1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của đại biểu quốc hội lý luận và thực tiễn

86 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh với địa vị pháp lý của cá nhân thông thường trong quan hệ pháp luật nói chung tổng hợp quyền và nghĩa vụ luật định cho cá nhân đó tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT T.P HỒ CHÍ MINH

Trang 2

L ời cảm ơn

Cuốn luận văn tốt nghiệp này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu của tác giả sau bốn năm học tại trường Đại học luật Tp Hồ Chí Minh – kết quả của sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của bản thân tác giả và sự giúp đỡ, hỗ trợ của rất nhiều người

Trước tiên, con xin kính gửi lời cảm ơn cha mẹ đã sinh thành và dưỡng dục con khôn lớn, trưởng thành như ngày hôm nay Tiếp đến, tác giả xin chân thành cảm

ơn Ban giám hiệu nhà trường, hệ thống Thư viện trường, Ban Chủ nhiệm khoa Luật Hành Chính, cùng toàn thể các thầy cô giáo và các bạn sinh viên khoa Hành Chính khóa 30 trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sự nhiệt tình dạy bảo của thầy cô và

sự quan tâm, giúp đỡ chia sẻ của bạn bè là động lực để tác giả cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện trong thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới cô Nguyễn Thanh Minh, giảng viên khoa Luật Hành Chính trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Cô đã rất tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, cung cấp kiến thức và phương pháp luận giúp tác giả hoàn thành bài luận văn Bên cạnh đó, tác giả còn muốn gửi lời cảm ơn đến chú Hoàng Minh Hùng và cô Vũ Thị Hồng Vân, những người đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt cho tác giả học tập, sinh sống trong suốt những năm tháng học xa nhà, đặc biệt là khoảng thời gian tác giả thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này

Trang 3

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Vị trí đặc biệt quan trọng này của đại biểu Quốc hội được ghi nhận trong bản

Hiến pháp năm 1946 (Điều thứ 25), Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết số 51/2001/QH 10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 (Điều 97) Hay nói cách khác, đại biểu Quốc hội là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa chính quyền Nhà nước với nhân dân Chỉ khi đại biểu Quốc hội hoạt động có hiệu quả thì Quốc hội mới vững mạnh, tạo được niềm tin yêu và sự tín nhiệm của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Với tính chất pháp lý và vai trò quan trọng như vậy, song trên thực tế mặc dù đã

có những cố gắng nhưng nhìn chung, nhiều đại biểu Quốc hội vẫn chưa hoàn thành được vai trò, trách nhiệm của mình, chưa thể hiện rõ được vị trí của người đại biểu nhân dân tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Vì vậy, chúng tôi xét thấy việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong việc nâng cao tính thực quyền của Quốc hội, đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Do

đó, với mong muốn đóng góp chút công sức vào việc giải quyết vấn đề trên, chúng tôi

chọn đề tài khóa luận: “Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội – Lý luận và thực

tiễn”

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích của đề tài: Thông qua việc tìm hiểu những vấn đề lý luận, pháp luật

thực định về khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn cũng như các phương thức hoạt động của đại biểu, chúng tôi nêu lên những mặt được và chưa được của vấn đề, đồng thời phân tích những hạn chế, thiếu sót trong

Trang 4

2

một số hoạt động của đại biểu Quốc hội, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động đó, khắc họa rõ nét hơn nữa địa vị pháp lý người đại biểu nhân dân tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Từ mục đích đặt ra như trên, đề tài có các nhiệm vụ sau đây:

1 – Tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu về khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trên cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý (thông qua các bản Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan); phân tích tính chất pháp lý và trách nhiệm pháp lý của đại biểu Quốc hội, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vị trí, vai trò người đại diện của mình tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

2 – Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn một số hoạt động của đại biểu Quốc hội một cách tổng quan nhất

3 – Trên cơ sở các nghiên cứu trên, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó

và đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại cũng như tăng cường hiệu quả trong các hoạt động đó của đại biểu Quốc hội Từ đó, làm rõ hơn khái niệm về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu cũng như của Quốc hội, khiến cho Quốc hội ngày càng trở nên có thực quyền hơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu: Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội – những vấn đề

lý luận và thực tiễn

- Phạm vi nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu các bản

Hiến pháp của Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết số 51/2001/QH

10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992; các văn bản pháp luật; các bài viết, sách báo, tạp chí liên quan đến Quốc hội và đại biểu Quốc hội nhằm làm sáng tỏ địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội

4 Tính mới của đề tài:

Đề tài không phải là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ vì vấn đề này đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu và viết trong các báo cáo cũng như tạp chí chuyên ngành luật Nhưng mỗi bài viết lại có những cách nhìn nhận dưới các giác độ khác nhau

Trang 5

3

Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu dưới một giác độ chung, nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể, có nghiên cứu đến sự phát triển địa vị pháp lý qua các bản Hiến pháp của Việt Nam và việc vận dụng thực hiện địa vị đó trong các hoạt động của đại biểu Quốc hội, từ đó có những đánh giá nhằm góp phần làm rõ khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, nâng cao nhận thức của người dân về vị trí của đại biểu dân cử

và trên cơ sở những kiến nghị đưa ra mong muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội, của Quốc hội cũng như củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành được đề tài, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu mang tính truyền thống như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, tham khảo ý kiến của các chuyên gia và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

để nghiên cứu đề tài

6 Cơ cấu của luận văn:

Trên cơ sở những điều kiện đã trình bày ở trên, luận văn được hoàn thành với

cơ cấu:

- Lời nói đầu

- Nội dung: bao gồm hai chương:

+ Chương I: Những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội + Chương II: Một số hoạt động thể hiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội - Thực trạng và kiến nghị

- Kết luận

- Phụ lục

- Danh mục tài liệu tham khảo

Mặc dù có nhiều cố gắng nghiên cứu về cơ sở pháp lý và thực tiễn, tuy nhiên

do luận văn được thực hiện thời gian ngắn nên khó tránh khỏi những sai sót, hạn chế

Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô, sự đóng góp nhiệt tình của các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 6

4

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ

CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

1.1 Khái niệm về địa vị pháp lý đại biểu Quốc hội

Theo Từ điển Luật học, khái niệm “Địa vị pháp lý” có nghĩa là “vị trí chủ thể

pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của

pháp luật Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các

quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn các khả

năng của chủ thể trong các hoạt động của mình” [tr.244 – 22]

Như vậy, thông qua địa vị pháp lý của chủ thể có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật

Từ đây, có thể suy ra địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là tổng hợp các

chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ và phương thức hoạt động mà pháp luật quy định cho cá nhân có tư cách chủ thể là đại biểu Quốc hội và tham gia các quan hệ pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hay nói cách khác,

địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là địa vị pháp lý của đại biểu ở cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước cao nhất, được xác định bởi tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tính chất chính trị - pháp lý của đại biểu, liên quan đến việc hình thành, chấm dứt và thời hạn của mối liên hệ trên, liên quan đến việc xác định thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), các biện pháp bảo đảm pháp lý cho hoạt động của đại biểu cũng như liên quan đến trách nhiệm kiểm tra, giám sát, báo cáo của đại biểu trước cử tri

So sánh với địa vị pháp lý của cá nhân thông thường trong quan hệ pháp luật nói chung (tổng hợp quyền và nghĩa vụ luật định cho cá nhân đó tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập) thì địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có những điểm đặc thù riêng biệt, và phải khẳng định đó là một địa vị pháp lý rất đặc biệt – sự đặc

biệt thể hiện ở “vai trò kép” của đại biểu Quốc hội: một mặt, đại biểu Quốc hội là

người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân

Trang 7

5

dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, tức là chịu trách

nhiệm trước nhân dân, đóng vai trò là “công bộc” của nhân dân; đồng thời, đại biểu

Quốc hội là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc

hội, là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở nước ta, chịu trách

nhiệm trước Quốc hội

 Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của

nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, và chịu trách nhiệm trước nhân dân

Đại biểu Quốc hội trước hết là người đại diện của nhân dân Tính đại diện và chịu trách nhiệm trước nhân dân của đại biểu Quốc hội xuất phát từ cách thức bầu cử đại biểu Quốc hội: đại biểu Quốc hội là những người được nhân dân bầu ra bởi tổng tuyển cử tự do với một nhiệm kỳ hữu hạn nhất định Hay nói cách khác, người đại biểu của dân là từ nhân dân mà ra, được nhân dân giao phó quyền thực hiện quyền lực nhà nước thông qua lá phiếu bầu cử Khi cầm lá phiếu bầu cử trên tay, việc giữ người nào và gạch bỏ người nào là việc người dân lựa chọn ra người đại diện cho mình, đồng thời chuyển giao việc thực hiện quyền lực nhà nước – quyền thiêng liêng của mình tới người đại diện cho ý chí, tâm tư, nguyện vọng của mình Đại biểu Quốc hội không chỉ đại diện đơn thuần thay mặt cho một số người, cũng không chỉ là người đại diện cho nhân dân ở riêng một địa phương cụ thể nào như đại biểu Hội đồng nhân dân, mà họ còn là người đại diện có thẩm quyền cho nhân dân cả nước Thẩm quyền ở đây là thẩm quyền của nhân dân trao cho người đại diện của mình theo hình thức dân chủ đại diện – nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua đại biểu, trao cho đại biểu quyền thể hiện ý chí nguyện vọng của họ trong việc quyết định ở cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Vì đại biểu sẽ là người thể hiện ý chí của nhân dân cả nước, cho nên đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước, đồng thời cũng phải quan tâm thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình – đây cũng chính là căn cứ xác định nội dung hoạt động của đại biểu Quốc hội: đại biểu cần phải quan tâm đến mọi nguồn thông tin đại chúng để hiểu rõ điều mà cử tri đang đòi hỏi, từ đó vạch ra chương trình hoạt động của mình Do đó, đại biểu Quốc hội phải là

Trang 8

6

những đại biểu tài năng, có đủ khả năng thực sự thay mặt cho cử tri quyết định những chủ trương chính sách đúng đắn cho sự thịnh vượng và giàu có của quốc gia Song, người đại biểu cũng sẽ bị bãi nhiệm bởi cử tri nếu họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm Vì vậy, người đại biểu phải tâm niệm vị trí của mình là một trách nhiệm, đóng

vai trò là “công bộc” của dân, chứ không phải là một chức danh, phải hoạt động vì lợi ích của nhân dân – chủ thể đã tạo ra họ, phải là người “lo trước nỗi lo của nhân dân,

buồn trước nỗi buồn của nhân dân” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy Đại biểu

Quốc hội phải cố gắng hoàn thành những nhiệm vụ mà nhân dân đã giao phó được thể chế hóa, quy định trong pháp luật với tinh thần trách nhiệm cao, xuất phát từ nghĩa vụ

và phải cả từ cái tâm, cái đức của người đại biểu Biểu hiện của vai trò đại diện cho nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân của đại biểu Quốc hội được quy định rõ trong Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 2002:

“Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền

hạn đại biểu của mình, gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, tiếp xúc cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh đúng ý kiến của cử tri với Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan; định kỳ báo cáo với cử tri về hoạt động đại biểu của mình…” [12 – Điều 3]

Ở đây có sự khác biệt so với quy định của pháp luật về vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội các nước tư sản Quan điểm ngự trị trong pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức cũng như các nước tư bản cho rằng: Nghị sĩ là người đại biểu cho cả dân tộc chứ không đại biểu cho cử tri đơn vị bầu cử đã bầu ra nghị sĩ Điều 38, Hiến pháp

Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Đại biểu Hạ Nghị viện (Bundexrat) là người đại

diện cho cả nhân dân Đức, chỉ hoạt động theo lương tâm của mình, không theo sự ủy nhiệm của cử tri” [23 – tr.202]

Trang 9

7

 Đại biểu Quốc hội là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà

nước trong Quốc hội, là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta, và chịu trách nhiệm trước Quốc hội

Trước tiên, đại biểu Quốc hội là người đại diện có thẩm quyền của nhân

dân và thay mặt cho nhân dân cả nước Đại biểu Quốc hội có quyền thay mặt nhân

dân tham gia đầy đủ các kỳ họp của Quốc hội trong kỳ họp Quốc hội; thay mặt nhân dân khi liên hệ với các cơ quan, tổ chức khi giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của nhân dân trong thời gian giữa hai kỳ họp Như vậy, từ khi được nhân dân tín nhiệm giao phó trọng trách, những hoạt động trong quá trình thực hiện chức năng đại biểu không còn là hoạt động riêng lẻ của cá nhân người đại biểu, mà là ý kiến tổng hợp của nhân dân được đúc kết lại và người đại biểu chỉ thực hiện công đoạn cuối cùng là thay mặt nhân dân trình bày ý kiến đó tại cơ quan quyền lực Nhà nước hoặc kiến nghị với các

cơ quan, tổ chức có liên quan

Bên cạnh đó, đại biểu Quốc hội còn là người thay mặt nhân dân thực hiện

quyền lực nhà nước trong Quốc hội, là thành viên chính thức – hạt nhân cấu thành

nên cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở nước ta, tức là hoạt động đại biểu mang tính quyền lực Nhà nước Điều đó được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Vị trí, vai trò của Quốc hội được tổng hợp từ nhiều yếu tố như nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quốc hội, và yếu tố quan trọng bậc nhất có tính chất quyết định căn bản tới địa vị pháp lý của Quốc hội là ở cách thức thành lập Quốc hội

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước

ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…” [4 – Điều 2] và “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội…” [4 – Điều 6] Theo đó, Quốc hội nước ta được quy định là cơ quan quyền lực

Nhà nước cao nhất, thực hiện chủ quyền duy nhất thuộc về nhân dân Quốc hội chỉ có thể thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn dựa trên cơ sở sự tham gia tích cực và sáng tạo của các đại biểu Quốc hội, vì đại biểu Quốc hội lúc này là hạt nhân của Quốc hội,

bộ phận cấu thành nên Quốc hội, thay mặt nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà

nước trong việc “tham gia quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của

Trang 10

8

Quốc hội: lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; tham gia thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước” [12 – Điều 2]

Là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại biểu Quốc hội còn là người đại diện quyền lực Nhà nước trong quan hệ với các cơ quan Nhà nước và viên chức Nhà nước khác, với các tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức chính trị -

xã hội và nhân dân toàn quốc Khi đó, người đại biểu với tư cách thành viên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất sẽ có những quyền hạn do pháp luật quy định để bắt buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thi hành

Sở dĩ người đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý đặc biệt như vậy vì bản chất nhà nước ta là nhà nước do nhân dân làm chủ, sở hữu quyền lực nhà nước, song người dân không thể tự mình thực hiện tất cả các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của nhà nước mà phải thông qua những đại diện của mình, trao cho đại biểu quyền lực của mình để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của nhà nước Vì đại biểu Quốc hội không chỉ là người đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền Nhà nước với nhân dân, nên đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực Nhà nước Do đó, trong khi làm nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước, đồng thời cũng phải quan tâm thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình, phải căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và những quy định của chính quyền Nhà nước ở địa phương

1.2 Địa vị pháp lý đại biểu Quốc hội qua các giai đoạn Pháp luật Việt Nam

Khi phân chia các giai đoạn pháp luật Việt Nam, thông thường người ta dựa theo các bản Hiến pháp Cách phân chia này có ưu điểm là dựa trên văn bản pháp lý mang tính chủ đạo, thể hiện sự hoàn thiện của mỗi giai đoạn pháp luật Theo đó, địa

vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có thể chia thành các giai đoạn sau:

Trang 11

9

1 – Giai đoạn từ năm 1946 đền năm 1959;

2 – Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980;

3 – Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992;

4 – Giai đoạn từ 1992 đến nay

có các đại biểu đại diện cho giai cấp nông dân, công nhân, trí thức mà còn có đại diện của các tầng lớp khác đang tồn tại trong xã hội ta lúc bấy giờ Trong số này có 57% số đại biểu của các Đảng phái, 43% không đảng phái, 87% đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ và 43 đại biểu dân tộc thiểu số [47– tr 52] Sau này, tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, để tập hợp các lực lượng Đảng phái, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị và được toàn thể Quốc hội chấp nhận mở rộng thành phần Quốc hội thêm 70 vị không qua bầu cử, nâng tổng số đại biểu Quốc hội khóa I lên thành 403 vị

- Về nhiệm vụ, quyền hạn: để thực hiện vai trò thay mặt nhân dân thực hiện

quyền lực nhà nước tại Nghị viện trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đại biểu Quốc hội được trao những quyền rất quan trọng, quyết định những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với một Nhà nước mới được thành lập và với nền chính quyền còn rất tron trẻ:

Chỉ khi “có quá nửa tổng số Nghị viên tới họp, Hội nghị mới được biểu quyết Nghị

viện quyết nghị theo quá nửa nghị viên có mặt Nhưng muốn tuyên chiến thì phải có

Trang 12

10

hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu thuận” [1 – Điều thứ 29] Tuy nhiên, riêng

đối với vấn đề sửa đổi Hiến pháp thì phải do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu [1– Điều thứ 70] Đối với những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ được đưa

ra để nhân dân phúc quyết nếu được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý [1 – Điều thứ 32]

Để đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đó, Hiến pháp 1946 quy định nghị viên có những đặc quyền đáng kể, bao gồm: Quyền bất khả xâm phạm về

thân thể: “Nếu chưa được Nghị viện đồng ý và trong lúc Nghị viện không họp mà

chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử nghị viên”; Quyền tự do phát biểu chính kiến: “Nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” Trong trường hợp phạm tội bắt quả tang, nghị viên có

thể bị bắt giam, nhưng Chính phủ phải thông tri cho Ban thường vụ không quá 24 giờ, sau đó, Ban thường vụ hoặc Nghị Viện sẽ định đoạt [1 – Điều thứ 40]

- Về tính đại diện cho nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, Hiến pháp

1946 đã quy định về vấn đề bãi miễn nghị viên tại điều thứ 41: “Nghị viện phải xem

xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức” Như vậy, theo quy định của

Hiến pháp 1946 thì chỉ có cử tri là người đã bầu ra đại biểu Quốc hội mới là chủ thể

có quyền đề xuất việc bãi miễn đại biểu, còn quyền quyết định việc bãi miễn lại thuộc

về Nghị viện khi có hai phần ba (2/3) tổng số đại biểu đồng ý về việc bãi miễn đó

Nhìn chung, tuy trong những ngày đầu sơ khai nhưng vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội cũng đã được thể hiện khá rõ nét qua các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và các hoạt động của các đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm trọn một

cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân” [46 – tr.124]

Trang 13

11

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980:

Chính thể Cộng hòa theo Hiến pháp 1959 mặc dù không thay đổi so với chính thể trong Hiến pháp 1946, song vị trí pháp lý của cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước do nhân dân toàn quốc bầu ra có thay đổi rất đáng kể Bắt đầu từ bản Hiến pháp này, Nghị viện của Hiến pháp năm 1946 được đổi tên gọi thành Quốc hội Lần đầu tiên cơ quan đại diện do nhân dân trực tiếp bầu ra được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa [2 – Điều 43] Địa vị pháp lý của người đại biểu Quốc hội cũng vì thế mà được thể hiện rõ nét hơn So với Hiến pháp năm 1946 thì Hiến pháp năm 1959 đã quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội Bản Hiến pháp 1959 không quy định cụ thể một đại biểu Quốc hội phải đại diện cho bao nhiêu người dân như trước đó bản Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận Đồng thời, bản Hiến pháp cũng không quy định cụ thể phạm vi đại diện của người đại biểu Quốc hội, mà thể lệ tuyển cử và số đại biểu Quốc hội lúc này do luật định (tức Luật bầu cử Quốc hội năm 1959) [2 – Điều 45]

- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Có một số quy định thay đổi so với Hiến pháp năm

1946, nâng cao quyền hạn của đại biểu Quốc hội, khắc họa rõ nét hơn địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Ví dụ quy định về việc Ủy ban thường vụ phải triệu tập cuộc họp bất thường khi có hơn một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu [2 –Điều 46]; Các luật, nghị quyết của Quốc hội được thông qua khi có trên một nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành [2– Điều 48], ngoại trừ việc sửa đổi Hiến pháp thì phải được hai phần ba tổng số đại biểu quốc hội tán thành [2 – Điều 112]; Và cũng từ bản Hiến pháp này quy định Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội được thành lập [2 – Điều 46]

Một quy định quan trọng khẳng định sự tiến bộ vượt bậc về địa vị của người đại biểu Quốc hội ở bản Hiến pháp này là quyền chất vấn lần đầu tiên đã được ghi nhận tại điều 59 Theo đó, đối tượng chất vấn bao gồm Hội đồng Chính phủ và cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ Cơ quan bị chất vấn phải trả lời chất vấn trong thời hạn năm ngày, trường hợp cần điều tra thì thời hạn trả lời có thể là hơn một tháng

Trang 14

12

Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự Hội nghị Hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu Đây là điểm bổ sung quan trọng nhằm tăng cường mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan dân cử địa phương, thể hiện vai trò đại diện cho nhân dân

- Về tính chịu trách nhiệm trước nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 đã

cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp 1959 về chế độ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội đối với nhân dân qua việc nhân dân có quyền bãi miễn đối với đại biểu Quốc hội Theo quy định của luật, đại biểu Quốc hội phải thôi giữ chức vụ trong ba trường hợp như sau:

1 Bị cử tri bãi miễn: nếu người đại biểu Quốc hội nếu tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ Việc bãi miễn một đại biểu Quốc hội phải được quá nửa tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử bỏ phiếu tán thành Như vậy, trong trường hợp này, cử tri có quyền trực tiếp bãi miễn mà không cần sự đồng ý của từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội như Hiến pháp năm 1946 đã quy định

2 Đại biểu Quốc hội phạm pháp và bị Tòa án phạt tù [8 – Điều 46]

3 Bị cử tri bãi miễn, theo đó, Quốc hội có thể xét định về những trường hợp đại biểu Quốc hội không xứng đáng là đại biểu Quốc hội [8 –Điều 47]

Tuy vậy, trong điều kiện nào và ai có thể nêu vấn đề tổ chức cho cử tri bỏ

phiếu tín nhiệm hoặc “xét định” sự tín nhiệm đối với đại biểu Quốc hội thì chưa được

Trang 15

13

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992:

Vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này gắn với bản Hiến pháp năm 1980 và về cơ bản phát huy những quy định về vị trí của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn trước, đồng thời tiếp tục được bổ sung nhiều quy định khác, góp phần làm

rõ hơn nữa địa vị của người đại biểu nhân dân tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao

nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra Bản Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “Nhân dân

sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân ” [3 – Điều 6], tức là khẳng

định người đại biểu Quốc hội (trong Quốc hội) và đại biểu Hội đồng nhân dân (tại Hội đồng nhân dân các cấp) với tư cách là người đại diện cho nhân dân sẽ thực hiện quyền lực nhà nước thay cho nhân dân, và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc thực hiện quyền lực nhà nước đó

- Về phạm vi đại diện của đại biểu Quốc hội, bản Hiến pháp quy định thông qua cơ chế bầu cử ra đại biểu Quốc hội: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ,

thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Tòa án nhân dân tước các quyền đó” [3 – Điều 57]

Thể lệ bầu cử và số đại biểu do luật Số 250-LCT về bầu cử đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành ngày 18/12/1980 quy định

- Về nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong

bản Hiến pháp này được thể chế hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 Có thể nói, văn bản pháp luật này quy định cụ thể hơn về các nghĩa

vụ của đại biểu Quốc hội so với luật Tổ chức Quốc hội năm 1960 Ví dụ quy định đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp và phiên họp của Quốc hội Đại biểu nào không thể tham gia các kỳ họp và phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước cho Chủ tịch Quốc hội biết

Có một quyền quan trọng lần đầu tiên được ghi nhận, góp phần khẳng định thêm địa vị pháp lý của người đại biểu Quốc hội, đó là quyền trình dự án luật của đại

Trang 16

14

biểu Quốc hội ra trước Quốc hội [3 – Điều 86] Mặc dù trên thực tế, quyền này không được các đại biểu phát huy nhưng cũng đã góp phần khẳng định sự chuyển biến về vai trò của người đại biểu Quốc hội trong công tác lập pháp Các luật và nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa (trừ trường hợp sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba) tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành [3 – Điều 87]

Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội tiếp tục được ghi nhận và những chức

danh thuộc đối tượng bị chất vấn bao gồm: Hội đồng Bộ trưởng, các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao [3 – Điều 95] Chất vấn được tiến hành theo trình tự đại biểu Quốc hội gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội để Chủ tịch Quốc hội chuyển cho các cơ quan hoặc người bị chất vấn trả lời Khi đại biểu chất vấn Hội đồng Bộ trưởng thì Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hoặc một thành viên được ủy nhiệm của Hội đồng Bộ trưởng trả lời Khi đại biểu chất vấn một thành viên Hội đồng Bộ trưởng thì thành viên đó phải trả lời

- Về quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội: việc bắt giam và truy tố đại biểu

Quốc hội về cơ bản giống quy định của Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Quốc hội

1960 Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 còn quy định rõ hơn chủ thể có quyền đề nghị, bắt giam và truy tố đại biểu Quốc hội là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao [9 – Điều 65] Nếu bị phạm pháp quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội và Hội đồng Nhà nước xem xét và quyết định [3 – Điều 96]

- Về tính chịu trách nhiệm trước cử tri: Hiến pháp 1980 quy định đại biểu

Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội, đồng thời phải tiến hành trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem xét và giúp giải quyết những khiếu nại và tố cáo của nhân dân Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đã quy định cụ thể vai trò của đại biểu Quốc hội trong việc giải quyết khiếu nại, không chỉ có trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan nhà nước hữu quan mà

còn có nhiệm vụ “theo dõi việc giải quyết và báo cáo cho đương sự biết kết quả Các

Trang 17

Rõ ràng, vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội những giai đoạn này ngày càng được thể hiện rõ là người đại diện cho nhân dân ở cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội với nhiều thực quyền quan trọng được ghi nhận trong bản Hiến pháp hơn

1.2.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay:

Có thể khẳng định rằng từ năm 1992 cho đến nay đã hình thành tương đối đồng

bộ hệ thống các văn bản pháp luật về đại biểu Quốc hội, trong đó có các quy định của Hiến pháp 1992, Nghị quyết số 51/NQ/QH 10 năm 2001 (sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992), Luật Tổ chức Quốc hội 2001, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội năm 2002

So với giai đoạn trước, vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này

về cơ bản không có gì thay đổi Các quy định về đại biểu Quốc hội, bao gồm quyền miễn trừ, quyền chất vấn, quyền tham gia giải quyết khiếu nại, quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; và các nghĩa vụ tham gia các kỳ họp, bị bãi miễn khi

Trang 18

hội: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân,

không chỉ cho nhân dân ở đơn vị bẩu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước” [4 – Điều 97]

Điểm thay đổi lớn nhất theo Hiến pháp 1992 sửa đổi và được thể hiện trong Quy chế hoạt động về vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội là điều khoản về mối quan

hệ giữa đại biểu với cử tri Hiến pháp 1992 sửa đổi quy định: “Đại biểu Quốc hội phải

liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát củai cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan hữu quan; thực hiện chế độ báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó” [4 – Điều 97]

Đồng thời, tại Điều 12, Quy chế hoạt động cũng ghi rõ: “Đại biểu Quốc hội có trách

nhiệm tiếp xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội Trong trường hợp không thể tham gia tiếp xúc cử tri thì đại biểu Quốc hội báo cáo với trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội” Việc tiếp xúc cử tri có nhiều ý nghĩa quan trọng

nhằm duy trì mối quan hệ qua lại giữa đại biểu Quốc hội và nhân dân Quy chế hoạt động đã xác định các hình thức định kỳ tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, thể hiện vai trò về tính đại diện của người đại biểu

Trang 19

Ngoài việc tăng thêm số lượng, chất lượng của các đại biểu Quốc hội cũng đã được cải thiện đáng kể, góp phần khẳng định vai trò, địa vị pháp lý của đại biểu, khiến cho người dân tin tưởng hơn vào người đại diện của mình ở cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Trong lần bầu cử Quốc hội khóa XI và khóa XII gần đây, có điểm mới

là ngoài các tiêu chuẩn truyền thống và được chú trọng như phẩm chất chính trị trung thành với Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, phẩm chất về đạo đức như trước đây, Luật bầu cử năm 1997 quy định: để trúng cử vào Quốc hội, các ứng cử viên phải

là những người có trình độ hiểu biết, có năng lực tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước

Nhằm tạo điều kiện cho các đại biểu hoạt động, điểm mới nữa trong Quy chế hoạt động là quy định chi tiết điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội về tài liệu và các dịch vụ thông tin, nghiên cứu, thư viện, và Internet khi có yêu cầu Đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội còn được cung cấp thông tin về hoạt động của Hội đồng dân tộc hoặc của Ủy ban mà mình là thành viên Những đảm bảo này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội, giúp người đại biểu hoàn thành trọng trách thực hiện quyền lực Nhà nước mà nhân dân đã giao phó

Trang 20

18

Theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội Việt Nam sẽ tập trung hơn nữa vào chức năng làm luật để khắc phục tình trạng vừa thiếu pháp luật, vừa có nhiều mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thực hiện tốt chức năng lập pháp của Quốc hội Để đảm đương được những nhiệm vụ này, khác với các thời kỳ trước đây, trong thành phần đại biểu Quốc hội có một số lượng thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách, chuyên làm việc đại biểu Quốc hội, mà

không phải đảm nhiệm một công việc thường xuyên nào khác: “Trong số các đại biểu

quốc hội, có những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách có ít nhất là hai mươi lăm phần trăm (25%) tổng số đại biểu Quốc hội” [10 – Điều 45] Đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên

trách phải dành hết thời gian cho hoạt động của Quốc hội, hưởng lương do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định Ở mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội sẽ có khoảng một đến hai đại biểu chuyên trách, được bố trí công việc ở các Hội đồng, Ủy ban của Quốc hội

và được bố trí nơi làm việc ở trụ sở Quốc hội Đại biểu không chuyên trách phải dành

ít nhất một phần ba (1/3) thời gian làm việc để làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa

XI có 119 đại biểu hoạt động chuyên trách, chiếm 23,89 % tổng số đại biểu Quốc hội Đến Quốc hội khóa XII đã có 145 đại biểu hoạt động chuyên trách, chiếm 29,41% tổng số đại biểu Quốc hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, khiến cho Quốc hội ngày càng trở nên có thực quyền hơn và thực sự trở thành cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cũng là làm rõ hơn vai trò của đại biểu Quốc hội trong

vị trí là người đại diện của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội So sánh với pháp luật các nước tư sản, nghị sĩ ở các nước tư sản được

coi như một “nghề”, và họ không kiêm nhiệm bất cứ một chức sắc nào khác trong

suốt quá trình làm đại biểu (trừ ở Anh, Nhật và một số nước khác) Ở Pháp, nhằm hạn chế ảnh hưởng của cơ quan hành pháp đối với đại biểu và hạn chế ảnh hưởng của đại biểu đối với hoạt động của cơ quan tư pháp và các cơ quan Nhà nước khác, đồng thời tạo cho đại biểu tập trung thời gian cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu, pháp luật Pháp quy định đại biểu không được kiêm nhiệm các chức danh: tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, thành viên Hội đồng kinh tế xã hội, thành viên Hội đồng Chính phủ

Trang 21

19

về lãnh thổ hải ngoại, thẩm phán Tòa án Tại mục 2, khoản 6, điều 1, Hiến pháp Hoa

Kỳ cũng quy định: “Không một Thượng nghị sĩ hay Dân biểu Hạ viện nào trong suốt

nhiệm kỳ của mình có quyền được bổ nhiệm một chức vụ hành chính nào của Hợp chủng quốc và không một người nào đang giữ một chức vụ trong Chính phủ Hợp chủng quốc lại có thể là thành viên của Quốc hội” Quy định này nhằm đảm bảo

nguyên tắc phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp Nói chung, các quy định

về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nước ta cơ bản có những điểm khác với nghị

sĩ tư sản vì những điều kiện cụ thể của Nhà nước ta khác với Nhà nước có thiết chế tư sản được sinh ra từ thời kỳ Cách mạng tư sản, và trong thời kỳ phát triển của Chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, bên cạnh đó, ít nhiều chúng ta cũng đã tiếp thu những đặc điểm địa vị pháp lý của Nghị viện tư sản phát triển, tạo nên những nét tương đồng, ví

dụ về quyền miễn trừ của các đại biểu Quốc hội, pháp luật nước ta và đa số các nước

tư sản trên thế gới đều quy định tương đối giống nhau Hiến pháp Pháp ghi nhận: “Khi

đang thực hiện nhiệm vụ, đại biểu không thể bị bắt giam, truy tố vì những lời phát biểu hay hành vi của mình” Theo Khoản 3, điều 26 Hiến pháp Pháp (sửa đổi tháng 8

năm 1945), “cơ quan bảo vệ pháp luật có thể thực hiện việc điều tra đối với đại biểu

thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhưng quyết định bắt giam hay quyết định áp dụng biện pháp phòng ngừa đối với đại biểu Quốc hội chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của Ban thường vụ của Viện mà đại biểu là thành viên”

Tóm lại, với những thay đổi như vậy, đại biểu Quốc hội ngày nay đã khẳng định được địa vị pháp lý quan trọng, đặc biệt của mình, ngày càng đảm bảo hiệu quả vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, và vai trò thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nuớc trong Quốc hội

1.3 Một số vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội 1.3.1 Tiêu chuẩn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội

 Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội:

- Đại biểu Quốc hội trước hết trên cương vị là người đại diện của nhân dân Để hoàn thành cương vị này một cách xuất sắc và làm việc có hiệu quả, tiêu chuẩn chung

Trang 22

20

người đại biểu của dân phải là người tài đức vẹn toàn, bởi vì như Bác Hồ kính yêu của

chúng ta đã khẳng định: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không

có tài thì làm việc gì cũng khó…” Những tiêu chuẩn đó của người đại biểu Quốc hội

đã được thể chế hóa trong pháp luật, cụ thể người đại biểu Quốc hội phải “Trung

thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [6 – Điểm 1,

Điều 3] Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đòi hỏi nhất thiết phải có đối với mỗi công dân, cán bộ Nhà nước, nên không phải là vô tình mà nhà làm luật sắp xếp đặt tiêu chuẩn này lên trước nhất trong điều luật Trong tình hình hiện nay, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam không những chỉ thể hiện ở sự nhất trí chấp hành triệt để đường lối và những quan điểm, chủ trương của Đảng về kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của Tổ quốc mà nhân dân ta đã phải đấu tranh biết bao gian khổ mới giành được, mà còn thể hiện ở sự sáng tạo, ở tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm và dũng cảm đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong quá trình xây dựng đất nước thời công nghiệp hóa – hiện đại hóa, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Đại biểu Quốc hội phải là người “có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm

chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật” [6 – điểm 2, Điều 3] Đây chính là cái đức, cái tâm của người đại biểu

Người đại biểu nhân dân tức là “người đại diện tiêu biểu” trong nhân dân, thì nhất

thiết phải có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chí công vô tư Trong tình hình khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, dẫn đến những khủng hoảng về kinh tế, cũng như các mặt khác của đời sống xã hội, đã ít nhiều ảnh hưởng tới Việt Nam thì

tiêu chuẩn “cần, kiệm, liêm, chính” của người đại biểu càng được đề cao Đại biểu

không chỉ gương mẫu trong công tác, sản xuất, trong chấp hành pháp luật mà còn phải

Trang 23

21

có nhân cách hoàn thiện, gương mẫu trong đời thường, trong cuộc sống gia đình,…, không những chỉ tuân theo pháp luật mà còn phải tuân theo các chuẩn mực đạo đức chung Đối với những người xung quanh, đại biểu phải là người nhiệt tình, năng nổ, hết lòng phục vụ nhân dân, thực hiện công việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất theo sự tín nhiệm của nhân dân, vì người đại biểu phải ý thức rằng mình được bầu ra

để thay mặt cho toàn thể nhân dân, chứ không phải là một chức danh Trong công tác, đại biểu Quốc hội phải là một cán bộ tận tụy, không tham ô, không nhận hối lộ, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực, giữ vững cuộc sống lành mạnh, trong sạch Là thành viên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, sự gương mẫu của đại biểu trong chấp hành pháp luật – vừa là nghĩa vụ công dân, vừa là trách nhiệm của cán bộ dân cử - sẽ làm cho hoạt động của cơ quan, tổ chức cũng như người dân đi vào thể chế, tôn trọng pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời động viên nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của họ

- Như trên đã nói, người đại biểu của dân phải là người có đức, có tài Cái tài của người đại biểu Quốc hội được thể chế hóa tại khoản 3, Điều 3 Luật bầu cử đại

biểu Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung 2001: đại biểu Quốc hội phải là người “có trình độ

và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước” Trong tình hình xã hội hiện nay, yêu cầu công tác ngày

càng cao, quy mô quản lý Nhà nước ngày càng lớn, thực tế đời sống có nhiều vấn đề cấp bách cần được giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời Điều này đòi hỏi người đại biểu phải có trình độ hiểu biết sâu và rộng, cả về chủ nghĩa xã hội, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức quản lý Nhà nước, cũng như kiến thức về kinh tế, xã hội, và cả kiến thức về khoa học, công nghệ thông tin,… Nói cách khác, để có thể làm tốt nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội phải có tư duy, phong cách làm việc mới, năng lực tổ chức và quản lý Nhà nước, tiếp thu và xử lý những kênh thông tin cập nhật hàng ngày, thậm chí hàng giờ, nhất là trong thời kỳ đầu Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trong bối cảnh cả thế giới đang phải đối mặt với những thách thức về khủng hoảng tài chính, suy thoái ô nhiễm môi trường, dịch bệnh lây lan… có tính liên khu vực và tính toàn cầu Từ đó, người đại

Trang 24

22

biểu mới có thể nắm bắt rõ tình hình một cách sâu sắc và toàn diện, hoạch định ra những kế hoạch, giải pháp hữu hiệu có tính ứng dụng, và mới có đủ cơ sở hiểu biết, tự tin để quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

- Đại biểu Quốc hội phải là người “được nhân dân tín nhiệm” Vì đại biểu

được bầu cử ra để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thay nhân dân thực

hiện quyền lực Nhà nước, do đó, họ phải “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý

kiến của nhân dân” [6 – điểm 4; Điều 3], bởi vì nếu người đại biểu không biết lắng

nghe, không thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân thì không thể là người nói thay dân Đó phải là những người cùng sống, sản xuất, công tác hoặc chiến đấu với

nhân dân, có quan hệ gắn bó gần gũi và được nhân dân yêu mến tin cậy, là người “đi

dân mến, ở dân thương” Có như vậy, nhân dân mới càng tín nhiệm, tiếp tục tin tưởng

ủy thác việc thực hiện quyền lực Nhà nước, giao phó quyền hiến định của mình cho người đại biểu, cũng như thêm tin tưởng vào thể chế xã hội, tiếp tục ủng hộ sự lãnh

đạo của Đảng và Nhà nước Sách Đại học, một trong Tứ thư do học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử viết, có đoạn: “Đời xưa muốn làm tỏ được đức sáng trong thiên hạ, thì

phải trị quốc, muốn trị quốc thì phải tề gia, muốn tề gia thì phải tu thân, muốn tu thân thì phải chính tâm, muốn chính tâm thì phải tinh thành với ý mình, muốn tinh thành với ý mình thì trước hết phải biết đến chỗ cùng cực Biết tới chỗ cùng cực là suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật…” [49 – tr.26 – 27] Ấy chính là nhấn mạnh sự rèn luyện

nhân phẩm, để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Thiết nghĩ bài học này vẫn còn rất nhiều ý nghĩa đối với những cán bộ đã “trót nợ tang bồng” mang nghiệp chăm

dân, dựng nước

- Trên đây là những điều kiện cần để người đại biểu hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, tuy nhiên để thực sự hoàn thành xuất sắc vai trò là người “công bộc” của nhân dân, người được coi là kẻ “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” thì còn một điều

kiện đủ không thể không nhắc đến, đó là người đại biểu phải là người “có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội” [6 – điểm 5, Điều 3] Trong kỳ họp Quốc hội,

đại biểu Quốc hội phải tham gia đầy đủ các kỳ họp, tiến hành thực hiện các công việc

Trang 25

23

thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, và trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu Quốc hội phải tiến hành các hoạt động như tiếp xúc cử tri, báo cáo kết quả kỳ họp Quốc hội cho cử tri, tuyên truyền pháp luật, chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo,… Do

đó, “điều kiện” ở đây thiết nghĩ có thể hiểu bao gồm các điều kiện năng lực đại biểu,

điều kiện về sức khỏe, độ tuổi, về khả năng tài chính,… Có đảm bảo những điều kiện

đó, người đại biểu mới có thể toàn tâm toàn ý dốc lòng lo cho dân cho nước, hăng say

thực hiện vai trò là “công bộc” của nhân dân

Chúng tôi nhận thấy các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật tuy đã được chú trọng nhưng vẫn còn bất cập: các tiêu chuẩn này là những tiêu chuẩn rất chung chung, đại khái, chủ yếu mang tính định tính mà chưa có tính định lượng, vì thế dẫn đến khó khăn cho cử tri trong việc xác định tiêu chuẩn đại biểu trong quá tình bầu cử Từ đó dẫn đến hậu quả là có những đại biểu Quốc hội được bầu

ra nhưng không hoàn thành nhiệm vụ đại biểu, không thể hiện rõ được địa vị pháp lý đặc biệt, quan trọng của mình

 Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội:

“Những đại biểu mới vào nghề tưởng tượng họ sẽ ngồi cả ngày suy nghĩ về những chuyện lớn lao và biến nó thành luật Đâu có thể như vậy được Một đại biểu

vỡ mộng nói: “Tôi cứ tưởng mình sẽ trở thành Daniel Webster (Nhà kinh tế và hùng

biện Mỹ 1782 – 1852) nhưng hóa ra phần lớn công việc của mình làm đều chỉ là

hiện thân của cử tri mà thôi.” [54 – tr.278 – 279]

Trong tất cả các yếu tố (các chế định pháp luật) tạo thành vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội thì nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu Quốc hội đóng một vai trò rất quan trọng Là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân địa phương nơi bầu ra và đại diện cho nhân dân cả nước, đồng thời là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao – Quốc hội, do đó nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội gắn liền với nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, cụ thể được quy định tại Chương VI – Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001); Chương IV – Luật tổ chức Quốc hội 2001; và Chương II – Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 2002

Trang 26

24

Các quyền hạn, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội suy cho cùng đều xuất phát

từ vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội: đại diện cho nhân dân và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội Căn cứ vào phạm vi hoạt động, có thể chia nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội thành những nhóm sau:

Thứ nhất, nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong hoạt

động thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội (gắn liền với thẩm quyền của Quốc hội)

- Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp của Quốc hội, tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội [10 – Điều 47; 12 – Điều 6] Cụ thể, trong kỳ họp của Quốc hội, đại biểu có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Hội Đồng và các Ủy ban của Quốc hội mà đại biểu là thành viên, và các cuộc họp của Tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội, thảo luận và biểu quyết các vấn đề ghi trong chương trình kỳ họp Ở nước ta, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, Quốc hội chỉ là

cơ quan Nhà nước thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực đó Đại biểu Quốc hội là thành viên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mang tính tập thể, vì vậy, kỳ họp là hình thức hoạt động quan trọng nhất của đại biểu cũng như của Quốc hội Do đó, nếu người đại biểu không tham gia các cuộc họp, hay

đi họp chỉ mang tính hình thức “giơ tay – vỗ tay” là không làm tròn trách nhiệm của

người đại biểu

- Đại biểu Quốc hội có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Quốc hội thông qua các lá phiếu biểu quyết tán thành của mình Đối với những đại biểu Quốc hội được bầu vào các cơ cấu của Quốc hội (Ủy ban thường vụ Quốc hội, các Ủy ban chuyên trách của Quốc hội, Chính phủ) còn phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế tổ chức và hoạt động của các cơ quan đó

- Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự hội nghị Hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết [10 – Điều 55] Thực hiện quy định này nhằm thắt chặt mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với Hội đồng nhân dân các cấp, giúp đại biểu Quốc hội hiểu được các vấn đề của địa

Trang 27

25

phương để kịp thời nắm bắt, tiếp thu và nhanh chóng tìm các giải pháp xử lý các vấn

đề bằng cách khi Quốc hội họp sẽ đem vấn đề ra trước tập thể cùng bàn bạc, quyết định

- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn các chức danh: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao [10 – Điều 49; 12 – Điều 10] Đây là các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn và hoạt động chất vấn thể hiển sự giám sát đối với các hoạt động của những chức danh này

với cử tri

- Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, phải tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan [10 – Điều 51; 12 – Điều 3]

- Đại biểu Quốc hội phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu ít nhất mỗi năm một lần Cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội [10 – Điều 12, 13]

- Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy mức độ sai lầm mà bị cử tri nơi bầu ra mình bãi miễn, hoặc bị Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm tư cách đại biểu [10 – Điều 56; 12 – Điều 32] Trong trường hợp bị cử tri bãi miễn, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ quy định thể thức đưa ra bãi nhiệm đối với đại biểu Quốc hội Điều này hoàn toàn khác so với quy định trong pháp luật các nước

tư bản, những nghị sĩ tư sản không có nghĩa vụ phải liên hệ với cử tri, và cũng không thể bị cử tri bãi miễn Chính sự khác biệt này đã nói lên mối quan hệ chặt chẽ, mật

thiết giữa đại biểu Quốc hội nước ta và cử tri, nói lên vị trí “công bộc” của người đại

biểu: được nhân dân tạo ra và cũng chính nhân dân là chủ thể có quyền làm mất đi tư cách đại biểu

Trang 28

26

- Ngoài ra, đại biểu Quốc hội còn có trách nhiệm tiếp công dân, chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại tố cáo đó [10 – Điều 52; 12 – Điều 14]

Thứ ba, nhóm quyền của đại biểu Quốc hội trong mối quan hệ với các cơ

quan Nhà nước, tổ chức xã hội và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức trong việc xem xét yêu cầu của đại biểu Quốc hội và tiếp đại biểu Quốc hội Với tư cách thành viên của Quốc hội, đại biểu Quốc hội thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước đó

- Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu gặp lãnh đạo của các cơ quan, tổ chức và người phụ trách của các cơ quan, tổ chức hữu quan: như trong trường hợp xét thấy

việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo không thỏa đáng, “đại biểu Quốc hội có

quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại Khi cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan đó giải quyết” [10 – Điều 52; 12 – Điều 15] Tại điều 54,

Luật Tổ chức Quốc hội 2001 cũng quy định: “Khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, đại

biểu Quốc hội có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân Người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp và đáp ứng những yêu cầu của đại biểu Quốc hội” Pháp luật còn quy định chế tài đảm bảo cho quyền này của đại biểu

Quốc hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ: “Người nào cản trở đại biểu Quốc hội

thực hiện nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” [10 – Điều 15]

- Đại biểu Quốc hội được quyền cung cấp tài liệu, bảo đảm thông tin cần thiết cho hoạt động đại biểu Các cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo các yêu cầu về tài liệu và thông tin của đại biểu Các cơ quan hành chính Nhà nước và viên chức Nhà nước trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện cung cấp tư liệu, thông tin, nơi tiếp xúc cử tri, phương tiện giao thông cho hoạt động đại biểu Đại biểu Quốc hội được cung cấp những tài liệu, dịch vụ như: các tài liệu của kỳ họp Quốc hội; Công báo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; báo Nhân dân, báo địa phương,

Trang 29

27

báo Người đại biểu của dân, tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các tài liệu, văn bản khác liên quan đến hoạt động của Quốc hội; dịch vụ thông tin, nghiên cứu, thư viện và Internet khi đại biểu có yêu cầu; các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đại biểu Quốc hội được bầu hoặc nơi đại biểu Quốc hội chuyển đến sinh hoạt (nếu có), và những báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương; nếu là thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội còn được cung cấp thông tin về hoạt động của Hội đồng dân tộc hoặc của Ủy ban mà mình là thành viên [12 – Điều 37]

- Đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đề nghị các biện pháp ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong

cơ quan tổ chức Cụ thể, Điều 53, Luật Tổ chức Quốc hội 2001 quy định: “Khi phát

hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của công dân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó…” Cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu theo thủ

- Luật Tổ chức Quốc hội 2002 quy định rõ: “Đại biểu Quốc hội phải gương

mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân” Đồng thời, đại biểu Quốc hội cũng có

nhiệm vụ “tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật

và tham gia quan lý Nhà nước” [10 – Điều 46]

Trang 30

28

- Khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt những hành vi vi phạm pháp luật đó [10 – Điều 53] Những quy định này giúp các cơ quan Nhà nước có liên quan thấy được những nhược điểm, thiếu sót, đồng thời vạch ra các biện pháp để đẩy mạnh công tác thi hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng, đại biểu chỉ có quyền yêu cầu, kiến nghị, chứ không có quyền trực tiếp xử lý các hành vi vi phạm Thẩm quyền

xử lý các hành vi vi phạm này thuộc về các cơ quan có chức năng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa như Công an, Tòa án, Viện kiểm sát

- Bên cạnh đó, đại biểu Quốc hội còn có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, cũng như dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định [10 – Điều 48]

Tóm lại, đại biểu Quốc hội có tính chất pháp lý rất đặc biệt và quan trọng, người đại biểu mang trách nhiệm nặng nề đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng và Nhà nước ta cũng không ngừng phát huy vai trò của đại biểu Quốc hội, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để người đại biểu hoàn thành nhiệm vụ của mình

1.3.2 Thời gian bắt đầu và kết thúc nhiệm vụ đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội mỗi khóa làm nhiệm vụ đại biểu bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau [12 – đoạn 2, khoản

1, Điều 1] Theo đó, tương ứng gắn với nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội, quy định của pháp luật hiện hành là 5 năm [10 – Điều 3]

Các trường hợp làm chấm dứt nhiệm vụ đại biểu:

1- Hết nhiệm kỳ làm đại biểu Quốc hội mà không tiếp tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa mới;

2- Đại biểu Quốc hội bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm do không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân [12 – khoản 1, Điều 32]; So sánh với quy chế

Trang 31

4- Đại biểu Quốc hội xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc lý

do khác mà không thể đảm đương được nhiệm vụ đại biểu [12 – đoạn 1, Điều 35]

Trong nhiệm kỳ, nếu đơn vị bầu cử nào khuyết đại biểu Quốc hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội tại đơn

vị bầu cử đó (Tại Hoa Kỳ, theo quy định của Hiến pháp, khi khuyết ghế dân biểu tại

một tiểu bang thì cơ quan hành chính của tiểu bang này sẽ ban hành những quyết

định bầu cử bổ sung vào ghế khuyết đó) Nếu thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc hội dưới hai năm thì không tổ chức bầu cử bổ sung [6 – Điều 79] Đại biểu Quốc hội được bầu bổ sung bắt đầu thực hiện nhiệm vụ từ kỳ họp sau của cuộc bầu cử bổ sung đến

kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau [12 – đoạn 3, Điều 1]

1.3.3 Các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội:

Để thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm của mình, người đại biểu Quốc hội phải có những quyền hạn nhất định Việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội được bảo đảm bằng những điều kiện cần thiết cả về vật chất và tinh thần Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của đại biểu Quốc hội được quy định rõ trong Chương V của Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 2002, cụ thể bao gồm những quy định cơ bản sau:

 Về điều kiện thông tin của đại biểu Quốc hội:

Đại biểu Quốc hội được cung cấp các tài liệu và dịch vụ do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định, cũng như các tài liệu do Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đại biểu Quốc hội được bầu hoặc nơi đại biểu Quốc hội chuyển đến sinh hoạt (nếu có) cung cấp, để cập nhật các

Trang 32

mà mình là thành viên [12 – khoản 2, Điều 37]

Đối với người đại biểu, việc thu thập thông tin là rất cần thiết, bởi người đại biểu phải liên tục tìm hiểu không những để tích lũy, trau dồi kiến thức, phục vụ cho công việc nghiên cứu; hay giải quyết đúng đắn, triệt để một vấn đề mà nhân dân đang phản ánh; mà còn để có thể kịp thời nắm bắt, xử lý những vấn đề mới phát sinh; dự đoán tình hình; cũng như thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của người đại biểu

Do đó những quy định này của pháp luật đã giúp cho đại biểu Quốc hội rất nhiều thuận lợi trong hoạt động thông tin để thực hiện nhiệm vụ của mình

 Trong mỗi khóa Quốc hội, đại biểu Quốc hội có huy hiệu và giấy chứng nhận đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội cấp Khi đi làm nhiệm vụ đại biểu, đại biểu Quốc hội đeo huy hiệu và khi cần thiết, có thể xuất trình giấy chứng nhận đại biểu Quốc hội Ngoài ra, khi ra nước ngoài, đại biểu Quốc hội còn được sử

dụng hộ chiếu ngoại giao [12 – Điều 39] Đã là “công bộc” của dân, người đại biểu

phải làm công việc đi sâu, đi sát thực tế cuộc sống của nhân dân, tìm hiểu và thấu hiểu

ý nguyện của nhân dân, sau đó mới thay mặt nhân dân trình bày trước Quốc hội Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội chứng minh được tư cách chủ thể của mình, bảo đảm thực hiện những quyền mà pháp luật đã quy định khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu

 Các đặc quyền của đại biểu Quốc hội:

Trong nhiệm kỳ làm nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội được pháp luật bảo đảm về quyền bất khả xâm phạm thân thể, chỗ ở, chỗ làm việc Không có sự đồng ý của Quốc hội, và trong thời gian Quốc hội không họp nếu không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội, không được khám xét nơi ở, nơi làm việc của đại biểu Quốc hội Việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện

Trang 33

31

trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nếu phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội

bị tạm giam, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định Đồng thời, đại biểu không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc, nếu không được Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý [10 – Điều 58] Những quyền nói trên được gọi là quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội Những quyền này có từ thời kỳ cách mạng tư sản, với mục đích đảm bảo cho các đại biểu có đủ dũng khí cho việc thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước Nhưng ngày nay, quyền này còn rất ít ý nghĩa trên thực tế Theo pháp luật của Hoa Kỳ thì thành viên Quốc hội Mỹ cũng như bất kỳ ai khác đều có thể bị bắt giữ khi vi phạm pháp luật

 Về điều kiện vật chất:

- Đại biểu Quốc hội được cấp hoạt động phí hàng tháng bằng hệ số là 0,1 của mức lương tối thiểu [12 – Điều 40] (hiện nay là khoảng 600.000 VNĐ/tháng) Trong khi đó, Nghị sĩ Mỹ được nhận 72.600 USD/năm; Ở Anh, hạ nghị sĩ được nhận 16.016 bảng Anh/năm, và ngay cả nghị sĩ Campuchia cũng được nhận 2000 USD /tháng

- Đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Đoàn đại biểu Quốc hội, hay khi tham gia hoạt động của Hội đồng dân tộc và Ủy ban của Quốc hội thì được thanh toán tiền công tác phí [12 – Điều 41];

- Khi tham gia kỳ họp Quốc hội hoặc giữa hai kỳ họp Quốc hội, tham gia làm nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc, thì đại biểu Quốc hội được bảo đảm các điều kiện ăn ở và đi lại [12 – Điều 41] Đại biểu Quốc hội còn được ưu tiên trong việc mua vé tàu hỏa, ô tô, tàu thủy, máy bay; được ưu tiên qua cầu, phà [12 – Điều 43];

- Trong trường hợp bị ốm đau, “đại biểu Quốc hội không thuộc diện cán bộ

trung cấp, cao cấp được khám và điều trị bệnh, theo tiêu chuẩn quy định đối với cán

bộ trung cấp Đại biểu Quốc hội không có chế độ lương và phụ cấp được cấp bảo hiểm y tế; khi qua đời được hưởng chế độ mai táng như đối với cán bộ, công chức”

Các chi phí này do kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội bảo đảm [12 – Điều 44];

Trang 34

32

- “Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách được dành ít nhất một phần

ba (1/3) thời gian làm việc trong năm để làm nhiệm vụ đại biểu Thời gian này được tính vào thời gian làm việc của đại biểu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị mà đại biểu làm việc và được bảo đảm lương, phụ cấp, cũng như các chế độ khác do cơ quan, tổ chức

đó đài thọ” Nếu không, các khoản chi phí đó do kinh phí hoạt động của Đoàn đại

biểu Quốc hội bảo đảm [12 – Điều 42]

Nhận thấy, những bảo đảm về vật chất cho đại biểu Quốc hội tuy không nhiều nhưng có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích đại biểu Quốc hội yên tâm, tích cực tham gia vào các hoạt động hơn, mặt khác cũng nhắc nhở người đại biểu về vai trò, trách nhiệm của mình, về địa vị pháp lý người đại biểu dân cử tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của mình, để người đại biểu ngày càng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, thực hiện tốt sứ mệnh cao cả mà nhân dân đã giao phó, ngày càng được nhân dân tin tưởng và tín nhiệm

Trang 35

33

CHƯƠNG II: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG THỂ HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI – TH C TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội 2001 và Điều 1 Quy chế hoạt động của đại

biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 2002 quy định: “Đại biểu Quốc hội là

người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội…” Địa vị pháp lý vừa là

đại diện cho nhân dân cả nước, chịu trách nhiệm trước cử tri đã bầu ra mình, đóng vai

trò là “công bộc” của dân; vừa là bộ phận cấu thành nên cơ quan quyền lực Nhà nước,

thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước, đã được chúng tôi chứng minh, làm

rõ ở Chương 1, và đồng thời, Quy chế cũng chỉ rõ những nhiệm vụ, quyền hạn khắc

họa nên địa vị pháp lý đó tại điều 2: “Đại biểu Quốc hội tham gia quyết định những

vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội: lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng,

an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; tham gia thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” Để thực hiện được những

nhiệm vụ này, đại biểu Quốc hội được trao quyền và trách nhiệm tiến hành các hoạt động đại biểu Nói cách khác, những hoạt động này phát sinh từ việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện địa vị pháp lý của người đại biểu Quốc hội

“Khi một đại biểu Quốc hội mới được bầu vào Quốc hội, ông ta biết rằng trước mắt là quyền lực, bổn phận, và ông sẽ là một cánh tay góp vào tương lai đất nước” [54 – tr.274] Để thực sự trở thành “một cánh tay góp vào tương lai đất nước”,

công việc của các đại biểu Quốc hội không chỉ là tham gia đầy đủ các kỳ họp Quốc hội, đi họp Ủy ban, nghe phiên điều trần; trình dự án luật, dự án pháp lệnh, kiến nghị

về luật; mà còn phải đi tìm hiểu thực tế, thực hiện quyền chất vấn, tiếp xúc và trả lời thư cử tri, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân,… Các đại biểu Quốc hội phải làm việc cật lực mới đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý đặc biệt của

Trang 36

34

mình tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Dưới đây chúng tôi xin điểm qua thực trạng thực hiện một số hoạt động quan trọng thể hiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội cũng như nguyên nhân của thực trạng đó, từ đó đề ra những kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội

2.1 Hoạt động tham gia các kỳ họp Quốc hội của đại biểu Quốc hội [12 –

Quốc hội quy định: “Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể

của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội, thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội…”

Ngoài ra, Luật cũng quy định đối với những đại biểu là thành viên của Hội đồng dân

tộc, Ủy ban của Quốc hội còn phải có trách nhiệm “tham gia các phiên họp, thảo

luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban mà đại biểu là thành viên” [10 – Đoạn 2, Điều 47]

Tương tự, Quy chế hoạt động cũng quy định: “Tại các kỳ họp Quốc hội, đại

biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp Tổ, Đoàn đại biểu Quốc hội, các phiên họp của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà đại biểu là thành viên Trong trường hợp không thể tham gia kỳ họp Quốc hội, các phiên họp, các cuộc họp theo quy định tại điều này thì đại biểu Quốc hội báo cáo theo quy định của Nội quy kỳ họp Quốc hội” [12 – Điều 6]

Tại kỳ họp, Quốc hội xem xét, thông qua các dự án, nhiệm vụ kinh tế - xã hội,

dự toán ngân sách Nhà nước, các báo cáo, dự án luật, và các dự án khác Đây chính là những vấn đề quan trọng của đất nước, và không ai khác đại biểu Quốc hội sẽ là

Trang 37

35

những người quyết định các vấn đề này Quyền lực Nhà nước mà nhân dân giao phó,

ủy quyền cho đại biểu Quốc hội được thực hiện khi các đại biểu Quốc hội tham gia đầy đủ các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp Tổ, Đoàn đại biểu Quốc hội, cũng như các phiên họp của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà đại biểu là thành viên Nâng lên là sự đảm bảo về chất của hoạt động này Đó chính là việc thảo luận, biểu quyết quyết định thông qua các dự án của tập thể đại biểu Trình

tự thông qua các dự án được tiến hành theo các bước chính sau:

1- Trình bày dự án trước Quốc hội;

2- Thuyết trình việc thẩm tra dự án;

3- Thảo luận dự án;

4- Biểu quyết thông qua dự án

Trong đó, trình tự thảo luận dự án và biểu quyết thông qua dự án thể hiện rõ nhất vai trò của đại biểu Quốc hội

- Trong bước thảo luận thông qua dự án, các dự án sẽ được Quốc hội xem xét

và thảo luận tại phiên họp toàn thể tập trung tại hội trường Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, vấn đề có thể được đưa ra bàn, thảo luận tại Đoàn, Tổ đại biểu Quốc hội hay Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Thảo luận toàn thể tại

hội trường trở thành sinh hoạt sôi nổi và tập trung của Quốc hội “Kết quả cuối cùng

là cái đúng sẽ thắng, phương án được lựa chọn là phương án tối ưu và hợp với đa số”

[47 – tr.303] Thảo luận ở Tổ hay ở Hội trường được quyết định phụ thuộc vào mức

độ phức tạp của vấn đề Điều quan trọng nhất là phải làm sao tạo điều kiện để các đại biểu phát biểu hết và thể hiện đúng ý kiến của mình, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà đại biểu là người đại diện

- Biểu quyết thông qua dự án: biểu quyết là hình thức thể hiện quan điểm của đại biểu Quốc hội về một vấn đề, một dự án Biểu quyết cũng là cách thức chấm dứt việc thảo luận Các đại biểu Quốc hội sẽ quyết định thông qua hay không thông qua các dự án sau khi đã thảo luận kỹ càng những mặt ưu điểm cũng như những tồn tại của dự án Các luật và nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Riêng Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp phải được

Trang 38

36

ít nhất là hai phần ba (2/3) tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Do đó, vấn

đề tiên quyết là các đại biểu phải tham gia đầy đủ, và phải tham gia với tinh thần trách nhiệm cao để làm tròn bổn phận, trách nhiệm trước nhất của người đại biểu, để quyết định đúng đắn các vấn đề quan trọng của quốc gia

Tuy nhiên, mặc dù luật quy định như vậy, nhưng một thực tế đáng buồn là vẫn

có những vị đại biểu Quốc hội chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa làm tròn vị trí đại diện cho nhân dân bằng việc tham gia đầy đủ các kỳ họp Quốc hội Theo các đại biểu Quốc hội khóa XI thì khá nhiều đại biểu đã không tham dự các phiên họp toàn thể, phiên họp Ủy ban, họp Tổ, họp Đoàn đại biểu Quốc hội tại các kỳ họp, nghĩa

là họ không thực hiện nhiệm vụ đầu tiên của một người đại biểu theo luật định Nếu vì

lý do chính đáng không thể tham gia kỳ họp thì còn có thể xem xét, nhưng không

tham gia mà vẫn nhờ các đại biểu khác “quét thẻ điểm danh giùm”, “bấm nút giùm”,

“bỏ phiếu thay” [32] thì thật khó chấp nhận Người đại biểu tham gia kỳ họp Quốc hội

là với tư cách đại diện cho nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, chứ không phải với tư cách độc lập, riêng lẻ Thử làm một phép tính đơn giản là trung bình hiện nay mỗi vị đại biểu Quốc hội đại diện cho 114.000 cử tri, nếu vắng một đại biểu thì coi như ý chí, nguyện vọng của chừng

đó cử tri không được thể hiện

Như đã nói ở trên, kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội, nơi biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất quyền lực Nhà nước, biểu hiện trí tuệ tập thể của đại biểu, khẳng định vị trí pháp lý quan trọng của đại biểu Quốc hội tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Do đó, để đảm bảo nhiệm vụ tham gia đầy đủ các

kỳ họp Quốc hội của đại biểu Quốc hội, chúng tôi thấy trước hết cần phải nâng cao ý

thức của đại biểu Quốc hội Hoạt động này theo luật quy định là “nhiệm vụ” là để đảm

bảo sự tham gia đầy đủ của đại biểu Quốc hội, song người đại biểu cần phải ý thức rằng đây cũng là quyền lợi chính đáng của mình, là quyền được thể hiện ý kiến tại Quốc hội, thực hiện quyền lực được cử tri ủy quyền thông qua việc biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không có ý kiến Bên cạnh đó, Luật Tổ chức Quốc hội cũng như Quy chế hoạt động cần phải quy định chế tài mạnh, dứt khoát hơn đối với

Trang 39

37

những đại biểu Quốc hội không tham gia kỳ họp mà không có lý do chính đáng, đồng thời phải nghiêm khắc thực hiện các chế tài đó

2.2 Hoạt động trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, trình

dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội của đại biểu Quốc hội [4 –

Điều 87; 12 – Điều 9; 10 – Điều 48]

Có thể nói, hoạt động lập pháp là một trong các chức năng cơ bản và là hoạt động chủ yếu nhất của Nghị viện các nước nói chung và của Quốc hội nước ta nói riêng Các quyền trình dự án luật, pháp lệnh; kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội

và của các chủ thể khác do luật định đều là những quyền có vị trí rất quan trọng trong quy trình lập pháp, có vai trò ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả và chất lượng của hoạt động lập pháp Để nâng cao hơn nữa vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội với tính chất là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, thì rất cần thiết phải có cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực hiện có hiệu quả quyền hạn này Tuy nhiên, trước hết cần phải làm rõ nội dung cũng như những quy định của pháp luật về quyền năng này của đại biểu Quốc hội

Từ các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật…, có thể nêu ra nội dung khái quát của các quyền trình dự án luật, pháp lệnh; kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội như sau:

- Quyền trình dự án luật, pháp lệnh: là quyền trình dự án luật ra trước

Quốc hội, trình dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội theo trình tự, thủ tục do luật định của các đại biểu Quốc hội Quyền trình dự án luật được thực hiện bằng việc trình dự án luật mới, dự án luật sửa đổi, bổ sung luật hiện hành [10 – Điều 71]

- Quyền kiến nghị về luật: là quyền chỉ có riêng của đại biểu Quốc hội trong

việc đề nghị với Quốc hội xem xét, quyết định việc soạn thảo một dự án luật Quyền

Trang 40

38

kiến nghị về luật được thực hiện bằng việc kiến nghị ban hành luật mới, hoặc sửa đổi,

bổ sung luật hiện hành [10 – Điều 71]

Lịch sử phát triển của pháp luật quy định về vấn đề này cho thấy vai trò của đại biểu Quốc hội ngày càng được khẳng định và mở rộng Các Hiến pháp năm 1946,

1959 chưa quy định đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật Hiến pháp năm 1980 mới bắt đầu khẳng định quyền trình dự án luật của đại biểu Quốc hội, tuy nhiên quyền của đại biểu Quốc hội khi đó cũng chỉ được quy định giống các chủ thể có thẩm quyền khác Chỉ tới Hiến pháp năm 1992, đại biểu Quốc hội ngoài quyền trình dự án luật còn được bổ sung thêm quyền kiến nghị về luật (mà các chủ thể khác không có)

Cụ thể, điều 87 Hiến pháp 1992 sửa đổi quy định: “ Chủ tịch nước, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội

Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và các dự án luật ra trước Quốc hội

Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định”

Nhìn vào đây có thể thấy ngay quyền trình dự án luật được giao cho các chủ

thể là các cơ quan nhà nước cao nhất ở Trung ương, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các tổ chức chính trị - xã hội của nước ta và đại biểu Quốc hội

Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội tiếp tục

khẳng định tại Điều 48: “Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về

luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định”

Tại điều 9, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội đã nêu rõ hơn về văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng trong trường hợp này:

“Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự

án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội theo trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định”

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w