù thường không quá 5 năm Trong nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm con ngư ời do NCTN gây ra thì các tội cố ý gây thương tích, giết người và hiếp dâm trẻ em là ba loại tội chiếm tỷ lệ lớn nhất
Về cơ cấu tội phạm, theo thống kê mới nhất của VK SNDTC và Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, thì hành vi vi phạm pháp luật hình sự của NCTN tập trung nhiều nhất vào các nhóm tội xâm phạm sở hữu; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự con người, một số tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Trong đó tội danh trộm cắp tài sản chiếm 38% , cố ý gây thương tích chiếm 11%, đặc biệt là giết người chiế m 1,4% trong tổng số tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Về địa bàn hoạt động, các vụ vi phạm pháp luật và phạm tội do người chưa thành niên thực hiện không chỉ xảy ra ở các thành phố, thị xã mà còn xảy ra ở các vùng nông thôn, kể cả vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, ở những thành phố lớn thì tỷ lệ người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội chiếm
tỷ lệ cao hơn và có chiều hướng tăng nhanh hơn
2.1.2 Tính chất, mức đ ộ vi ph ạm ph áp lu ật của chư a thàn h niên n gày càng tinh vi, nghiêm trọng
Trong những năm gần đây, do sự phát triển rất nhanh của khoa học kỹ thuật, đồng thời sự bùng nổ internet cùng với đó là sự giao lưu và tăng trưởng kinh tế nên điều kiện cho khả năng vi phạm pháp luật của NCTN cũng tăng lên đột biến và gây khó khăn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, cho các hoạt động phát hiện, điều tra,
xử lý Phần lớn các đối tượng phạm tội không có tiền án, tiền sự, đang cắp sách đến trường nhưng hành vi phạm tội lại hết sức dã man, tàn bạo Các tội mà NCTN thực hiện có tính chất rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như: Giết người (trong đó
có cả con giết cha mẹ, cháu giết ông bà… ), cố ý gây thương tích, cướp giật có sử dụng vũ khí nóng, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, các tội về ma túy, hiếp dâm, phá hủy công trình, phương tiện qua n trọng về an ninh quốc gia… Ngày càng gia tăng Khuynh hướng sử dụng bạo lực và vũ khí để gây án thể hiện rất rõ Tính chất, mức độ vi phạm pháp luật, đặc biệt là phạm tội của NCTN ngày càng nghiêm trọng
và diễn biến hết sức phức tạp Theo báo cáo của Chính phủ, hàng năm có đến
Trang 3016.000- 18.000 trẻ em chưa thành niên phạm tội, chiế m 15-18% tội phạ m C hẳng hạn trong 5 năm (2007 – 2012), các lực lượng công an đã điều tra hơn 49.000 vụ phạm pháp hình sự với gần 76.000 đối tượng chưa thành niên phạm pháp Và chỉ riêng trong năm nay, trong số 122.277 bị can bị khởi tố có 9.904 bị can dưới 18 tuổi, chiếm 8,1% , tăng 7,4% so với năm 2011 Điều đặc biệt là hơn 65% vụ phạm pháp của người chưa thành niên có sử dụng vũ khí nóng hoặc hung khí và ngày càng có nhiều loại tội phạm kinh tế, nhất là tội phạm công nghệ cao Phương thức
và thủ đoạn của loại tội phạm này cũng hết sức nguy hiểm, tinh vi, nhiều vụ rất dã man và mất hết tính người Chẳng hạn, vụ thảm sát tại tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang mà hung thủ Lê Văn Luyện chưa đến 18 tuổi đã trở thành sự cảnh báo điển hình về sự gia tăng tỉ lệ phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên tại Việt Nam Nếu như những năm 2000 trở về trước NCTN thực hiện các hành vi trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích nhưng không gây nguy hại lớn, thì những năm gần đây tính chất và mức độ của tội phạm lại nguy hiểm hơn rất nhiều, vượt quá giới hạn của độ tuổi NCTN như: Hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức, có cơ cấu chặt chẽ Mặt khác tính chất của vụ việc do NCTN thực hiện ngày càng trở nên nguy hiểm thể hiện ở tính côn đồ, man dợ, trắng trợn trong hành vi, ở thái độ bất cần đời xem thường pháp luật và mọi giá trị đạo đức Theo Bộ công an năm 2010
số vụ phạ m pháp hình sự do NCTN gây ra có giảm so với năm 2009, nhưng mức độ phạm tội lại nguy hiểm hơn rất nhiều Trẻ vi phạm pháp luật là do các em chịu hoàn cảnh gia đình nghèo, có học vấn thấp, cha mẹ thiếu quan tâm, bạo hành gia đình, thiếu khả năng chịu đựng để vượt qua vấn đề của mình, bị bạn b è lôi kéo xúi giục
Thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao s áng ngày 13/8/2012 vừa qua, Công an tỉnh Thanh Hóa đã điều tra, làm rõ và bắt giữ đối tượng Lê Tuấn Anh (chưa đầy 17 tuổi, ở xã Quảng Châu, huyện Q uảng Xương, Thanh Hóa) - kẻ sát hại nữ sinh Nguyễn T hị Bích N xảy ra vào hôm 11/8 Thi thể nạn nhân được tìm thấy trong tình trạng lõa thể và trôi nổi trên sông Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, nạn nhân đã bị hung thủ giết, hiếp dã man rồi dìm xác xuống sông Vụ án mạng xảy ra đã gây tâm lý hoang mang, căm phẫn đối với kẻ
Trang 31gây án trong dư luận địa phương và nhân dân cả nước Đặc biệt, điều đáng nói là sau khi bị bắt về cơ quan cảnh sát điều tra, sát thủ tuổi teen Lê Tuấn Anh vẫn không
hề tỏ ra sợ hãi hay ân hận, mà hắn đã thản nhiên khai nhận toàn bộ hành vi máu lạnh của mình, cũng như tỉnh bơ lý luận rằng: “ Cháu có họ hàng với anh Lê Văn Luyện nên cháu phải làm một điều gì đó giống anh ấy”(?!) Từ những vụ án điển hình trên nhiều người không khỏi giật mình khi trong thời gian qua số vụ án do người chưa thành niên thực hiện không chỉ tăng về số vụ mà còn tăng c ả về tính chất nguy hiểm Từ những vụ giết người, buôn bán người, cướp tài sản, lừa đảo, buôn bán chất ma túy Tất cả đều có bóng dáng của những em còn đang trong độ tuổi cắp sách đến trường
2.1.3 T ính đa dạn g vi phạm ph áp lu ật của n gười chư a thành niên thực hiện
Nên kinh tế thị trường với cơ chế thông thoáng đã tạo điều kiện cho giao lưu phát triển kinh tế, nhưng cũng chính là cơ hội cho lối sống hưởng thụ, cách sinh hoạt vốn xa lạ với đại bộ phận người dân có dịp len lỏi phát triển và theo đó các hành vi vi phạm phá p cũng phát triển theo không ngừng M ột bộ phận NCTN bị lôi kéo, dụ dỗ làm tay sai đắc lực cho hành vi vi phạm của người lớn như: tham gia vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, đặc biệt một bộ phận trẻ em bị lợi dụng để vân chuyển trái phép chất ma túy hay tham gia vào các hoạt động của các băng nhóm tội phạm… Mặt khác bản thân các em đã học được những kinh nghiệm khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật các hành vi này đã thể hiện tính có tổ chức và chuyên nghiệp của NCTN
Các hành vi vi phạm phá p luật của NCTN tập tru ng nhiều nhất với diễn biế n phức tạp và đáng báo động ở một số lĩnh vực:
- Trong lĩnh vực sở hữu tài sản
Đây là nhóm hành vi vi phạm pháp luật do N CTN thực hiện có số lượng nhiều nhất Trong nhóm này, những đối tượng từ 16 tuổi trở xuống, chủ yếu thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, cưỡng đoạt tài sản (trấn lột), cố ý gây thương tích, chỉ có một số rất nhỏ các đối tượng ở lứa tuổi này có những hành vi như cướp tào sản, cướp giật, giết người… Ngược lại, các đối tượng từ 16 đến dưới
18 tuổi thì hành vi vi phạm bao gồm cả trộm cắp, lừa đảo, cướp, cướp giật, cưỡng
Trang 32đoạt tài sản, giết người và hành vi của các đối tượng này có mức độ nguy hiểm cho
xã hội cao hơn so với hành vi của các đối tượng dưới 16 tuổi, phần lớn hàn h vi vi phạm của các đối tượng này đã cấu thành tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự Đáng lo ngại nhất là trong các vụ gây rối này có nhiều loại hung khí, vũ khí có khả năng gây thương tích cao được sử dụng
Theo số liệu thống kê của cục cảnh sát điề u tra tội phạm về trật tự xã hội (Bộ công an) thì năm 2001 có 11.376 NCTN vi phạm pháp luật, trong đó 48,99% là trộm cắp, 4,29% là tội cướp, 0,76% giết người, 11,4 % là cố ý gây thương tích, Nhưng đế n nă m 2008, số N CTN vi phạm pháp luật đã tăng lên thàn h 17.138 em , trong đó chiếm đa số vẫn là tội trộm cắp ( chiếm 34%), 4,5% là giết người, cướp và
cướp giật chiếm 13,6 % (chỉ tiêu trẻ em Việt Nam, 2008 – 2009) Còn thống kê từ
hội thảo về chương trình hành động Quốc Gia vì trẻ em giai đoạn 2011 – 2020, do
Bộ lao động – Thương binh xã hội tổ chức tại Đà Nẵng (diễn ra từ 16 đến 18/8/2011) cho thấy chỉ trong sáu tháng năm 2010 đã có gần 60 vụ giết người và hơn 200 vụ cướp do trẻ em gây ra Trong 3 tháng đầu năm 2011 trên phạm vi cả nước, các băng nhóm vị thành niên sử dụng vũ khí gây ra 107 vụ xô xát, tăng 51 vụ
so với cùng kỳ năm 2010, chiếm 34% so với tổng số vụ phạm pháp xảy ra trên cả nước
Các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xâm phạm sở hữu, an ninh trật
tự, vừa thể hiện tính dễ bị lôi kéo, kích động của NCTN, đồng thời cũng là hồi chuông báo động về một bộ phận NCTN sớm thể hiện thói côn đồ, liều lĩnh, coi thường trật tự kỷ cương, pháp luật cần phải lên án và có giải pháp khắc phục
- Trong lĩnh vực học đường
Hiện nay tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, phạm tội, bạo lực và bỏ học trong một bộ phận học sinh diễn ra gây bức xúc trong dư luận xã hội, lo lắng trong mỗi bậc phụ huynh và là điều trăn trở của nghành giáo dục hiện nay
Biểu hiện đầu tiên về sự lệch lạc đạo đức, lối sống đán g lo ngại trong học sinh phổ thông hiện nay là sự thiếu tôn trọng thầy, cô giáo, coi thường kỷ luật của nhà trường Số liệu từ một cuộc điều tra của vụ trưởng vụ công tác học sinh, sinh viên, Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2010, qua cuộc điều tra 500 học sinh THCS ở quận 6 thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, 32,2% học sinh có thái độ vô lễ với thầy,
Trang 33cô giáo, nhiề u em chỉ chào thầy, cô khi ở trong sân trường, khi ra khỏi trường thì coi như không quen biết; 38% học sinh thường xuyên nói tục… H ưởng ứng cuộc
vận động “Hai không” là khâu đột phá về giáo dục phổ thông và mần non giai đoạn
2006 – 2010 Q ua 4 năm triển khai, trật tự kỷ cương trong thi cử đã tiế n bộ rõ rệt, đặc biệt là thi tốt nghiệp THPT: Số thí sinh bị đình chỉ thi năm 2007 là 2.612 em thì năm 2008 chỉ còn 833 em; năm 2009 là 299 em và năm 2010 chỉ còn 90 em, giảm gần 97% so với năm 2007 Một kết quả nữa của Viên n ghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam năm 2010 cho thấy, tỷ lệ học sinh nói dối cha mẹ ở bậc tiểu học là 22% THCS là 50%, THPT là 64%; còn t ỷ lệ học sinh đi học muộn ở bậc tiểu học là 20%, THCS là 21%, THPT là 58% Cũng theo khảo sát nà y tỷ lệ quay cóp bài ở tiể u học là 8%, THCS là 55%, THPT là 60%
Theo đánh giá của công an thành phố Hà Nội cho thấy tình trạng vi phạm pháp luật nói chung và phạm tội nói riêng trong học sinh trên địa bàn thành phố ngày càng gia tăng cả về số vụ việc phạm tội và mức độ nghiêm trọng Từ năm
2008 đến nay (11/2011) trên địa bàn thành phố Hà Nội đã phát hiện, xử lý 968 đối tượng trong lứa tuổi còn ngồi trên ghế nhà trường phạm tội Riêng năm 2011 đã phát hiện, xử lý 110 đối tượng vi phạm pháp luật hình sự Đặc biệt, số vụ vi phạm pháp luật của học sinh trên 16 tuổi tăng cao về số lượng và mức độ nguy hiểm của hành vi
Hiện nay vấn đề bạo lực học đường đang bùng phá t và gia tăng đến mức báo động cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Các vụ bạo lực học đường không chỉ
là đấm đá, giật áo, túm tóc mà giờ đây là hiện tượng lột đồ, cắt tóc, rạch má thậm
chí đâm chém… Theo số liệu được đưa ra tại “Hội thảo giải pháp phòng ngừa từ xa
và ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau” do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức
ngày 28/07/2010 thì trong khoảng từ năm 2009 đến ngày diễn ra hội thảo, các trường trên toàn quốc đã xử lý kỷ luật, khiển trách gần 900 học sinh, buộc thôi học hơn 730 học sinh và cảnh cáo gần 1.600 học sinh do tham gia vào các vụ đánh nhau trong và ngoài trường Riêng năm 2009 – 2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người Tại thành phố Hà Nội từ năm 2010 – 11/2011 đã sảy ra 42 vụ học sinh tụ tập đánh nhau gây hậu quả nghiêm trọng (trong đó có 2 vụ giết người) Nguyên nhân chỉ vì những mâu thuẫn rất nhỏ trong sinh hoạt và học tập
Trang 34Đáng chú ý, có nhiều vụ học sinh nữ đánh nhau hội đồng, lột quần áo, dùng điện thoại ghi hình rồi phát tán lên mạng internet ngày càng diễn biến phức tạp gây tâm lý hoang mang, lo ngại cho cha mẹ học sinh, gây bức xúc trong dư luận xã hội Thời điểm nở rộ sự xuất hiện các clip nữ sinh đánh nhau là 4 tháng cuối năm 2011 Chỉ thống kê sơ bộ, trong tháng 9/2011, có 3 clip, tháng 10 có 4 clip nữ sinh đánh bạn được tung lên mạng, tháng 11 – 12/2011 cũng có ít nhất 3 clip M ột trong những vụ nữ sinh ẩu đả gây xôn xao dư luận là clip nữ sinh Hà Nội ẩu đả tại cầu thang bộ tòa nhà Vincom (phố Bà triệu – Hà Nội) Đoạn clip ghi lại hình ảnh hai nữ sinh thay nhau tát, đạp vào lưng, bụng, ngực một bạn gái Xen kẽ các hành động đánh đấm là những câu lăng mạ, chửi tục Thậm chí nữ sinh bị đánh trong clip liên
tục bị bắt đứng lên, quỳ xuống, ngẩng cao mặt để đối phương “ xử lý” Một điều
khiến dư luận lên án và lo ngại nữa trong các lip bạo lực học đường là thái độ thờ ơ, lãnh cảm của những học sinh khi chứng kiến vụ việc Cho dù nhìn thấy bạn bị đánh hoặc bạn có hành vi đánh người sai trái nhưng nhữ ng cô cậu áo trắng này vẫn dửng dưng như không có chuyện gì xảy ra, thậm chí còn reo hò, cổ vũ, chụp ảnh, quay phim
Như vậy, sự xuống cấp trong đạo đức, lối sống ở lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt là của các em học sinh trong thời gian qua, một lần nữa cho thấy vấn đề lệch chuẩn trong giao tiếp, ứng xử xuất hiện ngày càng nhiều và đáng báo động hiện nay Đây cũng là một trong nhữ ng nguyên nhân góp phần dẫn đến tình trạng NCTN vi phạm pháp luật trong thời gian qua
- Trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông
Theo Bộ công an, tình trạng học sinh vi phạm Luật giao thông đường bộ vẫn
có chiều hướng gia tăng Thống kê chưa đầy đủ của Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội trong Tháng “an toàn giao thông” 2009 cho thấy đơn vị này đã xử lý hơn 600 trường hợp vi phạm là học sinh các trường phổ thông Tại Đà Nẵng, trong 5 năm (2003-2008) thực hiện quy chế phối hợp trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự và quản lý học sinh, cảnh sát giao thông đã xử lý gần 2.000 trường hợp Điều này cho thấy, con số học sinh vi phạm trật tự giao thông đường bộ là tình trạng khá phổ biến Gần đây, Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt của Bộ Công an đã cử
tổ công tác tiến hành ghi hình học sinh vi phạm tại một số trường học ở Hà Nội
Trang 35Qua hình ảnh được ghi lại cho thấy chỉ khoảng 1 giờ đồng hồ tại cổng trường học nhưng có hàng chục trường hợp học sinh vi phạm các quy định về an toàn giao thông
Các lỗi học sinh thường vi phạm là đi mô tô, xe gắn máy khi chưa đủ tuổi, không có giấy phép lái xe, vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm… Ngoài ra, khi tham gia giao thông trên đường, văn hóa giao thông còn bị học sinh vi phạm một cách rất “hồn nhiên” như hành vi bóp còi inh ỏi, lắp thêm còi vượt tiêu chuẩn, gần đây là một số thanh thiếu niên đi xe đạp lắp thêm các loa phát nhạc ầm ĩ trên đường, nói tục, chửi bậy… Không chỉ với những biểu hiện thiếu văn hóa mà gần đây còn xuất hiện hiện tượng học sinh chống lại lực lượng làm nhiệm vụ Một vấn đề khác vẫn còn xảy ra liên quan chủ yếu đến học sinh gây bức xúc trong xã hội
đó là tình trạng đua xe trái phép Trong năm 2008 đã có 991 vụ tụ tập gây rối trật tự công cộng tại các địa phương như Hà Nội, TPHCM, Hưng Yên… Năm 2009, tình trạng này có giảm nhưng vẫn xảy ra tại các thành phố lớn Riêng TPHCM trong 6 tháng đầu năm nay đã xảy ra 23 vụ tụ tập đi xe mô tô phóng nhanh, lạng lách gây mất trật tự công cộng
Thống kê của Bộ Công an cho thấy, trong tổng số 10.140 vụ tai nạn giao thông thì có 3.720 vụ liên quan đến đối tượng dưới 24 tuổi và có đến 5.526 nạn nhân dưới 24 tuổi bị chết trong các vụ tai nạn giao thông Còn theo số liệu từ phòng cảnh sát giao thông công an thành phố Hà Nội cho biết tình hình học sinh vi phạm luật giao thông trên địa bàn 10 quận nội thành năm 2011 như sau: Khảo sát bình quân mỗi trường có trên 40 học sinh điều khiển xe m ô tô đi học hàng ngày phần lớn không có giấy phép lái xe; khoả ng trên dưới 5.000 học sinh hàng ngày điề u khiể n
xe mô tô tham gia giao thông vi phạm trật tự an toàn giao thông với các lỗi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe; không đội mũ bảo hiểm; chở quá số người quy định; vượt đèn đỏ, lạng lách, đánh võng, đi vào đường cấm, đường ngược chiều; tạm giữ gần 1.500 xe máy và hơn 600 bộ giấy tờ các loại Đáng lưu ý, trong số các trường hợp vi phạm này thì có đến hơn 70% là thanh thiếu niên và học sinh phổ thông Trước nhưng hành vi vi phạ m này, học sinh thường dùng nhiều hình thức để trốn tránh cảnh sát giao thông và lực lượng chức năng xử lý vi phạm như: khi phát hiện học sinh vi phạm cảnh sát giao thông ra tín hiệu dừng xe thì số
Trang 36học sinh này thường quay đầu xe hoặc rẽ vào ngõ nhỏ, đi và o đường ngược chiều,
né tránh sau các phương tiện khác, tăng tốc vượt lên để tránh lực lương chức năng Đây là mối lo lắng của toàn xã hội
Một vấn đề cũng đang gây sự chú ý và bị lên án rất nhiều đó là tình trạng đua
xe của giới trẻ đang phổ biến trên các đường phố Đây là các em học sinh đua đòi
với bản tính “còn nhà giàu” cùng với sự rủ rê của bạn bè, họ sẵn sàng đánh cược
với tính mạng của mình Nhìn những chiếc xe SH, @ , Dylan Phi như bay trên những con đường lớn khiến chúng ta không khỏi xót xa cho họ K hi các gia đình cho phép con em mình quản lý và sử dụng xe gắn máy đi học cũng chính là đã tạo
điều kiện thuận lợi cho một bộ phận không nhỏ học sinh đua nhau “ xính” đi xe gắn
máy đến trường và thể hiện tính cách khác người với bạn bè
- Tham gia vào các tệ nạn: cờ bạc, m a túy, m ại dâm
Hiện nay, tình trạng NCTN vi phạm pháp luật gắn liên với sự gia tăng số NCTN tham gia vào các tệ nạn xã hội như: ma túy, mại dâm… Chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Ma túy, mại dâm là những con đường ngắn nhấ t để đi tới bệnh
đại dịch thế kỷ HIV/AIDS Số liệu (Biểu mẫu 5,phần phụ lục)
Theo số liệu của cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ lao động – thương binh
và xã hội cho thấy số người nghiện ma túy trong cả nước đã tăng lên không ngừng với xu hướng ngày càng trẻ hóa Trong 10 năm trở lại đây ở Việt Nam có khoảng 10 vạn người nghiện ma tuý Trong hồ sơ quản lý trên 70% số người nghiện dưới 30 tuổi, khoảng 5% tổng số người sử dụng ma túy ở tuổi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) đặc biệt trong đó có khoảng 50% tổng số người nghiện là trẻ em (dưới 16 tuổi) nghiên cứu trực tiếp số đối tượng đang sử dụng ma túy ở lứa tuổi chưa thành niên cho thấy: bạn bè rủ rê là 75%; chủ động xin hút thử là: 12,5%; tò mò mua hút 8,3% ,
cá độ được thua là 4,2% Trong đó người tham gia rủ hút hít 100% đã sử dụng ma túy từ trước Qua kết quả phân tích các hoạt động khác có liên quan đến ma túy của trẻ em trên địa bàn thành phố Hà N ội, qua sự cung cấp của Công an cơ sở ta thấy các hoạt động phạm pháp của các em chủ yếu là: T ổ chức sử dụng, mu a bán, tàng trữ, vận chuyển ma tuý là 50%, xâm phạm sở hữu tài sản chiếm 42,9%, trong đó trộm cắp là 34,1%, cướp là 4,8% , cưỡng đoạt 1,6%; tệ nạn tín nhiệm là 1,6%; lừa
Trang 37đảo là 0,8%, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người chiếm tỷ lệ 4%, xâm phạm trật tự công cộng chiếm tỷ lệ 3,1%
Đặc biệt hiện nay, tệ nạn ma túy học đường vẫn đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Trong những năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm nhưng tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội đặc biệt là tệ nạn mại dâm, ma túy vẫn diễn biến vô cùng phức tạp, với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình
Chỉ tính riêng nă m 2010, cá c lực lượng chức năng đã phát hiệ n, bắt giữ gầ n 12.300 vụ với trên 17.500 đối tượng phạm tội về ma túy trong đó hơn 70% số vụ là
do người trong độ tuổi thanh thiếu niên thực hiện Đ ó là một con số đáng báo động đòi hỏi tất cả cộng đồng cần phải đoàn kết đấ u tranh phòng ngừa tội phạm, Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm là nguyên nhân của đại dịch HIV/AIDS đã và đang làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống Chúng xâm nhập vào học đường vào những đối tượng thanh thiếu niên thiếu bản lĩnh và kiến thức tự bảo vệ, những học sinh đua đòi, ăn chơi chạy theo lối sống gấp và sành điệu Nhưng khi thả mình trong sự mê hoặc của nàng tiên nâu họ đâu biết rằng tử thần đang rình rập Ma túy
là hố đen khổng lồ nuốt gọn tương lai, hoài bão, sức khỏe và đạo đức của t uổi trẻ Theo điều tra của liên ngành Giáo dục - Công an về tình trạng HSSV vi phạm tệ nạn
ma tuý thì, năm 2002 cả nước có gần 1.200 HSSV vi phạm tệ nạn ma tuý, đến năm
2008, tình trạng này đã giảm đáng kể, chỉ còn 276 em nghiện ma tuý Mặc dù tình trạng nghiện ma tuý trong HSSV đã giảm đáng kể nhưng theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong thời gian gần đây tình trạng HSSV tham gia sử dụng thuốc lắc, cần sa Lại đang có dấu hiệu gia tăng với chiều hướng ngày càng phức tạp Tại nhiều địa phương, cơ quan công an đã phát hiện học sinh trồng cây cần sa ngay tại nhà để sử dụng, ở nhiều tụ điểm ma tuý có đông đối tượng vi phạm là HSSV Thông thường các đối tượng này hay tụ tập thành từng nhóm ở bất cứ nơi nào có thể
để sử dụng thuốc lắc, hút cần sa Nhiều đối tượng đã bị lôi kéo tham gia trực tiếp buôn bán ma tuý trong các đường dây buôn bán ma tuý lớn, nhỏ ở khắp các tỉnh thành Bất kể là hành vi vi phạm gì đều thể hiện tính liều lĩnh, bất chấp tất cả để có tiền mua ma túy sử dụng
Trang 38Theo Bộ lao động - thương binh và xã hội, trong năm 2007 có 3.800 trẻ em
sử dụng ma túy Năm 2011, hoạt động của tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã được kiềm chế song vẫn tiềm ẩn và diễn biến phức tạp Điển hình như vụ triệt phá 2 tụ điểm chứa chấp, tổ chức trái phép chất ma túy tại 2 quán cà phê lớn tại
Hà Nội, tạm giữ 90 đối tượng, trong đó có nhiều học sinh Tỷ lệ trẻ vị thành niên trên cả nước hư hỏng ăn chơi, lêu lổng rồi dẫn đến phạm tội ngày một đông
Một trong những tệ nạn xã hội khác cũng đáng lo ngại, đó là ngày càng có nhiều NCTN bị lôi kéo vào tệ nạn mại dâm Theo thống kê của cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ lao động – thương binh xã hội đến tháng 12/2000 số gái mại dâm thường xuyên có hồ sơ quản lý là 14.032 người, kể cả số không thường xuyên là 42.400 người, trong đó N CTN chiếm 13,5% (riêng tại thành phố Hồ C hí M inh tỷ lệ này là 18,4% ) Điều đáng nói là mại dâm trẻ em liên tục tăng trong những năm gầ n đây Đáng báo động là tình trạng trẻ hóa các đối tượng tham gia hoạt động mại dâm, phổ biến là đối tượng quản lý, dẫn dắt và gái mại dâm chủ yếu ở độ tuổi 9X Một số người mẫu, ca sỹ, diễn viên, sinh viên, học sinh cũng tham gia bán dâm Ngoài ra là việc hình thành nên các đường dây bán dâm theo dạng “hợp đồng”, tức là gái mại dâm có học thức, ngoại hình đẹp, biết ngoại giao sẽ ký hợp đồng lao động trá hình với các “đại gia” là các giám đốc công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp dưới chức danh
“thư ký, trợ lý” ngắn hạn để hợp pháp hóa việc “tháp tùng” sếp đi công tác trong và ngoài nước nhưng thực chất đây là các hợp đồng mua - bán dâm Đã hình thành các đường dây đưa phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài bán dâm và có dấu hiệu đưa gái mại dâm nước ngoài vào Việt Nam bán dâm qua con đường du lịch Điển hình gần đây nhất là ngày 20-5, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C45 Bộ Công an) thông báo đã phá hàng loạt chuyên án mua bán người từ Việt Nam đưa sang nước ngoài làm gái mại dâm Trong số này, đáng chú ý là vụ lừa đưa thôn nữ từ Tây Ninh và các tỉnh phía Nam sang Singapore ép làm gái mại dâm Các trinh sát đã phối hợp với Văn phòng Interpol, công an 13 tỉnh, thành phố Đã lần ra đường dây bán người sang Singapore với sự tham gia của rất nhiều đầu mối
Với độ tuổi của NCTN khi tham gia vào các tệ nạn xã hội mại dâm, các bé gái chưa nhận thức được đầy đủ rằng mình trở thành hàng bán, mua trong tay các chủ chứa, bị lợi dụng về thể xác, bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, đằng sau mại
Trang 39dâm còn là ma túy, là HIV/AIDS Nhưng số tiền kiếm được từ mại dâm các em lại
tiêu xài hết cho những thú chơi “thời thượng ” như ma túy, chát, mua sắm quần áo,
điện thoại di động đắt tiền
2.1.4 Người chư a thành niên vi phạm ph áp lu ật đang c ó xu h ướng trẻ hóa, lan rộng và tổ chức thành b ăng, nhóm
Theo thông tin từ Công an thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2004 đến nay, tại thành phố những bă ng nhóm tội phạm là NCTN có xu hướng trẻ hóa và ngày m ột tăng Hiện tượng các cô cậu tuổi teen kết thành băng nhóm, đua nhau bỏ nhà đi lang
thang đã trở thành một trào lưu Đó như là một cách để tuổi mới lớn thể hiện” bản
lĩnh”, chứng tỏ độ “sương gió”của mình Trong 5 năm, từ năm 2004 – 2008, trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 809 băng nhóm phạm tội là NCTN, trong đó có 3.307 đối tượng đã triệt phá Tính đến năm 2008, PC 13 Công an thành phố Hồ Chí Minh báo cáo: có 1.558 đối tượng là NCTN (1.467 nam, 91 nữ) có hành vi vi phạm pháp luật Ngoài ra, PC13 cũng xác định, có 879 đối tượng (691 nam, 188 nữ) bỏ học đi bụi và chỉ trong nửa năm từ ngày 1/6 – 31/12/2008, PC14 đã bắt, xử lý 430
vụ với 713 đối tượng, có mặt ở hầu hết các tội danh từ giết ng ười, cướp, trộm cắp đến cờ bạc Bên cạnh đó, PC14 tiến hành rà soát, kết quả có 158 băng nhóm tội phạm do N CTN cầm đầu, với 526 đối tượng tham gia Trước những con số báo động trên các biện pháp xử lý chủ yếu vẫn là giáo dục, răn đe (365 đối tượng), xử phạt hành chính ( 853 đối tượng), xử lý hình sự (204 đối tượng ), đưa đi trường giáo dưỡng (59 đối tượng), giao cho gia đình quản lý, giáo dục 124 đối tượng
Trong khi đó, tỷ lệ NCTN vi phạm pháp luật và tái phạm cao, khoảng 35% tập trung tại các thành phố lớn, chủ yếu là tội xâm phạm sở hữu tài sản, tính mạng, sức khỏe, ma túy Theo số liệu thống kê của cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự
xã hội ( Bộ công an ) thì trong 5 năm (2000 - 2005) đã phát hiện 47.000 vụ phạm pháp hình sự do 64.500 em ở độ tuổi vị thành niên gây ra Năm 2006, đối tượng phạm tội ở độ tuổi dưới 14 tuổi có 7.000 vụ (chiếm 70%) tội phạm vị thành niên Năm 2007, số vụ phạm pháp hình sự do N CTN gây ra tuy có giảm 1% so với năm
2006 nhưng mức độ phạm tội nghiêm trọng hơn nhiều Báo động hơn là NCTN có
xu hướng hình thành băng ổ nhóm phạm tội có tổ chức, có tính toán kỹ về phương thức, thủ đoạn hoạt động Những đối tượng này ham thích cái mới lạ, muốn thể hiện
Trang 40mình, thích phư u lưu nhưng lại nông nổi, lôi kéo, nhận thức pháp luật kém nên nhiều khi vi phạm pháp luật mà không biết Phần lớn có trình độ văn hóa thấp (97% học dưới lớp 6, trong đó có 5,4% mù chữ), chơi bời, lêu lổng và sớm nhiễm những thói xấu như nghiện thuốc lá, uống rượu, nghiện ma túy, thích xem phim kích động tình dục, bạo lực, nghiện game…
Về độ tuổi, đáng lo ngại là theo thống kê của Cục cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội thì tình hình tội phạm do NCTN thực hiện có xu hướng ngày càng trẻ hóa: từ đủ 16 – dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60%; từ đủ 14 tuổi – dưới 16 tuổi chiếm khoảng 32 %
và dưới 14 tuổi chiếm khoảng 8% trong tổng số các tội do NCTN và trẻ em thực hiện Theo thống kê của cục cảnh sát phòng chống tôi phạm sáu tháng đầu năm
2012 tội phạm dưới 14 tuổi: 487 đối tượng (chiếm 6,7%) từ 14 đến 16 tuổi: 2174 đối tượng (29,7%), từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: 4563 đối tượng (chiếm 63,6%) [7]
Về cơ cấu tội phạm, theo thống kê mới nhất của VKSND tối cao và cục cảnh
sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, thì các hành vi vi phạm pháp luật hình sự của NCTN tập trung nhiều nhất vào các nhóm tội phạm sở hữ u; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự con người, một số tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, cướp của, giết người, vận chuyển ma túy… Trong đó tội danh trộm cắp tài sản chiếm 38%, cố ý gây thương tích chiếm 11% đặc biệt là giết người chiếm 1,4% trong tổng số tội phạm do NCTN thực hiện
Cơ cấu về địa bàn hoạt động cũng là vấn đề cần quan tâm, các vụ vi phạm
pháp luật do NCTN thực hiện không chỉ xảy ra ở các thành phố, thị xã mà còn xảy
ra ở các vùng nông thôn, kể cả vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, ở các thành phố lớn nơi kinh tế phát triển mạnh thu hút nhiều lực lượng lao động, nhiều thành phần xã hội sinh sống thì ty lệ NCTN vi phạm pháp luật chiếm tỷ lệ cao hơn và có chiều hướng ra tăng nhanh hơn (chiếm 70%)
Từ thực trạng nêu trên, chúng ta có thể thấy trong những năm gần đây, số vụ
và số lượng NCTN vi phạm pháp luật có chiều hướng ngày càng gia tăng Tính chất, mức độ vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm hình sự do NCTN thực hiện ngày càng nghiêm trọng Thực trạng trên đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, đòi hỏi các gia đình, các cấp, các ngành chức năng cần đưa ra những giải pháp hữ u hiệu