Mục đích, nhiệm vụ của luận vănLuận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý, phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội, trên cơ sở đó đánh giá những việc đã làm được, n
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU
NHÀ NƯỚC VÀ PHẤP LUẬT
HOÀN THIỆN QUY CHẾ HOẠT ]
CUA BẠI BIỂU QUỐC HỘI• 9
\ \ _
ứ j N VÀN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NẰM 2003
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN ĐÌNH QUYỂN
HOÀN THIỆN QUY CHÊ HỌAT ĐỘNG
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Chuyên ngành: Luật Nhà nước-Hành chính
Trang 31.2 Khái niệm , đặc điểm và các nguyên tắc cơ bản về quy chế họat 10
động của đại biểu Quốc hội
1.2.2 Về quy chế họat động của đại biểu Quốc hội 17
CHƯƠNG2 THỰC TRẠNG QUY CHẾ HỌAT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 3 0
2.1 K hái quát quá trình hình thành, phát triển và thực tiễn thực 30
hiện quy chế họat động của đại biểu Quốc hội
2.2 Quy chế họat động của đại biểu Quốc hội hiện hành (5 ^ )2.3 Thực tiễn thực hiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội 46
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY CHẾ HỌAT ĐỘNG 5 9
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
3.1 Yêu cầu khách quan hoàn thiện quy chế họat động của đại biểu 59
Quốc hội
3.2 Quan điểm chỉ đạo việc hoàn thiện quy chế họat động của đại 62
biểu Quốc hội
3.3 Phương hướng hoàn thiện quy chế họat động của đại biểu Quốc hội (64)3.3.1 Về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội 643.3.2 Về chế độ họat động của đại biểu Quốc hội 73
Trang 43.3.3 Tiếp tục đổi mới cơ chế đề cử và hiệp thương nhằm nâng cao 82
chất lượng đại biểu Quốc hội
3.3.4 Về các biện pháp bảo đảm họat động của đại biểu Q uốc hội (89,
Trang 5MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội có vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Quốc hội là bộ phận cấu thành cơ bản không những của bộ máy nhà nước mà còn của cả hệ thống chính trị; nơi thể hiện tập trung, thống nhất quyền lực nhà nước với các chức năng cơ bản lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cùng với công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội là yêu cầu bức xúc đang được đặt ra Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với sự đổi mới của hệ thống chính trị, tổ chức và hoạt động của Quốc hội từng bước được kiện toàn
và đổi mới, nhất là từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII đến nay Quốc hội ngày càng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoạt động của Quốc hội còn có những hạn chế, chưa đáp ứng được việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mói Những hạn chế này không chỉ bắt nguồn từ cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội mà còn có nguyên nhân nội tại từ chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đại biểu Quốc hội
Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội thì một trong những giải pháp quan trọng đầu tiên mang tính quyết định là phải nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hộụ Nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn hoạt động của đại biểu Quốc hội trong tình hình mới của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó cần phân tích, làm rõ vị trí, vai
Trang 6trò, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, mối quan hệ trong cơ cấu của Quốc hội Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội, tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình là một vấn đề có tính bức thiết và thòi sự trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt lý luận, mặc dù Quốc hội nước ta đã trải qua XI khoá và đã ban hành được
04 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992) nhưng thực chất đổi mới hoạt động của Quốc hội, đại biểu Quốc hội mới đặt ra từ sau Hiến pháp năm 1992, thực
tế cho thấy rất nhiều vấn đề mói về hoạt động của đại biểu Quốc hội cần được luận bàn trên cơ sở những lý luận cơ bản về nhà nước, về hệ thống chính trị Chẳng hạn như cần phải tiếp tục làm rõ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất mà thể hiện cao nhất ở Quốc hội với việc Quốc hội chuyển dần sang hoạt động chuyên trách, không nên có nhiều đại biểu Quốc hội là cán
bộ chủ chốt trong các cơ quan hành pháp và tư pháp; vấn đề đại biểu Quốc hội hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm và hoạt động theo chế độ chuyên trách; tính quyền lực nhà nước trong hoạt động của đại biểu; mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, nhân dân cả nước và mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các nhánh quyền lực khác của Nhà nước: hành pháp, tư pháp
Về mặt thực tiễn, việc xây dựng tổ chức và đổi mói phương thức hoạt động của Quốc
hội theo Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) được quán triệt theo hướng tiếp tục nâng cao vị trí của Quốc hội, kiên quyết khắc phục tính hình thức trong hoạt động của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội, đại biểu Quốc hội thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn đã được Hiến pháp và pháp luật quy định
Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Quốc hội tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện chế độ đại biểu hoạt động chuyên trách và kiêm nhiệm Việc giảm số lượng đại biểu trong số những người hoạt động trong bộ máy các cơ quan hành pháp, tư pháp và tăng cường đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách là một trong những nội dung đổi mới căn bản, định hướng về tổ chức của Quốc hội hiện nay Tuy nhiên, hoạt động của đại biểu cũng còn nhiều lúng túng vì thiếu các quy định cụ thể về tính chất,
Trang 7chế độ làm việc, những điều kiện bảo đảm của đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm và chuyên trách.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với sự đổi mới về tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong những năm qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước, nhiều bài viết đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội như Hội thảo do Uỷ ban pháp luật của Quốc hội tổ chức về tổ chức và hoạt động của Quốc hội có bài viết của Tiến sĩ Phan Trung Lý-
Thành viên Uỷ ban pháp luật về “Một s ố vấn đề về đại biểu Quốc hội chuyên trách”,
“Thực hiện quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp: Thực trạng và kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả”\ hoặc một số nội dung về hoạt động của đại
biểu Quốc hội trong đề tài khoa học cấp Nhà nước do Văn phòng Quốc hội chủ trì về
“Luận cứ khoa học đ ể xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội” Riêng việc tổ chức nghiên cứu chuyên sâu về quy chế hoạt động của đại biểu
Quốc hội còn hạn chế, tản mạn, chưa có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống,
đề cập một cách toàn diện về vấn đề này
3 Phạm vỉ nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi một luận văn cao học, với khả năng cho phép, tác giả cố gắng nghiên cứu một cách tổng quát về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội Qua đó, đi sâu làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn về Quy chế họat động của đại biểu Quốc hội Đồng thời, luận văn cũng đề cập và phân tích về quy chế hoạt động đại biểu Quốc hội qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 trên cơ sở đó đánh giá những mặt đã làm được,những mặt còn hạn chế, nêu ra các giải pháp, góp phần hoàn thiện quy chế hoạt độngcho đại biểu Quốc hội để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong thời gian tới
Trang 84 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý, phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội, trên cơ sở đó đánh giá những việc đã làm được, những việc còn hạn chế trong hoạt động của đại biểu Quốc hội, tìm ra những nguyên nhân góp phần đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội phù hợp với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là: phân tích làm rõ cơ sở lý luận trong việc xác định địa vị pháp lý của đại
biểu; đặc điểm, nguyên tắc hoạt động của đại biểu Quốc hội ở nước ta, các phương thức hoạt động của đại biểu, mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri và các cơ quan,
tổ chức
Hai là: Khái quát quá trình hình thành và thực hiện quy chế họat động của đại
biểu Quốc hội nước ta qua các bản Hiến pháp, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, trên cơ sở đó rút ra những mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của nó
Ba là: Đề xuất các luận chứng, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy chế
hoạt động của đại biểu Quốc hội ở nước ta
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
HỒ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác- Lênin như: phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp,
so sánh
Trang 96 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu và khá toàn diện về quy chế họat động của đại biểu Quốc hội, làm rõ những luận cứ khoa học về tính chất, địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, các phương thức hoạt động của đại biểu trên cơ sở đó căn cứ vào thực tiễn để tìm ra các giải pháp và phương hướng hoàn thiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, một trong những yêu cầu cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương, cùng với đó là phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VỂ QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BlỂU QUỐC HỘI
QUỐC HỘI
Đại biểu Quốc hội (hay còn gọi là nghị sĩ, nghị viên hoặc đại biểu Đại hội nhân
dân toàn quốc , tuỳ theo cách gọi của mỗi nước) là khái niệm đã hình thành và phát
triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của mô hình Quốc hội (nghị viện) ở các
nước trên thế giới với bề dày hàng trăm năm
Ở nước ta, thuật ngữ "Đại biểu Quốc hội" không phải đã được định hình ngay từ đầu Theo Hiến pháp năm 1946, với việc Hiến pháp quy định về việc thành lập "Nghị
viện nhân dân” thì các thành viên của nó được gọi là "Nghị viên" [11, tr.12] Tuy
nhiên, mặc dù Hiến pháp năm 1946 quy định như thế nhưng không chỉ trước khi ban
hành Hiến pháp mà kể cả sau đó, trên thực tế cũng như trong mọi văn kiện của Nhà
nước, thuật ngữ "Nghị viên" hay thuật ngữ "Nghị viện nhân dân'' hầu như không được
sử dụng Cơ quan dân cử đầu tiên do cử tri cả nước bầu ra được gọi là "Quốc hội'' và
các thành viên của nó được gọi là ''đại biểu Quốc hội” Tất cả các nhiệm kỳ Quốc hội
sau đó ở nước ta, kể cả hiện nay vẫn thống nhất sử dụng các tên gọi này
Vậy, thế nào là đại biểu Quốc hội?
Có thể từ những góc độ khác nhau mà có những cách hiểu khác nhau về đại biểu
Quốc hội Tuy nhiên, có những điểm chung về đại biểu Quốc hội được thừa nhận rộng rãi trên thế giới như sau:
- Đại biểu Quốc hội là người được cử tri bầu ra theo những thủ tục và trình tự nhất định (trong một số trường hợp thật đặc biệt, trong những hoàn cảnh lịch sử thật đặc
biệt mới có thể do chỉ định, bổ nhiệm hoặc do thế tập);
- Đại biểu Quốc hội là người thay mặt, đại diện cho một phạm vi nhất định cộng
đồng dân cư, nhóm lợi ích Đó có thể là cử tri của khu vực đã bầu ra họ hoặc là một
đảng phái, tổ chức chức xã hội nhất định hoặc cũng có thể là nhân dân cả nước
Trang 11- Đại biểu Quốc hội là người có những quyền hạn và nhiệm vụ trong việc thực hành quyền lực nhà nước trong Quốc hội.
Điều 1 của Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc
hội hiện hành ở nước ta [11, trang 7] quy định: ''Đại biểu Quốc hội là người đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu
cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội" Mặc dù chưa thể hiện thật đầy đủ định nghĩa
về đại biểu Quốc hội nhưng quy định này cũng đã thể hiện được những nét cơ bản nhất
của đại biểu Quốc hội nước ta
Qua các quy định của pháp luật [11] và qua thực tiễn hoạt động của đại biểu
Quốc hội nước ta từ trước đến nay, có thể nêu lẽn một số nét cơ bản về đại biểu Quốc
hội ở nước ta như sau:
- Đại biểu Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra một cách dân chủ theo nguyên tắc
trực tiếp, phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín;
- Đại biểu Quốc hội là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các tầng lớp nhân
dân, các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và những người lao động trong
- Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân cả
nước, gắn bó mật thiết với nhân dân;
- Đại biểu Quốc hội thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước tại cơ
quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất;
- Đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, trước cử tri về hoạt
động của mình
Qua nghiên cứu về đại biểu Quốc hội nước ta từ trước đến nay, có thể rút ra mấy
đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đại biểu Quốc hội là những người hoạt động theo nhiệm kỳ
Hoạt động theo nhiệm kỳ là một trong những đặc điểm nổi bật của đại biểu Quốc
hội, phân biệt đại biểu Quốc hội vói các công chức nhà nước với đặc điểm chung là hoạt
động có tính chất ổn định và lâu dài Theo quy định của pháp luật, nhiệm kỳ của Quốc
Trang 12hội là 5 năm Tính nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội thể hiện ở chỗ ngay cả đối với các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng đều phải tuân thủ theo nguyên tắc này; điều này cũng không ngoại trừ đối với những đại biểu Quốc hội mà trước khi làm đại biểu là các công chức, sau khi được bầu là đại biểu Quốc hội thì đảm nhiệm các chức vụ theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Nhìn ở khía cạnh khác thì thấy tính nhiệm kỳ trong hoạt động của đại biểu Quốc hội có ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến tính ổn định, sự phát triển Cho đến nay về mặt nhận thức, quan điểm cũng như quy định của pháp luật có thể khẳng định rằng ở
nước ta hoạt động của đại biểu Quốc hội chưa được coi là một "nghề' Mặt khác, thực
tế về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội thời gian qua cho thấy, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tỷ lệ tái cử của đại biểu Quốc hội thường không cao (tỷ lệ đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX tái cử là 108, chiếm 27,34%; trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá X là 135, chiếm tỷ lệ 27,11%) [23, tr 236] Do đó, có thể thấy rằng so với đội ngũ cán bộ công chức nhà nước khác, đại biểu Quốc hội có sự biến đổi khá linh hoạt về mặt nhân sự, có sự đổi mới và thay thế liên tục qua các nhiệm kỳ hoạt động
Thứ hai, nguồn đại biểu Quốc hội rất đa dạng và phong phú.
Từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội thời gian qua có thể nhận thấy đại biểu Quốc hội được hình thành từ các nguồn chủ yếu sau đây:
- Các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương (hành pháp, tư pháp);
Trang 13nhân dân, dân tộc, bao gồm đại biểu là trí thức, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ
nữ, cựu chiến binh, người ngoài Đảng, nhằm bảo đảm tính đại diện của Quốc hội Tuy nhiên, về nguồn của đại biểu Quốc hội có nên có đại diện Việt Kiều trong Quốc hội cũng cần được cân nhắc Điều đáng lưu ý là, Điều 75 của Hiến pháp nãm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) xác định rõ và thể hiện tinh thần mới về mặt chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc coi trọng đối với bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:
"Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện đ ể người Việt nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước".
Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, Trung Quốc là nước rất quan tâm đến việc bố trí một số lượng nhất định đại biểu Quốc hội là Hoa Kiều Điều này thể hiện sự nhất quán trong chính sách coi trọng bộ phận người Hoa ở nước ngoài của Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa [22, trang 3] Vì vậy, chúng tôi cho rằng trong thời gian tới, cần nghiên cứu việc mở rộng nguồn của đại biểu Quốc hội theo hướng bao gồm cả bộ phận người Việt nam - kiều bào ta định cư ở nước ngoài
Theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thì đại biểu Quốc hội có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị đất nước
Trước hết, phải nói tới vai trò "đại diện cho ỷ chí và nguyện vọng của nhân dân'
của đại biểu Quốc hội
ở đây, cần phải hiểu thật đúng ý nghĩa của từ "đại diện'' trong các quy định của
pháp luật về đại biểu Quốc hội Dường như, hiện nay trong nghiên cứu lý luận cũng như
trong thực tế, khi nói đến vai trò "đại diện' của đại biểu Quốc hội, người ta mới chỉ
nhấn mạnh đến nghĩa thứ nhất của từ này, đó là ý nghĩa thay mặt cho nhân dân để thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân tại Quốc hội Xuất phát từ quan niệm này,
Trang 14nhiéu người chỉ nhấn mạnh đến vai trò "cầu nối” giữa nhân dân với Quốc hội của đại
biểu Quốc hội Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần phải hiểu từ "đại diện" khi nói về đại
biểu Quốc hội ở đây một cách đầy đủ và rộng hơn nữa Ị'Đại diện" ở đây còn có nghĩa
là tiêu biểu, là biểu trưng [21, trang 386] "Đại diện cho ỷ chí và nguyện vọng của
nhân dân" không chỉ là phản ánh, là chuyển tải ý chí, nguyện vọng của nhân dân tới
Quốc hội mà mỗi đại biểu Quốc hội còn phải chính là hiện thân cho ý chí, nguyện
vọng của nhân dân./.Và, chỉ khi chính họ là hiện thân cho ý chí, nguyện vọng của
nhân dân thì họ mới thay mặt cho nhân dân, thể hiện được ý chí và nguyện vọng của
nhân dân một cách sát thực và tâm huyết nhất tại Quốc hội Do vậy, khi nói tới vai
trò của đại biểu Quốc hội, chúng tôi cho rằng cần phải hiểu thật đầy đủ ý nghĩa của từ
"đại diện'' như đã trình bày.
Cho đến nay, trên thế giới, mặc dù khái niệm "nghị s ĩ tự do'' (tức là những nghị
sĩ được tự do hành động, không có quan hệ ràng buộc và bị chi phối bởi một cộng đồng
dân cư, mội nhóm cử tri hay một đảng phải, tổ chức nào) đã được thừa nhận rộng rãi ở
nhiều quốc gia nhưng xét về bản chất, hầu hết đại biểu Quốc hội ở các nước hiện nay
vẫn đều có liên quan và là đại diện cho lợi ích của một cộng đồng dân cư (thường là nơi
đã bầu ra họ) hoặc cho một đảng phải, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội nào đó và chịu
trách nhiệm trước cộng đổng, cơ quan, tổ chức đó Và như vậy, khó có thể nói rằng họ
là những "nghị s ĩ tự do''.
Theo quy định của Hiến pháp, đại biểu Quốc hội nước ta "không chỉ đại diện
cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước" Trong
hoạt động của mình, đại biểu Quốc hội phải luôn xuất phát từ ý chí và nguyện vọng
chung của cả dân tộc để hành động
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.2.1 Về đại biểu Quốc hội
Thực tiễn chỉ ra rằng, vấn đề bản chất, vai trò và vị trí của người đại biểu Quốc
hội chi phối có ý nghĩa quyết định tới hoạt động của đại biểu Quốc hội, kể cả về hình
thức cũng như nội dung hoạt động Do những khác biệt về các vấn đê như bản chất giai
cấp, thể chế chính trị, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị cũng
Trang 15như những yếu tố chính trị, xã hội và kinh tế của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau mà vấn đề hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng rất khác nhau.
Về mặt hình thức, hoạt động của các đại biểu Quốc hội ở các nước có thể có
nhiều điểm chung giống nhau Nhưng, nội dung và bản chất hoạt động giữa các đại biểu Quốc hội ở các nước có thể rất khác nhau Nếu như, người đại biểu Quốc hội về bản chất là đại diện cho những đảng phải, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội thì hoạt động của người đại biểu Quốc hội đó luôn phải dựa và bị chi phối bởi lợi ích của đảng phái, tổ chức đó Ngược lại, nếu người đại biểu thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân thì hoạt động của họ phải luôn xuất phát và hướng về phục
Hoạt động của đại biểu Quốc hội dù ở bất cứ quốc gia nào, kể cả ở những nước theo quan điểm "nghị sĩ tự do” thì cũng không có nghĩa là người đại biểu Quốc hội
muốn hành động như thế nào là tuỳ ý mình mà vẫn buộc phải dựa trên cơ sở các ềác quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội và không thể vượt ra khỏi khuôn khổ pháp lý đó ở nước ta, vấn đề này đặc biệt được coi trọng, với nguyên tắc:
"Đại biểu Quốc hội gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng " [17, trang 8] thì không những
phải chấp hành đúng pháp luật mà đại biểu còn phải chấp hành tốt, gương mẫu cả trong
Trang 16hoạt động cũng như trong sinh hoạt Đây vừa là đặc điểm, đồng thời cũng là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của đại biểu Quốc hội ở nước ta.
Thứ hai, hoạt động của đại biểu Quốc hội là hoạt động chỉ do chủ thể duy nhất
là đại biểu Quốc hội thực hiện, không thể do bất cứ chủ thể khác thực hiện.
Đối với nhiều hoạt động khác trong xã hội, giữa các chủ thể có thể có sự uỷ quyền cho nhau để tiến hành hoạt động, người được uỷ quyền có thể thay mặt người uỷ quyền tiến hành các hoạt động nhân danh người đó nhưng đối vói hoạt động của đại biểu Quốc hội thì không thể cho phép uỷ quyền như vậy Người đại biểu Quốc hội không thể uỷ quyền cho người khác đi dự các phiên họp Quốc hội, uỷ quyền cho đại biểu khác biểu quyết thay mình tại phiên họp Quốc hội hay uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân nào nhân danh mình tiến hành các hoạt động giám sát
Thứ ba, hoạt động của đại biểu Quốc hội là hoạt động mang tính chính trị-pháp lý.
Khác với nhiều hoạt động chủ yếu mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ (như: nhà khoa học, doanh nhân, nghệ sĩ, ), hoạt động của đại biểu Quốc hội mang tính chính trị-pháp lý sâu sắc Điều này thể hiện qua các khía cạnh như:/đại biểu Quốc hội
là người được nhân dân uỷ quyền thay mặt mình để thực thi quyền lực nhà nước trong Quốc hội; hoạt động của đại biểu Quốc hội là hoạt động có tính quyền lực nhà nước và được bảo đảm bởi sức mạnh của Nhà nước; hoạt động của đại biểu Quốc hội thể hiện được bản chất giai cấp của Nhà nước, của chế độ xã hội mà đại biểu Quốc hội là thành viên tiêu biểu; và, do tính chất đặc biệt quan trọng nên tất cả các hoạt động của đại biểu Quốc hội phải được quy định bởi pháp luật
Thứ tư, hoạt động của đại biểu Quốc hội có thể được tiến hành theo hai chế độ: chuyên trách hoặc không chuyên trách, tuỳ theo cơ cấu đại biểu Quốc hội do Luật tổ chức Quốc hội quy định và tuỳ theo vị trí công tác cụ thể của mỗi đại biểu Quốc hội.
Ở nhiều nước, tiêu biểu là các quốc gia có truyền thống nghị viện lâu đời thì thông thường, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách - các chính khách chuyên nghiệp và vì vậy, hoạt động của họ mang tính chuyên nghiệp rất cao
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, về hoạt động của cơ quan dân cử
và đại biểu dân cử, Quốc hội cũng như các đại biểu Quốc hội phải gắn bó mật thiết với nhân dân, không tách rời các lĩnh vực hoạt động của xã hội Khi nghiên cứu kinh
Trang 17nghiệm của phong trào công xã Pari, C.Mác cho rằng "Công xã không phải là một cơ
quan đại nghị, mà là một cơ quan hành động, vừa lập pháp, vừa hành pháp"[6, trang
455] Phát triển quan điểm này của c Mác, V.L Lênin cho rằng "các nghị sĩ phải tự
mình công tác, tự mình thực hiện những pháp luật của mình, tự mình kiểm tra lấy tác dụng của những pháp luật ấy, tự chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri của mình" Xuất
phát từ quan điểm này mà cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia và hiện nay, hầu hết các đại biểu Quốc hội ở nước ta vẫn hoạt động theo chế độ không chuyên trách
Vào cuối nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII, do khối lượng công việc của Quốc hội tăng lên nhanh chóng cho nên tại các cơ quan của Quốc hội đã bước đầu có một số đại biểu hoạt động theo chế độ chuyên trách Đến Quốc hội khoá IX, cùng với việc số đại biểu chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội được tăng cường mạnh thì tại một số Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương cũng bắt đầu có các đại biểu hoạt động theo chế độ chuyên trách Đến Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, cơ cấu đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách được chính thức ghi nhận [ 13 ] Như vậy, do những nguyên nhân về quan điểm chính trị, về điều kiện lịch sử mà cơ cấu đại biểu cũng như hoạt động của đại biểu Quốc hội nước ta mang đặc điểm là song song tồn tại hai chế độ hoạt động: chuyên trách và không chuyên trách
Về chế độ hoạt động không chuyên trách, có thể nói, cho đến nay, đây vẫn là chế
độ hoạt động của đa số đại biểu Quốc hội Do tính chất đại diện của cơ quan dân cử cũng như vấn đề cơ cấu trong công tác bố trí cán bộ mà ở Quốc hội, các đại biểu thường
là những người đại diện cho các tẩng lớp dân cư, đại diện cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dan, các chức sắc tôn giáo, các doanh nghiệp, Trong đó, có nhiều người giữ các cương vị chủ chốt, là cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan, đơn vị, ngành, lĩnh vực, và phải khẳng định một cách thực tế rằng các cương vị công tác đó mói là những công việc chính của họ Cũng
do vậy mà đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các đại biểu Quốc hội
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rõ rằng vấn đề kiêm nhiệm là một thực tế lịch sử khách quan trong hoạt động của các đại biểu dân cử ở nước ta và vẫn sẽ còn tiếp tục duy trì trong thời gian tới Có thể khẳng định rằng, trong tổ chức bộ máy Nhà nước ta từ
Trang 18năm 1946 cho tới nay, Quốc hội là cơ quan hoạt động theo kỳ họp và các đại biểu chủ yếu hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm Đơn cử về phía các đại biểu Quốc hội, thực tế trước Hiến pháp 1992 cho thấy, hầu hết các đại biểu Quốc hội, kể cả các đại biểu là thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm và do đó, cũng chưa hình thành bộ phận thường trực trong các cơ quan này Điểm tích cực trong phương thức hoạt động của đại biểu dân cử theo phương thức này
là ở chỗ, các đại biểu là những người không xa rời thực tiễn, mà gắn bó vối cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân, là những người hơn ai hết, có thể phản ánh một cách kịp thời, chính xác nhất những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và do vậy có thể đóng góp ý kiến một cách thiết thực nhất mỗi khi Quốc hội có những quyết sách liên quan về những vấn đề này Mặt khác, xét ở một khía cạnh nhất định thì phương thức hoạt động kiêm nhiệm của các đại biểu Quốc hội cũng có những điểm phù hợp trong điều kiện Quốc hội ở nước ta là những cơ quan hoạt động theo kỳ họp mà không phải là những cơ quan hoạt động thường xuyên Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với đại biểu kiêm nhiệm trong Quốc hội đó là yêu cầu về tính khách quan trong hoạt động với tư cách là người đại biểu Quốc hội Bởi vì, thực tế cũng đã cho thấy, nhiều đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm vừa là người tham gia các hoạt động của Quốc hội như hoạt động thẩm tra, giám sát, quyết định các chính sách lại vừa là người triển khai tổ chức, thực hiện các chính sách, quy định của pháp luật này vào cuộc sống
Về chế độ hoạt động chuyên trách, íhực chất, đại biểu Quốc hội hoạt động theo chế độ này chủ yếu là đội ngũ cản bộ lãnh đạo, thành viên chuyên trách của các cơ quan của Quốc hội Tại Quốc hội chủ yếu là các đại biểu Quốc hội là lãnh đạo Quốc hội (bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội), thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lãnh đạo Hội đồng dân tộc, lãnh đạo các Uỷ ban của Quốc hội (Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban), các Uỷ viên chuyên trách các Uỷ ban của Quốc hội và một số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Đoàn đại biểu Quốc hội Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề này cho thấy, pháp luật ở hầu hết các nước đều quy định đại biểu Quốc hội không kiêm nhiệm các chức vụ khác nhau nhằm bảo đảm tính độc
Trang 19lập, khách quan và bảo đảm thời gian để đại biểu chuyên tâm thực hiện các công việc của Quốc hội.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX, có 37 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, chiếm tỷ lệ 9,4% so với tổng số đại biểu Quốc hội được bầu; trong nhiệm kỳ của Quốc hội khoá X, con số này là 37 đại biểu, chiếm tỷ lệ là 8,77% Hiện nay, tổng số đại biểu Quốc hội của nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI là 498 đại biểu, trong đó số đại biểu hoạt động chuyên trách là 119 đại biểu, số đại biểu không hoạt động chuyên trách là
379 đại biểu [2 4 ] Trong đó, các đại biểu chuyên trách chủ yếu được bố trí là thành viên của các cơ quan của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
Đặc điểm này mang tính lịch sử rõ nét Trong giai đoạn hiện nay, quá trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn cũng như quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong đó có việc hoàn thiện quy chế hoạt dộng của đại biểu Quốc hội cần phải đặc biệt lưu ý đến đặc điểm này để đưa ra những giải pháp phù hợp, sao cho cả hai thành phần đại biểu (chuyên trách và không chuyên trách) đều có thể phát huy tối đa năng lực hoạt động của mình và vẫn bảo đảm sự bình đẳng, ngang nhau về quyền và trách nhiệm trong hoạt động đại biểu
Thứ năm, đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm về hoạt động eủa mình trước Quốc hội và trước cử tri.
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về trách nhiệm của đại biểu Quốc hội Có quan điểm cho rằng, khi đã là đại biểu Quốc hội thì người đại biểu
đó là đại diện cho cả dân tộc và trong hoạt động của mình, họ không bị ràng buộc bởi ý chí của cử tri đã bầu ra họ và họ không phải chịu trách nhiệm trước cử tri Có nghĩa là, theo quan điểm này, người đại biểu Quốc hội có toàn quyền hành động, không phải lệ thuộc ý chí của cử tri và không chịu trách nhiệm trước cử tri Ví dụ, tại khoản 1, Điều
104 của Hiến pháp Ba Lan năm 1997 quy định: "Các đại biểu là người đại diện của
dân tộc Đại biểu không bị ràng buộc bởi ỷ kiến của cử tri" hay Điều 67 của Hiến pháp
Italy quy định: "Mỗi thành viên của Nghị viện là người đại diện của dân tộc Khi thực
hiện nhiệm vụ, đại biểu không phải chịu trách nhiệm chính trị trước cử tri".
Ở nước ta, với quy định " Không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra
mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước", trong hoạt động đại biểu của mình,
Trang 20người đại biểu Quốc hội còn phải "chịu trách nhiệm trước cử tri và trước Quốc hội về
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình" [11, trang 8].
Hoạt động của đại biểu Quốc hội diễn ra trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Quốc hội như: v
- Tham gia xây dựng pháp luật của Quốc hội;
- Tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc hội;
- Tham gia giám sát đối với tòan bộ hoạt động của bộ máy nhà nước
Tuy nhiên, tính chất và mức độ của các hoạt động này cũng khác so với tính chất và mức độ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
Phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội là tổng hợp những cách thức và phương pháp mà đại biểu Quốc hội có thể sử dụng nhằm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên thực tế
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng như qua thực tiễn thực hiện các quy định này của đại biểu Quốc hội, chúng tôi cho rằng đại biểu Quốc hội nước ta trong thời gian qua cũng như hiện nay có một số phương thức hoạt động chung sau đây:
Thứ nhất, tham gia các kỳ họp của Quốc hội, tham gia các phiên họp của các cơ
quan của Quốc hội mà đại biểu Quốc hội là thành viên;
Thứ hai, tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, thực hiện các
nhiệm vụ mà Đoàn đại biểu Quốc hội phân công với tư cách là một thành viên của Đoàn;
Thứ ba, tự mình tiến hành các hoạt động với tư cách cá nhân đại biểu Quốc hội
để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; tiến hành các hoạt động nhằm đáp ứng các yêu cầu đạt ra theo chương trình công tác của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội mà mình là thành viên hoặc theo yêu cầu của cử tri nơi mình ứng cử nói riêng
và của nhân dân cả nước nói chung
Đấy là ba phương thức hoạt động chung nhất của đại biểu Quốc hội Đi vào tìm hiểu cụ thể, ta thấy có rất nhiều những phương thức và biện pháp cụ thể khác nhau, ở những nước có truyền thống nghị viện lâu đời, khi mà hoạt động đại biểu Quốc hội
được coi như một ''nghề' như mọi nghề khác trong xã hội thì tính chuyên nghiệp trong
Trang 21hoạt động này rất cao, với những phương thức và biện pháp dường như đã được "chuẩn
hoá" thành các tác nghiệp có tính chuyên môn Mỗi hoạt động mà đại biểu Quốc hội
tiến hành đều có thể được chuẩn hoá thành những quy trình, thủ tục, như: quy trình đại biểu Quốc hội thực hiện sáng kiến lập pháp; quy trình đại biểu Quốc hội chất vấn các thành viên Chính phủ; quy trình đại biểu Quốc hội xử lý kiến nghị, yêu cầu của cử tri gửi đến đại biểu
'"Nguyên tắc hoạt động của đại biểu Quốc hội là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình dự kiến, lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động cụ thể của mỗi đại biểu Quốc hội
Cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật hay một công trình nghiên cứu nào
đề cập một cách cụ thể về các nguyên tắc hoạt động của đại biểu Quốc hội Qua nghiên cứa, chúng tôi cho rằng có thể bước đầu đưa ra các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mọi hoạt động của đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội do Hiến pháp và pháp luật quy định và nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đó
Thứ hai, mọi hoạt động của đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ ý chí, nguyện
vọng của nhân dân, phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; mọi hoạt động của đại biểu Quốc hội phải gắn với nhân dân, phát huy được sức mạnh của nhân dân, sự tham gia của nhân dân vào hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và của mỗi đại biểu Quốc hội
Thứ ba, phải bảo đảm để nhân dân giám sát một cách thực chất, có hiệu quả
mọi hoạt động của đại biểu Quốc hội
Thứ tư, đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp
luật [ 17, trang 8] Nghĩa là, không chỉ chấp hành đúng và đủ các quy định của pháp luật như trách nhiệm đặt ra đối với các cán bộ, công chức nhà nước hay đối với mọi công dân khác, người đại biểu Quốc hội bằng hoạt động thực tiễn của mình còn phải nêu tấm gương tốt về ý thức chấp hành pháp luật để mọi người noi theo
1.2.2 Vê quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
"Quỵ chể' là một thuật ngữ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong đó, có
hai cách hiểu phổ biến sau đây:
THƯ VI ỆN
■ 1 2 Ư C N G h a i M O C " ! À t h a ; Õ ' ì
' k ) v>
Trang 22Thứ nhất, "Quy chế' được hiểu là tổng hợp những quy định thành một chế độ
pháp lý để mọi người hoặc những người có liên quan phải tuân theo [ 27 ] Đây là quan niộm có tính phổ biến nhất về quy chế
Thứ hai, "Quy chể' là một hình thức văn kiện chuẩn mực quy định về một vấn
đề nào đó [ 4, trang 189]
Ngay trong phạm vi hẹp là lĩnh vực pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc
hội thì thuật ngữ ''Quy chế' cũng được hiểu với hai nghĩa phổ biến như đã nêu trên
Điều này thể hiện qua việc, song song với việc duy trì các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội trong nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, các quy chế hoạt động của các cơ quan của Quốc hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì vẫn tồn tại một văn bản độc lập dưới hình thức quy chế ban hành kèm theo nghị quyết của Quốc hội về hoạt động của đại biểu Quốc hội [ 15 ]
Như vậy, tuỳ theo trường hợp cụ thể mà thuật ngữ "Quy chể' được hiểu và vận
dụng khác nhau Tuy nhiên, có một điểm chung của cả hai cách hiểu trên là: Quy chế là tổng hợp các quy định có tính thống nhất về một lĩnh vực hoạt động cụ thể, có tính bắt buộc đối với các chủ thể được xác định và được thể hiện dưới những hình thức văn bản pháp lý phù hợp
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc hội, có thể hiểu như sau về quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội:
Quy ch ế hoạt động của đại biểu Quốc hội là tổng hợp các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, về phương thức và biện pháp thực hiện cũng như các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn đó của đại biểu Quốc hội.
Quy ch ế hoạt động của đại biểu Quốc hội là cơ sở pháp lý đ ể đại biểu hoạt động
và có tính bắt buộc đối với đại biểu và các cơ quan, tổ chức, cá nhăn có liên quan trong quá trình đại biểu Quốc hội hoạt động với tư cách đại biểu Quốc hội.
Như vậy, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội không đơn thuần chỉ là văn
bản "Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội" hay chỉ
Trang 23gồm các quy định tại văn bản này mà phải được hiểu là gồm tất cả các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, về quan hệ công tác giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức hữu quan và về phương thức, biện pháp thực hiện cũng như các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đó của đại biểu Quốc hội tại Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, các quy chế hoạt động của các cơ quan của Quốc hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Ở các nước có truyền thống nghị viện lâu đời, với quan niệm nghị viện (Quốc hội) có vị trí độc lập cao đối với các nhánh quyền lực khác, vấn đề hoạt động của đại biểu Quốc hội được coi là vấn đề nội bộ của Quốc hội, do Quốc hội tự quyết định mà không có sự tác động của các nhánh quyền lực khác (như đối với việc ban hành các đạo luật thông thường) Nhìn chung, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội ở các nước này là một nội dung được thể hiện trong một văn bản quy định chung về quy chế hoạt động của Quốc hội, với những nội dung bao trùm về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Ví dụ, bản Quy chế hoạt động của
Hạ nghị viện Cộng hoà Liên bang Đức dành một chương riêng (Chương V) quy định về Nghị sĩ của Hạ nghị viện
Tuy nhiên, ở nhiều nước khác, điển hình là các nước Đông Âu, ngoài các quy định trong văn bản quy định chung về hoạt động của Quốc hội còn có văn bản riêng quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội (tương tự như ở nước ta) Hình thức văn bản thường được các nước này sử dụng để ban hành quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là đạo luật Chẳng hạn, ở Cộng hoà Liên bang Nga, Hungary, Moldova, Belarus, Mông c ổ có Luật về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, trong đó quy định
về các quyền, nghĩa vụ cùng các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Quốc hội Trong những trường hợp này thì cơ quan hành pháp có thể sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn cơ quan lập pháp ban hành vãn bản luật quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội, nhất là khi thấy có sự xung đột về lợi ích, điều mà họ không thể làm được như đối với loại văn bản có tính chất nội bộ của Quốc hội
ở Cộng hoà Liên bang Đức, ngoài các quy định về hoạt động của Đại biểu Quốc hội tại Quy chế hoạt động của Hạ nghị viện, nước này cũng ban hành Luật về đại biểu
Trang 24Quốc hội, trong đó quy định về chế độ lương bổng, văn phòng làm việc, việc thuê các
nhân viên thư ký của đại biểu Quốc hội
Ở Anh cũng có một hình thức văn bản riêng quy định tập trung về hoạt động
của đại biểu Quốc hội, đó là văn bản Quy tắc về hành vi (codes of conduct) Bản quy
tắc này chủ yếu quy định về các chuẩn mực hành vi của đại biểu Quốc hội đối với các
cá nhân, tổ chức bên ngoài nghị viện trong quá trình hoạt động, chẳng hạn: quan hệ
giữa đại biểu Quốc hội với các tổ chức công đoàn, với các nhóm lợi ích
Ngoài ra, nhìn chung ở quốc hội các nước, ngoài những văn bản quy định một
cách tập trung về hoạt động của đại biểu Quốc hội còn có rất nhiều các quy định khác
có liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội Các quy định này là một hệ thống
rất phức tạp, có thể là những quy định được thể hiện trong các văn bản nhưng cũng có
khi lại là các quy định bất thành văn Vì vậy, khi nghiên cứu, so sánh về địa vị pháp lý
của đại biểu Quốc hội ở các nước trên thế giới, tác giả Marc Van der Hulst đã rút ra
nhận xét rằng: " Cứ sau mỗi kỳ bầu cử, một loạt các đại biểu Quốc hội mới s ẽ bước
chân vào nghị trường Tuy nhiên, cho dù họ có là bậc thiên tài đến đâu thì chắc chắn
họ cũng sẽ cảm thấy mất phương hướng bởi vì Quốc hội là một thiết ch ế được điều
chỉnh bởi các tập quán và các quy định chủ yếu dưới dạng bất thành văn và thường là
rất khó hiểu" [ 10, trang 103].
Như vậy, qua các nội dung đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng, các quy định về
hoạt động của đại biểu Quốc hội ở các nước cũng thường rất đa dạng và phức tạp, ít khi
được quy định tập trung trong một văn bản riêng Do vậy, cũng cần phải hiểu rằng: quy
chế hoạt động của đại biểu Quốc hội ở các nước là tập hợp tất cả các quy định thành
văn hoặc bất thành văn có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quá trình
hoạt động của đại biểu Quốc hội
Nhìn chung, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội ở các nước thường tập
trung trung vào ba vấn đề chính sau đây:
- Nhiệm kỳ và bản chất đại diện của đại biểu Quốc hội: Bao gồm các quy
định liên quan đến việc tính thời hạn nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội; mối quan hệ
giữ cử tri và đại biểu Quốc hội; cách thức kết thúc hoạt động của đại biểu trước khi
hết nhiệm kỳ ;
Trang 25- Đại vị pháp lý của đại biểu Quốc hội: bao gồm các quy định liên quan đến
quyền, nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội (như các quy định về quyền bất khả xâm phạm
về thân thể, quyền không phải chịu trách nhiệm về những lời phát biểu tại nghị trường ); về các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu (như các quy định về văn phòng làm việc, phương tiện đi lại, phương tiện thông tin, lương bổng, việc thuê các nhân viên thư ký );
- Việc thực thi nhiệm vụ đại biểu Quốc hội: bao gồm các quy định có liên quan
đến công việc thường ngày của đại biểu Quốc hội Đây chủ yếu là các quy định về quy trình làm việc của đại biểu Quốc hội, như các quy định về việc đại biểu Quốc hội tham gia vào quy trình lập pháp, quy trình giám sát của Quốc hội; về các quy tắc tranh luận tại nghị trường, về các hành vi kỷ luật khi không tuân thủ các quy định của Quốc hội,
về các quy tắc ứng xử với các nhóm lợi ích ngoài Quốc hội
ở nước ta, liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội có nhiều các quy định khác nhau, điều chỉnh nhiều vấn đề khác nhau và dưới những góc độ khác nhau Xét dưới góc độ lý luận cũng như pháp luật thực định thì việc phân định rõ những quy định nào thuộc về quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, những quy định nào mặc
dù có liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội nhưng không thuộc về quy chế này là một vấn đề rất phức tạp Đổng thời, cũng do tính chất thống nhất và gắn kết giữa các quy định về đại biểu Quốc hội cho nên, việc phân định này cần được hiểu một cách tương đối và mềm dẻo
Với cách đặt vấn đề như đã nêu trên, chúng tôi cho rằng, có thể quan niệm Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội ở nước ta gồm những nội dung cơ bản sau đây:
- Vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội;
- Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội;
- Mối quan hệ công tác giữa đại biểu Quốc hội vối các cơ quan, tổ chức hữu quan;
- Phương thức và biện pháp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội;
- Các biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội
Là một bộ phận không thể tách rời trong quy chế chung về đại biểu Quốc hội(gồm tổng hợp tất cả các quy định về đại biểu Quốc hội) nhưng quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội vẫn là một quy chế độc lập, với các đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 26Thứ nhất, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là một quy chế hoạt động mang tính chính trị - pháp lý
Tính chính trị của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội phản ánh đặc trưng
của hệ thống chính trị một đảng duy nhất cầm quyền, thể hiện qua khía cạnh là một bộ phận cấu thành trong tổng thể hệ thống cán bộ, công chức nhà nước, đại biểu Quốc hội cũng nằm trong phạm vi lãnh đạo một cách toàn diện, tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác cán bộ Thông qua nhiều phương thức và biện pháp phù hợp, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo một cách chặt chẽ, sát sao đối với việc xây dựng, hoàn thiện
và bảo đảm thực hiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội sao cho hoạt động của các đại biểu Quốc hội ngày càng có hiệu lực và hiệu quả hơn Không chỉ đối với các nội dung
về hoạt động của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến pháp, trong Luật tổ chức Quốc hội mà đối với các nội dung của các bản Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội trong quá trình soạn thảo cũng thường xuyên được các cấp lãnh đạo của Đảng như Bộ chính trị, Ban bí thư cho ý kiến chỉ đạo Từ đó, có một thực tế là: quá trình đổi mới và hoàn thiện không ngừng quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội luôn gắn liền với quá trình đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, thể hiện một phần quan trọng tư tưởng về phát huy dân chủ, về xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị của Đảng trong từng thòi kỳ cách mạng và biểu hiện trong một lĩnh vực hẹp nhưng rất quan trọng là lĩnh vực hoạt động của đại biểu Quốc hội
Tính pháp lý của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội thể hiện qua khía
cạnh cụ thể là: Quy chế bao gồm các quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình đại biểu Quốc hội thực hiện vai trò đại biểu của mình, có giá trị bắt buộc và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Đặc điểm này phân biệt quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội với các quy chế hoạt động thuần tuý (hoặc chủ yếu) mang tính kỹ thuật, công nghệ (như các quy chế trong hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học, công nghệ, ví dụ: Quy chế ) hay các quy chế thuần tuý (hoặc chủ yếu) mang tính chất chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động khác (như quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng )
Ngoài ra, tính chính trị- pháp lý của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội còn
do quy chế này là quy chế điều chỉnh loại hoạt động mang tính chính trị- pháp lý rất cao
Trang 27là hoạt động của đại biểu Quốc hội, như Luận văn đã trình bày tại nội dung về các đặc điểm của hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Thứ hai, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội thể hiện sự phân công, phối hợp thực hiện nhiệm vụ trong nội bộ Quốc hội
Đại biểu Quốc hội là một bộ phận cấu thành Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và trong chừng mực nhất định, có những nhiệm vụ và quyền hạn tương đối độc lập trong quan hệ với Quốc hội (với tư cách là một tập thể các đại biểu Quốc hội) cũng như trong quan hệ vói các cơ quan của Quốc hội Tương tự như đối với các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội được giao thực hiện một phần nhất định những nhiệm vụ, quyền hạn trong tổng thể các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội Và vì vậy, tất yếu phải có sự phân công và phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội giữa đại biểu Quốc hội vói các cơ quan của Quốc hội và với kỳ họp Quốc hội Từ đó, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội chính là sự cụ thể hoá sự phân công và phối hợp này trên một bình diện nhất định là hoạt động của đại biểu Quốc hội Qua quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, ta không chỉ thấy được những vấn đề về hoạt động của đại biểu Quốc hội mà còn thấy được mối quan hệ phân công, phối hợp giữa đại biểu với các chủ thể khác trong nội bộ Quốc hội
Đặc điểm nêu trên của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội đòi hỏi khi xây dựng và thực hiện quy chế này phải đặc biệt quan tâm tới tính thống nhất trong mối quan hệ giữa các quy định của quy chế với các quy định và việc thực hiện các quy định
về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
Thứ ba, quy ch ế hoạt động của đại biểu Quốc hội phải được xác lập bằng các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao và Ổn định.
Xuất phát từ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của đại biểu Quốc hội mà những vấn đề về hoạt động của đại biểu Quốc hội chỉ có thể được quy định bằng những hình thức văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, ổn định nhất của Nhà nước Hiện nay ở nước ta, những vấn đề này được quy định trong các văn bản như: Hiến pháp, luật, nghị quyết (hoặc văn bản ban hành kèm theo nghị quyết) của Quốc hội, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trong đó, vấn đề cơ bản nhất của quy chế
là vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội nhất định phải được quy định
Trang 28trong Hiến pháp và luật Ngay hình thức văn bản có hiệu lực pháp lý tương đối cao trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là nghị quyết (hoặc văn bản ban hành kèm theo nghị quyết) của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng chỉ có thể sử dụng để hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội, mà không thể sử dụng để quy định về nhiệm vụ, quyền hạn hay phương thức và biện pháp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội.
Đặc điểm nêu trên của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là yếu tố quan trọng để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả cho hoạt động của đại biểu Quốc hội Đặc điểm này của quy chế đã góp phần quan trọng để phòng ngừa, hạn chế những tác động (có thể có) với mục đích để kiềm chế hay vô hiệu hoá hoạt động của đại biểu Quốc hội từ phía các cơ quan, tổ chức là những chủ thể có quyền và lợi ích có thể bị tác động bởi hoạt động của đại biểu Quốc hội
Các nguyên tắc của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Quốc hội có hiệu lực và hiệu quả, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội đòi hỏi phải tuân thủ nhiêu nguyên tắc quan trọng, trong đó có các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, bảo đảm đ ể đại biểu Quốc hội hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, phát huy tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.
Mục đích cơ bản nhất của việc xây dựng và ban hành quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là nhằm tạo ra cơ sở pháp lý để trên cơ sở đó, đại biểu Quốc hội có thể hoạt động có hiệu lực và hiệu quả Từ đó, góp phần để đại biểu Quốc hội phát huy tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Nguyên tắc này yêu cầu việc xác lập các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng như trong việc tổ chức thực hiện phải đáp ứng được những đòi hỏi sau:
- Phải quy định thật toàn diện, đầy đủ các vấn đề về hoạt động của đại biểu Quốc hội;
Trang 29- Các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội phải có hiệu lực pháp lý cao
và ổn định;
- Nội dung các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ
chức năng, vị trí, vai trò và bản chất của người đại biểu Quốc hội xã hội chủ nghĩa trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phù hợp với
truyền thống văn hoá, lịch sử, với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước;
Thứ hai, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động
của Quốc hội.
Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam "là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội" Đây là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nước ta mà tất cả mọi cơ quan nhà nước và
các thành viên của nó phải tuân thủ nghiêm chỉnh Quốc hội là một trong những cơ
quan Nhà nước quan trọng nhất cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và do vậy, mọi hoạt
động của Quốc hội nói chung cũng như của các đại biểu Quốc hội nói riêng cần phải
bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng Nguyên tắc này yêu cầu khi thiết lập cũng như
trong quá trình thực hiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội phải đáp ứng được các
đòi hỏi sau:
- Các nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức và biện pháp hoạt động của đại biểu
Quốc hội phải được quy định và thực hiện phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam;
- Các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội phải vừa bảo đảm cho đại
biểu Quốc hội là Đảng viên Đảng cộng sản thực hiện tốt được chức năng, nhiệm vụ ,
quyền hạn của người đại biểu, vừa thực hiện tốt trách nhiệm của người đảng viên trong
quá trình hoạt động theo đúng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng;
- Các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội phải phù hợp và không gây
ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống Đảng trong tổ chức của Quốc hội mà đứng đầu là
Đảng đoàn Quốc hội;
Thứ ba, bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Quốc hội nói
chung và đối với hoạt động của đại biểu Quốc hội nói riêng.
Trang 30Nhân dân tín nhiệm bầu ra các đại biểu Quốc hội để thay mặt nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội nhưng không có nghĩa là nhân dân giao phó
hoàn toàn quyền lực của mình cho đại biểu và các đại biểu được tự do hành động mà
vẫn phải chịu ràng buộc bởi trách nhiệm trước cử tri, trước nhân dân và bởi cơ chế giám
sát của nhân dân
Nguyên tắc này yêu cầu khi thiết lập và thực hiện các quy định về hoạt động của
đại biểu Quốc hội phải bảo đảm để các hoạt động đó không những không được vượt ra
khỏi sự uỷ quyền của nhân dân mà còn luôn được đặt dưới sự giám sát một cách thực
chất của nhân dân và khi thấy cần, nhân dân có thể rút lại sự uỷ quyền (thông qua hình
thức bãi nhiệm) đối với đại biểu Quốc hội
Thứ tư, bảo đảm các nguyên tắc hoạt động của Quốc hội; bảo đảm sự phân công,
phối hợp chặt chẽ, hợp lý trong hoạt động giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan của
Quốc hội, giữa các đại biểu Quốc hội với nhau và giữa đại biểu Quốc hội với các cơ
quan, tổ chức hữu quan khác.
Là thành viên của Quốc hội, nên tất yếu là các đại biểu Quốc hội phải hoạt động
trong khuôn khổ các nguyên tắc hoạt động của Quốc hội; các hoạt động của đại biểu
Quốc hội phải bảo đảm tuân thủ đúng sự phân công, phối hợp chặt chẽ, hợp lý trong
hoạt động giữa đại biểu vối các cơ quan của Quốc hội, giữa các đại biểu Quốc hội vói
nhau và giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức hữu quan khác
Nguyên tắc này yêu cầu khi thiết lập cũng như trong quá trình thực hiện quy chế
hoạt động của đại biểu Quốc hội phải đáp ứng được các đòi hỏi sau đây:
- Phải đặt các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội trong khuôn khổ
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn chung của Quốc hội; tuyệt đối tránh sự “lấn sân”
sang các lĩnh vực hoạt động khác của Nhà nước, đặc biệt là lĩnh vực quản lý hành chính
nhà nước và tư pháp;
- Phải đặt các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội trong tổng thể các quy định về phân công, phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn chung của Quốc hội giữa
đại biểu Quốc hội với kỳ họp Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; giữa đại biểu
Quốc hội vói các cơ quan, tổ chức hữu quan và giữa các đại biểu Quốc hội với nhau;
tuyệt đối tránh sự trùng lắp, chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ;
Trang 31Thứ năm, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa và kinh nghiệm xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của đại biểu quốc hội ở các nước phù hợp với điều kiện thực tiễn ở nước ta, phù hợp với chủ trương mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước.
Đất nước ta đang tiến nhanh trên tiến trình mở cửa và hội nhập Với vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của mình, Quốc hội Việt Nam cũng đang đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhằm xây dựng và củng cố vị thế Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế Các hoạt động ngoại giao nghị viện không ngừng phát triển Trong xu thế này, nước ta cũng phải nắm bắt được và tiếp thu được các tinh hoa, các kinh nghiêm tốt về xây dựng
và thực hiện quy chế hoạt động của đại biểu quốc hội ở các nước phù hợp vói điều kiện thực tiễn ở nước ta, phù hợp với chủ trương mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước
Nguyên tắc này yêu cầu việc thiết lập và thực hiện các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội phải đáp ứng được các đòi hỏi sau:
- Phải quán triệt và vận dụng đúng đắn quan điểm mở cửa và hội nhập của Đảng, Nhà nước ta; cụ thể hoá được quan điểm đó trong lĩnh vực hoạt động của đại biểu Quốc hội;
- Hoạt động của đại biểu Quốc hội không chỉ giói hạn trong phạm vi hoạt động Quốc hội trong nước mà cần thiết phải đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao nghị viện, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại với Quốc hội, với các Đoàn nghị sĩ và nghị sĩ các nước bằng những phương thức phù hợp, có hiệu quả nhằm tăng cường ảnh hưởng của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực
Quy chế hoạt động có thể coi là "hành lang pháp lý” cho hoạt động của đại biểu
Quốc hội Thông qua quy chế này, đại biểu Quốc hội biết được mình được làm gì và có thể làm như thế nào Cụ thể là, quy chế giúp cho đại biểu Quốc hội nhận thức đầy đủ, đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động đại biểu
Quy chế hoạt động cũng là công cụ pháp lý cực kỳ quan trọng để bảo đảm cho đại biểu Quốc hội hoạt động có hiệu quả, bảo vệ cho đại biểu Quốc hội tránh được những tác động bất lọi có thể có trong quá trình hoạt động đại biểu
Ngoài ra, quy chế hoạt động cũng góp phần tạo ra những bảo đảm cần thiết (như quy định về thời gian hoạt động của đại biểu kiêm nhiệm, về kinh phí, về các dịch vụ
hỗ trợ ) cho hoạt động của đại biểu Quốc hội
Trang 32Như vậy, quy chế hoạt động chính là cơ sở cho hoạt động của đại biểu Quốc hội Không có quy chế hoạt động thì đại biểu Quốc hội không thể hoạt động được Rõ ràng, quy chế hoạt động là một trong những điều kiện tiên quyết quyết định đến hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Thông qua việc ảnh hưởng có tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội (như đã trình bày ở trên), quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội thực
sự cũng là một trong những yếu tố tiên quyết quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội và thông qua hiệu quả hoạt động của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, thì nó lại tiếp tục có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước Thực tiễn cho thấy, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, những ảnh hưởng sâu xa này của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội không phải đã dễ dàng được nhận ra và được quan tâm tới
Cùng vói vai trò, ý nghĩa quan trọng trên, vói tính chất là một bộ phận hợp thành nên quy chế hoạt động chung của Quốc hội, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
là công cụ để Quốc hội thực hiện việc phân công, phối hợp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội sao cho khoa học và có hiệu quả nhất
Ngoài ra, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng là cơ sở để Quốc hội, các
cơ quan của Quốc hội xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội Trong
tiường hợp cần thiết, khi "Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của
nhân dân" [ 15 ] thì đây là một trong những cơ sở pháp lý để Quốc hội thực hiện việc bãi
iủiệm đại biểu Quốc hội
Đối với cử tri - những ngưcd trực tiếp bỏ phiếu bầu ra đại biểu Quốc hội nói riẫng và đối với nhân dân cả nước nói chung, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
là cơ sở để họ giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội Căn cứ vào quy chế hoạt động cùa đại biểu Quốc hội, các cử tri nói riêng và nhân dân cả nước nói chung có thể đánh giá hoạt động của người đại biểu Quốc hội đã thực sự tuân thủ pháp luật chưa, người đai biểu Quốc hội đã thực hiện hết nhiệm vụ, quyền hạn chưa và đã thực sự có hiệu quả như mong muốn của cử tri, của nhân dân chưa
Trang 33Ngoài ra, cũng như đối với Quốc hội, trong trường hợp cần thiết, thì quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để
cử tri thực hiện việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội mà họ đã bầu ra
Kết luận chương 1: Qua các nội dung đã trình bày trong Chương này, Luận văn
có thể khẳng định một số điểm sau đây:
- Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là một quy chế hoạt động độc lậptrong các quy chế hoạt động của bộ máy nhà nước
- Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội có một vai trò đặc biệt quan trọngđối với hoạt động của đại biểu Quốc hội và hoạt động của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội cũng như gián tiếp có ảnh hưởng tói toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước
- Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội hình thành và chịu chi phối rất lớn bởi bản chất, vai trò, đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng như các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và các yếu tố chính trị, xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử
- Trong điều kiện đất nước đang đang có những thay đổi mạnh mẽ, nhanh chóng hiện nay, cùng với xu thế mở cửa, hội nhập vói thế giới, với yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân thì vấn đề tiếp tục hoàn thiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội là một nhu cầu khách quan và cần thiết
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUY CHÊ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BlỂU QUỐC HỘI
THỰC HIỆN QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Quá trình hình thành và hoàn thiện quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội ở nước
ta gắn liền với quá trình hình thành và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước ta từ khi thành lập Nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà (năm 1945) đến nay, đặc biệt là gắn liền với sự ra đòi của 4 bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992) Có thể nói, mỗi bản Hiến pháp là một mốc son đánh dấu một bước phát triển của quy chế họat động của đại biểu Quốc hội nước ta
Hiến pháp năm 1946 đã xác định rõ vị trí, vai trò của Nghị viên (đại biểu Quốc hội): Nghị viên do nhân dân bầu ra (Điều 24) tính chất đại diện của Nghị viên được xác
định là người “Không chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể
nhân dân” (Điều 25) Là thành viên của cơ quan có quyền cao nhất của nhà nước Việt
Nam, Nghị viên có quyền bất khả xâm phạm “Nếu chưa được Nghị viện nhân dân đồng ý
hay trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử những Nghị viên Trong trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam Nghị viên ngay, nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông báo cho Ban thường vụ Ban thường vụ hoặc Nghị viện sẽ định đoạt” Bên cạnh đó, Nghị viên
còn được bảo đảm rất lớn trong hoạt động của mình tại Nghị viện, đó là “Nghị viên
không bị truy tố về lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40).
Hiến pháp năm 1946 quy định Nghị viên mất quyền đại biểu trong các trường hợp:
*
“Khi nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả tư cách Nghị viên” (Điều 40);
“Nghị viện phải xem xét vấn đề bãi một Nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần
tư tổng sô' cử tri tỉnh, thành p h ố đã bầu ra Nghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì Nghị viên đó phải từ chức'' (Điều 41).
Trang 35Về chế độ đối với Nghị viên, Điều 42 của Hiến pháp năm 1946 quy định:
“Phụ cấp của Nghị viền sẽ do Luật quy định” Quy định này cho thấy, ngay từ Quốc
hội khóa đầu tiên, Nghị viên chỉ được hưởng phụ cấp mà không phải là lương, tức không lấy hoạt động đại biểu làm nghề nghiệp của mình, phản ánh tính chất kiêm
nhiệm của Quốc hội nước ta “Nghị viện nhăn dân, mỗi năm họp hai lẩn do Ban
thường vụ triệu tập vào tháng 5 và tháng 11 dương lịch” với nhiệm kỳ “ổứ năm bầu một lẩn” (Điều 24).
Để tăng cường hoạt động, tăng cường mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội vói cử tri, trong khi chờ sửa Hiến pháp năm 1946, ngày 24 tháng 1 năm 1957, Quốc hội đã ra
“Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về vấn đề kiện toàn tổ chức Quốc hội” (đã được Quốc hội nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 24/1/1957),
theo đó quy định về hoạt động của Đại biểu Quốc hội: “7) Đ ể hiểu rõ tình hình nhân
dân đề đạt ý kiến nguyện vọng của nhân dân lên Quốc hội, các đại biểu Quốc hội phải giữ gìn sự liên hệ với nhăn dân ở địa phương bầu ra mình hay ở một nơi thuận lợi với hoàn cảnh cư trú Chính quyền các cấp có trách nhiệm giúp đỡ các đại biểu hiểu rõ tình hình nhân dân Tuỳ theo nhu cầu công tác, Ban thường trực Quốc hội tổ chức những đại biểu đi tiếp xúc với nhân dân; 2) Ban thường trực Quốc hội cần nhiên cứu một khoản phụ cấp và những quy định cần thiết cho đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ của mình; 3) Mỗi đại biểu Quốc hội có một huy hiệu, hình thức và cách sử dụng sẽ do Ban thường trực Quốc hội quy định; 4) Quyền bất khả xâm phạm của các đại biểu Quốc hội như đã ghi trong Điều 40 Hiến pháp năm 1946 phải được bảo đảm.”
Với tính chất dân chủ của Nghị viện nhân dân, Nghị viên là người thay mặt cho
tcàn thể nhân dân, nên ngay từ đầu, hoạt động của Nghị viện đã được xác định “Nghị
viện hoạt động công khai, công chúng được vào nghe” (Điều 30) và nguyên tắc biểu
quyết theo đa số (Điều 29)
Về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội Việt Nam đã được Hồ Chủ Tịch xác định: “Tổng
tuyển cử ỉà một dịp cho toàn thể quốc dân ỉựa chọn những người có tài, có đức đ ể gánh vcc cổng việc nước nhà” [7, trang 133, 145].
Trang 36So với Hiến pháp nãm 1946, địa vị pháp lý cũng như về nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 đã được quy định tương đối đầy đủ, cụ thể hơn Việc tuyển cử đại biểu Quốc hội đều tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 5) Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khoá bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau Với tư cách là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đổng Chính phủ (Điều 59) Đại biểu Quốc hội được quyền bất khả xâm phạm, nếu không có sự đổng ý của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp nếu không
có sự đổng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam và truy tố đại biểu Quốc hội (Điều 60)
Đại biểu Quốc hội có nghĩa vụ trung thành vói chế độ dân chủ nhân dân, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân (Điều
41 Luật tổ chức Quốc hội) Đại biểu Quốc hội có thể bị mất quyền đại biểu nếu cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn trong một số trường hợp nhất định (Điều 45 Luật tổ chức Quốc hội) Đổng thòi đại biểu Quốc hội cũng có thể xin từ chức vì lý do không đảm nhiệm được nhiệm vụ đại biểu Việc xin từ chức của đại biểu do Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và trình Quốc hội phê chuẩn (Điều 49 Luật tổ chức Quốc h ộ i)
Về chế độ đãi ngộ đối với đại biểu Quốc hội theo Nghị quyết của Quốc hội vẫn là chế độ phụ cấp, trừ một số đại biểu Quốc hội có lương khi làm việc chuyên trách trong các cơ quan của Quốc hội Một dấu hiệu hướng tới một mô hình Quốc hội có yếu tố hoạt động chuyên trách sau này Cụ thể hoá Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Quốc hội đã quy định cụ thể và rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội khi tham gia vào các hoạt động lập pháp, quyết định các chính sách quan trọng của đất nước và giám sát của Quốc hội
Theo quy định của Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Quốc hội năm 1981 thì các đại biểu Quốc hội do nhân dân bầu ra; nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội là 5 năm, bắt đầu từ
kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội sau Đại biểu
Trang 37Quốc hội có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các phiên họp, kỳ họp của Quốc hội Quốc hội được
tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6)
Đại biểu Quốc hội có thể bị bãi miễn bởi cử tri hoặc Quốc hội, nếu không xứng đáng với
sự tín nhiệm của nhân dân Đại biểu Quốc hội có thể xin từ chức vì lý do không đảm nhiệm được chức vụ đại biểu, Hội đổng nhà nước quyết định việc chấp nhận đại biểu từ chức Đại biểu nào bị Toà án phạt tù thì bị mất quyền đại biểu
Trong hoạt động của mình, đại biểu Quốc hội có nghĩa vụ liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quyền chất vấn của đại biểu được kế thừa và hoàn thiện hơn không chỉ đối vói Hội đổng bộ trưởng, các thành viên của Hội đổng Bộ trưởng mà còn đối với cả Chánh án Toàn án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đại biểu Quốc hội có quyền giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành và chấp hành pháp luật, tham dự các kỳ họp của Hội đồng nhân dân
Không có sự đổng ý của Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp không có
sự đồng ý của Ưỷ ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội Đề nghị bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội chỉ thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nếu do phạm pháp quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước xét và quyết định
Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan nhà nước hữu quan ở trung ương và địa phương có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đại biểu như cung cấp tư liệu, thông tin, bảo đảm bố trí nơi tiếp xúc cử tri, phương tiện đi lại theo tiêu chuẩn Đại biểu Quốc hội được hưởng các chế độ và bảo đảm trong khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình
Cụ thể hoá Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Quốc hội năm 1981 đã quy định cụ thể và khá rõ nét về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội Hội đồng Nhà nước cũng đã ban hành Quy chế về đại biểu Quốc hội Xét khía cạnh nhất định của sự phát triển và hoàn thiện quy chế Đại biểu Quốc hội thì những nội dung trên
Trang 38đây bước đầu phản ánh tính chuyên trách trong hoạt động của đại biểu Quốc hội Đó
là sự hình thành Hội đồng dân tộc, Hội đổng quốc phòng, các Uỷ ban thường trực của Quốc hội
Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Đại biểu Quốc hội theo các quy định của Hiến pháp năm 1992 về cơ bản vẫn tiếp tục kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1980 song ngày càng được hoàn thiện hơn Theo đó, đại biểu Quốc hội do nhân dân bầu ra, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà đại diện cho nhân dân cả nước (Điều 97) Hiến pháp năm 1992 cũng quy định mối liên hệ mật thiết giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, theo đó đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc
và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình, phổ biến vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội (Điều 97) Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà Đại biểu Quốc hội quan tâm (Điều 98) Hiến pháp cũng quy định việc Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động cho đại biểu Quốc hội
Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Quốc hội quy định một chương riêng về hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Ngoài ra, nhiệm
vụ, quyền hạn của Đại biểu Quốc hội cũng được quy định bổ sung trong một số văn bản pháp luật như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu nại, tố cáo, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội
Điều đáng lưu ỷ về hoạt động của đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp năm 1992,
Luật tổ chức Quốc hội đã khẳng định: “Trong số đại biểu Quốc hội, có những đại biểu
Quốc hội hoạt động chuyên trách và có những đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách” (Điều 45).
Nghiên cứu các quy định về địa vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của đại biểu Quốc hội qua 4 bản Hiến pháp và những quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan, cũng như thực tiễn hoạt động của đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ cho
Trang 39thấy: cùng với quá trình xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước các quy định về đại biểu Quốc hội ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện; các quyền và nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội nước ta quy định ngày càng đầy đủ, cụ thể và khả thi hơn Đây là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm và tạo điều kiện cho hoạt động của đại biểu Quốc hội, người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, cùng với tập thể Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, đồng thòi đề cao trách nhiệm của đại biểu trước cử tri và trước nhân dân cả nước.
2.2 QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI HIỆN HÀNH
Như trên đã trình bày về khái niệm quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội tại phần cơ sở lý luận, theo đó quy chế hoạt động đại biểu Quốc hội được hiểu là toàn bộ các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của đại biểu Quốc hội Do đó, với khái niệm này thì chúng ta không chỉ nghiên cứa trong phạm
vi bản quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội đã được ban hành mà còn phải xem xét vấn đề này tại các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội; vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
Vị trí của đại biểu Quốc hội được xác định trong mối liên hệ giữa nhà nước vói nhân dân; là người đại diện cho nhân dân, phản ánh ý chí, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Mặt khác, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho cơ quan quyền lực nhà nước tìm hiểu và nắm tâm tư, ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Trong hoạt động của nhà nước, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định các vấn đề của đất nước về lập hiến, lập pháp, các chính sách cơ bản
vé đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao Hoạt động của đại biểu Quốc hội mang tính chất như cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, là người phản ánh ý chí, nguyện vọng của
Trang 40nhân dân, đồng thời cũng là người biến ý chí, nguyện vọng đó thành các quy định pháp luật của Nhà nước.
Là người được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và
bỏ phiếu kín, đại biểu Quốc hội giữ vai trò quan trọng trong việc đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Điều xuất phát đầu tiên, tiêu chuẩn đầu tiên của người đại biểu Quốc hội là yếu tố đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Để thực hiện được đầy đủ trách nhiệm to lớn do nhân dân uỷ nhiệm, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đại biểu Quốc hội phải đi sâu, đi sát, liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc với
cử tri, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh đúng ý kiến của cử tri với Quốc hội, cơ quan nhà nước hữu quan Đồng thời, luôn chịu sự giám sát của cửtri, báo cáo với cử tri về hoạt động đại biểu của mình Trong phạm vi nhiệm vụ, quyềníhạn của mình, đề nghị các cơ quan nhà nước hữu quan nghiên cứu, giải quyết các kiến nghị của cử tri; cùng toàn thể Quốc hội biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành các quy phạm pháp luật trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Tính đại diện nhân dân của đại biểu Quốc hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội nước ta, thể hiện nguyên tắc
Hiến định tại Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc vê' nhân dân” Ngay từ những
ngày đầu tiên của Quốc hội Việt Nam, Hổ Chủ tịch đã khẳng định “Các đại biểu trong
Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam” [ 3, trang 189].
Xuất phát từ tính đại diện nhân dân mà Quốc hội được giao những chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng, vì quyền lực của Quốc hội xuất phát từ nhân dân Chỉ khi thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực sự nắm trong tay quyền lập Hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước thì Quốc hội mới thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân