Tổ chức và hoạt động của đoàn đại biểu quốc hội ở nước ta hiện nay
Trang 1Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐBQH 38
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển tổ chức và hoạt động củađoàn ĐBQH 382.2 Ưu điểm và hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Đoàn ĐBQH 412.3 Tình hình tổ chức và hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội các khóagần đây 502.4 Nguyên nhân 69
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐBQH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 73
3.1 Quan điểm 73
KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầu quan trọng hàng đầu Để đảmbảo yêu cầu đó, việc nâng cao năng lực hoạt động của Quốc hội gắn liền vớiviệc hoàn thiện pháp luật về đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội từ bầu
cử đến tổ chức và hoạt động được xem là một trong những yêu cầu hết sứccấp bách Chính vì vậy, các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
8 Khoá VII, Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 7 Khoá VIII
và Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Khoá VIII trình Đạihội lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết Trung ương 9 Khoá IX, Văn kiện Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ X và Báo cáo chính trị của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa X trình Đại hội Đảng lần thứ XI đều nhấn mạnh việc
“Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”1, nâng cao chất lượnggiám sát của Quốc hội, coi đây là một trong những biện pháp đẩy mạnh cảicách bộ máy Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, đảm bảo đểQuốc hội hoạt động có hiệu quả
Hiện nay, ở Việt Nam mô hình Quốc hội được xem là mô hình có tínhđặc thù, khác với nhiều nước trên thế giới Trong khi đó, việc nghiên cứu,đánh giá về vai trò, trách nhiệm và hoạt động của đại biểu quốc hội, Đoàn đạibiểu Quốc hội chưa được tiến hành một cách thường xuyên, toàn diện Việcđánh giá hoạt động thực hiên pháp luật về Đoàn đại biểu quốc hội cũng chưađược tiến hành một cách khách quan, khoa học Hơn nữa, trong những nămqua đã có nhiều công trình nghiên cứu về Quốc hội và Đại biểu Quốc hộisong những nghiên cứu về Đoàn đại biểu Quốc hội thường rất mờ nhạt và
1 Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà
Trang 3thường chỉ được đề cập đến trong các nội dung nghiên cứu chung về Quốchội Từ đó chưa chỉ ra được những đặc thù riêng của hoạt động thực hiệnpháp luật về Đoàn đại biểu Quốc hội như khái niệm, đặc điểm, vai trò và điềukiện đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về Đoàn đại biểu Quốc hội, đápứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật về Quốc hội nói riêng, về Đoàn đại biểuQuốc hội nói chung
Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội cho thấy chưa có cơ sởpháp lý vững chắc, làm nền tảng cho hoạt động của các đại biểu Quốc hội tạicác Đoàn đại biểu Quốc hội Đặc biệt là việc phân định rõ về vị trí pháp lý,chức năng nhiệm vụ và quy chế pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội hiện nay
là chưa rõ, Quy chế hoạt động của mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội trong toànquốc thì khác nhau, không thống nhất Địa vị pháp lý của Phó trưởng đoàn đạibiểu Quốc hội chuyên trách không rõ ràng, từ đó đại biểu Quốc hội chuyêntrách cũng như các đại biểu quốc hội kiêm nhiệm còn lúng túng trong hoạtđộng đại biểu của mình tại các Đoàn đại biểu Quốc hội
Với thực tiễn như vậy không khó để cho thấy sự đánh giá về chế địnhĐoàn đại biểu Quốc hội và việc thực hiện pháp luật của Đoàn đại biểu Quốchội tại các địa phương chưa toàn diện, sâu sắc để tạo cơ sở lý luận vững chắccho việc thực hiện pháp luật về đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hộiđược tổ chức thực hiện có hiệu quả, góp phần quan trọng, đáp ứng yêu cầuđổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay
Chính vì lý do đó, việc lựa chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Đoàn
đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực
tiễn Việc đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện về thực hiện pháp luật
về Đoàn đại biểu Quốc hội để đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằmđảm bảo hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là vấn
đề mang tính cấp thiết, phù hợp với tình hình thực tế hoạt động của Quốc hội
Trang 4Việt Nam, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang sửa đổi Luật tổ chức Quốchội 2001, góp phần vào việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạtđộng của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
2 Tình hình nghiên cứu của luận văn
Thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đếnviệc hoàn hiện pháp luật về đại biểu Quốc hội chuyên trách ở các cấp độ như
đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở và các bài viết đăng tải trên các tạp chínghiên cứu khoa học, các diễn đàn, hội thảo khoa học Cụ thể như sau:
+ Đề tài “Đại biểu Quốc hội: Địa vị pháp lý, các mối quan hệ và hiệu quả hoạt động” (1996-1998), do Văn phòng Quốc hội thực hiện, chủ nhiệm Đề
tài là TS Phan Trung Lý Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thựctiễn, Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý, làm rõnhiệm vụ, quyền hạn và mô hình xử lý các mối quan hệ của Đại biểu Quốc hội
+ Đề tài “Đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Quốc hội” (2000-2002),
do Văn phòng Quốc hội thực hiện Chủ nhiệm đề tài là TS Phan Trung Lý
Đề tài nghiên cứu, đánh giá những mặt tích cực, hợp lý cũng như những hạnchế về đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, đề xuất một số giải pháphoàn thiện cơ chế bầu cử Đại biểu Quốc hội và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội
+ Sách “Quốc hội Việt Nam- những vấn đề lý luận và thực tiễn”, (2005),
do GS.TS Trần Ngọc Đường chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội Cuốn sách làtập hợp một số bài viết của nhiều tác giả đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lậppháp đề cập tới những vấn đề lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội,đại biểu Quốc hội, tổ chức bộ máy Quốc hội và hoạt động của Quốc hội
+ Sách “Một số vấn đề về đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội”,
(2007), của TS Lê Thanh Vân, Nxb Tư pháp, Hà Nội Trong cuốn sách tác
Trang 5giả dành hai chương (Chương III và V) để trình bày về vị trí, cơ sở pháp lý,xác định vai trò của Đại biểu Quốc hội, những vấn đề lý luận, thực trạng vàphương hướng giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của Đại biểu Quốc hộichuyên trách
Từ những công trình khoa học trên cho thấy đã có một số công trìnhnghiên cứu về đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, tuy nhiên chưa
có một công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, sâusắc về những vấn đề lý luận và thực tiễn để từ đó làm cơ sở hoàn thiện phápluật về Đoàn đại biểu Quốc hội ở nước ta nhằm góp phần vào việc tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam trongđiều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
3 Mục đích, nhiệm vụ
- Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc hoàn thiện
pháp luật về Đoàn đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay nhằm đề xuấtnhững quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về Đoàn đại biểuQuốc hội ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi của luận văn
+ Luận văn tập trung nghiên cứu về pháp luật hiện hành quy định vềĐoàn đại biểu Quốc hội
Trang 6+ Phạm vi của luận văn: từ thực trạng Quốc hội Việt Nam và Đoàn đạibiểu các khóa XI, XII và XIII.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật, về Quốc hội và về quyền dân chủ đạidiện của nhân dân; các quan điểm của Đảng chỉ đạo việc xây dựng và hoànthiện chế độ dân chủ đại diện, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động củaQuốc hội theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân
Luận văn sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duyvật lịch sử Mác - Lênin, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phươngpháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học sosánh, phương pháp lịch sử cụ thể
6 Đóng góp mới của luận văn
Sau khi phân tích, đánh giá, luận văn đưa ra được những đóng góp mới sau:Luận văn, trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp và phân tích cũng như kháiquát một cách có hệ thống việc tổ chức thực hiện quy định pháp luật về Đoànđại biểu Quốc hội giữa hai kỳ họp Quốc hội, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thựctiễn hoàn thiện quy định pháp luật về Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách ởnước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của Luận văn gồm có 3 chương được kết cấu như sau:
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 Vị trí pháp lý, chức năng, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội
1 1.1 Vị trí pháp lý, chức năng của Quốc hội
1.1.1.1 Vị trí pháp lý của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lựcNhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam Quốc hội là cơ quan duynhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đấtnước, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội vì vậy thểhiện tính đại diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạtđộng của mình
Tính đại diện nhân dân của Quốc hội
Bộ máy nhà nước ở nước ta bao gồm nhiều cơ quan, nhưng mỗi cơ quan
có chức năng, nhiệm vụ khác nhau Quốc hội là cơ quan Nhà nước được nhândân giao nhiệm vụ thay mặt nhân dân quyết định và thực hiện quyền lựcthống nhất trong cả nước Với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhândân, tính dại diện của Quốc hội được thể hiện rõ ở các mặt:
- Về cách thức thành lập: Quốc hội là cơ quan Nhà nước duy nhất do cửtri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếukín Bầu cử đại biểu Quốc hội là kết quả lựa chọn thống nhất của nhân dân cảnước
- Về cơ cấu thành phần đại biểu: Quốc hội gồm các đại biểu đại diện chocác tầng lớp nhân dân, cho các vùng lãnh thổ Quốc hội là sự thể hiện rõ nhấtkhối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, đại diện cho trí tuệ của đất nước
Trang 8- Về chức năng, nhiệm vụ: Quốc hội có chức năng và nhiệm vụ phục vụcho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của nhân dân, thểhiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước.
Ở nước ta, chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền quyết định những vấn
đề thuộc chủ quyền quốc gia, các vấn đề trọng đại của đất nước
Tính quyền lực Nhà nước cao nhất của Quốc hội
Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: Ở nước ta, tất
cả quyền lực thuộc về nhân dân Điều đó có nghĩa là nguời chủ của quyền lựcNhà nước là nhân dân Quốc hội là cơ quan Nhà nước cao nhất thực hiệnquyền lực của nhân dân Chỉ có Quốc hội mới có quyền biến ý chí của nhândân thành ý chí của Nhà nước, thành luật, thành các quy định chung mangtính chất bắt buộc, tính cưỡng chế nhà nước đối với mọi tầng lớp dân cư trong
1.1.1.2 Chức năng của Quốc hội
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội có thể chia thành các lĩnh vực chủyếu sau đây:
- Lập hiến, lập pháp
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội xuất phát từ vị trí, tính chất của
cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Vì vậy, chỉ có Quốc hội mới có quyềnđịnh ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh cácquan hệ xã hội cơ bản nhất của xã hội ta Các quy phạm pháp luật do các cơ
Trang 9quan Nhà nước khác ban hành phải cụ thể hóa Hiến pháp và luật, không đượctrái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và luật.
Thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, Quốc hội là cơ quan duy nhất cóquyền thông qua Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, thông qua luật và sửa đổiluật Để bảo đảm cho hoạt động này của Quốc hội được tiến hành thuận lợi và
có hiệu quả, pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thựchiện Tại ĐIều 87 của Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 đãquy định các cơ quan có quyền trình dự án luật để Quốc hội xem xét là Chủtịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban củaQuốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểuQuốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội
Cơ quan trình dự án luật phải chuẩn bị, xây dựng, hoàn chỉnh và trìnhbày trước Quốc hội dự án đó để Quốc hội xem xét Trình tự thảo luận vàthông qua dự án luật được quy định và được phân tích kỹ khi giới thiệu về các
kỳ họp của Quốc hội
- Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội có quyền quyết địnhcác mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, các vấn đề quốc kế dân sinh tác độngđến đời sống của nhân dân trong cả nước, những vấn đề đối nội, đối ngoại và
an ninh quốc phòng Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp trongnăm 2011 là nhằm tạo điều kiện để Quốc hội giữ vững và bảo đảm hướngphát triển đi lên của đất nước, làm cho các luật, chính sách, quy định do Quốchội thông qua có hiệu lực thực sự trong cuộc sống
Thực chất của quyền lực Nhà nước là quyền quyết định các vấn đề kinhtế- xã hội Trong lĩnh vực kinh tế kế hoạch và ngân sách, Quốc hội quyết địnhcác mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài
Trang 10chính tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước; quy định sửađổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế
Quốc hội quyết định các vấn đề hệ trọng đối với vận mệnh nước nhà nhưvấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định tình trạng khẩn cấp, các biện phápđặc biệt bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chính sách dântộc của Nhà nước, quyết định đại xã; quyết định trưng cầu dân ý
Một nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội là quyết định chính sách cơ bản
về đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc thamgia theo đề nghị của Chủ tịch nước
Xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa
Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và pháttriển bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước ta từ Trung ương được tổ chức theo mô hình nào,nguyên tắc tổ chức và hoạt động ra sao đều do Quốc hội xem xét, lựa chọn vàthể hiện trong Hiến pháp, quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổchức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sátnhân dân
Ngoài việc quy định chung về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhànước, Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịchnước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viênUBTVQH, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước
về việc thành lập Hội đồng quốc phòng và An ninh
Theo quy định của Hiến pháp năm 1980, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hộiđồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng đều do Quốc hội bầu và bãi nhiệm Quyđịnh về vấn đề này trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đãđược thay đổi Quốc hội chỉ bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm Thủ tướng Chính
Trang 11phủ Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và cácthành viên khác của Chính phủ do Thủ tướng lựa chọn, đề nghị trình Quốchội xem xét Nếu tán thành đề nghị đó, Quốc hội ra nghị quyết phê chuẩn.Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệmhoặc cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chínhphủ
Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang Bộcủa Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chínhkinh tế đặc biệt
- Giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Chức năng, nhiệm vụ, giám sát việc thực hiện pháp luật do nhiều cơ quanNhà nước tiến hành, nhưng quyền giám sát tối cao thuộc về Quốc hội Nhiệm
vụ giám sát của Quốc hội nhằm làm cho những quy định của Hiến pháp, phápluật được thi hành triệt để và thống nhất Quốc hội giám sát hoạt động của cơquan Nhà nước, bảo đảm cho những cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyềnhạn được quy định, làm cho bộ máy Nhà nước hoạt động đều đặn, hiệu lực,không chồng chéo; chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu và hách dịch Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét báo cáo hoạtđộng của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông qua hoạt động của Hội đồngdân tộc và các ủy ban của Quốc hội, hoạt động của bản thân Quốc hội
1.1.2 Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Quốc hội
Cũng như các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là một tậpthể bao gồm các đại biểu đại diện cho những lợi ích khác nhau trong xã hội
Trang 12Vì vậy, việc xây dựng một cơ cấu tổ chức như là hệ thống rường cột, làmnồng cốt cho các hoạt động của Quốc hội là rất cần thiết Theo đó, cơ cấu tổchức của Quốc hội bao gồm các bộ phận cấu thành sau:
- Cơ cấu đại biểu Quốc hội: Cơ cấu đại biểu Quốc hội là cấu trúc hạtnhân bao gồm các thành viên tạo nên tập thể Quốc hội
- Ban lãnh đạo Quốc hội: tùy vào thể chế chính trị của mỗi nước mà vaitrò, sự chi phối của Ban lãnh đạo Quốc hội được thiết lập nên
- Các ủy ban của Quốc hội: để tham mưu, giúp cho mình giải quyếtnhững lĩnh vực liên quan hoặc những vấn đề cụ thể, hầu hết Quốc hội cácnước đều thành lập ra các ủy ban của Quốc hội Việc thành lập ra các Ủy bancủa Quốc hội như là một đòi hỏi khách quan trong tổ chức và hoạt động củaQuốc hội
- Các nhóm (đoàn) đại biểu Quốc hội: việc hình thành nên các nhóm (cácđoàn) đại biểu Quốc hội xuất phát từ nhu cầu đại diện của đại biểu Quốc hộicho các nhóm xã hội, lợi ích dân cư trong vùng lãnh thổ, hoặc các đảng pháichính trị trong xã hội
Ở Việt Nam, Quốc hội được tổ chức theo mô hình một viện Việc lựachọn này nhằm mục đích bảo đảm để Quốc hội là nơi tập trung, thống nhất ýchí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm tính thực quyền, khôngchia cắt và để tránh tình trạng cãi vã suông như đã từng diễn ra ở hai viện củanghị viện tư sản
Cũng như đặc tính chung của Quốc hội các nước khác, với tính chất là cơquan hoạt động theo chế độ hội nghị, trong tổ chức và hoạt động của Quốchội nước ta cần phải có đầy đủ các cơ cấu cần thiết
Quốc hội nước ta được xác định là một mô hình Quốc hội tập quyền Cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều tập trung ở Quốc hội, trên cơ sở
đó, bằng con đường lập hiến và lập pháp, Quốc hội giữ quyền lập pháp và
Trang 13phân công các cơ quan khác (Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao) thực hiện quyền hành pháp Chính vì đặcđiểm đó, Quốc hội nước ta không hoạt động thường xuyên, trong cơ cấu đạibiểu có sự kết hợp thành phần đại diện của cả cơ quan hành pháp và cơ quan
tư pháp
Về cơ cấu đại biểu Quốc hội, do đặc điểm tình hình cách mạng lúc bâygiờ, sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra 333 đại biểu, tại kì họp đầu tiêncủa Quốc hội khóa I, (ngày 02 tháng 3 năm 1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh đãthay mặt Chính phụ đề nghị Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70 ngườikhông qua bầu cử, dành cho Việt cách 20 người và Việt Quốc 50 người Quốchội đã thông qua đề nghị này để tỏ rõ sự đoàn kết toàn dân
Các khóa Quốc hội tiếp theo, số đại biểu Quốc hội được tính trên cở sởdân số của cả nước và được chia theo đơn vị hành chính.Việc bầu cử đại hộiQuốc hội đước tiến hành theo nguyên tác phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và
bỏ phiếu kín Những khóa Quốc hội gần đây, số lượng và cơ cấu đại biểuQuốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở mỗi tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương có ít nhất 3 đại biểu cư trú và làm tại địa phương
Số đại biểu tiếp theo được tính theo dân số và đặc điểm của mỗi địa phương.Thủ đô Hà Nội được phân bố số đại biểu thích đáng Đặc biệt, Luật bầu cử đạibiểu Quốc hội nước ta còn ghi rõ sự ưu tiên về số lượng đại biểu Quôc hộicho các dân tộc thiểu số và phụ nữ
Về lãnh đạo Quốc hội, do đặc điểm hoạt động không thường xuyên, từ
đó đặt ra yêu cầu phải có một cơ quan chịu trách nhiệm chuẩn bị, triệu tập,chủ trì các hoạt đồng của Quốc hội Trừ hiến pháp 1946 quy định Ban lãnhđạo của Quốc hội là Ban thường trực Quốc hội, các Hiến pháp tiếp theo đềuquy định Ban lãnh đạo Quốc hội là Ủy ban thường vụ Quốc hội (Hiến pháp
Trang 141959, 1992) hoặc Hội đồng Nhà nước kết hợp với Chủ tịch, các Phó chủ tịchQuốc hội (Hiến pháp 1980).
Về các cơ quan khác của Quốc hội, cũng như Quốc hội các nước, Quốchội nước ta cũng thành lập ra các ủy ban để qiúp Quốc hội thực hiện nhiệm
vụ, quyền han trên các lĩnh vực hoạt động cụ thể Tuy nhiên, các cơ quan nàyđược tổ chức khác nhau trong các bản Hiến pháp từ trước đến nay TrongHiến pháp 1946 không đặt vấn đề thành lập các ủy ban thường trực của Quốchội Các công việc giữa hai kỳ họp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hộiđược giao cho ban thường trực của Quốc hội đảm trách Đến Hiếp pháp 1959,
đã có quy định về việc thành lập các loại ủy ban khác nhau để giúp Quốc hộihoạt động, nhưng chưa cụ thể Từ hiến pháp 1980 việc thành lập các ủy banquốc hội đã được xác định rõ ràng và từng bước ổn định hơn Hiện nay, các
cơ quan của Quốc hội nước ta có Hội đồng dân tộc (trước đây là ủy ban dântộc của Quốc hội) 9 ủy ban là: Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban tư pháp; Uỷ ban kinhtế; Uỷ ban tài chính, ngân sách; Uỷ ban quốc phòng và an ninh; Uỷ ban vănhoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban về các vấn đề xãhội; Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷ ban đối ngoại;
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Hội đồng dân tộc và các ủy ban củaQuốc hội là thẩm tra các dự án luật, dự án pháp lệnh, các đề án, báo cáo kháccho Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ cho Quốc hội giao, trình Quốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dưng luật, pháp lệnh;thực hiện quyền giám sát và kiến nghị những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyềnhạn của mình theo lĩnh vực đã được phân công trong Luật tổ chức Quốc hội
và các văn bản pháp luật khác
Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là cơ quan của Quốc hội và không doQuốc hội bầu ra Từ thực tiễn của Quốc hội nước ta trong điều kiện hoạt độngkhông thường xuyên đã đặt vấn đề hình thành các đoàn đại biểu Quốc hội
Trang 15Khác với các nhóm (đoàn) đại biểu Quốc hội các nước, Đoàn đại biểu Quốchội nước ta là một hình thức hoạt động của Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hộiđược hình thành từ các đại biểu Quốc hội được bầu trong một đơn vị hànhchính cấp tỉnh.
Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội gồm: Trường đoàn, Phótrưởng đoàn, đại biểu chuyên trách và đại biểu Quốc hội khác Nhiệm vụ,quyền hạn chủ yếu của Đoàn đại biểu Quốc hội là tham gia hoạt động xâydựng pháp luật của Quốc hội trong thời gian Quốc hội họp và không họp;tham gia giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các nghị quyết củaQuốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội ở địa phưong Giúp việc cho Đoànđại biểu Quốc hội có 01 đến 5 Thư ký Đoàn đại biểu Quốc hội Qua thực tiễnhoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thời gian vừa qua, tại kì họp thứ 10,Quốc hội khóa X đã sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật tổ chức Quốc hội
về hoạt đại biểu Quốc hội Theo đó, Đoàn đại biểu Quốc hội có ít nhất mộtđại biểu Quốc hội chuyên trách và có Văn phòng giúp việc
Văn phòng Quốc hội không thuộc cơ cấu tổ chức của Quốc hội, nhưng
có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến hiểu quả hoạt động của Quốchội Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, thì Văn phòng Quốc hội đượcxác định là bộ máy giúp việc cho Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc và các ủy ban Quốc hội Trước đây, do điều kiện hoạt động củaQuốc hội nước ta còn mang nặng tính hình thức, nên bộ máy Văn phòngQuốc hội được tổ chức gọn nhẹ với tên gọi khác nhau ( Văn phòng ủy banthương vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước và Vănphòng Quốc hội)
Kể từ sau Hiến pháp 1992, bộ máy của Văn phòng Quốc hội được tăngcường cả về số lượng và chất lượng cán bộ, chuyên viên giúp việc Lãnh đạoVăn phòng Quốc hội là một Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội và các Phó
Trang 16chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm Cơ cấu tổchức của Văn phòng Quốc hội gồm các đơn vị tương cấp vụ Các đơn vị nayđược chia làm hai loại: đơn vị tham mưu, giúp việc trực tiếp cho Ủy banthường vụ Quốc hội Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội và các đơn
vị trực tiếp tham mưu, giúp việc trực tiếp cho lãnh đạo Văn phòng Quốc hội.1.1.2.2 Phương thức hoạt động của Quốc hội
Xuất phát từ đặc điểm của Quốc hội nói chung, Quốc hội nước ta cũng
có phương thức hoạt động chủ yếu là chế độ hội nghị và quyết định theo đa
số Ngoài phương thức chủ yếu đó, Quốc hội nước ta còn sử dụng các phươngthức hoạt động khác thông qua hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội,các cơ quan của Quốc hội, của Văn phòng Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốchội và các đại biểu Quốc hội
Phương thức hoạt động của Quốc hội nước ta có những đặc điểm sau đây:
- Một là: Phương thức hoạt động của Quốc hội nước ta xuất phát từ đặcđiểm của hệ thống chính trị do lực lượng lãnh đạo duy nhất là Đảng cộng sảnViệt Nam
- Hai là: Phương thức hoạt động của Quốc hội dựa trên nguyên tắc quyềnlực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phân phối giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Ba là: Phương thức hoạt động của Quốc hội bị phụ thuộc và chi phốibởi nguyên tắc tập trung dân chủ, là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quatrình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta
- Bốn là: Phương thức hoạt động của Quốc hội xuất phát từ chính bảnthân vị trí, tính chất của Quốc hội trong điều kiện hình thức tổ chức nhà nướcđơn nhất và Quốc hội hoạt động không thường xuyên
- Năm là: Phương thức hoạt đông của Quốc hội còn phụ thuộc vào nhữngđiều kiện đặc thù của nước ta: trước đây phải trải qua các cuộc chiến tranh
Trang 17liên miên và ngày nay đang trong giai đoạn xây dựng và củng cố nền kinh tếthị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ những phân tích về đặc điểm trong phương thức hoạt động của quốchội Viêt Nam cho thấy: Trong quá trình hình thành, phát triển của mình, đểthực hiện được các chức năng cơ bản là lập pháp, giám sát tối cao và quyếtđịnh những vấn đề quan trọng của đất nước, các phương thức hoạt động củaQuốc hội nước ta được thể hiện của các hình thức, biến pháp chủ yếu sau đây:
Kỳ họp và các phiên Quốc hội: Trừ Quốc hội khóa I là Quốc hội có tổ
chức và hoạt động trong điều kiện đặc biệt về mặt lịch sử, Quốc hội các khóasau đều tiến mỗi năm hai kỳ họp thường lệ Tại các kỳ họp, Quốc hội tiếnhành xem xét, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước,thông qua việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các luật; thực hiện quyềngiám sát tối cao thông qua việc xem xét báo cáo và chất vấn các cơ quan lãnhđạo cấp cao của nhà nước do Quốc hội bầu ra
Kỳ họp thường lệ của Quốc hội do Ủy ban thường vụ của Quốc hội(trước đây là Ban thường trực Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước) chuẩn bị,triệu tập và chủ trì Kỳ họp bất thường của Quốc hội được triệu tập theo quyếtđịnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, theo yêu cầu của Chủ tịch nước, Thủtướng Chính phủ hoặc khi có ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu đểgiải quyết những vấn đề cấp bách, nảy sinh không thuộc chương trình dự kiếncủa Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội
Kỳ họp của Quốc hội được chia thành nhiều phiên họp Phiên họp là cácbuổi họp toàn thể của Quốc hội tại hội trường Tại các kỳ họp, Quốc hội còn
sử dụng các phương thức hoạt động khác như: hình thành các tổ (bao gồmmột hoặc nhiều Đoàn đại biểu Quốc hội) để xem xét, thảo luận trước các vân
đề thuộc chương trình nghị sự của kỳ họp; tổ chức các cuộc họp Trưởng đoànđại biểu Quốc hội để thống nhất chủ trương hoặc các quan điểm cần giải
Trang 18quyết về một hoặc một số vấn đề liên quan; thông qua hoạt động của Đoànthư ký kỳ họp; tổ chức các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội để thảoluận, thống nhất cách thức điều hành kỳ họp hoặc điều chỉnh chương trình kỳhọp…
Kỳ họp Quốc hội còn xác định là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốchội, vì đây là diễn đàn chính thức của các đại biểu Quốc hội và là nơi tập thểQuốc hội xem xét, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn củaQuốc hội
Hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội: Trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên, thì hoạt động
của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội được coi là mộtphương thức hoạt động quan trọng
Giữa hai kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dântộc và các ủy ban của Quốc hội tiến hành các hoạt động theo chức năng,nhiệm vụ quyền hạn của minh Về bản chất, hoạt động của các cơ quan nàyđều mang danh nghĩa Quốc hội Tùy theo sự phân công của Quốc hội, cónhững loại việc thuộc quyền quyết định của mỗi cơ quan (như quyền banhành pháp lệnh, nghi quyết của dân tộc, các ủy ban của Quốc hội …), nhưngcũng có những loại việc mà các cơ quan nay phải báo cáo trước Quốc hội vềnhững công việc mình đã làm (thông qua các báo cáo công tác 6 tháng vàhàng năm) để Quốc hội xem xét quyết định
Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội: Trong thời gian Quốc hội không
họp, thì hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội đống vai trò như là sự hiệnthân của Quốc hội tại các địa phương Theo quy định của Quy chế hoạt độngcủa đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, thì Đoàn đại biểu Quốc hội
có nhiệm vụ tổ chức để các đại biểu trong Đoàn thực hiện việc tiếp dân, tiếpxúc cử tri; đôn đốc việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân; tham
Trang 19gia các hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động giám sát việc thi hành Hiếnpháp, pháp luật ở địa phương; phối hợp hoạt động với các đoàn Ủy banthường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội khi về địaphương công tác; giữ mối liên hệ của các đại biểu Quốc hội với các cơ quancủa Quốc hội và với chính quyền địa phương.
Hoạt động của Văn phòng Quốc hội: Tuy Văn phòng Quốc hội không
phải là một cơ cấu tổ chức của Quốc hội, nhưng các hoạt động của Văn phòngQuốc hội có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội Tùyvào từng loại công việc được Ủy ban thường vụ Quốc hội giao cho, Vănphòng Quốc hội thực hiện sư ủy quyền hướng dẫn hoạt động của Hội đồngnhân dân các cấp, hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểuQuốc hội Trong một số lĩnh vực liên quan đêbs công tác dân nguyện, Vănphòng Quốc hội được ủy quyền thực hiện việc đôn đốc giải quyết các khiếunại, tố cáo của công dân, việc giải quyết các kiến nghị của cử tri đối với Quốchội và báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
Hoạt động của các đại biểu Quốc hội: Hoạt động của các đại biểu Quốc
hội bao gồm: hoạt động của các đại biểu Quốc hội chuyên trách và hoạt độngcủa các đại biểu Quốc hội không chuyên trách
Theo quy định của việc tổ chức Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội vàQuy chế hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Đạibiểu Quốc hội có trách nhiệm tham dự các kỳ họp, phiên họp của Quốc hội,thực hiện việc tiếp dân, tiếp xúc với cử tri, đôn đốc giải quyết các khiếu nại,
tố cáo của công dân, tham gia các hoạt động của các cơ quan Quốc hội mà đạibiểu là thành viên… Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốchội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách còn phải thực hiện những nhiệm vụ,quyền hạn khác theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội
1.2 Vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức và hoạt động của đoàn ĐBQH
Trang 201.2.1 Vị trí pháp lý của đoàn ĐBQH
Đoàn đại biểu Quốc hội là hình thức tổ chức đặc thù của Quốc hội nước
ta Ngay từ kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá I, với mục đích làm cho kỳ họpQuốc hội được tiến hành thuận lợi, "Đoàn đại biểu Quốc hội được hìnhthành theo các đơn vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hộiđược bầu trong đơn vị hành chính liên hệ với Đoàn Chủ tịch kỳ họp, trao đổi
ý kiến trong nhóm về những vấn đề liên quan đến kỳ họp"
Từ đó đến nay, pháp luật ngày càng có những quy định cụ thể, đầy đủhơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH Theo quy định của Luật tổ
chức Quốc hội năm 2001, các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt động chuyên trách, có Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu và được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, có kinh phí hoạt động, có trụ sở, con dấu và Văn phòng giúp việc.
Địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội thể hiện qua các nhiệm vụ,quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được quy định tại các văn bản phápluật hiện hành (Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốchội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội…),gồm các nội dung chính như sau:
- Tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụquyền hạn của mình tại địa phương trong các mặt hoạt động: tiếp xúc cử tri;tiếp công dân, giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tổ chức thảo luận về dự án luật, dự
án pháp lệnh; dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội
- Phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Thường trựcHội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ở địa phương tổ chức các hoạt động
Trang 21của Đoàn và của đại biểu Quốc hội trong Đoàn Nghiên cứu đề xuất với Chủtịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhànước có liên quan nghiên cứu, xem xét và có biện pháp giải quyết các kiếnnghị của Hội đồng nhân dân liên quan đến chủ trương, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước hoặc các vấn đề của địa phương.
- Phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn công tác,Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷban của Quốc hội; tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trongĐoàn ứng cử đại biểu Quốc hội khoá sau;
- Báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động củaĐoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội,
- Trong quá trình tổ chức các hoạt động tại địa phương, Đoàn đại biểuQuốc hội có quyền góp ý với địa phương về việc thực hiện các nhiệm vụkinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; việc thi hành Hiến pháp, pháp luật vàviệc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương; yêu cầu cơ quannhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên củaMặt trận, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân ở địaphương cung cấp thông tin về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hộiquan tâm; xem xét và giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hànhchính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân hoặcnhững vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân dân địaphương
- Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát thông qua các hoạt động:
Tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, tổ chức để các đại biểuQuốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giámsát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
Trang 22cáo của công dân; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương trả lời vềnhững vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; cử đại biểu Quốc hộitrong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu.
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ: chủ trì việc tổ chức để cácđại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội; giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thườngtrực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa phương ở địa phương và Văn phòngQuốc hội; chỉ đạo công tác Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉđạo và tổ chức việc thực hiện kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốchội Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phâncông của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoànđược Trưởng đoàn uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn
Về mặt tổ chức, Đoàn đại biểu Quốc hội có các yếu tố của một phápnhân công: có Trưởng Đoàn, Phó Trưởng đoàn, có trụ sở, kinh phí hoạtđộng, con dấu và Văn phòng giúp việc
1.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của đoàn ĐBQH
1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội và mối quan hệ củaĐoàn đại biểu Quốc hội với cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội
Tính chất đại diện của người đại biểu Quốc hội được thể hiện ở chỗ,người đại biểu Quốc hội do cử tri ở đơn vị bầu cử trực tiếp bầu ra, vì vậyngười đại biểu đó trước hết là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng củanhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình Mặt khác, với tư cách là thành viên của cơquan quyền lực Nhà nước cao nhất thực hiện quyền tham gia thảo luận và
Trang 23quyết định những vấn đề kế dân sinh, người đại biểu phải xuất phát từ lợi íchchung của đát nước, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước.
Khác với chế độ đại nghị tư sản ở nhiều nước trên thế giới có thể chếchính trị “tam quyền phân lập”, ở đó tổ chức Nghị viện là tập hợp của từngnhóm nghị sĩ, đại diện cho quyền lợi khác nhau, đối trọng nhau của từng giacấp, tầng lớp, các nghị sĩ Quốc hội là những người hoạt động chuyên nghiệp,
có văn phòng và một số thư ký giúp việc ở tại đơn vị bầu cử của mình, đượchưởng lương nghị sĩ và bảo đảm đầy đủ các điều kiện hoạt động, Quốc hộinước ta là môt tổ chức thống nhất của ý chí, nguyện vọng của nhân dân Cácđại biểu quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước của Quốchội, kết hợp hài hòa quyền lợi của địa phương, đơn vị nơi bầu ra mình vàquyền lợi của cả nước
Hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội là nét đặc thù trong tổ chức vàhoạt động của Quốc hội Bởi vì:
- Thứ nhất: Quốc hội nước ta là một tổ chức hầu hết các đại biểu Quốc
hội hoạt động kiêm nhiệm, không thoát ly công tác và sản xuất Các đại biểuQuốc hội được bầu ở một địa phương thường là những người đã từng sống vàcông tác ở địa phương đó, có sự gắn bó và hiểu biết địa phương Tất cả cácđại biểu Quốc hội được bầu ra ở một địa phương (một tỉnh) trước hết đều làngười đại diện cho nhân dân tại địa phương và đơn vị bầu cử phải đồng thờicũng là người đại biểu đại diện cho nhân dân cả nước xuất phát từ tính chấthoạt động kiêm nhiệm của đại biểu Quốc hội và tính đại diện cho nhân dânđịa phương đã bầu ra mình nên hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ởđịa phương để tạo điều kiện thuần lợi cho đại biểu Quốc hội hoạt động là mộtyều cầu thực tế khách quan
- Thứ hai: Quốc hội nước ta với tính chất là cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất Tất cả quyền lực Nhà nước đều tập trung thống nhất ở Quốc hội Cơ
Trang 24cấu, thành phần của Quốc hội là thể hiện khối đoàn kết toàn dân, không có sựphân chia đối lập, tranh giành quyền lực giữa các nhóm, tổ chức chính trị, cáctầng lớp xã hội khác nhau Do đó, Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổchức đáp ứng yêu cầu hoạt động của Quốc hội, mọi hoạt động của Đoàn đạibiểu Quốc hội được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật và thểhiện ý chí chung của Quốc hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhờ có tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội với tính chất đầu mối hoạt động,sinh hoạt của các đại biểu Quốc hội trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trungương, mà hoạt động của mỗi cá nhân đại biểu cũng được tăng cường pháthuy, góp phần mở rộng mối quan hệ giữa các đại biểu Quốc hội với cử tri,đồng thời tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội tại địa phương có hình thức
hỗ trợ nhau trong công việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội tại địaphương, một đơn vị bầu cử Việc tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội đươngnhiên không làm mất đi hoặc hạn chế quyền hạn, nhiệm vụ của cá nhân mỗiđại biểu Quốc hội Thực tế đã cho thấy rằng, trong điều kiện các đại biểuQuốc hội hoạt động kiêm nhiệm, trình độ và vị trí công tác giữa các đại biểuQuốc hội không đồng đều, nếu không có hình thức tổ chức Đoàn đại biểuQuôc hội thì chắc rằng hoạt động của các “nghị sĩ không chuyên nghiệp” ởcác địa phương, cở sở sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Theo quy định tại điều 60 Luật Tổ chức Quốc hội: Các đại biểu Quốc hộiđược bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thànhĐoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt độngchuyên trách
Xét về tổ chức, các Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là cơ quan doQuốc hội bầu ra (như Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội) để làmchức năng tham mưu giúp Quốc hội theo từng lĩnh vực hoạt động Việc thiếtlập Đoàn đại biểu Quốc hội là nhằm bảo đảm về mặt tổ chức để các đại biểu
Trang 25Quốc hội trong một địa phương có điều kiện hoạt động, thực hiện tốt nhiệm
vụ đại biểu của mình Với hình thức là đầu mối tổ chức các hoạt động của cácđại biểu Quốc hội ở địa phương, Đoàn đại biểu Quốc hội không có quyền ramột quyết định về một vấn đề cụ thể, hoặc không có quyền thẩm tra các dự ánpháp luật, các dự án báo cáo, trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ýkiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh…
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, để thực hiện chức năng, nhiệm vụchung của Quốc hội, nội dung hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tậptrung vào một số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Hoạt động tiếp dân, tiếp xúc cử tri,
- Hoạt động tham gia xây dựng pháp luật,
- Hoạt động giám sát, kiểm tra việc thi hành Nghị quyết của Quốc hội,hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ở địaphương
Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ sau đây:
- Tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụcủa đại biểu Quốc hội và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội;
- Giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương và Văn phòng Quốc hội 1.2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nguyên tắcthống nhất là Đảng Cộng sản lãnh đạo, không theo chế độ đa đảng Đại biểuQuốc hội không bầu theo đảng phái chính trị, mà bầu theo địa phương Ngoàicương vị là người đại diện cho nhân dân cả nước trong cơ quan quyền lực nhà
Trang 26nước cao nhất, đại biểu Quốc hội còn là người đại diện cho nhân dân địaphương chịu trách nhiệm trước nhân dân ở địa phương bầu ra mình Đại biểuQuốc hội nước ta đa số không làm việc thường xuyên tại các cơ quan củaQuốc hội mà làm việc kiêm nhiệm ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nhauthuộc mọi vùng miền của đất nước Ngoài việc tham gia thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn đại biểu Quốc hội theo luật định, phần lớn thời gian họ phải tậptrung lo công việc ở cơ quan, tổ chức đơn vị mà họ đang đảm nhiệm.
Việc hình thành Đoàn đại biểu Quốc hội ở mỗi địa phương không phải làhình thành một cấp quản lý đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội cũngkhông hoạt động thay cho đại biểu Quốc hội Việc tổ chức Đoàn đại biểuQuốc hội không làm mất đi hoặc hạn chế quyền hạn, nhiệm vụ của bản thânmỗi đại biểu Quốc hội Qua thực tiễn hoạt động các khoá Quốc hội (từ khoá Iđến khoá XIII hiện nay) cho thấy, việc tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địaphương là cần thiết Cùng với sự đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,các Đoàn đại biểu Quốc hội đã phát huy tác dụng và đã góp phần tích cực vàokết quả hoạt động chung của Quốc hội; đồng thời đã tạo điều kiện thuận lợicho các đại biểu Quốc hội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
Nhờ có tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội với tính chất là đầu mối hoạtđộng, sinh hoạt của đại biểu Quốc hội trong một tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương, mà hoạt động của mỗi cá nhân đại biểu được phát huy, góp phầntăng cường mối quan hệ phối hợp trong hoạt động của các đại biểu Quốc hộitrong Đoàn, mở rộng mối quan hệ giữa các đại biểu Quốc hội với cử tri địaphương Thực tế đã cho thấy rằng, trong điều kiện đa số các đại biểu Quốchội hoạt động kiêm nhiệm, trình độ và vị trí công tác giữa các đại biểu Quốchội không đồng đều, điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu khác nhau, nếukhông có hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội thì chắc rằng hoạt độngcủa các đại biểu Quốc hội không chuyên nghiệp ở các địa phương, cơ sở và
Trang 27các đại biểu Quốc hội công tác ở các cơ quan trung ương được ứng cử ở địaphương sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Xét về mặt tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn, các Đoàn đại biểu Quốc hộikhông phải là cơ quan do Quốc hội bầu ra (như Hội đồng dân tộc và Uỷ bancủa Quốc hội) để làm chức năng tham mưu, giúp Quốc hội theo từng lĩnh vựchoạt động Việc thành lập Đoàn đại biểu Quốc hội là nhằm bảo đảm về mặt tổchức tạo thành một đầu mối để các đại biểu Quốc hội được bầu trong một địaphương có điều kiện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
Từ thực tế đó, nhằm có cơ sở pháp lý cho việc tổ chức Đoàn đại biểuQuốc hội ở địa phương, các Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, cũng như Luật
tổ chức Quốc hội năm 2001 (tại Điều 60) đã từng bước hoàn thiện quy định
về tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội:
"1 Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt động chuyên trách.
2 Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
ở địa phương tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri;
b) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ;
c) Theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức;
d) Tổ chức để đại biểu Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương;
Trang 28đ) Báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
3 Đoàn đại biểu Quốc hội có trụ sở, Văn phòng giúp việc và có kinh phí hoạt động theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.".
- Phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội:
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, để thực hiện chức năng, nhiệm vụchung của Quốc hội, nội dung hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trongthời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội và tại kỳ họp Quốc hội tập trung vào một
số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
* Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương:
Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội, chương trình kế hoạch hoạt độngcủa Quốc hội và tình hình thực tế của địa phương, ý kiến của cử tri, các Đoànđại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện đểcác đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ đại biểu của mình
- Hoạt động tiếp dân, tiếp xúc cử tri:
+ Về hoạt động tiếp dân :
Việc tiếp dân, giúp giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo và yêu cầu, kiếnnghị của nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của cơ quan dân cử Nhiệm vụchủ yếu của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực tiếp công dân là để nghe ýkiến, nguyện vọng của nhân dân, nhận và chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáocủa nhân dân đến các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm; theo dõi, đôn đốc,yêu cầu các cơ quan hữu quan xem xét, giải quyết kiến nghị của nhân dân vàthông báo kết quả giải quyết cho Đoàn đại biểu Quốc hội và người khiếu nại,
tố cáo Trong trường hợp cần thiết, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức kiểm tra,đôn đốc các cơ quan hữu quan giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáocủa công dân
Trang 29Trong hoạt động tiếp dân của Đoàn đại biểu Quốc hội, Trưởng đoàn đạibiểu Quốc hội tổ chức việc tiếp dân và phân công các đại biểu Quốc hội trongđoàn định kỳ tiếp dân để nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, nhận vàchuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân đến cơ quan và cá nhân cótrách nhiệm Để giúp các đại biểu Quốc hội thực hiện tốt việc tiếp dân, vănphòng và thư ký phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham mưu giúpTrưởng đoàn đại biểu Quốc hội xây dựng lịch tiếp công dân phù hợp với điềukiện công tác làm việc của từng đại biểu Quốc hội trong đoàn phục vụ các đạibiểu Quốc hội trong việc tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theodõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; phối hợp vớiVăn phòng Quốc hội tổ chức phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồngdân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,kiến nghị của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở địa phương
Theo quy định tại Nghị quyết 228/NQ-UBTVQH10 ngày 27/10/1999:định kỳ 6 tháng một lần, Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội, thư kýĐoàn đại biểu Quốc hội tổng hợp tình hình tiếp công dân, tiếp nhận, chuyểnđơn, đôn đốc theo dõi kết quả giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị của công dân của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội để Trưởngđoàn đại biểu Quốc hội báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội
+ Về hoạt động tiếp xúc cử tri:
Tiếp xúc cử tri là nhiệm vụ quan trọng của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Theo quy định, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong đoàn thực hiện nhiệm vụ tiếp xúc cử tri định kỳ trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội
Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội phân công đạibiểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở các đơn vị bầu cử theo chương trình của đoàn.Thông qua việc tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội thu thập ý kiến, nguyện
Trang 30vọng của cử tri phản ánh với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan, cóthông tin về tình hình kinh tế - xã hội địa phương để làm cơ sở cho việc thamgia thảo luận và quyết định các vấn đề tại kỳ họp Quốc hội.
Sau mỗi kỳ họp Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức để đạibiểu Quốc hội trong đoàn báo cáo kết quả kỳ họp Quốc hội với cử tri, phổbiến, động viên nhân dân thực hiện tốt chính sách pháp luật và nghị quyết củaQuốc hội
Để làm tốt vai trò là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhândân, là cầu nối giữa nhân dân với nhà nước, trong nhiều năm qua, hoạt độngtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội đã ngày càng được quan tâm, nghiên cứucải tiến và có những đổi mới về phương thức, cách thức, nội dung tiếp xúc,như tăng cường việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội ở nơi công tác, nơi
cư trú, tiếp xúc với đông đảo cử tri, hạn chế dần tình trạng tiếp xúc “đại cửtri” để việc tiếp xúc cử tri thật sự có hiệu quả, tránh hình thức Mặt khác, việctổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri phải đảm bảo đầy đủ, chính xác, có chọnlọc ; việc xem xét giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri từ các cơ quanhữu quan cần phải được tăng cường với trách nhiệm cao
- Hoạt động tham gia xây dựng pháp luật:
Lập pháp là một trong ba chức năng quan trọng của Quốc hội Trong cácnhiệm kỳ gần đây, Quốc hội đã dành nhiều thời gian, công sức cho công tácxây dựng pháp luật và đã thông qua một khối lượng tương đối lớn các luật,pháp lệnh góp phần đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế, quản lý xã hội Hàngnăm Quốc hội xem xét, thông qua khoảng từ 8 đến 10 dự án luật, bộ luật; mỗi
kỳ họp khoảng từ 4 đến 5 dự án Trong thời gian không nhiều của kỳ họp,ngoài việc thông qua các dự án luật, Quốc hội còn phải xem xét, quyết địnhnhiều nội dung khác, nếu không qua giai đoạn đóng góp ý kiến của các vị đạibiểu Quốc hội một cách kỹ càng sâu sắc, thì việc thảo luận, thông qua tại kỳ
Trang 31họp Quốc hội thường bị kéo dài, mất nhiều thời gian Do đặc thù tổ chức vàhoạt động của Quốc hội nước ta hầu hết đại biểu Quốc hội không chuyêntrách lại phải đảm nhiệm các công tác khác nhau ở trung ương hoặc địaphương, điều kiện về thời gian và vật chất dành cho nghiên cứu chuẩn bị rấthạn chế; mặt khác Quốc hội mỗi năm chỉ tiến hành 2 kỳ họp, do vậy, ngoàiviệc thảo luận, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội, việc nghiên cứutham gia ý kiến đóng góp vào các dự án luật tại địa phương trong thời giangiữa 2 kỳ họp Quốc hội là rất quan trọng và cần thiết Điều 24 của Quy chếhoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định Đoànđại biểu Quốc hội tổ chức để đại biểu trong đoàn thảo luận về các dự án luật,
dự án pháp lệnh và các dự án khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi lấy ýkiến Ý kiến thảo luận được tổng hợp và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội.Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng đội ngũ cộng tác viên,chuyên gia tư vấn giúp cho hoạt động này của đại biểu Quốc hội và Đoàn đạibiểu Quốc hội chưa được cụ thể, chi tiết Vì vậy, cần sớm bổ sung và cụ hoácác quy định ở các văn bản hiện hành để làm rõ các vấn đề về cơ chế tổ chứcphục vụ nghiên cứu, các điều kiện bảo đảm cho nghiên cứu của đại biểu Quốchội và Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội,nhằm phát huy cao nhất vai trò của đại biểu Quốc hội trong nhiệm vụ thamgia hoạt động lập pháp
Quốc hội khoá XI, số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ởcác cơ quan của Quốc hội và ở các Đoàn đại biểu Quốc hội đã được tăngcường Việc tổ chức hội nghị các đại biểu Quốc hội chuyên trách cho ý kiếnvào các dự án luật trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họpQuốc hội là một bước tiến mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội Nhờvậy mà việc xem xét, thông qua các dự án luật tại các kỳ họp Quốc hội vừaqua được nhanh chóng hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian, số lượng các dự
Trang 32án luật được thông qua và cho ý kiến ở kỳ sau tăng hơn so với kỳ trước vàchất lượng cũng được nâng lên một bước
Trang 33- Tham gia hoạt động giám sát:
Hoạt động giám sát, kiểm tra là một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội được pháp luật quy định.Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức các hoạt động giám sát, kiểm tra việc thihành hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷban thường vụ Quốc hội, các quyết định, chỉ thị của Chính phủ ở địa phương.Theo chương trình hoạt động, đoàn tổ chức việc khảo sát ở địa phươnghoặc cơ sở để các đại biểu nghiên cứu nắm tình hình, thu thập tài liệu giúpcho việc thảo luận và tham gia quyết định những vấn đề tại kỳ họp Quốc hộihoặc tìm hiểu tình hình thi hành chính sách, pháp luật ở địa phương
Việc thực hiện chức năng giám sát của đại biểu Quốc hội và Đoàn đạibiểu Quốc hội được thể hiện bằng các hoạt động, đó là:
- Tổ chức làm việc giữa Đoàn đại biểu Quốc hội với lãnh đạo các ngànhkhối nội chính: Toà án, kiểm sát, thanh tra nhà nước, công an, tư pháp về sựphối, kết hợp trong việc cung cấp thông tin, báo cáo tình hình, phối hợp giámsát những vấn đề bức xúc nổi lên trong công tác xét xử, giam giữ, tạm giữ,tạm tha, các vụ việc vi phạm pháp luật khác
- Tổ chức các hội nghị chuyên đề liên quan đến việc thi hành pháp luật,trước hết là những vụ việc nổi cộm ở địa phương; những vấn đề mà nhữngvăn bản pháp lý còn có những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn cần phảiđiều chỉnh sửa đổi
- Tổ chức khảo sát về hiệu quả và tác dụng của việc thi hành các đạo luật
và các nghị quyết của Quốc hội tại địa phương và cơ sở, như khảo sát về cácluật thuế, luật ngân sách, luật đầu tư nước ngoài, luật khiếu nại, tố cáo thựchiện các chương trình dự án được Quốc hội thông qua Để từ đó đề xuấtnhững vấn đề mà các văn bản pháp lý còn có những nội dung chưa phù hợpvới thực tiễn cần phải điều chỉnh, sửa đổi
Trang 34- Tổ chức cho đại biểu Quốc hội nghe Uỷ ban nhân dân và các ngànhthanh tra, toà án, kiểm sát báo cáo tình hình kinh tế - xã hội và tình hình thựchiện các nghị quyết trọng tâm của Quốc hội để nắm được tình hình thực hiệnnhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, về tình hình thực hiện nghịquyết của Quốc hội
Để hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hộingày càng hiệu quả, chất lượng, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội vừađược Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XI, quy định cụthể về cơ chế thực hiện giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức bị giámsát, hậu quả pháp lý của việc giám sát Mặt khác đã quy định rõ cơ chế bảođảm điều kiện cần thiết, như bộ phận tham mưu giúp việc, kinh phí để thựchiện hoạt động giám sát
* Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội:
Tại kỳ họp Quốc hội, theo chương trình đã dự kiến, hoạt động của cácĐoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tập trung vào việc thực hiệnnhững nhiệm vụ chủ yếu, như tham dự các phiên họp toàn thể của Quốc hội
để nghe báo cáo, thuyết trình, thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nộidung chương trình kỳ họp; nghiên cứu tài liệu, họp đoàn hoặc họp tổ để thảoluận tham gia ý kiến vào các nội dung theo gợi ý của Đoàn thư ký kỳ họphoặc Chủ tịch Quốc hội
Trước khi bế mạc kỳ họp, các Đoàn đại biểu Quốc hội có cuộc họp đểcho ý kiến nhận xét về quá trình chuẩn bị nội dung, bố trí chương trình vàviệc điều hành kỳ họp, về các điều kiện phục vụ cho kỳ họp và về kết quả kỳhọp Đồng thời, tại cuộc họp này các đoàn thông qua kế hoạch, chương trình
và phân công đại biểu Quốc hội trong đoàn thực hiện việc tiếp xúc cử tri sau
kỳ họp Quốc hội, trước khi trở về địa phương
Trang 351.3 Điều kiện đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của ĐBQH, Đoàn ĐBQH là yếu
tố quan trọng bảo đảm hiệu quả hoạt động của đội ngũ này Chính từ chủtrương của Đảng tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
(ngày 29 tháng 11 năm 1991) “hướng lâu dài là Quốc hội chuyển dần sang hoạt động thường xuyên” mà Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 mới thể chế hóa thành quy định: “đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách” Trong những lần Đại hội Đảng gần
đây, Đảng ta cũng xác định: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơquan quyền lực nhà nước cao nhất Nâng cao chất lượng ĐBQH, tăng hợp lý
số lượng ĐBQH chuyên trách; có cơ chế để ĐBQH gắn bó chặt chẽ và cótrách nhiệm với cử tri” 1
Như vậy, quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội củaĐảng ta là một định hướng quan trọng nhằm tăng hiệu lực và hiệu quả hoạtđộng của Quốc hội và ĐBQH nói chung, Đoàn ĐBQH nói riêng
Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động của ĐBQH,Đoàn ĐBQH còn thể hiện trong công tác lãnh đạo bầu cử ĐBQH của Đảng
Trang 36Đối với công tác bầu cử ĐBQH, Đảng định hướng về cơ cấu, thành phần, tiêuchuẩn ĐBQH để Quốc hội thể chế hóa trong các văn bản Đảng đề ra yêu cầu,nhiệm vụ “nâng cao chất lượng ĐBQH”, làm cơ sở để Quốc hội đưa ra nhữngtiêu chuẩn hợp lý về cơ cấu, thành phần, chọn ra những người có chuyênmôn, là các chuyên gia về các lĩnh vực kinh tế, pháp luật, xã hội trở thànhĐBQH từ đó nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của ĐBQH nói riêng vàĐoàn ĐBQH nói chung, từ đó sẽ góp phần không nhỏ tới hiệu quả hoạt độngthực hiện các chức năng của Quốc hội và nhiệm vụ của ĐBQH, Đoàn ĐBQH.
Thứ hai, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của, Đoàn ĐBQH cũng có nghĩa là:
- Các nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Đoàn ĐBQHphải được quy định và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sảnViệt Nam
- Các quy định về hoạt động của Đoàn ĐBQH vừa bảo đảm cho ĐBQH
là Đảng viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu, vừa thựchiện tốt trách nhiệm của người đảng viên trong quá trình hoạt động
- Vận dụng đúng đắn quan điểm của Đảng trong hội nhập và cụ thể hóađược quan điểm hội nhập của Đảng trong các lĩnh vực hoạt động của ĐBQH,Đoàn ĐBHQ
1.3.2 Đảm bảo về pháp luật
Điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH là sự
hoàn thiện về các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn cũng như
phương thức hoạt động và các biện pháp bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH
và Đoàn ĐBQH
Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) đã dành sáu điều (tại chương VI)quy định về ĐBQH và bầu cử ĐBQH Luật bầu cử Quốc hội năm 2001 (sửađổi, bổ sung năm 2007) tập trung quy định về địa vị pháp lý, nhiệm vụ quyền
Trang 37hạn, cơ cấu, hoạt động của ĐBQH, Đoàn đại biểu Quốc hội Luật bầu cửĐBQH năm 2001 quy định về quyền bầu cử, ứng cử của công dân, quyền vànghĩa vụ của các ứng cử viên, quy định về phân bổ số lượng đại biểu đượcbầu; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội
Cụ thể hóa các quy định về ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong Hiến pháp vàluật, Quốc hội đã ban hành nhiều Nghị quyết như: Nghị quyết ban hành Nộiquy kỳ họp Quốc hội, Nghị quyết ban hành quy chế hoạt động của ĐBQH vàĐoàn ĐBQH… quy định về các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cũng như cácphương thức, biện pháp hoạt động, các điều kiện bảo đảm hoạt động củaĐBQH, Đoàn ĐBQH (như về chế độ lương, phụ cấp, nhà ở, văn phòng làmviệc…)
Tóm lại, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH, Đoàn ĐBQH ảnhhưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH đó lànhững điều kiện rất quan trọng để bảo đảm hiệu quả hoạt động của ĐBQH nóichung, Đoàn ĐBQH nói riêng
1.3.3 Kinh tế
Cơ sở vật chất, chế độ chính sách và các điều kiện bảo đảm hoạt độngkhác… là những yếu tố rất quan trọng, không thể thiếu để góp phần bảo đảmhiệu quả hoạt động của các ĐBQH nói chung và Đoàn ĐBQH nói riêng Khoản 3, Điều 60 của Luật tổ chức Quốc hội hiện hành quy định:
Đoàn ĐBQH có trụ sở, văn phòng giúp việc và có kinh phí hoạt độngtheo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH cũng dành hẳn mộtchương (Chương 5) để quy định về các điều kiện đảm bảo hoạt động củaĐBQH và Đoàn ĐBQH Đó là những quy định về nhận Giấy triệu tập kỳ họp
và các tài liệu; trang bị báo chí và các dịch vụ thông tin; việc đưa tin hoạtđộng của ĐBQH của báo chí; được cấp Giấy chứng nhận đại biểu, huy hiệu,
Trang 38hộ chiếu ngoại giao; điều kiện ăn, ở, đi lại; hoạt động phí, công tác phí; ưutiên mua vé tàu xe; chăm sóc sức khỏe, văn phòng, kinh phí hoạt động
1.3.4 Bộ máy giúp việc
Bộ máy giúp việc, cơ sở vật chất, chế độ chính sách và các điều kiện bảođảm hoạt động khác… là những yếu tố rất quan trọng, không thể thiếu để gópphần bảo đảm hiệu quả hoạt động của các ĐBQH nói chung và Đoàn ĐBQHnói riêng
Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH cũng dành hẳn mộtchương (Chương 5) để quy định về các điều kiện đảm bảo hoạt động củaĐBQH và Đoàn ĐBQH Đó là những quy định về điều kiện làm việc, bộ phậngiúp việc, kinh phí hoạt động …
Cụ thể hóa những quy đinh này, ngày 11 tháng 12 năm 2007, Ủy banthường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 545/UBTVQH12 về việc thànhlập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức củaVăn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung trên cơ sở hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội vàVăn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đây là
cơ quan có nhiệm vụ tham mưu tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt độngcủa Đoàn ĐBQH, đại biểu Quốc hội tại địa phương
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐBQH
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển tổ chức và hoạt động của đoàn ĐBQH
Để tạo điều kiện cho các đại biểu Quốc hội có thể đảm đương tốt nhiệm
vụ của mình phù hợp với đặc thù tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta,tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá I, hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội
đã được hình thành theo đơn vị khu hoặc liên khu để liên hệ với Chủ tịchĐoàn kỳ họp và được trao đổi ý kiến về những vấn đề của kỳ họp, làm cho kỳhọp được tiến hành thuận lợi Hình thức tổ chức đó ngày càng được phát huytác dụng và tiếp tục duy trì trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội để bảođảm cho sự liên hệ giữa các đại biểu Quốc hội với Uỷ ban thường vụ Quốchội, giữa các đại biểu với đại biểu và giữa các đại biểu Quốc hội trong cùngmột địa phương với cử tri Các luật tổ chức Quốc hội trước đây cũng như Luật
tổ chức Quốc hội năm 2001 cũng quy định: “Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội” (Điều 60).
Theo quy định của Hiến pháp, cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm Quốc
hội, các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH Tuy nhiên, các luật về tổ chức Quốc
hội theo các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 đều có nhữngquy định về vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn ĐBQH Cụ thể là:
Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960 quy định: “ĐBQH có thể họp thành
các đoàn đại biểu địa phương theo đơn vị tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộctrung ương Trong mỗi kỳ họp của Quốc hội, các Đoàn ĐBQH trao đổi ý kiến
về những vấn đề cần thiết của kỳ họp Giữa hai kỳ họp Quốc hội, các ĐoànĐBQH giữ mối quan hệ với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội” 1
Trang 40Với nội dung này, Đoàn ĐBQH tuy được xác định trong cơ cấu, tổ chứccủa Quốc hội nhưng không phải là một cơ cấu, tổ chức mang tính chất bắt
buộc; nội dung hoạt động của Đoàn chủ yếu là trao đổi những vấn đề cần thiết
trong kỳ họp Theo Luật Tổ chức Quốc hội năm1960, các Đoàn ĐBQH còn
có quyền giới thiệu người ra ứng cử chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các
ủy viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để Quốc hội bầu
Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định:
“ĐBQH ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tươngđương họp thành Đoàn ĐBQH địa phương và cử ra Trưởng Đoàn ĐoànĐBQH tổ chức hoạt động của ĐBQH tại các đơn vị bầu cử Các Trưởng ĐoànĐBQH và các ĐBQH giữ quan hệ với Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Nhànước Mỗi năm hai lần, các Đoàn ĐBQH thông báo cho Chủ tịch Quốc hội,Hội đồng Nhà nước và Uỷ ban Mặt trận tổ quốc ở địa phương về hoạt độngcủa các ĐBQH ở địa phương” 2
Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 đã mở rộnghơn quyền của Đoàn ĐBQH trong việc giới thiệu các chức danh để Quốc hộibầu: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư
ký và các Uỷ viên Hội đồng Nhà nước; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủtịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Uỷ viên của Hội đồng Dân tộc; Chủnhiệm và các thành viên khác của Uỷ ban thường trực của Quốc hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH còn được quy định trong Quy
chế về ĐBQH do Quốc hội ban hành Khác với Luật Tổ chức Quốc hội năm
1960, thì ở thời kỳ này Đoàn ĐBQH được xác định là hình thức tổ chức bắtbuộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, nội dung hoạt động của Đoàn chủ
yếu là tổ chức hoạt động cho ĐBQH trong thời gian giữa hai kỳ họp, khác với